Tuesday, October 9, 2018

Mỗi năm tháng Tư về - Người lính già Oregon


"Mỗi năm Tháng Tư về" có thể nói là một góc nhìn về vấn đề hòa hợp hòa giải. Trong bài viết, tác giả nêu tên những kẻ đang âm mưu thay đổi cái danh xung "Quốc Hận" hầu đánh lừa ngưòi Quốc Gia quên đi tội ác của VGCS mà hòa giải với chúng. Mỗi dẫn chứng là một lời khẳng định "không thê hòa giải với CS" được. Tác giả còn nhấn mạnh ở đoạn kết : " Tiện nhân sẵn sàng quên hận thù đối với VC với hai điều kiện dưới đây - phải đi đôi với nhau:
 1) VC phải thiết lập chế độ dân chủ, tôn trọng tự do, nhân quyền …
 2) VC phải bảo vệ tổ quốc và lãnh thổ trước hiểm họa xăm lăng của Tàu Cộng.
Ra điều kiện như thế có khác gì không ra, mà để bắt chẹt CS thôi. Bởi vì, nếu VGCS thi hành những điều kiện của tác giả thì chúng không còn là CS nữa rồi, và chúng ta cũng không có gì để nói nữa cả.
Ngưòi Lính Già Oregon (NLGO) là bút hiệu của tác giả Nguyễn Kim Quý, Tiến sĩ Văn Chương Pháp, nguyên sĩ quan giám học trường Đại Học CTCT Đà Lạt.
Chúng tôi xin ân cần giới thiệu bài "Mỗi Năm Tháng Tư Về" của NLGO với quí bạn đọc.
 
Mỗi năm tháng Tư về
 người lính già oregon

 I.
Mỗi năm tháng Tư đến
Lại thấy bọn cò mồi
Bày trò khỉ hòa giải
Mưu bỏ Quốc Hận thôi.
 
Tiện nhân chỉ làm (nhại) được bốn câu thơ con cóc ấy thôi, thì tịt ngòi, xin lỗi cụ tác giả Vũ Đình Liên và quý bạn, quý vị độc giả thân quý. Trong vòng ba năm qua, đã có ít nhất bốn trường hợp mà ngày 30/4, là ngày Quốc Hận của toàn dân Miền Nam, bị đổi danh xưng –một hình thức dẹp bỏ khéo léo, hợp pháp.
Quả vậy, đầu tiên, trên tờ Thông Luận, ở Pháp, số tháng 4, 2012, của cái anh gốc công chức VNCH phản thùng Nguyễn Gia Kiểng (nay là một trí thức nửa mùa, raté, kinh niên bất mãn, đến nỗi chửi cả chế độ mà anh ta đã từng phục vụ, rồi lôi cả anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ ra mà bôi nhọ) có đăng bài viết của Tiến sĩ trở cờ Nguyễn Văn Huy, Paris, cựu sinh viên khóa 8 CTKD Thụ Nhân Đà Lạt, với tựa đề khá khiêu khích, “Hội chứng 30/4”, chỉ trích việc tưởng niệm ngày 30/4. Rồi đến Dự luật S-219 năm nay của Thượng nghị sĩ được bổ nhiệm, không do dân bầu (nên đâu cần kiếm phiếu của dân Việt tỵ nạn), Ngô Thanh Hải, đệ trình Quốc Hội Canada, đòi lấy ngày 30/4 làm “Ngày hành trình đi đến tự do”. Xen giữa là Dick Black, TNS Virginia, tác giả của Dự Luật SJ Resolution 455, năm 2013, với sự cộng tác của Giáo sư và Dịch giả Nguyễn Ngọc Bích, đề nghị Quốc Hội Virginia lấy ngày 30/4 để vinh danh Nam Miền Nam, đặc biệt những “Người Mỹ gốc Việt” thành công tại Virginia. Và, cũng trong tháng 4, 2013, cựu Đại tá Vũ Văn Lộc, tự Giao Chỉ, San José, chủ nhân ông của cái gọi là Viet Museum, nhận fund của chính phủ Mỹ, đã tổ chức vinh danh tử sĩ và cựu chiến binh Mỹ tại San José vào đúng chiều ngày Quốc Hận 30/4.
 
 II.
Ngoại trừ ông Ngô Thanh Hải, tiện nhân đã viết bài, ít nhiều “hỏi thăm sức khỏe” ba ông kia rồi. Tiện nhân không đụng đến ông Hải vì có nhiều vị đã, đang, và sẽ đụng ông dài dài. Viết thêm sẽ phải lặp lại chính mình và những điều mà quý vị ấy đã nói, một cách hữu lý, đầy thuyết phục.
Chẳng hạn, xin trích lại những lời của chính tiện nhân:
 
a) về một đoạn cuối trong bài của Tiến sĩ Nguyễn Văn Huy:
TS. NVH: Đã đến lúc cộng đồng người Việt tị nạn miền Nam can đảm làm lễ chôn cất ngày 30 tháng 4 trong ký ức. Khi 30 tháng 4 đã được yên mồ đẹp mả, cộng đồng người Việt hải ngoại mới thực sự vượt khỏi sự giam hãm của quá khứ và có thể tiến vào tương lai một cách hùng dũng. Quên là một quyết định rất khó nhưng bắt buộc, nếu muốn được giải thoát. 
NLGO (cf bài “Hội chứng Nguyễn Văn Huy”, 3 May 2012):  Ta đồng ý với ngươi, với một điều kiện duy nhất: ngươi cũng hãy “can đảm làm lễ chôn cât” ông bà cố tổ của ngươi “trong ký ức” trước, hãy cho họ  “được yên mồ đẹp mả” trước. Và những thằng lãnh đạo VC hãy phá cái lăng Hồ Chí Minh, đem đi chôn cái xác hôi thối của y trước đã, xong rồi nói chuyện tiếp. Vì, trong mọi trường hợp, tổ quốc Miền Nam –là nơi người được sinh ra, mà lá cờ vàng ba sọc là biểu tượng ngàn đời yêu dấu– dù sống dù chết vẫn mãi mãi nằm trong tim của những người quốc gia tỵ nạn Cộng sản. Khi ngươi chưa phá bàn thờ tổ tiên của ngươi, khi những thằng lãnh đạo VC chưa đập lăng Hồ Chí Minh, thì ngươi đừng mở mồm bảo những người chống Cộng quên đi ngày đau thương của tổ quốc.
b) về Nghị quyết SJ Resolution 455, Virginia:
NLGO (cf thư ngày 12/4/2013): Rõ ràng năm điều XÉT VÌ này có mục đích tôn vinh những thành công và đóng góp của di dân và con cháu di dân Việt Nam, nay trở thành “South Vietnamese Americans”, tức người Mỹ gốc Nam Việt Nam, tại Virginia, cũng tốt thôi. Trong số có hai người được nêu danh tánh trên Mạng đã tích cực góp công trong việc thành lập Ngày Công Nhận Nam Việt Nam ở Virginia. Đó là ông Phan Đức Tính và bà Trần Mỹ Lan thuộc Hiệp hội Thương mại Á Châu Virginia, mà qua 5 XÉT VÌ ấy muốn vinh danh chính mình và đồng nghiệp. Nói đến thương mại là nói đến lợi lộc, tiền bạc, bất kể hậu quả chính trị, bất kể, nếu cần, bắt tay hoặc “ngủ với kẻ thù” (sleeping with the enemy).
c) về thư mời của ông Giao Chỉ:
Giao Chỉ: “Nhưng vẫn chưa muộn. 6 giờ chiều đúng ngày 30 tháng tư 2013 nhằm ngày thứ ba sẽ có buổi tưởng niệm do người Việt chúng ta tổ chức. Có sự phối hợp của văn phòng ông Dave, giám sát viên quận Santa Clara, Ủy ban chiến binh Hoa kỳ xây dựng bức tường, biệt đoàn văn nghệ Lam Sơn, IRCC-Việt Museum, Liên Hội người Việt quốc gia và nhiều tổ chức khác. Sẽ có lễ chào cờ Việt Mỹ, giây phút tưởng niệm tử sĩ Việt Mỹ, đặt vòng hoa, đọc tên 142 tử sĩ và hát nhạc hùng tiếng Mỹ ca ngợi sự hy sinh của chiến binh tự do tại Việt Nam.”
NLGO (cf thư trả lời ngày 28/4/2013): Ngày 30/4 là Ngày Đau Thương, Uât Hận, Ngày Mất Nước của Quân Dân Quốc Gia Miền Nam. Mà cái tội mở cửa cho Cộng quân vào chiếm đoạt đất nước ta là do ai, ông biết không? Con nít cũng biết là do những anh Mỹ Thiệt, đứng đầu là Nixon và Kissinger, phản bội, chứ còn ai nữa. Nay ông, một Mỹ Giấy, không biết nhục, lại đi vinh danh người Mỹ, sống hay chết, vì nhu cầu xin fund cho cái gọi là Hội IRCC-Viet Museum của ông thì mặc kệ ông chứ, việc gì viết thư dụ chúng tôi đến tham dự (“sẽ có lễ chào cờ Việt Mỹ”: ô hô, chào cờ là bổn phận, khỏi cần quảng cáo; trong dịp lễ mừng Tết nguyên đán năm nay, ông không cho chào cờ bị thiên hạ chửi cho đó, nhớ không?) với ông cho vui, để quan thầy Mỹ Thiệt của ông (Mr. Dave chẳng hạn) thấy đông, xoa đầu khen “very good”? Vì sao? Vì tưởng niệm lính Mỹ là điều tốt, không ai chối cãi. Nhưng tổ chức tưởng niệm họ vào đúng chiều 30/4 là sai, là thách đố công luận chống Cộng. Y hệt như cái chuyện SJ Resolution 455 của Quốc Hội Virginia: nội dung thì tốt, nhưng chọn ngày thì quá dở, nếu không nói là ngu, vô cảm.

