Lần
đầu tiên ba thầy trò chúng tôi được chuyên chở bằng loại máy bay dân
sự nhõ Cessna 2 chỗ ngồi: Tôi, Thượng sĩ Tchen A Sieu, Trung sĩ
Nguyễn Văn Thanh, cộng thêm vũ khí cá nhân, ít quân trang dụng nên
quá chật chội. Hơn một tiếng đồng hồ ngồi trong thế khổ sở gần như
ôm cổ lẫn nhau từ phi trường dân sự Tân Sơn Nhứt đến Pochengton, Nam
Vang bên Cam Bốt, máy bay nhẹ khi lên cao độ đủ bay rồi, cảm tưởng
như mình chẳng ngồi vào cái gì cả, bồng bềnh nhẹ trôi theo mây.
Trong đời binh nghiệp, mỗi lần chúng tôi được không vận thì thường
nhét vào sàn trực thăng hoặc những vận tải cơ C47, C123, C130, tiếng
động cơ ồn ào tại các phi trường quân sự vốn sẵn đã đầy âm thanh hỗn
độn: Tiếng trực thăng, tiếng ầm ầm cùa phản lực cơ, lính tráng ồn ào
lên xuống, thấp thoáng một vài cáng thương binh, tử sĩ, tiếng pháo
binh ầm ì vọng về đâu đó, không gian sặc sụa mùi chiến tranh. Thật
vậy, chúng tôi là Lực lượng Tổng Trừ Bị của Quân Lực Việt Nam Cộng
Hòa cho nên được chở đến đâu thì nơi đó đang khói lửa mịt mù.
Lần này được chỉ định trách nhiệm Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 369 Thủy
Quân Lục Chiến thay thế Trung tá Ngô Văn Ðịnh về tham dự lớp Chỉ Huy
Tham Mưu Cao Cấp.
Tôi nhớ vào những ngày cuối mùa mưa tháng 12/1970, phi trường
Pochengton chắc vừa qua trận mưa, nhiều vũng nước còn loang loáng
khắp phi đạo, quang cảnh nghèo nàn ít náo nhiệt hơn Tân Sơn Nhứt;
chưa bao giờ tôi đặt chân đến đây, những hàng rào kẽm gai, bao cát,
ụ đất, đây đó lính tráng qua lại tấp nập, v.v...
Khung cảnh đó bỗng nhiên tôi cảm thấy buồn, những đất nước nhỏ bé
xinh đẹp, hiền hòa, đất đai mầu mỡ, cây cối xanh ngát thế kia cũng
như đất nước thân yêu của tôi mà sao cứ phải chịu cảnh chiến tranh
tàn phá hoài như vậy.
Chiếc Cessna chưa đáp hẳn thì đã thấy chiếc trực thăng quân sự rà rà
bay đến đậu gần đó, vừa xuống đất, 3 chúng tôi đều phải đứng vuôn
vai cho đỡ mỏi sau hơn 1 tiếng bó tròn trong lòng chiếc máy bay quá
nhỏ kia. Ðại úy Ðoàn Trung Ương, Trưởng ban 3 Lữ đoàn đến chào nói:
Trung tá Ðịnh gửi trực thăng đón Trung tá về Neak Luong, lâu ngày
chúng tôi mới gặp lại nhau, tay bắt mặt mừng rồi không chậm trễ,
nhét nhau lên sàn chiếc trực thăng bay về Bộ chỉ huy Lữ đoàn cách đó
khoảng 45 cây số phía Ðông Nam.
Ðến nơi, gặp Trung tá Ðịnh, tôi cứ đinh ninh rằng: chúng tôi thế nào
cũng còn ở với nhau 1 hoặc 2 ngày chuyện trò tâm sự, Ðịnh và tôi
cùng xuất thân Khóa 4 phụ Sĩ Quan Trừ Bị tại Dalat năm 1954, vốn sẵn
tinh thần đó chúng tôi lại cùng phục vụ trong Binh chủng Thủy Quân
Lục Chiến nên càng gần gũi nhau hơn, tôi nhiều hơn Ðịnh 2, 3 tuổi gì
đó nên Ðịnh có thói quen gọi tôi bằng anh.
Gọi là bàn giao Lữ đoàn nhưng chẳng bàn giao gì cả, vừa gặp nhau thì
Ðịnh nói liền: Thiếu tá Ðoàn Thức, Tham mưu trưởng sẽ trình bày cho
anh rõ tình hình, thầy trò tôi phải đi ngay trực thăng đang chờ để
kịp giờ cho chiếc Cessna chở tôi sang và bốc Ðịnh về lại Sàigòn
ngay. Thế là Ðịnh xòe bắt tay tôi: Ông anh ở lại, chúc may mắn.
Lữ đoàn 369 hành quân vượt biên sang Cam Bốt trước đó ít tháng, giờ
được đặt dưới sự chỉ huy của Quân Ðoàn 4, Vùng 4 Chiến Thuật do
Trung tướng Ngô Quang Trưởng làm Tư lệnh. Hiện vùng trách nhiệm của
Lữ đoàn tương đối yên ổn, Bộ chỉ huy Lữ đoàn và Tiểu đoàn Pháo binh
do Thiếu tá Ðoàn Trọng Cảo làm Tiểu đoàn trưởng tại Neak Lương, 3
Tiểu đoàn tác chiến trú quân cách nhau khoảng 5, 6 cây số trong khu
hoạt động của họ gồm:
- Tiểu đoàn 5 do Thiếu tá Võ Trí Huệ làm Tiểu đoàn trưởng.
- Tiểu đoàn 8 do Thiếu tá Nguyễn Văn Phán làm Tiểu đoàn trưởng.
- Tiểu đoàn 9 do Thiếu tá Nguyễn Kim Ðể làm Tiểu đoàn trưởng.
Nhiệm vụ Lữ đoàn hành quân lục soát tiêu diệt địch trong vùng chỉ
định, an ninh bảo vệ thủy lộ (sông Mekong) cho đoàn tàu dân sự quốc
tế tiếp tế mọi nhu yếu phẩm cho dân chúng Nam Vang, vì cảng chính
của Cam Bốt phía Tây Nam bị áp lực địch không xử dụng được. Lữ đoàn
phải làm sao để địch không thể thả mìn, phục kích, pháo kích đoàn
tàu cứ khoảng 20 hoặc 30 ngày một chuyến tiếp tế như vậy.
Vào một, hai ngày trước khi đoàn tàu tiếp tế đi qua khu vực của Lữ
đoàn, các Tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến phải hành quân lục soát gần
bờ sông khoảng 3 cây số, trải quân chiếm giữ các điểm chiến thuật
then chốt chế ngự sông Mekong từ cách Châu Ðốc, Việt Nam khoảng 25
cây số qua Neak Lương về đến khoảng 10 cây số cách Nam Vang, còn
đoạn gần Nam Vang tương đối an ninh do Quân Lực Cộng Hòa Cam Bốt
chịu trách nhiệm.
Riêng đúng ngày đoàn tàu tiếp tế di chuyển qua, Lữ đoàn phải rút một
Tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến khỏi vùng hành quân về túc trực cùng
một Phi đoàn trực thăng gửi từ Cần Thơ (Việt Nam) qua tại sân bay
nhỏ Neak Luong để sẵn sàng can thiệp.
Vào khoảng 10 giờ 45 sáng, một ngày cuối tháng 1/1971 đoàn tàu tiếp
tế bị phục kích tại ranh giới giữa Lữ đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến
và Lữ đoàn 2 Quân Lực Cộng Hòa Cam Bốt trách nhiệm,
Ngay khi được Toán truyền tin Lữ đoàn gửi xuống đi theo vị Thuyền
trưởng, Trưởng đoàn tàu báo bị phục kích, Lữ đoàn trưởng, Ðại úy
Ðoàn Trung Ương Trưởng ban 3 Lữ đoàn, một Hạ sĩ truyền tin cùng lên
trực thăng chỉ huy do Ðại úy Không quân, Phi đoàn trưởng lái cất
cánh ngay, đồng thời lệnh Tiểu đoàn 8 lên trực thăng đợt đầu.
Khi trực thăng chỉ huy bay đến vùng phục kích đoàn tàu, chúng tôi xà
xuống thấp quan sát trận địa, thấy địch nằm trải theo bờ sông phía
Ðông Nam (cùng phía Neak Luong) đang tác xạ mãnh liệt vào đoàn tàu.
Từ trên cao quan sát thấy mặt nước sông tung tóe mỗi khi đạn nổ
không trúng tàu: như súng liên thanh hạng nặng 12.7 ly, súng phóng
lựu, súng cối 60, 82 ly, đặc biệt chúng tôi còn nhìn thấy cả đạn đạo
của súng cà nông 57, 75 ly không giật bắn thẳng từ bờ sông ra đoàn
tàu. Một chiếc tàu trúng đạn bốc khói nhưng vẫn tiếp tục cùng đoàn
tàu di chuyển, may mắn không chiếc nào cán thủy lôi hoặc hư hại nặng
làm tắc nghẽn dòng sông.
Hai trực thăng Gunship bay theo chúng tôi từ Neak Luong được lệnh
can thiệp nên nhào xuống xả súng liên thanh, hỏa tiễn vào bờ sông,
súng phòng không địch từ dưới đất bắt đầu bắn lên trực thăng chúng
tôi.