 III.
Ý kiến, trước sau như một, của tiện nhân đối với đề nghị của những ông trên (ngoại trừ Tiến sĩ Nguyễn Văn Huy đòi dẹp bỏ hoàn toàn ngày tưởng niệm 30/4, mà ông ta đã gọi xách mé là “hội chứng 30/4”), như sau:
1) Những đề nghị
  Vinh danh cá nhân (những người Mỹ gốc Việt thành công tại Virginia, các tử sĩ và chiến binh Mỹ tại San José), hay tập thể (quốc gia VNCH, quân đội Miền Nam, tại Virginia, hành trình đi đến Tự Do, tại Canada) đều OK, đúng đắn, hữu lý, đáng khen, nghĩa là không có gì sai trái.
2) Vấn đề
Tiện nhân muốn hỏi đi hỏi lại những ông đề nghị viên ấy, và những ủng hộ viên của họ, mà không có một người nào lên tiếng trả lời: Tại sao không chọn một ngày khác, thiếu gì trong một năm có 365 ngày, một tuần có 7 ngày, một ngày có 24 giờ, mà lại lấy ngay ngày 30/4 là ngày đau buồn của quân dân Miền Nam?
Trừ những ngày lễ của Việt Cộng và những ngày lễ lớn đã được công nhận của VNCH, ví dụ Ngày Quân Lực 19/6, nếu ngay tình thì lấy ngày nào mà chả được, chẳng hạn ngày Quốc Hội Virginia ký Nghị quyết 455 của họ, hoặc ngày chính quyền Ford hay chính phủ Canada mở cửa tiếp nhận những thuyền nhân Việt Nam đầu tiên tới định cư? Nhưng đụng đến ngày tưởng niệm 30/4, bây giờ trở thành ngày giỗ linh thiêng cho đất nước do toàn dân Miền Nam đứng ra tổ chức, là không được, là vô tình hay hữu ý thách đố, là cấm kỵ, là có gian ý, có mưu đồ bất chính. Bị thiên hạ chửi cũng đáng đời thôi. Vì sao?
Vì lấy chính ngày 30/4 là trúng kế Việt Cộng và chọc giận những nạn nhân của chúng. Chúng ta không cần Quốc Hội Virginia, hay Quốc Hội Canada công nhận Ngày Nam Việt Nam, hay Ngày Hành trình đi đến Tự Do, hay ngày gì gì đi nữa. Chúng ta chỉ muốn Virginia, nước Mỹ, hay Canada, và cả thế giới không đụng đến ngày 30/4 là ngày Miền Nam bị mất vào tay Cộng sản Bắc Việt tiếp theo sự lật lọng của “đồng minh” Mỹ. Thế thôi. Đó là, dĩ nhiên, ngày Quốc Hận của chúng ta, những nạn nhân không thể chung sống với lũ VC bạo tàn, phi nhân, phải bỏ nước ra đi tỵ nạn. Còn người Mỹ, Canada, hay Úc châu có xem đó là ngày Quốc Hận hay không là chuyện của họ, mặc kệ họ, chúng ta không cần biết, không đòi hỏi, không bắt buộc.
Mỗi năm, trong nước, Việt Cộng tổ chức rầm rộ ăn mừng cái “chiến thắng” ảo “đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào”, “thống nhất quốc gia”, biểu ngữ, cờ xí ngợp trời, lải nhải kể công lao (hoang tưởng, vì nếu Mỹ không phản bội mở cửa rước bọn cướp vào nhà thì chúng nó đã chẳng làm nên trò trống gì) của tên Hồ tặc gian ác, của Đảng Cộng Phỉ bạo tàn. Trong khi đó, chúng ra lệnh cho tay sai ngoài nước vận động đồng bào, bằng cách này cách nọ, bỏ Ngày Quốc Hận –ba chữ mà chúng vô cùng dị ứng, trong mục đích dụ dỗ và lừa bịp một số đồng hương suốt đời ngây thơ với chiêu bài hòa hợp hòa giải dân tộc, gồm những trí thức, ca nhạc sĩ, thương gia v.v… đã bán linh hồn cho quỷ. Quốc Hội Virginia lấy ngày 30/4 để vinh danh quân dân Miền Nam, cũng như Quốc Hội Canada vinh danh “cuộc hành trình đến Tự Do” của dân tỵ nạn, có thể bị VC vốn rất lưu manh, láu cá nhận vơ là cùng chung vui “ngày chiến thắng” với chúng nó, biết đâu (nghe những fans của ông Ngô Thanh Hải nói rằng VC Nguyễn Tấn Dũng viết thư phản đối dự luật S-219, nhưng hơi đâu mà tin mấy thằng lãnh đạo VC, chúng ta bị lừa hoài mà vẫn chưa tởn?)
Những kẻ đề nghị thay đổi Ngày Quốc Hận thành bất cứ danh xưng nào đều là vô cảm hay ngây thơ, bởi vì cứ tưởng tượng ai đó cắc cớ, hoặc nổi cơn khùng, đề nghị Do Thái lấy ngày tưởng niệm nạn nhân Đức quốc xã (Holocaust) hàng năm làm Ngày Do Thái, hay đề nghị dân Pháp lấy ngày Hitler chiếm đóng Paris, một ngày quốc nhục, làm Ngày Pháp quốc, sẽ thấy dân chúng Do Thái hay Pháp lên tiếng phẫn nộ như thế nào? Ngay trong gia đình, có ai dám lấy đúng ngày giỗ cha mẹ, ông bà để mở tiệc ăn mừng đứa con mới tốt nghiệp đại học, hoặc kỷ niệm 50 năm ngày cưới?
3) Về hận thù
Đòi hỏi quân dân Miền Nam tỵ nạn xóa bỏ hận thù với VC thì cũng giống như đòi hỏi dân Do Thái tha thứ cho Hitler và chế độ Đức Quốc xã, hay đòi hỏi các nước Đông Âu làm hòa với Staline và tập đoàn Cộng sản Liên Xô, mặc dù Hitler và Staline nay đã trở thành quá khứ. Hay Căm Bồt bỏ qua tội ác ghê tởm của Pol Pot và Khmer Rouge. Hay đồng bào Huế quên tội giết người khủng khiếp của những tên đao phủ VC nằm vùng và thảm kịch Tết Mậu Thân 1968. Sau ngày VC cưỡng chiếm Miền Nam, cả dân tộc VN đã và đang còn sống trong nanh vuốt của loài thú dữ VC bạo tàn, độc tài, đảng trị, vô tổ quốc, vô giáo dục, vô tôn giáo, từ tên dâm tặc và đạo tặc Hồ Chí Minh của hang Pắc Pó năm xưa xuống tới những thằng lãnh đạo tự phong ngu dốt bây giờ… Làm sao những người quốc gia tỵ nạn có thể quên được thù hận, có thể hòa giải với loài Cộng Phỉ?
Tiện nhân sẵn sàng quên hận thù đối với VC với hai điều kiện dưới đây - phải đi đôi với nhau:
1) VC phải thiết lập chế độ dân chủ, tôn trọng tự do, nhân quyền, nâng cao đời sống, về kinh tế và giáo dục, của người dân, giống một số nước Châu Á láng giềng thôi (chưa nói Âu Châu và Hoa Kỳ) như Nam Hàn, Thái Lan, Nhật Bản, Philippines, Singapore...
  2) VC phải bảo vệ tổ quốc và lãnh thổ quốc gia trước hiểm họa xăm lăng của Tàu Cộng, kẻ thù muôn đời của dân tộc VN.
Chưa, hay không, làm được hai điều đó, thì Việt Cộng trong nước, Việt Gian, và tay sai ngoài nước đừng hòng, qua Nghị quyết 36, âm mưu dụ dỗ, lừa phỉnh đồng bào tỵ nạn đem tiền bạc và chất xám về cung phụng cho chúng, bằng chiêu bài hòa hợp hòa giải cũ rích (mà chính chúng nó cũng không thèm thi hành), xóa bỏ hận thù đối với chúng –hận thù mà ngày 30/4 hàng năm luôn luôn là biểu tượng. Dù ai nói ngả nói nghiêng, thủ đoạn khéo léo bày đủ thứ trò khỉ.
Portland,
NLGO

Monday, October 8, 2018

BA TÔI , NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HÒA - Hùng Biên



Trong nỗi niềm thương nhớ sự ra đi đột ngột của Ba tôi, tôi xin viết đôi dòng về ông, một người lính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đã hiến trọn cả cuộc đời cho lý tưởng Quốc Gia và Dân Tộc. Tôi xin ghi lại đây những gì tôi đã biết về ông qua những câu chuyện ông kể với tôi. Bài viết này xin được làm món quà gởi đến hương hồn của ông và tiển đưa ông về cõi vĩnh hằng. Qua bài viết, tôi muốn gởi một thông điệp đến các em tôi, các bạn tôi, và những bạn trẻ khác về hình ảnh của người lính VNCH, trong vô số những hình ảnh tiêu biểu và tấm gương yêu nước thương dân khác.
Ba tôi, ông Nguyễn Minh Đường, sinh ra từ miền đất hiền lành, mưa thuận gió hòa, thuộc thị trấn Tầm Vu, quận Bình Phước, tỉnh Long An vào năm 1941. Tuổi thiếu thời, ông là một học sinh giỏi toán. Ông thích thể thao, nên ông đã là một tiền đạo trong đội bóng đá thanh thiếu niên của quận Bình Phước. Ông còn thích cả văn nghệ, vì thế ông đã học ca vọng cổ và hát ca tài tử trong cái làng quê thanh bình nơi ông sinh trưởng. Vào thập niên 1950, chiến tranh đã bắt đầu lan tràn về các thôn xóm Miền Nam Việt Nam. Việt Minh Cộng Sản đã bắt đầu quấy rồi làng xã, cướp bóc hoa màu và xúi dục thanh niên bỏ nhà theo chúng. Để duy trì con đường học vấn của ông, bà nội tôi đã gởi ông lên Sài Gòn ăn học khi ông vừa mới tròn 11 tuổi. Sống xa mẹ, ở cũng với người anh thứ tư, cũng là một sĩ quan Cảnh Sát Quốc Gia, ông đã rèn luyện được tính tự lập và đôi phần hiểu biết về Quốc Gia và Dân Tộc.
Bước vào tuổi thanh xuân, ông đã phải tạm gác nhiều mơ ước riêng tư, khi nhìn thấy đất nước điêu linh qua lửa khói chiến tranh và trong thảm họa xâm lăng của Cộng Sản Bắc Việt (CSBV). Vì thế, sau khi thi đậu Tú Tài I, ông đã tình nguyện gia nhập Khóa 14 của trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức vào năm 1962, với hy vọng là phục vụ quân đội trong thời gian chiến tranh và khi hòa bình trở lại sẽ tiếp tục học lên nữa. Khóa 14, có tên khóa là Nhân-Trí-Dũng, mãn khoá vào năm 1963, là khóa có đông sinh viên sĩ quan nhất. Sau 9 tháng quân trường, là một trong những sinh viên sĩ quan đậu số điểm tốt nghiệp cao của khóa, ông được quyền chọn binh chủng hay quân trường để về phục vụ. Khi ông đang đắn đo đọc bảng ghi “Trung Tâm Huấn Luyện (HL) Hạ Sĩ Quan (HSQ) Phú Bài” thì vị sĩ quan huấn luyện người Huế lên tiếng,
- Cậu có ra Huế chưa? Huế đẹp lắm. Về Phú Bài đi, ở Huế đó.
Nghe nói tới đó, ông liền đồng ý chọn về Trung Tâm HL HSQ Phú Bài. Kể từ đó, cuộc đời binh nghiệp của ông được bắt đầu từ miền giới tuyến. Khởi đi từ Huế và qua 13 năm chinh chiến, dấu giày sault của ông đã in dấu trên khắp 4 vùng Chiến Thuật.
Vào thập niên 60, CSBV với chủ trương xâm chiếm Miền Nam, chúng đã xua quân qua các ngõ biên giới Việt-Lào và Việt-Miên. Để ngăn chặn bước chân xâm lược và bảo vệ nền tự do dân chủ của đất nước ta, Lực Lượng Đặc Biệt (LLĐB) Hoa Kỳ và LLĐB VNCH đã thiết lập các trại LLĐB nằm dọc biên giới của Miền Nam tiếp giáp với Lào và Campuchia; và thành lập các toán phòng vệ, xung kích và thám sát. Vì thế, họ cần tuyển mộ các sĩ quan xuất sắc từ các binh chủng khác và từ các quân trường để phục vụ cho binh chủng này. Vào những tháng cuối năm 1963, một toán LLĐB đã vào Trung Tâm HL HSQ Phú Bài để tuyển chọn sĩ quan cho đơn vị, vì họ biết là những sĩ quan ở trung tâm nầy toàn là những sĩ quan giỏi. Viên sĩ quan tuyển mộ lên tiếng:
- Các anh ở đây có ai muốn về phục vụ cho binh chủng LLĐB không?