Bay vòng ra phía sau lưng địch, chúng tôi thấy hai trảng trống, vừa
ruộng lúa vừa bụi rậm thấp cách khoảng 300 thước ngay sau tuyến địch
phục kích. Chúng tôi quyết định đổ quân vào các trảng trống này đồng
thời liên lạc với Thiếu tá Phán Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 đang
bay cùng Ðại đội trong đợt trực thăng đầu và lệnh cho 2 Gunship tác
xạ dọn bãi đáp. Thường thì dọn bãi đáp bằng nhiều loại hỏa lực khác
nhau như Pháo binh, Không quân chiến thuật trước rồi trực thăng
Gunship tác xạ cuối cùng là đổ quân ngay. Nhưng ở đây thời gian
không cho phép làm như vậy nữa. Chúng tôi muốn chụp ngay sau lưng
địch không cho chạy thoát nên xử dụng 2 Gunship tác xạ, phóng hỏa
tiễn ít trái xuống bãi đáp là đổ ngay Tiểu đoàn 8 đợt đầu xuống.
***
Tiểu đoàn 8 chia sẵn thành 2 cánh A và B: - Cánh A gồm 2 Ðại đội tác
chiến, Ban chỉ huy Tiểu đoàn - Cánh B cũng 2 Ðại đội, Ban chỉ huy
nhẹ do Thiếu tá Trần Ba, Tiểu đoàn phó chỉ huy.
Ðợt đầu vừa xong, thì đợt trực thăng thứ hai (cánh B) xuất hiện trên
vòm trời xa xa rồi cũng nhanh chóng đổ quân xuống trảng trống thứ
hai lao lên hướng Bắc sau lưng địch; trong tiếng đồng hồ sau đó 2
Ðại đội còn lại của 2 cánh được thả xuống 2 bãi đáp xong xuôi.
Tiểu đoàn K17 địch tăng cường nhiều súng cộng đồng hạng nặng nhằm
đạt mục tiêu đánh đắm các tàu dân sự quốc tế để gây tiếng vang không
ngờ bị Tiểu đoàn 8 Thủy Quân Lục Chiến làm triệt tiêu hy vọng đó.
Diễn tiến như sau: Trong lúc còn bay trên trực thăng, chúng tôi cùng
Thiếu tá Phán đã đồng ý với nhau phải tốc chiến càng nhanh càng tốt
không để cho địch kịp trở tay hoặc tháo lui mất.
Trên trực thăng chỉ huy chúng tôi ngưng ngay mọi liên lạc trực tiếp
với Phán, chỉ monitor để nghe anh điều động các con cái của Tiểu
đoàn anh.
Tiếng Phán oang oang trong ống liên hợp, chửi thề, hò hét, dàn rộng
ra, tiến nhanh lên, chạy thẳng ra bờ sông, còn mấy thằng chết hoặc
bị thương cứ để đó, để ở bãi đáp tính sau. Ngồi trực thăng trên cao
hình dung ra con O¨ Biển đầu đàn Nguyễn Văn Phán đang hung hăng xông
xáo lùa đàn O¨ Biển phóng thẳng vào mũi súng địch, anh và Ban chỉ
huy Tiểu đoàn cũng hàng ngang chạy vào như mọi người, không còn cách
nào khác khi địch thấy đoàn trực thăng đổ quân sau lưng, đã nhả mồi
(đoàn tàu) quay lại phía sau súng lớn nhỏ nổ vào đoàn O¨ Biển của 2
cánh A và B như mưa.
Chỉ có độc nhất một con đường sống là cứ nhắm địch mà phóng tới, ai
rớt mặc ai, thầy trò anh cứ phóng tới, làm sao mà lớ quớ ở địa thế
trống trải để địch tỉa lần được. Phải bay trên đầu anh, nghe tiếng
anh hổn hển trong loa truyền tin mới thấy được cái dũng mãnh như con
hổ đói mồi của Nguyễn Văn Phán lúc bấy giờ.
Phán xuất thân khóa Sĩ quan Trừ bị Thủ Ðức, anh là rể của nhà triệu
phú đã từng ra tranh cử đối chọi với Tổng thống Ngô Ðình Diệm ngày
xưa. Ðánh giặc anh hung hãn như cọp nhưng về hậu cứ nghỉ ngơi, dưỡng
quân anh lại vui nhộn, trẻ trung, ồn ào kết giao rộng rãi trong giới
sành ăn chơi của Saigon một thời. Tính tình cởi mở nhưng liều mạng
và bốc ẩu. Trời sanh tánh ai mà sửa được cho ai, cũng vì bản tính
trời cho như vậy nên trong trận mạc anh đã gây cho địch nhiều cú
táng bất ngờ thất kinh khiếp đảm. Con người như vậy không ai ngờ anh
lại có giọng ca đục khàn còn liễu trai hơn cả nữ ca sĩ có tước hiệu
tiếng hát liễu trai, nhưng với Phán muốn có giọng ca đó thì anh phải
đi 2, 3 tuần cognac, nửa gói thuốc lá trước đã, thời gian phải vào
khoảng sau nửa đêm, trong hội trường đèn mờ xuống, ngoài trời se
lạnh, sương phủ lãng đãng đó đây, những lúc đó giọng ca của anh càng
khàn càng đục ai oán không cùng.
Anh là một Tiểu đoàn trưởng cự phách không thua gì các Tiểu đoàn
trưởng: Phạm Nhã, Nguyễn Xuân Phúc tức Robert Lửa, Ðỗ Hữu Tùng, Lê
Bá Bình, Phạm Cang, Nguyễn Ðằng Tống, Nguyễn Ðăng Hòa, Nguyễn Văn
Cảnh, v.v...
Về phía cánh B của Thiếu tá Trần Ba, Tiểu đoàn phó cũng không kém
phần ác liệt, cũng địa thế trống trơn, địch cũng quay lại mà bắn bia
vào đoàn O¨ Biển. Còn cách nào khác chỉ một con đường sống là nhắm
ngay địch mà phóng tới, nhưng Trần Ba giọng Huế, chắc nịch, chậm rải
cũng chửi thề, cũng hô hoán xung phong, nhào tới, chửi thề, nhào
lên...
Trần Ba gốc Thiếu Sinh Quân, xuất thân khóa Sĩ Quan đặc biệt, cao
lớn, đẹp trai. Khi còn là Trung đội trưởng, Ðại đội trưởng chúng tôi
đã nhìn thấy rõ nét, anh sẽ là những Tiểu đoàn trưởng cự phách tương
lai của Thủy Quân Lục Chiến, nhưng rất tiếc anh bị tử trận khi là
Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 5, ít lâu sau trong trận phòng thủ tuyến Mỹ
Chánh mùa Hè Ðỏ Lửa 72 tại Quảng Trị (người viết đã có viết về Thiếu
tá Trần Ba trong bài 369 bên giòng sông Mỹ Chánh).
Pháo binh đặt tại Neak Luong cách 10 cây số gần như mút tầm của đại
bác 105 ly, nên chúng tôi lệnh cho Thiếu tá Ðoàn Trọng Cảo Tiểu đoàn
trưởng Tiểu đoàn Pháo binh mang một Pháo đội dùng phà vượt sông
Mekong sang bờ sông phía Tây, di chuyển lên ngang trận địa, nên pháo
binh can thiệp rất hữu hiệu, mặc dù không còn quân tác chiến nào để
bảo vệ, Pháo binh vừa tác xạ vừa tự giữ an ninh lấy qua đêm, liều
lĩnh về phía chúng tôi nhưng bất ngờ cho địch nên địch càng hốt
hoảng khiếp đảm.
***
Ðịch bị khóa chặt một là bị giết, bắt sống hay chạy thẳng theo bờ
sông lên hướng Bắc; sau 3 giờ giao tranh ác liệt, đẫm máu, tuyến
địch bị bung, tháo chạy tứ phía, tha hồ làm mồi cho trực thăng
Gunship cùng Pháo binh tác xạ truy kích. Sát bờ sông địch và ta trộn
chấu, nhưng ta đang khí thế dũng mãnh nên địch hoặc bị giết hoặc bị
bắt sống, thu rất nhiều vũ khí.
- Cao Bằng, đây O¨ Biển 1 gọi.
- Cao Bằng tôi nghe anh năm trên năm.
Tiếng Phán oang oang báo cáo, tôi mần tụi nó ráo trọi, thu rất nhiều
súng cộng đồng, có 2, 3 khẩu 75 ly không giật đây; trình Ðại Bàng
địch chạy tứ tán, một số khá đông chạy dọc theo bờ sông lên hướng
Bắc, xin Ðại Bàng kêu tụi Lữ đoàn 2 Cam Bốt hốt đi, v.v...
Tôi khích lệ Phán ít lời và làm theo Phán yêu cầu, liên lạc với Ðại
tá Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 2 cuSa Quân Lực Cộng Hòa Cam Bốt, báo cho
rõ sự tình, vị Ðại tá này sau thăng cấp Thiếu tướng làm Tham Mưu
Trưởng Quân Lực Công Hòa Cam Bốt dưới thời Tổng thống Lon Nol.
Tổng kết trận đánh: Tiểu đoàn 8 Thủy Quân Lục Chiến vừa chết, bị
thương dưới 30, địch khoảng hơn trăm xác rải rác tại trận địa, một
số chết vì Gunship, Pháo binh tác xạ truy kích không thể đếm được,
bắt sống khoảng 20, thu rất nhiều vũ khí cá nhân, cộng đồng như:
AK47, B40, B41, cối Trung Cộng 82 ly, đặc biệt là 2 khẩu đại liên
12.7, 3 khẩu 57 ly và 2 khẩu 75 ly không giật bắn thẳng.
Trung tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Quân Ðoàn 4, Vùng 4 Chiến
Thuật nghe tin chiến thắng bay từ Cần Thơ đến thăm Lữ đoàn ngày hôm
sau.