Cả hội trường im phăng phắc, chỉ có hai bàn tay giơ lên và một trong hai bàn tay đó là ba tôi. Tất cả những ánh mắt nhìn về phía hai sĩ quan trẻ đó, không khỏi ngạc nhiên và thầm thán phục. Mọi người ai cũng biết là làm sĩ quan huấn luyện là an toàn nhất và làm sĩ quan LLĐB là đi vào vùng lửa khói, vào nơi nguy hiểm, sống còn trong gang tấc.
Ông đã trải qua những khóa huấn luyện rất đặc biệt cho cuộc chiến ngoại lệ, không quy ước. Các sĩ quan và hạ sĩ quan LLĐB học qua nhiều môn huấn luyện khác nhau, như du kích và phản du kích, phá hoại, cứu thương, gọi Pháo Binh, Truyền Tin, Xâm nhập, Thám Sát... vv và vv. Do đó, các sĩ quan và hạ sĩ quan LLĐB chiến đấu rất giỏi, can trường, và thích ứng với chiến thuật lấy ít chọi nhiều. Sau khi hoàn tất các khóa huấn luyện đặc biệt, ông được đưa về trình diện Bộ chỉ Huy (BCH) C1 LLĐB. Sau này, ông đã trải qua Khóa 4 Hướng Dẫn Trưởng Trại LLĐB tại Đồng Ba Thìn và khóa 110 Nhảy Dù tại Sư Đòan Dù.
Xin nói rõ ở đây, binh chủng LLĐB có mặt trên 4 vùng Chiến Thuật. Vì tính cách đặc biệt, nên tên gọi mang tính đặc biệt. BCH cao nhất ở mỗi vùng gọi là C, gồm có C1, C2, C3, và C4. Thoạt đầu, cấp chỉ huy cao nhất của các C chỉ là Thiếu Tá, sau này lên đến Đại Tá. Mỗi C chỉ huy vài toán B, và mỗi toán B chỉ huy vài toán A. Toán A, chỉ huy một trại LLĐB, có từ 12 tới 14 sĩ quan và hạ sĩ quan. Phía LLĐB Hoa Kỳ có số SQ và HSQ tương đương, nhưng chỉ làm công tác cố vấn. Một trại LLĐB có từ 4 cho tới 6 đại đội. Nghĩa là quân số của một trại LLĐB tương đương hoặc nhiều hơn một tiểu đoàn Bộ Binh.
Vùng I Chiến Thuật
Trại LLĐB đầu tiên mà ba tôi đặt chân tới là trại A Shau, nằm trong thung lũng, phía Tây Nam của Huế và giáp sát với biên giới Việt-Lào. A Shau và A Lưới đã là những địa danh nổi tiếng gắn liền trong quân sử VNCH. Các trại LLĐB này với những người lính quả cảm, đã góp phần ngăn chặn bước tiến của CSBV, vì thế chúng đã tìm mọi cách để đánh phá cho bằng được. Là một Chuẩn Úy trẻ của trại A Shau, ông có dịp tham chiến cùng những “bóng ma đêm” ở biên giới ngăn chặn bước chân xâm lược của đoàn quân sinh Bắc tử Nam. Xung quanh trại A Shau có 3 tiền đồn ở trên những đỉnh núi cao, một bên là lãnh thổ VNCH và bên kia là vùng CS trên đất Lào. Mùa Xuân 1964, ông được điều động lên chỉ huy tiền đồn xa nhất cắm sâu vào biên giới Việt Lào. Trong đời quân ngũ, ông đã nhớ những kỷ niệm nơi đây vì là mùa Xuân đầu tiên nơi tiền đồn hẻo lánh và xa nhất của lãnh thổ VNCH. Ông đã đón Xuân bằng những quả đạn pháo và những cuộc giao tranh liên tục với quân thù. Với tính can trường và trách nhiệm, ông được Thiếu Tá CHT C1 Nguyễn Đức Khoái tin cậy nói với ông:
- Anh Đường, anh lên nắm trưởng trại A Lưới nha, rồi tôi sẽ cất nhắc anh lên Thiếu Úy sớm. Tôi giao trại A Lưới cho một sĩ quan nào khác tôi không tin tưởng.

Thế là ba tôi đồng ý nhận làm Trưởng trại A Lưới khi ông vẫn còn mang lon Chuẩn Úy. Vào thời gian này, Thiếu úy là cấp bậc thấp nhất có thể được giao chỉ huy một trại, vì vào lúc đó thiếu sĩ quan.
Như trại A Shau, A Lưới cũng nằm trong thung lũng được bao bọc bởi những ngọn núi. Các trại thường chịu những trận mưa pháo dày đặc của địch nên đã đi vào tiềm thức của các binh sĩ. Nhiều bữa trưa, khi chợp mắt, ông đều nghe những tiếng nổ trong mơ, và la lên, “Việt Cộng pháo kích tụi bây ơi.” Nhưng một lần, cơn ác mộng đã biến thành sự thực. Sau một tiếng nổ dữ dội sát bên cạnh cái võng cá nhân vì bị ám sát bằng lựu đạn, ông bị văng xuống đất. Khi choàng tỉnh, chạm tay vào bụng, vào ngực, vào mặt… ông cảm thấy tay mình ướt, giơ tay lên xem thì thấy toàn là máu của ông. Ông không biết đau, nhưng trong tích tắc ông đã ngất đi. Khi tỉnh dậy, ông mới biết mình còn sống khi thấy toàn thân được băng bó và đang nằm trong Tổng Y Viện Cộng Hoà (TYVCH).
Người liệng lựu đạn mưu sát ông là người lính Biệt Kích (CIDG) trong trại của ông. Người lính Thượng này đã bị bắt và khai rằng nếu không làm như vậy, CS sẽ bắt và hành hạ gia đình của anh ta. Sau khi bình phục trở lại đơn vị không lâu thì ba tôi được chuyển về C3, do Trung Tá Phạm Duy Tất làm Chỉ huy Trưởng lúc bấy giờ.
Vùng III Chiến Thuật
Về Vùng III, ba tôi đã hành quân qua rất nhiều trại LLĐB dọc theo biên giới Việt Miên, từ Bù Đốp, Tống Lê Chân, Ka Tum, Đức Huệ, Thiện Ngôn, Lộc Ninh, Trà Cú vv..vv. Ông có rất nhiều kỷ niệm chiến trường tại vùng này vì là nơi ông ở lâu nhất cho tới khi binh chủng LLĐB bị giải tán và hầu hết các binh sĩ LLĐB được chuyển qua binh chủng Biệt Động Quân. Vùng 3 cũng là nơi ông đã tạo được nhiều chiến công nhất cho đơn vị, cho toán B, toán C và QK III nói chung. Các toán A do ông chỉ huy đều thuộc B16, do Thiếu Tá Lê Tất Biên làm Chỉ huy Trưởng, sau này lên Trung Tá.

Tôi xin kể về 3 trại mà ông có nhiều kỷ niệm.
Trại LLĐB Bù Đốp
Khi mang lon Thiếu Úy, ông được điều về làm phụ tá (Trại Phó) cho Đại Úy Nguyễn Công Triệu, Trưởng trại Bù Đốp. Trại nằm sát biên giới Việt Miên. Vì thế, binh sĩ của trại Bù Đốp thường đụng trận với lính chính quy của CSBV. Ông kể, ông đã học được rất nhiều từ phong cách chỉ huy và tài thao binh của Đại Úy Triệu. Ngược lại, Đại Úy Triệu cũng thấy được khả năng chỉ huy và làm việc có trách nhiệm của ba tôi. Hai ông cùng làm việc với tâm đầu ý hợp đã khiến trại Bù Đốp là nỗi ám ảnh biên giới lớn nhất cho CSBV. Chúng tìm mọi cách để giết chết hai người.

Ngày ông được lên Trung Úy đó là ngày đau thương mà ông phải chứng kiến. Sáng hôm đó, một số binh sĩ cùng thân nhân và số thường dân trong trại như cô giáo lên xe GMC chạy ra thị xã gần nhất để mượn đũa, chén và điã, nhân tiện mua một số đồ ăn để về làm tiệc rửa lon trung úy cho ông. Xe chạy một khoảng đường thì bị nổ tung, khiến tất cả mọi người đều chết, duy trừ một binh sĩ đeo theo hông của xe sống xót. Sau khi điều tra, thì được biết là CS đã gài lựu đạn theo nhành cây ven lối mòn và xe chạy vướng vào và bị nổ. Thế là bữa tiệc lên lon của ông đã trở thành đám tang cho một số binh sĩ và một số thường dân vô tội có mặt trong trại Bù Đốp. Ông đã tâm sự với tôi trong nỗi buồn là ngày mình lên lon, lại chính là ngày mang đến đau thương cho nhiều gia đình.
Có phải những gì ông chứng kiến, đã hun đúc sự căm thù CS và ý chí gan lì chống CS của ông, một người lính LLĐB để tạo nên nhiều thành tích tại mặt trận sau này?
Trại LLĐB Ka Tum
Đầu năm 1968, qua lời tiến cử của Đại Úy Nguyễn Công Triệu, Trung Tá Phạm Duy Tất đã chọn ba tôi, từ danh sách 4 sĩ quan được đề cử, về làm trưởng trại LLĐB Ka Tum. Phụ tá cho ông là trung úy Đặng Ngọc Quỳ. Với cương vị trưởng trại, đã làm đem đến cho ông nhiều hãnh diện trong cuộc đời binh nghiệp, ông không những lo chỉ huy hành quân tác chiến mà còn chăm lo đến đời sống gia đình của quân nhân sống trong trại.

Khi cường độ cuộc chiến lên cao, CS tìm mọi cách xua quân thật nhiều từ Bắc vào Nam dọc theo biên giới, vì thế các trại LLĐB luôn là chướng ngại vật cho sự chuyển quân của CSBV. Chúng đã tung những sư đoàn (CS nguy danh gọi là công trường) đánh vào các trại LLĐB. Trại Ka Tum là một trong những trại CSBV nhắm vào. Qua kinh nghiệm tác chiến và chỉ huy, ông đã gây tổn thất lớn cho CSBV trong phạm vi của trại kiểm soát.
Để giữ an ninh cho trại, ông ra lệnh giới nghiêm từ 7 giờ tối. Mọi di chuyển sau 7 giờ đều bên dưới giao thông hào. Ai đi bộ bên trên, thì bị bắn bỏ. Ngoài ra, ông tự lập hệ thống mìn claymore xung quanh trại và được điều khiển từ hầm chỉ huy.
Vào trưa ngày X, CS đã pháo kích liên tục vào trại Ka Tum. Chúng đã dùng chiến thuật “tiền pháo hậu xung” để tấn công trại, và tung vào 2 trung đoàn của Công Trường 7 và 9 cùng một số đơn vị biệt lập yểm trợ. Tối hôm đó, lính CS đã tràn vào một mặt trại. Ông đã bình tĩnh chỉ huy đánh cận chiến ngay bên trong, một mặt điều khiển hệ thống mìn cho nổ khi CS lọt vào bẫy mìn, mặt khác gọi Pháo Binh bắn thẳng vào các vị trí phòng thủ bên ngoài nơi CS tiến vào. Giao tranh dữ dội, đến rạng sáng thì ông đánh bật được các trung đoàn CS ra khỏi căn cứ khiến chúng phải tháo chạy về bên kia biên giới.
Khi trời đã sáng hẳn, tiếng súng đã yên, binh lính của trại lục soát và bắt được 14 tù binh, với những khuôn mặt non trẹt, nhỏ nhất là 12 tuổi và tất cả là dân Miền Bắc. Những tù binh này cho biết là họ không dám rút lui vì sợ đạp mìn hoặc trúng đạn, nên nằm yên tại chỗ là an toàn nhất. Hơn nữa, họ xâm nhập vào Nam theo đoàn quân, không quen biết địa hình ở MN. Điều đó cho chúng ta thấy, vì mưu đồ xâm chiếm, CS vô nhân đạo đã dùng tới trẻ em cho cuộc chiến. Những đứa trẻ 12, 13 tuổi, ở tuổi háo thắng, ăn chưa no, lo chưa tới, suy nghĩ còn nông cạn, vậy mà bị CS tuyên truyền đưa vào cuộc chiến. Ngoài bắt được tù binh, khoảng 135 xác VC đếm được nằm khắp nơi trong và ngoài trại. VC đã để lại hơn 100 vũ khí các loại, cùng nhiều lựu đạn và chất nổ. Trong khi đó lực lượng của trại Ka Tum, vừa tử trận và bị thương chưa tới 10 người.
Khi lửa khói của trận chiến chưa tàn và xác giặc còn nằm ngổn ngang, Trung Tướng Đỗ Cao Trí, Tư Lệnh QK III đã đáp trực thăng xuống đây. Ba tôi đã dẫn Tướng Trí đi xem bãi chiến trường. Đi một hồi, Tướng Trí nói,
- “Thôi được rồi em, anh xem vậy đủ rồi.”

Tướng Trí đã khen ngợi ba tôi và toàn thể binh lính của trại Ka Tum. Tin vui chiến thắng của trại LLĐB Ka Tum đã được điện về BCH C3, về Quân Đoàn III, và về Bộ tổng Tham Mưu. Trại Ka Tum được tưởng thưởng Huy Chương Anh Dũng Bội Tình Cấp Quân Đội với nhành dương liễu. Ông được đặc cách lên lon tại mặt trận, nhưng bị trở ngại trong quân bạ, nên ông lại nhận thêm Anh Dũng Bội Tinh cấp Quân Đội với nhành dương liễu. Về phía LLĐB Hoa Kỳ, ông được tưởng thưởng Huy Chương Anh Dũng Bội Tinh với ngôi sao đồng - Bronze Star Medal with V (Valor). Để nêu cao tinh thần chiến đấu của Quân Đội, trong bài diễn văn trên đài phát thanh, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã ca ngợi chiến thắng của trại LLĐB Ka Tum và nêu tên ba tôi, trung úy Nguyễn Minh Đường. Chiến thắng Ka Tum là niềm hãnh diện lớn cho ông. Qua trận chiến đó, ông đã được diện kiến và được khen ngợi từ Tướng Tri và được TT VNCH nêu tên trên Đài Phát Thanh.
Trại LLĐB Đức Huệ
Ông về làm trưởng trại LLĐB Đức Huệ vào năm 1969, khi đó ông đã lên đại úy. Cùng năm, ông lập gia đình với mẹ tôi. Năm sau, tôi ra đời và được đặt tên là Nguyễn Minh Hùng Biên. Ông cho tôi biết, Hùng Biên là ám danh đàm thoại của ông khi ở C1. Hùng Biên có nghĩa là “Anh Hùng Nơi Biên Giới”.