Ðây là lời Trung tướng Ngô Quang Trưởng: Tôi và Bộ Tham Mưu Quân
Ðoàn, nhất là Ðại tá Trưởng phòng 3 Quân Ðoàn khen Lữ đoàn và Tiểu
đoàn chuyển thế trận nhanh chóng, các anh thắng vì sự điều quân gan
dạ và liều lĩnh gây hoàn toàn vô phản ứng về phía địch: - Thứ nhất
là các anh di chuyển quá nhanh chóng, Pháo binh sát tới trận địa,
địch không ngờ - Về phía đoàn tàu dân sự quốc tế chỉ một vài chiếc
trúng đạn hư hại nhẹ, một thủy thủ chết vài ba bị thương nhẹ.
***
Khoảng tháng sau đó Lữ đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến được lệnh di
chuyển về Saigon gấp, bổ sung quân số, đạn dược, lương thực trong 2
ngày và được vận tải cơ C130 không vận thẳng đến phi trường quân sự
Khe Sanh tham dự cuộc hành quân Lam Sơn 719 vượt biên sang Hạ Lào.
Hình
do phóng viên ngoại quốc chụp tại Huế, ngay sau khi quân ta chiếm lại
được Thành Nội. Hình chụp Đại Úy Nguyễn Văn Phán, ĐĐT/ĐĐ3/TĐ1/TQLC cùng
1 tù binh VC bị TQLC bắt sống. Tên tù binh này là thiếu niên bị VC đẩy
vào chỗ chết!
Chiếm Lại Con Đường, Cửa
Sập, Chiếm Lại Kỳ Đài
Từ Cai Lậy về thủ đô, nhập ngay vào đánh giải tỏa trại Cổ Loa của Thiết
giáp và Xóm Mới của Gia Định xong xuôi. Quái Điểu, Tiểu đoàn I Thủy Quân
Lục Chiến, về nằm dọc đường Ngô Tùng Châu. Mười hai giờ khuya họp Tiểu
đoàn, hai giờ sáng có mặt tại phi trường Tân Sơn Nhứt, bốn giờ sáng lên
máy bay bay đi, đi đâu không biết. Đồ khô và tái trang bị không lãnh kịp.
Cứ lên phi trường rồi hay. Đó đây những loạt pháo kích, những loạt đại
liên rời rạc, những đốm hỏa châu lủng lẳng trên bầu trời. Tôi để lại đằng
sau một Sàigòn mang nặng bộ mặt chiến tranh. Những chiếc máy bay C-130
khổng lồ nuốt gọn 800 Quái Điểu và đưa chúng tôi lên cao trong đêm tối mịt
mùng.
– Đi đâu bây.
– Nha Trang, tao nghe Nha Trang đang có đánh nặng.
Lượm Đại đội trưởng đại đội 1 (dân Nha Trang) trả lời, Tôn Đại đội trưởng
đại đội 2 cãi:
– Đà Lạt.
Phán Phu Nhân nói:
Đi đâu cũng được, đổi vùng là khoái rồi.
(Khi vào quân trường, Phán trình diện: Tui chánh quán làng Phú Nhơn, ở gần
hồ Tịnh Tâm, quận Thành Nội Huế. Thế là sau đấy, giữa lửa đạn và thịt đổ
xương rơi, qua tiếng thét trong máy truyền tin cái tên ngụy trang “Phu
Nhân” ra đời nghe thật lạ tai!)
– Máy bay chi bay mãi ri bây.
Thời tiết xấu và rồi bánh xe phi cơ cũng chạm đất, những cặp mắt đổ đồn ra
khung cửa sổ máy bay. Phú Bài! Cơn gió cắt da, bãi cát trắng trải dài, mưa
nặng hột. Thiếu áo lạnh, tất cả đều cuốn Poncho, đứng nhìn đoàn người gánh
gồng xuôi ngược, hấp tấp và lo sợ, một số về Truồi, một số lên Dạ Lê và An
Cựu.
Phú Bài đó, Tịnh Tâm, Cầu Kho đó. Mạ, dì, chị em mình đó mà không liên lạc
được. Tình hình không biết sao, ruột như lửa đốt. Trách nhiệm nặng nề, tôi
nằm trằn trọc suy nghĩ thật nhiều để chờ sáng mai. Kỷ niệm thời đi học về
trong trí tôi, đẹp quá, nhẹ nhàng quá, vụng dại quá.
10 Giờ sáng, đoàn xe GMC đưa chúng tôi về Huế. Qua Dạ Lê, đồng bào hỗn
loạn, nét lo âu hiện rõ trên mặt. Tới An Cựu, dân chúng thưa thớt, nhà hai
bên đường đóng kín cửa, dọc quốc lộ 1 từ Huế về Phú Bài. Binh sĩ Nhảy Dù
từng toán nhỏ dìu nhau âm thầm đếm bước. Những cái nhìn như nhắn gửi như
lo sợ giùm chúng tôi. Mạnh, Đại Úy Nhảy Dù cùng khóa cho tôi biết:
– Huế tang thương và điêu tàn lắm Phán ơi, Thừa cùng khóa chết, Phạm Duy
Đà Lạt bị thương…
Mạnh khắp người băng bó, được hai đệ tử dìu về phía phi trường Phú Bài,
Mạnh tiếp:
– Phán, mày cẩn thận, không yểm trợ, không thực phẩm, không tiếp liệu,
thời tiết quá xấu. Tụi nó chiếm hết thành phố. Đại Nội, Gia Hội. Tụi nó
chốt rất kỹ chỉ còn một cái lõm nhỏ ở Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn I ở Mang Cá.
Sau này được nghe nói: Vì nghe tin Tướng Trưởng bị kẹt nặng, nên đại bàng
Lê Quang Lưỡng, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Nhảy Dù đã đưa quân đi bộ từ cây số
17 về Huế để cứu Tướng Trưởng. Tôi xin Tướng Lưỡng cho tôi được nghiêng
mình chào một cách đầy kính phục cho cái tình nghĩa huynh đệ không bút nào
tả nổi này. Để đáp trọn tình nghĩa, Lữ đoàn của Đại Tá Lưỡng cũng hao hụt
nặng nề.
Đoàn xe dừng lại bên hông đại học Văn Khoa, cách con đường là trường Trung
học Kiểu Mẫu vừa mới xây, đối diện là đài phát thanh Huế. Và trước mặt là
cầu Tràng Tiền, chiếc cầu tượng trưng cho xứ Huế, chiếc cầu đã hàng ngàn,
hàng vạn lần qua lại, đầy ắp kỷ niệm.
Nhìn qua chợ Đông Ba và phố Trần Hưng Đạo mà lòng quặn thắt. Một mái chợ
đã sập, những cột khói ngút trời cách khoảng. Những cột khói khác vươn
lên…Cả thành phố đã chết. Huế tôi tang thương đến thế sao? Một nhịp cầu đã
sập, tôi nghĩ vành khăn tang trắng đã cuốn lấy Huế.
Xuống tàu tại chân Cầu Tràng Tiền, xuôi dòng sông Hương xanh biếc qua Gia
Hội, quẹo trái sông Hàng Bè, cầu Đông Ba đó, có tiệm La Ngu ngày xưa chúng
tôi thường mua dụng cụ học trò. Tiếp tục xuống ngang tiệm gạo mụ Đội, có
người con gái đẹp não nùng tên Xuân, mà con trai Huế lứa tuổi tôi đều hơn
một lần đi qua đó để nhìn người con gái trời cho đẹp. Đến Bao Vinh, dân
chúng nhớn nháo khi thấy một đơn vị lớn đang đổ bộ tại bến đò.
Tôi hướng dẫn đơn vị vào Mang Cá nhỏ để tới bệnh viện Nguyễn Tri Phương.
Địch chào đón bằng hàng loạt hỏa tiễn 107 và 122. Tất cả nằm sát vào bờ
tường để tránh pháo và tìm chỗ phòng thủ. Tôi cho lệnh Sự, Trung Úy Đại
đội phó kiểm soát con cái và chuẩn bị cơm chiều. Trung Úy Sự là sĩ quan
trẻ, có tài và đầy nhiệt huyết, xuất thân khóa 19 Võ Bị Đà Lạt, thủ môn
hội tuyển Nha Trang, đúng là đa năng đa hiệu. Tôi dự buổi họp Tiểu Đoàn
khẩn cấp và quan trọng, tiểu đoàn trưởng ra lệnh:
– Phu Nhân rành địa thế dẫn đầu, 8 giờ sáng mai xuất phát. Kế tiếp là Tôn
đại đội 1, Lượng đại đội 2 . Tiếp đến là Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn cùng đại đội
chỉ huy, sau cùng là Tòng đại đội 4.
Mục tiêu Phu Nhân phải chiếm là trường tiểu học Trần cao Vân. Trước trường
có thành Quân Cụ, vào khoảng 1 đại đội ta đóng tại đó, không biết còn hay
mất. Phán hỏi:
– Còn phi trường thành nội thì sao? Tình hình trong Đại Nội, Thiếu Tá có
nắm vững không?
– Không rõ, tụi nó chiếm hết, chốt rất kỹ. Tất cả các cửa thành nội tụi nó
đều chiếm và chốt rất kỹ. Cửa Hữu, cửa Chánh Tây, cửa Sập, Cửa An Hòa, cửa
Đông Ba, Kỳ đài Phu Văn Lâu…tụi nó đều chiếm hết.
Trong óc tôi, 1 bản đồ chi tiết hiện ra rất rõ cho một cuộc hành quân, mà
tình hình tôi nắm không được vững. Tôi cố tìm một con đường ngắn, an toàn
cho đơn vị để tới mục tiêu. Có rất nhiều đường đưa tới đường Trần Cao Vân,
nơi từ 9 đến 19 tuổi tôi đã bao nhiêu lần đi lại. Con đường nào cũng đầy
hoa và mộng. Nay tôi đang tìm một con đường không có máu để cho anh em
chúng tôi đi.