Vào tháng 3-1970, Trung Tướng Đỗ Cao Trí, Tư Lệnh Quân Khu III, đã mở chiến dịch Toàn Thắng với các cuộc hành quân lớn qua Campuchia, đánh thẳng vào chiếu khu D, vào cơ sở hậu cần của CSBV. Trại Trà Cú và trại Đức Huệ, là hai trại nằm sát biên giới, đã tham gia vào cuộc hành quân lớn này. Đại úy Nguyễn Mộng Hùng, TĐT TĐ64 BĐQ Biên Phòng ở trại Trà Cú và Đại Úy Nguyễn Minh Đường, TĐT TĐ83 BĐQ Biên Phòng ở trại Đức Huệ đã chỉ huy đánh một mũi vào Campuchia. Lực lượng hành quân của 2 tiểu đoàn BĐQ BP đã được đổ bộ bằng trực thăng xuống chiến trường thuộc mật khu Ba Thu của VC.
Sau một tháng rưỡi truy lùng và diệt địch, hai tiểu đoàn BĐQ BP đã đánh tan nát hậu cứ của CS, đã triệt hạ cả trăm Việt Cộng, và khám phá ra các kho vũ khí đủ loại từ cá nhân đến cộng đồng, trên 1500 khẩu. Một số lớn súng đạn được phát giác trên những thửa ruộng. CS đã bỏ súng đạn trong bao và chôn trên các thửa ruộng, nhưng tình cờ đạn pháo cày tung lên khỏi mặt đất. Ông đã giao một phần vũ khí cho QK III, một phần ông gởi tặng cho các đơn vị và các sĩ quan. Ông đã chỉ huy trực thăng tải vũ khí thu được và thường dân ra khỏi vùng lửa khói. Có một số kiều bào VN muốn nhờ ông giúp cho gia đình và tài sản ra ngoài, khi xong họ sẽ trả cho một số tiền lớn. Ông đã từ chối và ra lệnh trực thăng chỉ chở vũ khí, tải thương, người già, phụ nữ và trẻ em. Ông tâm sự với tôi, nếu là người không có đạo đức và ham tiền, họ có thể nhận chở kiều bào và tài sản của họ, nhưng ông thì không làm điều đó.
Để ghi lại cuộc đời chinh chiến của mình. Ông đã đặt tên cho những đứa con sau tôi là: Nguyễn Thị Đoan Thùy, Nguyễn thị Đoan Trang, Nguyễn Minh Hùng Cương, và Nguyễn Thị Đoan Trâm. Tên tôi và hai người em ghép lại là: Biên Thùy và Biên Cương.
Sau này, ông được chuyển về làm sĩ quan tham mưu một thời gian và thường được lên xử lý thuờng vụ cho các trại Biệt Động Quân Biên Phòng. Đại Tá Chuẩn ra công lệnh cho ba tôi lên thay thiếu tá Nguyễn Mộng Hùng, nắm trưởng trại Lộc Ninh (Tiểu Đoàn 74 BĐQ). Khi ba tôi lên tới Biên Hòa, chờ trực thăng bốc lên trại Lộc Ninh, thì được biết Lộc Ninh bị thất thủ và Thiếu Tá Hùng bị mất tích. CS đánh chiếm được Lộc Ninh, thừa thắng xông vào An Lộc. Không ngờ, An Lộc là mồ chôn xác Cộng sau này. Khi mặt trận An Lộc diễn ra, BCH BĐQ QKIII thành lập Bộ Chỉ Huy Tiền Phương BĐQ cho mặt trận An Lộc, ba tôi với cấp bậc thiếu tá được đưa lên nắm Chỉ Huy Trưởng BCH Tiền Phương. Sau mặt trận An Lộc, ông được thuyên chuyển về Liên Đoàn 4 Tổng Trừ Bị của BĐQ. Ngày về Liên Đoàn 4, ông lên trình diện Đại Tá Vũ Phi Hùng. Đại Tá Hùng nói:
- Anh Đường, các tiểu đoàn đều có Tiểu đoàn Trưởng. Thôi anh tạm nắm Trưởng Ban 2. Khi nào có chỗ trống, tôi sẽ đưa anh lên nắm Tiểu đoàn Trưởng.

Ba tôi trả lời:
- Đại Tá đừng bận tâm. Tôi đã từng nắm Trưởng Trại LLĐB và Tiểu đoàn Trưởng.

Vùng II Chiến Thuật
Liên Đoàn 4, có thời gian ngắn về bảo vệ Sài Gòn. Đó là thời gian ông có dịp gần gia đình nhất. Sau đó, Liên Đoàn 4 được đưa lên Vùng 2. Khi tiểu đoàn phó của tiểu đoàn 43 BĐQ bị thương, đại tá Hùng liền đưa ông lên thế. Qua phong cách chỉ huy, ông được các binh sĩ ở tiểu đoàn thương mến. Họ nói với ông là cách chỉ huy và làm việc của ông và Đại Úy Giang Văn Xẻn thật giống nhau. Tại đây, Liên Đoàn 4 thường đụng trận với Sư Đoàn 3 Sao Vàng. Dù ở cương vị Tiểu đoàn Phó, ông được Đại Tá Hùng tin cậy và giao nắm cánh quân chính diện của tiểu đoàn và toàn quyền chỉ huy cả lực lượng Thiết Giáp tăng phái. Ông đã cùng Tiểu đoàn 43 tạo nhiều chiến công trên các mặt trận ở Quy Nhơn, Bình Định. Ông kể, Sư Đoàn 3 Sao Vàng rất sợ đụng trận với LĐ4 BĐQ.

Vùng IV Chiến Thuật
Vào đầu năm 1975, ông được thuyên chuyển về Vùng IV Chiến Thuật, nắm Chi Khu Phó Chi khu Phong Phú, Tiểu khu Phong Dinh (Cần Thơ). Với cương vị Chi khu Phó lo về an ninh, ông đã cùng Trung Tá Quận trưởng đập tan các sào Huyệt của CS trong vùng kiểm soát. Ông đã có dịp gặp, họp hành quân, và bàn về an ninh trong vùng với Đại Tá Huỳnh Ngọc Diệp, tỉnh trưởng và hai Tướng Tư Lệnh Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng. Những ngày tháng cuối cùng của năm 1975, Đại Tá Tỉnh Trưởng cho ông biết là ông có tên trong danh sách lên Trung Tá và đi làm Quận Trưởng. Ngày đó chưa đến thì QLVNCH bị đồng minh bỏ rơi và bức tử. Ông và hầu hết các sĩ quan ở Quân Khu IV đã cầm súng chiến đấu tới giờ thứ 25, khi được tin cả 2 vị Tướng Tư Lệnh của QK IV đã tuẫn tiết!

Lao Tù Cộng Sản
Như các quân nhân khác của QLVNCH, ông đã chịu cảnh lao tù CS. Ông bị đưa ra Bắc, ở trại tù Hoàng Liên Sơn, Yên Bái, rồi trại K3 ở Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh. Những năm tháng lao tù, đủ bệnh tật, bị lao động khổ sai, thiếu ăn, thiếu mặc, nhưng ông vẫn giữ khí phách của người lính QLVNCH. Ông không tỏ ra hèn nhát, luồn cúi. Vì thế, ông đã bị cai tù CS đá vào ngực và ộc ra máu. Vết máu bầm đó đọng lại trong phổi và cản trở ông và gia đình không xuất cảnh theo diện HO đúng hạn kỳ, vì bị bắt uống thuốc ngừa bịnh phổi. Đối với bạn tù, ông hòa nhã và bảo vệ người yếu thế. Chính khí khái của ông, mà bạn tù cùng phòng với ông đã dùng ông làm vật chắn. Ông kể, khi đi lao động về, vào phòng giam, ông hỏi:
- Ai sẽ chia cục xà bông đá với tôi?
- Anh sẽ chia với thằng C. Một người bạn tù lên tiếng.