8 giờ sáng, tất cả đã gọn gàng, sẵn sàng di chuyển. Ba trăm thước đường từ
Mang Cá đến nhà tôi sao quá dài. Bồn chồn, nóng ruột vì nơi đó có mạ tôi,
dì tôi, chị tôi, và em trai út của tôi đang trông ngóng. Không biết có bị
gì không? Thiếu úy Duật Trung đội trưởng trung đội dẫn đầu. Duật xuất thân
khóa 21 Đà lạt, hăng say, gan, thích xóc đĩa và gái đẹp, uống rượu rất ít,
chỉ phá mồi. Phan và BCH kế tiếp, Thiếu úy Nghênh, trung đội trưởng trung
đội 1 tiếp theo. Nghênh kinh nghiệm, gan lì, thích đánh phé nhưng đánh
nhỏ, rượu rất ít và không thích gái. Sau cùng là Thượng sĩ Hải, trung đội
trưởng trung đội súng nặng. Hải người Nùng, lì lợm già chiến trường, không
rượu, không gái, không thuốc lá.
Hai bên đường dân chúng đứng chen chúc, vẻ mặt hớn hở thật tội nghiệp cho
họ. Lần lần những khuôn mặt quen thuộc hiện ra, những cánh tay vẫy chào,
nào mụ Đội Dậu, mụ Ba, ông Sung, ông Dung, anh Thiên chủ bàn Ping pong…
Những tiếng nói đó đây: “Anh Phán đó tề! anh Phán”, tiếng gọi lớn và lan
dài suốt con đường tôi đi.
Con hẻm sát bên hồ Tịnh Tâm là đường vô nhà tôi, mạ tôi đó, di, chị và em
tôi đó. Xao xuyến quá! Tôi đi nhanh đến ôm Mạ tôi, dì và chị tôi khóc như
mưa, thằng em luống cuống chạy quanh, bị Mạ tôi nạt: “Mi chạy vô lấy khúc
cá kho khô và đòn bánh tét gói lại đem ra đây bới cho anh mi”. Mạ tôi dụi
vào tay tôi chai dầu Nhị Thiên Đường “Con xức cho khỏi gió”. Lính đi ngang
hỏi nhau “Mạ Đại Úy sao đầu trọc lóc như vậy bây”. “Bà ấy đi tu để phước
cho con, tụi mình cũng được hưởng ké đấy”. Phán và âm thoại viên vẫn còn
dừng lại: “Nhà mình có răng không mạ? Bà con thân thuộc có ai bị chi
không?” Nhà ông Quế chủ quán Chiêu bị trúng 2 trái, nhưng người thì không
răng. Nhà mình bị ngói đổ một góc, cây đào bị gãy ngọn. Còn thằng Chi
không biết đi mô. Chi là bạn tôi xuất thân khóa 17 Võ Bị Đà Lạt. Tôi xót
xa đắng miệng:
– Thôi con đi. Mạ và gia đình đừng lo cho con.
Mạ tôi khóc òa, tôi thật não lòng. Những tiếng gọi anh Phán, anh Phán,
tiếp tục vang lên cho đến giữa hồ Tịnh Tâm.
Tiếng gọi, giọt nước mắt và những cánh tay chào vẫy, phải chăng nhắc nhở
trách nhiệm của tôi, bây giờ là lúc đền đáp ơn sâu nghĩa nặng. Vinh dự này
thật khổ. Máu nóng sôi trong người, tôi và hai âm thoại viên vượt lên đi
với Trung đội đầu. Cuối hồ Tịnh Tâm là đường Tịnh Tâm, tôi cho lệnh quẹo
tay mặt theo đường lên nhà ông Ngự Đạt. Như vậy bên hông mặt của con cái
tôi lúc nào cũng có bức thành và cái hồ che chở. Cuối đường Tịnh Tâm quẹo
trái là trường Tiểu học Đoàn Thị Điểm, nhưng tôi không đi con đường này.
Tiếp tục thẳng qua một con hẻm nhỏ, con đường đã bao lần đi lại, nào ăn
cắp me, nào ăn trộm sấu, nào hái xoài, nào đào sen, nào học thi, nào thăm
người yêu…,con đường nào cũng nhắc tôi bao kỷ niệm yêu dấu không quên.
Đến Canh Nông, chưa thấy phản ứng nào của địch, gần sân bay Tây Lộc dân
chúng thưa thớt và kinh hãi. Tôi cho dừng quân bên này đường, một ông già
mách:
– Con đường ni bị bắn rất rát, từ trong cửa Hòa Bình Đại Nội bắn ra.
– Còn sân bay thành nội ra sao ôn, có ai không?
– Đánh nhau mấy ngày ni dữ lắm, mà tui cũng không biết răng, không biết
mình hơn hay thua nữa.
Tôi chỉ con đường và hướng dẫn Duật:
– Băng qua khỏi con đường này, đến một xóm nhà, qua 1 cái cổng thì bên
trái là thành Quân Cụ. Nghênh và Mã Khện yểm trợ hông mặt cho Duật, và sau
đó băng qua đường theo tôi.
Con đường chỉ có 5 thước mà hơn 1 giờ mới vượt qua với 6 thằng em rớt rụng
trên mặt đất. Lần theo mép đường tới sát ống cống, tôi cho dừng lại, phi
trường vắng tanh, tôi bảo Duật:
– Mày cho một thằng con nhỏ qua trước làm đầu cầu bên kia ống cống, chờ đó
cho tất cả con cái mày qua rồi vào thành Quân Cụ, chờ tau lên.
Thành Quân Cụ cao khỏi đầu người, không liên lạc được với người bên trong.
Tất cả con cái nằm sát thành để tôi và đám cận vệ bò tới cổng chính. Loáng
thoáng thấy nón sắt, field jacket, giây ba chạc. không phải tụi nó đâu,
chắc chắn là bạn rồi, thằng đệ tử tôi gọi lớn “Ê Thủy Quân Lục Chiến đây”.
Một loạt đạn bay qua khỏi đầu một cách rùng rợn. Bò lết vào tới trong đồn,
ông đồn trưởng nói tiếng Huế đặc sệt, ông Trung Úy Cát, thủ môn nỗi tiếng
của Huế:
– Đại Úy ơi, bảy ngày không ra nổi, nó bao hết, trường Trần Cao Vân, Đại
Nội, xóm nhà Bảo sanh, sau lưng trường cách một cái hồ tụi nó cũng chiếm
luôn. Dân chúng chạy hết rồi không còn ai cả. Tụi nó pháo liên miên, không
cho ngóc đầu, đủ loại cối 61, 82, hỏa tiển 107, 122. Tôi rán cố thủ ở đây
được ngày mô hay ngày nấy, còn ngoài nớ tôi không liên lạc được nên không
biết tình hình các nơi khác ra răng.
Tôi trở ra báo cáo về Tiểu đoàn. Lệnh của Tiểu đoàn trưởng:
– Phu Nhân chiếm cho bằng được trường Trần Cao Vân, dọn sạch chung quanh.
Tiểu Đoàn Trưởng và Bộ Chỉ Huy sẽ lên ở trại Quân Cụ.
Quan Sát địa thế thêm một lần nữa, trước mặt trường là cái am lên đồng,
bên cạnh là quán hớt tóc lợp tranh, chỉ có một ghế ngồi, sát đó là ngã ba
đường chạy lên cửa sập, một chạy về trường Đào Duy Từ, và một chạy đến
trường Trần Cao Vân. Có bốn năm cái đầu lố nhố bên trong trường.
Duật phải chiếm am trước, trong trường bắn ra mãnh liệt, có cả B40. Tôi ra
lệnh Nghênh và Mã Khện cầm chân hỏa lực trong trường học. Duật chiếm xong
am không một tổn thất. Tôi gọi Thượng sĩ Hải đem hai đại liên và một 57
không giật lên tăng cường cho Duật, để Duật yểm trợ cho Mã Khện vào
trường. Sau 45 phút dùng mưu kế cùng với hỏa lực và sự gan dạ, kinh
nghiệm, Mã Khện đã chiếm được một lớp học của trường, Nghênh tràn vào cùng
với Mã Khện lục soát và làm sạch sẽ.
Hỏa lực từ góc Thành Nội đổ dồn về phía trường học, không sao, đã có thành
của các lớp học che chở. Tôi kêu Sự:
– Pháo binh có chưa, kêu về đại bàng Thanh Hóa cứ bắn vào góc thành cho
tau. Đến chiều vẫn không có một trái pháo bắn, anh em tôi có 7 đã lót
đường cho mục tiêu, và 3 bị thương nặng. Tôi lên sát Duật và bảo đem cây
57 đến:
– Nhắm ngay vào góc thành, tụi nó bắn rát quá cứ phơ cho tau, trật trúng
gì không cần, chỉ cần tiếng nổ.
Qua một vạt đất trống, trong một ngôi nhà gạch có bóng người lấp ló, Duật
quay 57 nhắm thằng:
– Nhột quá, cho em bung cái nhà này đi.
Tôi bỗng thấy có bóng đàn bà, tôi la lớn:
– Khoan bắn, nhà thầy Tiềm.
Tôi băng qua đám đất trống đến gặp cô và các cháu. Không thấy thầy, tôi
chào cô và giới thiệu tôi học sử địa trong trường Bồ Đề với thầy và khuyên
cô về dưới phố. Tôi trở lại vị trí mà lòng nao nao buồn. Giờ này vẫn không
có pháo làm sao khóa góc thành đó lại. Duật bảo con cái đào hầm cho kỹ tôi
dặn: -“Mày cố thủ tại đây cho Tiểu Đoàn lên”. Rồi cùng đám đệ tử lúp xúp
chạy đến tiệm hớt tóc để quan sát ngã ba đường và góc Thành Nội, chợt nghe
tiếng đàn bà rên la quằn quại, sau cùng chỉ còn tiếng rên nho nhỏ. Nơi góc
quán tối tăm, một người đàn bà máu me khắp nửa thân thể, vừa bị thương
nặng, lại vừa sanh ra một bào thai lờ mờ tượng hình đứa bé trông giống như
con rắn mối. Xót xa, chịu không nổi, tôi ra lệnh đem chôn đứa bé đã chết
và chuyển người mẹ về đồn Quân Cụ cho bác sĩ Tựu giúp.