Thì ra, không ai dám chia với bác C. ấy. Ba tôi kể, bác C. ấy làm “ăng-ten” cho cai tù CS và ăn hiếp bạn tù, nên mọi người đều ghét và sợ va chạm với nhân vật này. Với ai, chớ với ba tôi thì nhân vật này không dám đụng tới vì ông ta biết rằng ba tôi gốc LLĐB, gan dạ, liều lĩnh, nói là làm. Ba tôi đã đòi hỏi phần của mình. Cuối cùng, chính nhân vật này phải cắt cục xà bông đưa cho ba tôi. Ba tôi thường dạy chúng tôi rằng, “Mình không nên ăn hiếp người yếu hoặc thấp nhỏ hơn mình. Ngược lại, nên bảo vệ cho họ.” Đúng vậy, khi ở tổ ra rừng đốn củi, ông thường dành khiêng phần gốc cây để phần ngọn nhẹ cho bạn tù.
Có phải cái duyên của trời đất, đã cho ông và bác Giang Văn Xẻn gặp nhau trong cảnh lao tù ở Yên Bái. Khi cùng đi tắm ở một con suối, bác Xẻn thấy ông mặc áo rằn ri, trên túi áo có hàng chữ Đường. Bác Xẻn hỏi.
- Anh có phải là Đường, từng nắm Tiểu Đoàn Phó 43 BĐQ không?

Ba tôi ngạc nhiên và hỏi ngược lại:
- Vậy anh có phải là Xẻn không?

Trong chiến tranh hai ông chưa hề gặp mặt, chỉ biết nhau qua những lời ngợi khen của binh sĩ tiểu đoàn về vị này, về vị kia. Từ đó, tình bạn của hai ông được thắt chặt hơn cho mãi đến sau này. Ba tôi nói cho chúng tôi biết về bác Xẻn là người bạn tốt. Trong tù, trong lúc thiếu ăn, ăn độn bo bo và cơm, ba tôi đau răng khó nhai vậy mà bác Xẻn nhường cả phần cơm của bác cho ba tôi ăn.
Ông đã bị giam 10 năm tù. Ông cũng như những người bạn khác, được thả từ nhà tù nhỏ ra nhà tù lớn hơn, nơi gia đình ông cũng đang chịu chung cảnh tù đầy, không có quyền tự do ngôn luận và đi lại, không có quyền sống theo ý nguyện của mình, và chịu mọi kềm kẹp của hệ thống cai trị độc quyền của chế độ CSVN. Tới 1995, ông và cả gia đình mới được đi ty nạn chính trị tại cao nguyên tình xanh, thành phố Seattle, Tiểu Bang Washington.
Sau khi định cư tại Seattle, ngoài việc giúp gia đình sớm ổn định và hòa nhập vào cuộc sống mới trong xã hội văn minh, tự do và dân chủ, ông bước ngay vào các sinh hoạt cộng đồng, tham gia các hội đoàn đấu tranh chính trị cho một VN không CS. Ông đã tìm lại với những chiến sĩ cùng binh chủng với ông năm xưa cùng một số người đứng ra vận động thành lập Hội Lực Lượng Đặc Biệt Tiểu Bang Wahsington. Ông được bầu làm Hội Trưởng Hội LLĐB đầu tiên và làm suốt hai nhiệm kỳ liên tiếp. Ông cũng được bầu làm cố vấn của Hội Biệt Động Quân khi đó.
Với tính tháo vát, năng động, và uy tín trong quân đội, ông được mời vào nhiều tổ chức chống Cộng. Ông có mặt hầu hết các sinh hoạt chính trị tại địa phương.
Cái Cộng sản sợ nhất là sự đoàn kết, vì thế Cộng sản tìm mọi cách đánh phá và bôi nhọ các hội đoàn và các cá nhân, để làm nhụt ý chí đấu tranh chống Cộng.
CS và tay sai CS đã thất bại, vì chúng đã không đánh gục được ông. Ông vẫn hiên ngang trên các cương vị của mình, như là chủ tịch Công Đồng Người Việt Quốc Gia TB WA và hơn hết là ông luôn sát cánh với các tổ chức chống Cộng khác, như Ủy Ban Chống Cờ VC. Với ông, CS và tay sai CS là kẻ thù chính, còn những bất đồng trong các tổ chức đấu tranh chỉ là chuyện nhỏ, ông không xem nặng. Ông luôn hòa nhã với mọi người, không dèm pha, không nói xấu, hoặc không tiếp lời nói xấu một ai. Theo ông:
Người Quốc Gia không nên bươi móc và đánh người Quốc Gia chống Cộng, chỉ có Cộng sản và tay sai Cộng sản mới đối xử với người Quốc Gia như vậy.
Bao nhiêu lời, tôi cũng chưa thể nói hết về ông. Nhưng tôi hy vọng là đem đến cho các bạn hình ảnh về người lính của QLVNCH. Chắc các chiến hữu vào sanh ra tử với ông, từng ở lao tù CS với, từng sinh hoạt các tổ chức, hội đoàn và cộng đồng với ông sẽ minh chứng cho những gì tôi viết về ông hôm nay. Lời văn bên trên có dông dài, nhưng nó có thể gói gọn trong những ý sau đây.
- Là người thương nước yêu dân, ông đã tình nguyện vào trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức và đã tình nguyện về với binh chủng LLĐB, để cho ông có cơ hội trấn thủ biên cương bảo vệ bờ cỏi và nền Tự Do, Dân Chủ và Hạnh Phúc của Miền Nam VN.
- Ông đã là người lính can trường, xông pha nơi miền giới tuyến, đã đem lại nhiều chíến công xuất sắc cho đơn vị. Ông đã là vị sĩ quan trẻ nắm trưởng trại LLĐB khi ông mới là chuẩn úy. Cá nhân ông đã được tưởng thưởng nhiều huy chương, nhưng cao nhất là 3 Huy Chương Anh Dũng Bội Tinh Cấp Quân Đội với Nhành Dương Liễu và 1 Huy Chương Anh Dũng Bội Tinh Ngôi Sao Đồng (Bronze Star Medal with V) của Hoa Kỳ. Ông đã hụt mất 2 lần thăng cấp tại mặt trận, đổi lại là 2 Huy Chương Anh Dũng Bội Tinh Cấp Quân Đội với nhành dương liễu.
- Ông đã hy sinh xương máu rất nhiều trong cuộc chiến, bị thương nhiều lần, kể cả hai lần bị thương nặng được tải thương ra khỏi chiến trường. Ông nhiều lần thoát chết trong đường tơ kẻ tóc. Ông kể, trong trận chiến ở đồn điền cao su, ông và người lính ngồi tác xạ ở gốc cây thì bị thụt B 40 vào. Người lính của ông bị thương ở ngực, máu ra rất nhiều. Chính ông băng bó vết thương. Người lính đó đã qua đời trên trực thăng tản thương. Qua bao trận, những mảnh đạn pháo vẫn còn nằm lại trên thân thể của ông. Đó lý do mà bác sỉ không bao giờ cho ông chạy máy MRI (Magnetic Resonance Imaging) quan sát bệnh vì sợ các mảnh đạn sẽ di chuyển.
- Ông đã là người lính thương yêu thượng cấp, che chở và bảo vệ bạn đồng cấp và thuộc cấp, là sĩ quan có trách nhiệm và làm tròn các công tác được giao cho. Trong quân ngũ, ông chưa hề đánh mất hoặc bỏ rơi một trại LLĐB nào vào tay CS.
- Ông hãnh diễn được Trung Tướng Đỗ Cao Trí tới mặt trận khen ngợi chiến công của ông và đơn vị. Ông hãnh diện được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ca ngợi trên bản tin gởi đến toàn dân. Ông cũng hãnh diện đã được Tổng Thống tới cạnh giường bệnh trong Tổng Y Viện Cộng Hòa thăm.
- Ông đã hãnh diện thừa uỷ nhiệm của thượng cấp gắn lon Đại Úy cho Trung Úy Đặng Ngọc Quỳ. Với uy tín và thành tích xuất sắc của mình, ông đã đề cử lên với Trung Tá Lê tất Biên và Đại Tá Nguyễn thành Chuẩn cho Đại Úy Quỳ về làm Trưởng trại Thiện Ngôn, sau này là Tiểu Đoàn Trưởng TĐ73 BĐQ Biên Phòng.
- Ông cũng hãnh diện đề nghị cho các hạ sĩ quan LLĐB trở thành các sĩ quan xuất sắc của binh chủng BĐQ.
- Ông là người chồng thủy chung và người cha gương mẫu, luôn chăm sóc và bên cạnh vợ trong các vui buồn. Ông luôn lấy hành động cộng với lời nói để làm tấm gương cho các con soi vào.
- Ông là người chiến sĩ chống Cộng kiên cường từ khi còn trong quân đội, tới trại tù CS, và ra tới hải ngoại này. Ông không chùn bước trước những bôi nhọ và đánh phá của CS và tay sai CS.
Tôi rất hãnh diện và tự hào về tất cả những gì ông đã làm cho Quốc Gia và Dân Tộc, cho gia đình, cho người thân, cho chiến hữu, và bạn hữu của ông.
Tôi cảm ơn ông đã cho tất cả những gì anh em tôi có được hôm nay. Ông cho tôi hiểu biết nhiều hơn về QLVNCH, về những người lính chiến như ông, về những hy sinh xương máu của người lính VNCH.
Tôi cảm ơn ông đã nuôi dưỡng trong tôi tình yêu quê hương, và dân tộc, và hun đúc trong tôi nỗi căm thù CS sâu đậm.
Tôi và gia đình đã ngàn thu vĩnh biệt ông, nhưng những lời di huấn của ông chúng tôi sẽ không bao giờ quên: sống có đạo đức, nhân nghĩa, có tâm lành, biết bố thí, và từ bi hỷ xả.
Chúng tôi rất tiếc là không còn cơ hội để lo cho ông, đem lại niềm vui cho ông. Riêng tôi, tôi sẽ không còn nghe ông kể về đời quân ngũ của ông, về các trận chiến, về các chiến hữu của ông. Nhưng tôi xin ghi nhớ những gì ông đã kể cho tôi.
Ba tôi, người lính Việt Nam Cộng Hòa là như thế đó. Ông, cũng như vô số những người lính VNCH khác, là kết tinh của nền giáo dục nhân bản của Việt Nam Cộng Hòa. Nền giáo dục đó dạy cho ông nhân cách sống, lòng thương yêu dân tộc, sống ngay thẳng, đạo đức, cương trực, và có trách nhiệm. Ông cũng như vô số những người lính VNCH khác đã được trui rèn trong các quân trường, đã đặt Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm lên trên hết. Chính điều đó, những người Chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã là những chiến binh có trách nhiệm, gan dạ, và dũng cảm trong cuộc chiến bảo vệ nền tự do và dân chủ của MNVN.
Con đường chống Cộng sản ông đi, đã có, đang có và sẽ có nhiều người nối tiếp và chúng ta hãy vững tin vào một ngày không còn chế độ Cộng sản trên quê hương Việt Nam yêu dấu của chúng ta. Ngày đó sẽ không xa, các bạn ơi !
Hùng Biên.
Nhạc Phẩm: Buồn Chi Em Ơi - Hoàng Oanh
Sương Trắng Miền Quê Ngoại - Duy Khánh