Đến đây 13 người chết, và 3 bị thương nặng để trải thảm cho đơn vị.
Tối đó, Bộ chỉ huy Tiểu Đoàn đến trại Quân Cụ. Sáng hôm sau, Tiểu đoàn
trưởng cho Đại đội 2 của Tôn, và Đại đội 1 của Lượm, dưới sự chỉ huy của
đại ca Đã, Tiểu đoàn phó, chiếm nhà Bảo Sanh. Đoạn đường có 30 thước, cách
một hồ nhỏ mà phải trả bằng 50 đứa con thân yêu, sau 8 tiếng đồng hồ mới
chiếm được nhà bảo sanh. Tôn bị thương ngay từ phút đầu, Lộc Đại đội phó
lên thay.
Mười ngày tiếp theo, nhìn nhau qua một con đường vừa đủ xe chạy mà hai bên
đều khựng. Mưa vẫn rơi, ray rứt, lê thê, thỉnh thoảng cơn mưa gió thật
lạnh thổi qua. Có những trận tấn công chớp nhoáng của địch vào đại đội của
Lượm và Lộc, đều bị đánh bật lui. Ngược lại, ta cũng nhiều lần cố tràn qua
bên kia, nhưng không chiếm được một tấc đất. Hai bên tải thương đều thấy
nhau rất rõ, Lượm bị hao hụt nặng, Phu Nhân lên thay.
Tôi và con cái bò lên từng toán một, địch và ta đã sát nhau, ngóc đầu lên
là đạn xuyên qua mũ sắt ngay. Hơn nửa ngày mới trám hết vị trí của Lượm.
Lượm và Tòng về phòng thủ cho Tiểu Đoàn. Tối đến pháo địch đủ loại nổ vang
trời. Xác chết của anh em nằm trên mặt đường mà không lấy được. Phía bên
kia 4, 5, xác địch vẫn để yên, tụi nó không dám ra lấy về. Cố giữ đất, giữ
vị trí và làm vài cuộc tấn công nhỏ vẫn không qua đường được.
Từ căn nhà hai tầng cuối nhà Bảo Sanh, một thượng liên và một trung liên
nồi của tụi nó kiểm soát con đường rất kỹ, dưới sự chỉ huy của một đứa con
gái mặc áo choàng màu xám, tóc xõa dài, nhưng không thấy rõ mặt. Tay đứa
con gái chỉ tới chỉ lui thì đạn nổ dồn về hướng đó. Tôi nhắm bắn 2 phát
M16 nhưng hụt, nó trốn nhanh vào sau cửa và mất luôn.
Hai mươi ngày nằm chịu pháo và bị bắn sẻ, tối nào hai bên cũng rà máy và
chửi nhau. Theo dõi máy, đột nhiên tôi bắt được một câu báo cáo “Bồ câu
hết thóc!’, và suy nghĩ địch quân đang hết đạn. Nếu cứ nằm như thế này,
một lúc nào đó địch quân chỉ cần ho thật to mình cũng mất vị trí ngay, chỉ
vì áp lực quá nặng nề, tổn thất nhiều, tinh thần anh em quá mệt mỏi. Tôi
đi đến kết luận riêng: “Nếu mình không đánh nó, chắc chắn nó sẽ tấn công
mình”. Tôi trình với tiểu đoàn trưởng:
– Thiếu Tá cho tôi luôn hai thằng để tôi tấn công tụi nó, tôi thấy tinh
thần anh em xuống quá, và sức khỏe càng ngày càng hao hụt.
Thiếu Tá tiểu đoàn trưởng không cho, bắt ráng giữ vị trí. Phu Nhân năn nỉ:
– Nếu không thì cho tôi đột kích, tôi cùng vài toán nhỏ tràn qua đường
đánh đột kích rồi về. Mình phải chứng minh cho địch quân thấy mình còn dư
sức ăn thua đủ, thời địch không dám tấn công mình.
Tiểu đoàn trưởng nói:
– Làm kế hoạch xong cho tôi hay.
Tại hầm của tôi anh em đang chờ họp gồm: Lộc, Đại đội trưởng đại đội 2.
Sự, Đại đội phó của tôi, Duật, Nghênh, và Mã Khện. Tôi nói:
– Nằm chờ lâu tau chán quá, chỉ muốn qua đột kích tụi nó rồi rút về.
Tất cả im lặng tôi nói tiếp:
– 4 giờ sáng mai mình đột kích. Nếu giữ được vị trí, tau cho tràn luôn.
Bây giờ tau chọn 4 toán. Toán 1: Phán, Điểu, Việt, Can, Dư và Phúc mang
máy. Toán 2: Duật và 3 người thật nhanh và gan dạ. Toán 3: Nghênh và 3
người. Toán 4: Thượng sĩ nhất Hải, và 3 người trang bị thật nhẹ, mỗi người
20 quả lựu đạn và 2 băng đạn cong ráp ngược cho M16. Sự và Lộc dẫn con cái
ra sát bờ tường, khi thấy khói xanh thì lùa tất cả tràn qua, nếu thấy khói
màu vàng thì yểm trợ tối đa cho tụi tao dọọc về. Sự và Lộc về lo cho con
cái. Đúng 4 giờ sáng có mặt tại vị trí.
Duật, Nghênh và Hải ở lại, tôi nhìn anh em thật lâu rồi cho biết:
– Tau theo dõi tụi nó báo cáo qua máy, hình như tụi nó thiếu đạn, do đó
tau quyết định cuộc đột kích hôm nay.
Tôi nghiêm mặt và lạnh lùng nói:
– Hai ông Duật và Nghênh tôi chỉ định phải đi với tôi, riêng ông Hải tôi
cho ông suy nghĩ lần nữa. Lần này đi khó trở về, ông con cái đông, muốn ở
lại vị trí tôi cho phép, và tôi hứa rằng, tôi không nghĩ ông thiếu can
đảm.
Suy nghĩ một lát, Thượng sĩ Hải trả lời:
– Đại Úy cho tôi ở lại vị trí.
Tôi vui vẻ bằng lòng và gọi Mã Khện đến, Mã Khện đồng ý đi và xin đem theo
Hạ sĩ nhất Mười. Tôi tiếp:
– Bây giờ các ông về chọn người xong lên gặp tôi.
Tôi ngồi suy nghĩ miên man, liều, phải liều mới cứu được đơn vị.
4 giờ, các toán trưởng lên gặp tôi có cả Trung Úy Sự . Tôi hỏi lần chót:
– Có ai xin ở lại, cho tôi hay.
Không ai trả lời, tôi căn dặn Sự, nhắc Lộc khi thấy khói xanh thì sao,
khói vàng thì sao, phải nhớ kỹ. Tôi đưa 3 toán trưởng bò đến hầm của nhóm
tiền đồn ở sát ngã tư đường. Tôi chỉ từng căn nhà bên kia đường:
– Cái thứ nhất gần ngã tư là mục tiêu của tau, cái thứ hai có hàng rào là
của Nghênh, căn thứ 3 cũng có hàng rào và cây nhãn cao là của Mã Khện, căn
thứ thứ 4 có mấy bụi chuối lớn là của Duật. Tất cả hãy quan sát cho kỹ và
chọn một con đường tiến quân thích hợp, không cần báo cáo, miễn sao cho
thích hợp thôi.
Tôi tiếp tục quan sát mục tiêu của tôi, căn nhà bằng gạch có nhà trên nhà
dưới, kế đó là cầu tiêu xây bằng đá lợp tôn, sát đường là cái giếng xây
bằng xi-măng. Trước sân có hai cây vú sữa cao và sai trái. Tôi biết phải
làm gì để chiếm căn nhà đó, tôi quay lại nói:
– Lần chót tôi hỏi các ông có ý kiến gì không? Đúng 4 giờ sáng mai tôi sẽ
chiếm trước, sau đó tùy các ông bằng mọi cách, phải hốt cho bằng được các
mục tiêu tôi ấn định.
Tôi trở lại vị trí, đặn dò Điểu, Can, Việt, Dư và Phúc mang máy:
– Tối nay miễn gác, 3 giờ sáng gặp tau ở đây.
Sau đó tôi gặp Tiểu đoàn trưởng để trình bày kế hoạch, ông nói:
– Nguy hiểm quá, không được, chết cả lũ.
Tôi nói:
– Nếu Thiếu Tá không làm bây giờ, một vài ngày nữa, tụi nó chỉ cần ho là
lính mình chạy hết.
Cuối cùng ông chấp nhận:
– Nhớ là có gì thì trở về liền, càng sớm càng tốt.
Tôi dạ nhưng trong đầu tôi nghĩ khác. Trước mắt tôi bây giờ không có gì
ngoài đoạn đường từ tiền đồn qua cái giếng, lên cầu tiêu, tới nhà dưới,
chiếm nhà trên. Tôi nằm suy nghĩ miên man cho đến 3 giờ sáng.
Trước khi bò ra tuyến xuất phát, tôi nhắc Sự và Lộc một lần nữa cho chắc
ăn, 4 giờ kém 10 sáng, toán tôi có mặt ở tiền đồn. Trời vẫn mưa, mưa ở xứ
Huế có dư âm của ngày Tết. Trời tối không thấy gì, tôi ngại bắn lầm nhau,
gắng chờ một chút nữa, đến 5 giờ sáng mưa vẫn không tạnh, trời vẫn còn tối
mù. Năm giờ rưỡi, cái giếng đã nhìn thấy được. Chuẩn bị, tôi cảm thấy hồi
hộp. Chỉ cần 4 cái nhảy vọt là qua bên kia đường, nhưng khó như đi lên
trời, vì con đường này là con đường tử thần làm ranh giới bên ta và bên
địch, và 20 ngày trời không nuốt nổi một thước đất. Rách bao nhiêu cũng
không qua được. Bây giờ mình cắt băng khánh thành, phải làm để cứu đơn vị,
phải hy sinh để cứu đồng đội. Vừa suy nghĩ xong tôi phóng vụt qua bên bờ
giếng, kế tiếp là Điểu, Việt, Can, Dư băng theo. Tất cả ngồi ôm thành
giếng, mồ hôi ra như tắm, dù trời lạnh như cắt. Điểu và Cam chiếm cầu
tiêu, bỗng một loạt đạn nổ dòn và thật gần, tôi quay nhìn ra đường, Phúc
và cái máy nát mình nằm trên mặt đường nhựa, dưới làn đạn mịt mùng của
địch. Tôi thét lớn:
– Dư, Việt, chiếm nhà bếp.
Tôi theo sát lên cầu tiêu, bên cạnh Điểu và Can. Súng và pháo nổ dồn dập,
một B40 nổ ngay trên đầu mái tôn cong, cả ba thầy trò đều bị miểng nhỏ đâm
đầy mặt, tóc râu và lông mày đều bị cháy. Cầu tiêu nhỏ quá, nên tôi cùng
Điểu và Can lên nhà bếp. Tôi ra lệnh:
– Điểu và Dư chiếm nhà trên, lục soát thật kỹ.
Để Việt ở lại, tôi và Can cũng lên nhà trên, Điểu và Can giữ cửa chính
nhìn ra sân, tôi và Dư giữ cửa sổ nhìn ra sau vườn có nhiều luống khoai
lang.
Trời sáng hẳn, tôi lắng tai nghe nhà bên cạnh, chẳng có gì cả, bèn bò trở
ra bờ giếng và thấy Nghênh, Duật, Mã Khện vẫn còn bên kia đường. Tôi toát
mồ hôi, tôi nhìn thẳng vào mấy ông rất nghiêm và lấy ngón tay ngoắc. Tôi
không dám gọi lớn, mấy ông kia gật đầu. Tôi bò trở lên nhà trên. Lựu đạn,
súng nhỏ, súng lón, nổ khắp nơi, và nhất là phía bên tay mặt tôi. Tôi biết
rằng con cái tôi đã băng được qua đường. Tôi hỏi khẽ:
– Thấy gì không Dư?
Dư lắc đầu. Tôi nghe tiếng thì thào sát vách tường phía ngoài, tôi đoán 7,
8 người đang ở trong một cái hầm, tôi dùng ngón tay đẩy nhẹ cửa sổ. Một
loạt đạn từ phía nhà đối diện xuyên ào, ào vào cửa sổ. Bỗng Dư chỉ tay về
phía các luống khoai. Tôi đếm đủ 11 người đang bò qua, Ka Ki Nam Định,
súng AK và B40, cách vách tường khoảng 20 thước. Tôi đưa súng lên định bóp
cò thì Dư kéo lại ra dấu đừng bắn, dùng lựu đạn. Tôi dựng cây súng xuống
thật nhẹ, hai tay rút hai trái lựu đạn miệng cắn chốt, Dư cũng thế, 4 trái
lựu đạn ném ra cùng một lúc, tiếng nổ xé trời, rồi 4 trái tiếp theo. Bên
ngoài tường, tiếng thét lớn rồi tiếng rên và sau đó là im lặng, tụi còn
lại, bò sát vào chân tường. Nhìn ra cửa, 5 xác còn nằm vắt trên luống
khoai. Một loạt đạn nổ và tôi nghe:
– Chết em, Đại Úy.
Tôi sững sờ nhìn Dư, tay trái ôm ngón út của bàn tay mặt đầy máu, ruột của
Dư đổ ra lòng thòng. Dư ngã vật ra chết tại chỗ. Nơi Dư đứng có một lỗ
hổng nhỏ ở vách tường. Vì mãi nhìn qua cửa sổ mà không để ý ở phía dưới.
Nguyên một họng AK thọc qua lỗ tường để sát vào bụng Dư và nhả đạn. Tôi
bắn một loạt M16 ra cửa sổ, và cứ thế, hết quả này đến quả khác, tôi ném
tất cả lựu đạn của tôi ra ngoài bờ tường. Hai thằng em đã hy sinh, còn 4
thấy trò phải giữ vững vị trí. Phía bên tay phải tôi, súng vẫn nổ dữ dội.
Đến 10:30 sáng tôi cho Điểu liên lạc với Nghênh, Duật và Mã Khện. Điểu
băng người ra đi, bốn căn nhà cách nhau 10 phút đi bộ, hơn một tiếng đông
hồ sau Điểu mới về, báo cáo là tất cả đã chiếm được mục tiêu. Có đoạn
đường nào xa và xấu hơn đoạn đường tôi đang đi!
Toán của Duật, 1 chết, 1 bị thương. Toán Mã Khện 2 chết. Toán Nghênh, 1
chết, 1 bị thương. Tất cả là 6 chết, 2 bị thương. Chúng tôi còn 11 người
tại tuyến.
Điểu bò ra giếng, cố đem qua cho tôi một cái máy. Cột máy vào một đầu dây
và quăng đầu dây kia qua cho Điểu kéo. Can mở máy, tôi liên lạc với Tiểu
Đoàn Trưởng:
– Tôi sẽ cho tràn ngập vị trí với 2 thằng của Lộc và thằng 3 của tôi.
Đại bàng hỏi:
– Tại sao từ sáng đến giờ không chịu liên lạc với tôi? Tôi ra lệnh rút về
ngay.
Phán nài nỉ:
– Đây là dịp may, tinh thần anh em đang lên, tôi xin Đại bàng cho làm
luôn.
Đại bàng Thanh Hóa nói bằng bạch văn không ngụy trang:
– Nếu anh không rút về, tôi sẽ đưa anh ra tòa án quân sự.
Khí giận bừng bừng, tôi tắt máy không trả lời, trên tay vẫn cầm trái khói
xanh. Suy nghĩ thật kỹ! Suy nghĩ thật kỹ! Hơn mấy giờ để đánh mục tiêu, 4
căn nhà và một con đường ngập máu. Mưa vẫn lạnh như cắt da, và mồ hôi tôi
vẫn ra như tắm. Cuối cùng tôi đành bảo Điểu chuyển lệnh cho các toán:
Năm thước đường, đi đã khó về còn khó hơn. Mỗi bóng người nhúc nhích là
đạn nổ hàng loạt, liên hồi, đạn bắn chéo bốn phía, đạn lưới thật dày trên
mặt đường và khắp vị trí. Làm sao trở về đây! Con cái bên kia đường đưa
mắt theo dõi. Toán tôi bò ra giếng, bỗng mấy bóng đen vụt qua đường như
sao sẹt, nhào vào bờ và được anh em kéo ra sau. Đạn nổ dòn tan cày nát mặt
đường. Đây là mấy đứa bị thương nặng, tưởng là di chuyển không nổi, nhưng
khi nghe lệnh rút, chúng thu hết tàn lực vùng chạy về chớp mắt không kịp
thấy.
Hỏa lực ba phía nổ vùi vào vị trí chúng tôi, các toán đột kích không còn
liên lạc với nhau, Điểu và Can vẫn giữ căn nhà. Địch kiểm soát con đường
bằng mấy cây thượng liên và trung liên, chúng bắn liên miên. Bên kia
đường, Sự và Lộc đáp lễ bằng hỏa lực cơ hữu của Khăn Tím và của 2. Tôi lấy
chân đạp vào thành giếng phóng người băng qua đường, lăn mình, nhảy, chạy
và té ào vô bờ lề. Anh em kéo vôi tôi vô sau, tôi dừng lại bảo Lộc và Sự
bắn từng loạt một để tụi nó dzọt về. Nhìn thấy Việt ngồi thành giếng trố
mắt ngó về mà tội nghiệp. Sống và chết cách nhau có một con đường. Tôi hồi
hộp xót xa cho mấy thằng em, tôi vừa quay mặt thét:
– Bắn kèm mấy cây thượng liên.
Thì những bóng người bay dzọt qua đường, tim tôi thắt lại, đạn nổ mịt mù.
Lần lượt tôi gặp Nghênh, Duật, Mã Khện và tất cả anh em.
Tôi ôm ghì từng đứa, tụi nó còn sống cả, Can và Việt nhào đến ôm tôi một
cách dữ dội, đậm đà trìu mến, lính với tay sờ người nắm nhẹ áo tôi:
– Đại Úy, tóc râu Đại Úy cháy hết rồi, mặt bị nhăm nhiều chỗ.
Cả đại đội bất chấp đạn địch, đứng dậy nhìn nhau hãnh diện sung sướng. Tôi
báo cáo Tiểu Đoàn: “Tất cả đã về vị trí”. Bỗng tôi thấy thiếu một cái gì,
tôi nhìn Can và Việt hỏi:
– Thằng Điểu đâu?
Tụi nó nói: “Lần cuối chúng em thấy nó vừa khóc vừa chạy lung tung tìm xác
Đại Úy ở bên ấy”.
– Thôi chết tau rồi, tau phải cứu nó, hai thằng bây theo tau.
Tôi, Can và Việt bò trở ra đường. Bỗng nhiên một bóng người nhảy qua khỏi
hàng rào, nhảy qua khỏi miệng giếng phóng nhanh qua đường, nhào lăn rào
rào vào vị trí la lớn:
– Ê, tui bây thấy anh Hai đâu không?
Điểu đứng dậy nước mắt đầm đìa, tôi lao đến ôm Điểu:
– Tao định qua kiếm mầy đây.
– Trời anh Hai, tụi nó nói anh Hai chết rồi, em đi lục hết căn nhà mấy
chục lần, chỉ không dám ra ngoài hè, mà không thấy xác anh Hai đâu. Hôm
qua Mạ có dặn nhỏ với em, phải sát cánh bên anh Hai, nếu có gì thì cũng
phải nhớ đem anh Hai về cho Mạ…
Tóc tai, mày, râu ria Điểu cháy nám, áo quần rách bươm, nó khóc mùi mẫn vì
thấy tôi còn sống. Rồi nó lại bẽn lẽn cúi đầu, hai hàng nước mắt lã chã
rớt xuống đất. Trong một cuộc chiến bạc bẽo lại có một chút tình nghĩa
trao nhau qua mấy giọt nước mắt nóng hổi.
6 giờ chiều, xuống trình diện Tiểu đoàn trưởng, ông nói ngay:
– Ông làm những chuyện nguy hiểm quá, lỡ kẹt bên đó thì nói làm sao với Lữ
Đoàn?
Tôi dạ dạ, vâng vâng cho qua rồi nghiêm mặt đề nghị:
– Thưa Thiếu Tá, ngày mai cho tôi tấn công, tôi tin chắc sẽ tràn ngập vị
trí tụi nó. Cho tôi thêm 2 thằng của Lộc, để 1 thằng của Lượm đi sau thu
dọn chiến lợi phẩm. Chỉ xin Thiếu Tá cho tôi hai chiếc tank kèm 2 bên hông
của tôi. Ông hỏi:
– Có chắc ăn không Phán?
Tôi cương quyết:
– Chắc, và nếu tràn được vị trí, Thiếu Tá cho phép tôi đánh thẳng lên Kỳ
Đài nếu kịp thời gian. Theo tôi, Tiểu Đoàn trưởng nên trình lên ông Già Hự
(Đại Tá Đàm Quang Yên Tư Lệnh Phó).
Ông Già chấp nhận.
Tôi trở về họp các Trung đội trưởng:
– Ngày mai 8 giờ sáng, Đại đội 3 Khăn Tím bên trái, đại đội 2 của Lộc bên
phải, dàn hang ngang, lấy con đường bên cửa Sập làm chuẩn, tiến song song.
Sau khi 2 chiếc tank yểm trợ bằng hỏa lực xong, cả hai Đại Đội xung phong
tràn ngập, vượt qua mỗi chốt thật nhanh, không cần thâu lượm chiến lợi
phẩm, để cho Đại đội 1 đi sau làm chuyện đó. Tất cả balô và đồ ăn để lại,
trang bị thật nhẹ, khi tới xóm nhà sát cửa thành thì chờ tôi.
Đúng 8 giờ sáng ngày hôm sau, dàn quân, hai chiếc tank Ontos hạng nặng
tiến lên, mỗi chiếc trang bị 6 cây đại bác 106 ly. Tôi chỉ vị trí cho 2
trưởng xa người Mỹ, rồi ra lệnh khai hỏa. Hy vọng 12 cây 106 này sẽ san
bằng mục tiêu trước mặt cho con cái tôi được dễ dàng đôi chút. Nhưng mỗi
chiếc tank chỉ bắn một phát đạn duy nhất, rồi chạy lùi biến mất, không
biết chạy về đâu. Tôi hết hồn, quân đã dàn xong, bắt buộc tôi phải ra lệnh
xung phong. Tôi hét thật lớn, hét khản cả cổ: XUNG PHONG! Cả một đoàn
quân, dàn hàng ngang, không một ai nhúc nhích. Con đường trước mặt, con
đường của 21 ngày máu và nước mắt, con đường tráng nhựa đẹp đẽ, nhưng băng
qua là đi vào cõi chết. Tôi tức giận chửi thề lung tung, rồi chụp cây đại
liên M60 của một người lính bên cạnh, bắn một loạt dài, rồi một mình tôi
vừa bắn, vừa băng qua đường cùng với toán cận vệ: Can, Việt, Điểu và 2
thằng mang máy. Qua khỏi đường xông tới trước, tiếng đại liên của tôi nổ
dòn. Đúng lúc ấy cả đoàn quân hô xung phong và ào qua đường. Sau đó đoàn
người vượt nhanh qua mặt tôi và lướt tới trước. Súng nổ vang rền, đoàn
quân tiến đều. M16 bắn vãi vào chốt, lựu đạn ném vào chốt, đạp chốt, băng
chốt, lướt qua, cố giữ đội hình. Tiếng nổ inh tai liên tục, đàn áp thật
mãnh liệt và chạy tới trước. Đến 3 giờ chiều, chúng tôi đến xóm nhà sát
cửa Sập. Tôi ra lệnh:
– Mỗi ông cho tôi 1 toán 10 người, băng thật nhanh đến áp sát mặt thành
xong, ngồi xuống. Toán kế tiếp chạy đến leo lên vai toán thứ nhất để toán
này đổ dồn lên thành. Khi bám được mặt thành thì tác xạ tối đa và bằng mọi
cách giữ vững vị trị làm đầu cầu.
Con cái tôi hành động đẹp còn hơn tài tử xi nê. Tiếng đạn lớn, nhỏ nổ rền,
hai toán lên thành chiếm xong vị trí.
Tôi cho con cái đem bàn ghế ra chất sát tường và leo lên ngay. Tiếng đạn
và pháo địch vẫn mãnh liệt trên nóc thành, phải khóa lại.
Một chặng đường xương máu đã vượt qua, bây giờ mục tiêu chính, mục tiêu
của niềm hãnh diện, mục tiêu của ơn sâu nghĩa nặng: Kỳ Đài Huế.
Đây là nơi tượng trưng linh thiêng của dân tộc nói chung, và cho Huế nói
riêng.
Duật và 20 người tiến chiếm 6 cây súng thần công to lớn, từ đó Duật dùng
hỏa lực kềm địch ở cửa Ngọ Môn, yểm trợ cho Nghênh và Mã Khện chiếm Kỳ
đài.
Phản ứng của địch bắt đầu yếu, 5 giờ 12 phút chiều, màu áo rằn ri Thủy
Quân Lục Chiến VNCH đã làm chủ Kỳ Đài.
Một thằng em rút đâu trong người ra một lá cờ vàng 3 sọc đỏ thật lớn. Tôi
gọi về Tiểu đoàn:
– Tất cả sạch sẽ, xin Thiếu Tá cho tôi treo cờ.
Tôi còn nhớ rõ lệnh của Trung Tướng Lê Nguyên Khang:”Một người lính Thủy
Quân Lục Chiến duy nhất còn sống sót cũng phải dựng lại cho được ngọn cờ
vàng tại Phú Văn Lâu.”
Trong niềm vui sướng tột cùng, Hạ sĩ Hạnh thét lớn:
Thủy Quân Lục Chiến!
Xong lấy trái hỏa châu đập mạnh, định bắn pháo bông lên trời ăn mừng.
Trong cơn say chiến thắng, Hạnh xoay ngược đầu hỏa châu vào mình, hỏa châu
nổ xuyên bụng. Hạnh cười tươi:
– Em không sao Đại Úy.
Phán nghĩ thằng em này tỉnh táo quá, chắc nó chết. Và nó chết thật.
Tiểu đoàn trưởng bảo Phu Nhân giữ đầu máy chờ. Sau này tôi được nghe: “Khi
báo cáo về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn I, Chuẩn Tướng Trưởng xin Thủy Quân Lục
Chiến dành vinh dự treo cờ cho Sư Đoàn I”. Sáng hôm sau ngày 24 tháng 2
năm 1968 (dương lịch), Phạm Văn Đính dẫn một đơn vị của Sư Đoàn I từ cửa
Thượng Tứ lên Kỳ đài làm lễ thượng kỳ.
Hạnh phúc vô biên khi Cờ VNCH được dựng lại tại Kỳ Đài Phú Văn Lâu sau 23
ngày bị cộng quân cho treo cờ của lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ, một
tổ chức CS được lãnh đạo bởi Lê Văn Hảo và Thích Đôn Hậu.
Nhìn lá cờ vàng bay phất phới trên nền trời màu xám của Huế, tôi hãnh diện
thật sự vì một thằng con của Huế đã góp phần dựng lại ngọn cờ này.
Trung Úy Sự trình tôi:
– Thằng Hạnh chết, mình còn 67 người.
Đại đội ra đi hơn 170 người, sau 24 ngày, với bao nhiêu lần bổ sung quân
số, chỉ có 3 mục tiêu: Con đường, Cửa Sập, và Kỳ đài mà bây giờ chỉ còn
lại 67 người.
Sáng hôm sau, tôi về phối trí đóng quân lục soát ở khu vực cửa Đông Ba,
nhà Thương Nhỏ, chợ Xép. Ngã tư Anh Danh.
Bộ chỉ huy của tôi đóng tại một tiệm cầm đồ, tiệm này có Tôn và Lưu cùng
học với tôi một lớp hồi còn nhỏ. Trong nhà không còn ai cả. Chiều hôm đó
tôi gặp lại rất nhiều bạn bè cũ. Tình hình chưa được an ninh hoàn toàn,
nhưng đóng quân ở đây, chúng tôi nhẩn nha hơn trước nhiều. Tôi đi kiểm
soát các vị trí và cho lệnh lục soát tàn quân địch.
Lính canh bắt giải tới một người đàn ông lớn tuổi, gầy ốm, ăn mặc lếch
thếch, áo vest nhàu rách, tóc tai rối bù, và dơ bẩn, miệng nói lí nhí.
Người lính nói với tôi:
– Lịnh giới nghiêm đã 11 giờ đêm, sao ông này còn lang thang trên hè phố,
em nghi quá.
Tôi sững sờ nhìn người đàn ông:
– Thầy Cao Hữu Triêm, trời ơi thầy.
Tôi gọi mấy tiếng lớn mà thầy cũng không nghe, thầy tiếp tục lẩm bẩm rất
nhỏ, tôi cầm tay mời thầy ngồi:
– Con là học trò cũ của thầy đây.
Một ánh mắt lạc lỏng xa vời:
– Ờ ờ, sao con khỏe không, thầy mấy ngày ni chưa ăn chi cả.
Lính tôi kiếm cơm trắng và một đĩa gà luộc về, mời thầy xơi. Tụi nó còn
kiếm được một bình trà nóng mời thầy. Sau một hồi thầy tỉnh tảo và cho
biết:
– Cô và cháu nhỏ sắp vào Đà Nẵng, thằng con lớn bị chết rồi. Thầy không
muốn về nhà nữa, rồi thầy khóc, giọt nước mắt lăn dài trên đôi má nhăn
nheo.
– Thôi, thầy ở đây với con cho yên.
Tôi nói lính của tôi thay nhau hầu hạ thầy ân cần, đến ngày thứ Tư thầy
đòi đi, tôi thu xếp để thầy vào Đà Nẵng. Từ đó tôi mất tin tức của thầy.
Mong thầy bình yên.
Được sinh ra và lớn lên ở Huế, tôi cố trả một phần nào chữ hiếu cho nơi
chôn nhau cắt rún. Máu của tôi, của anh em tôi, của đồng bào tôi đã tạo
thành một cơn sóng thần cuốn đi tất cả kẻ thù, để dựng lại ngọn cờ trên Kỳ
Đài tượng trưng cho Huế.
Hai mươi năm sau, hồi tưởng lại máu và xương kia đã theo giòng Hương Giang
cuốn tôi và bằng hữu ra biển, bắt làm người biệt xứ.
Lạy trời, một ngày nào đó, cũng Cô Đô đó, cũng Kỳ Đài đó, cho tôi được góp
phần dựng lại ngọn cờ một lần nữa để đền đáp ơn sâu và nghĩa nặng nơi tôi
đã sinh ra, nuôi tôi lớn lên và cho tôi làm người.
Bốn mươi năm sau, kể từ ngày bị buộc phải buông súng, sống kiếp đời lưu
vong, hào khí của người anh hùng TQLC/ VNCH vẫn còn đây:
Khi Tôi Chết, Đừng Đưa Tôi Ra Biển
Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Lao Bảo, Khe Sanh Để đêm nghe vang động khúc quân hành Ôi lính chiến một thời kiêu hãnh quá.
Khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển Đưa tôi về Ben-Hét, Đắc-Tô Nơi bạn bè tôi xây mộng giang hồ Nguyện trấn giữ dãy Trường Sơn yêu quí.
Khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển, Đưa tôi về Bình Giả, Chiến khu D Cho hồn tôi siêu thoát với lời thề Thân chiến sĩ nguyện xin đền nợ nước. Khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển Đưa tôi về Cái Nước, Đầm Dơi Đêm U Minh nghe tiếng thét vang trời Mừng chiến thắng để dâng về Tố quốc Khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển Trả tôi về với dân tộc Việt Nam Gói thân tôi Ba sọc đỏ mầu Vàng Xin liệm kín với hồn thiêng sông núi.
Thơ của TQLC/VNCH
Trung Tá Nguyễn Văn Phán
Ý kiến bạn đọc trên Việt Báo
07/04/201823:48:28
Tran Van
Khách
Một
bài viết hay và với lời văn sống động đã làm người đọc có cảm tưởng như
đang cùng tham dự chiến trận với các người lính thủy quân lục chiến
Việt Nam Cộng Hòa quả cảm tiễu trừ bọn khủng bố Cộng sản ở cố đô Huế.
Theo bình luận gia Trần Bình Nam, Huế có dân số khoảng 140000 người.
Cộng sản ban đầu huy động 8000 quân. Tuy nhiên, trong thời gian 26 ngày
kế tiếp, tổng cộng có đến khoảng 20000 tên bộ đội đã được ném vào chiến
trường Huế - Thừa Thiên. Nhưng chúng đã bị các chiến sĩ ta và Hoa kỳ
đập cho tơi tả, khoảng 8000 tên đã phơi thây trên chiến địa. Bên ta, với
các trận đọ súng gay go trên từng đường phố, giành chiếm lại từng ngôi
nhà , 384 tử trận và 1800 bị thương. Và Hoa kỳ tổn thất 221 người và
1364 bị thương. Về phía dân chúng, gần 6000 người bị quân Cộng sản khủng
bố giết hại. 40% nhà cửa bị sụp đổ, có 116,000 người trong số 140.000
dân bị mất nhà cửa.
"Tổng tiến công, tổng nổi dậy " của Cộng sản tan tành như xác pháo !
07/04/201823:39:18
Tran Van
Khách
"Thủy
Quân Lục Chiến đã làm chủ Kỳ Đài... Trung tướng Lê Nguyên Khang:" Một
người lính Thủy Quân Lục Chiến duy nhất còn sống sót cũng phải dựng lại
cho được ngọn cờ vàng tại Phú Vân Lâu". Trong niềm vui cùng tột, Hạ sĩ
Hạnh lấy trái hỏa châu đập mạnh định bắn pháo bông lên trời ăn
mừng...Trong cơn say chiến thắng, Hạnh xoay ngược hỏa châu vào mình, hỏa
châu nổ xuyên bụng ".Trích.
Ngày nay, theo cựu đại tá Phạm Bá Hoa, ở Hoa kỳ, sơ kết 140 địa
phương đã công nhận lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, gồm 18 tiểu bang, 8 quận hạt,
114 thành phố, và các địa phương này thuộc 32 tiểu bang. Bên Canada,
ngày 1/2/2011, với tư cách là một dân biểu kiêm bộ trưởng Bộ Công Dân
Vụ, Di Trú, và Đa Văn Hóa, ông Jason Kenney đã công nhận lá cờ vàng với
ba sọc đỏ là biểu tượng của cộng đồng Việt Nam tại Canada.
07/04/201823:29:50
Tran Van
Khách
“tôi
nhìn Can và Việt hỏi: – Thằng Điểu đâu? Tụi nó nói: – Lần cuối cùng em
thấy nó vừa khóc vừa chạy lung tung tìm Đại Úy ở bên ấy.
– Thôi chết tau rồi, tau phải cứu nó, hai thằng bây theo tau... nó khóc mùi mẫn vì thấy tôi còn sống. (Trích )
Ôi, tình chiến hữu, tình thượng cấp- thuộc cấp đẹp biết là dường nào !
07/04/201819:08:48
SON NGUYEN
Khách
Bài viết của chú Phán tôi đọc được vài lần trên mạng và thêm lần này mà vẩn thấy hay, không nhàm chán bởi lối viết lôi cuốn.
Chú Phán học cùng khóa 9 đoàn kết tại Liên trường Vỏ khoa Thủ Đức
với Ba của tôi. Đầu năm 1975 nhân dịp Tết tôi đã thấy thiệp chúc Tết của
chú gởi đến cho Ba tôi sớm nhất . Lúc ấy chú đang là tiểu đoàn trưởng
chỉ huy công vụ của sư đoàn TQLC. Trước đây chú cũng từng là TĐT T/Đ 8 Ó
Biển.
Nguyễn Sơn
07/04/201814:23:07
Phi Nguyễn
Khách
Xin cám ơn những người anh hùng của đất nước tôi một thời.
Xin cám ơn một thế hệ anh hùng.
Va trên tất cả, hình ảnh mãi mãi trong tim tôi: Thuỷ Quân Lục Chiến!
06/04/201817:27:33
Duatin
Khách
Câu
chuyện that cảm động đầy hy sinh và long quả cảm của các chú các bác
thuộc quân lực VNCH đã hy sinh rất nhiều để baỏ vệ miền nam suốt hơn hai
mươi năm. Hy vọng ngọn đuốc của lòng yêu nước quả cảm cuả các chiến sĩ
VNCH sẽ thắp sang mãi mãi cho thế hệ con chaú khôi phục được đất nước
không còn bóng cộng sản.
06/04/201814:32:00
Lê Như Đức
Khách
Biết
bao người chết, biết bao tang thương, biết bao đổ nát để rồi giờ đây
chúng đẩy cả nước xuống hố mà vẫn giả bộ ngu ngơ đú đởm khoe khoang tự
do gấp trăm lần và dân sống hạnh phúc no ấm.
Nhìn hình người lính VNCH thật oai hùng và quả cảm. Xin thêm một lần ngã nón cám hơn các anh
06/04/201811:44:52
Người xứ lạnh
Khách
Đọc
mà cảm động và khâm phục tác giả cùng đồng đội đã anh dũng hy sinh bao
xương máu để lấy lại Huế trong tay giặc. Cũng mong lắm thay một ngày
không xa tác giả cũng sẽ góp một tay không những lấy lại cố đô Huế mà sẽ
lấy lại cả một nước Việt Nam từ bọn cọng sản khát máu!
06/04/201809:39:04
Chú Chín Cali
Khách
Những
bài hay thường là những bài viết Iên cảm xúc thật của người trong cuộc.
Người có cảm xúc thật thường không viết được. Người viết được lại không
có cảm xúc thật. Tác giả có cả hai nên bài viết tuyệt vời, vừa hấp dẫn,
vừa xúc động. Đây là bài tôi trông chờ, nói lên chí khí hào hùng của
quân đội VNCH. Cám ơn tác giả.