Thực HIện: Việt Nam Sử Liệu - Nhạc Vàng Bất Hủ








Friday, September 14, 2018

“Từ Quân Y Hải Quân VNCH Đến Những Hậu Duệ Trong Hải Quân Hoa Kỳ” của Trúc Giang MN

Năm 1963, Hải Quân và Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa đã thực hiện chiến dịch Sóng Tình Thương, chủ yếu là bình định vùng đất Năm Căn, Cà Mau. Và Hải Quân đã thực hiện công tác dân sự vụ quân y, chăm sóc sức khỏe cho đồng bào nghèo ở vùng đất mới thu hồi nầy.
 https://scontent-ord1-1.xx.fbcdn.net/hphotos-xat1/v/t1.0-0/cp0/e15/q65/s320x320/12196205_10154455316170620_4724101432310020445_n.jpg?oh=91d978e70a4f1c9453fc952e4b02cbd2&oe=574D2693
1* Mở bài
Năm 1963, Hải Quân và Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa đã thực hiện chiến dịch Sóng Tình Thương, chủ yếu là bình định vùng đất Năm Căn, Cà Mau. Và Hải Quân đã thực hiện công tác dân sự vụ quân y, chăm sóc sức khỏe cho đồng bào nghèo ở vùng đất mới thu hồi nầy.
“Sóng Tình Thương” mở màn cho những con tàu tình thương. Đó là hai con tàu tình thương HQ 400 và HQ 401. Sở dĩ gọi là con tàu tình thương vì nó chăm sóc sức khỏe cho đồng bào, đa số là nghèo, ở các hải đảo và miền duyên hải xa xôi.
Tình thương được thể hiện trong việc đưa con số khổng lồ người chạy nạn Cộng Sản từ Vùng 1 và Vùng 2, miền Trung Việt Nam vào miền Nam.
Hai con tàu là một phần trong 30 chiến hạm đã mang 30,000 người chạy nạn Cộng Sản bằng đường thủy ngày 30/4/1975, rời Việt Nam để sang định cư ở Hoa Kỳ sau đó.
Con cái của thế hệ tỵ nạn VN nầy đã đạt được những thành tích làm vẻ vang người Việt Nam. Đã có hai tướng lãnh người Mỹ gốc Việt và nhiều đại tá có đủ điều kiện để thăng lên cấp tướng.
Nhiều thanh niên gốc Việt đã hy sinh tánh mạng cho đồng đội và cho đất nước đang cưu mang họ.
Một trường hợp cho thấy hậu duệ của những quân nhân Hải Quân VNCH tiếp nối cha anh làm rạng danh người Việt. Đó là ái nữ của Thiếu tá Bác sĩ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, Nguyễn Tích Lai, là cô Diễm Hương Nguyễn, Thiếu tá Bác sĩ Hải Quân Hoa Kỳ.
2* Thành lập bịnh viện hạm
2.1. Hai tàu bịnh viện ra đời
Năm 1966, Bộ Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa cho thành lập một tàu bịnh viện xem như một bịnh viện nổi di động, mang dịch vụ y tế đến những đơn vị hải quân xa xôi và đồng thời thực hiện công tác dân sự vụ phục vụ y tế cho đồng bào.
Y sĩ Thiếu tá Pye là cố vấn Mỹ đầu tiên của Quân Y Hải Quân VNCH, ông nổ lực cho ra đời một bịnh viện hạm.
Quân Y HQ phối hợp với Hải Quân Công Xưởng thiết lập một sơ đồ biến cải hải vận hạm Hát Giang HQ 400 thành một tàu bịnh viện có đầy đủ tiện nghi y tế.
Những chiếc xe chở hàng thứ lớn của quân đội Mỹ, có phòng lạnh, được ràng buộc chắc chắn vào lòng con tàu chở quân đổ bộ, cung cấp những phòng khám bịnh, phòng giải phẩu, quang tuyến, nha khoa và phòng xét nghiệm.
Thế là bịnh viện hạm Hát Giang, HQ 400 ra đời.
Hai y sĩ nội thương và giải phẩu cùng với những y tá các phòng chuyên môn được cử đến y tế hạm Hát Giang làm việc bên cạnh y sĩ và y tá Việt Nam.
Hạm Trưởng HQ 400 là HQ Đại úy  Đoàn Danh Tài, Y Sĩ Trưởng là Bác Sĩ Nguyễn Tích Lai.
Bịnh viện hạm HQ 400 thành công rực rỡ nên chiếc tàu bịnh viện thứ hai ra đời cùng năm 1966. Đó là HQ 401 Hàn Giang. Hạm Trưởng là HQ Đại úy Nguyễn Văn Pháp và Bác Sĩ Trịnh Quốc Hưng làm Y Sĩ Trưởng.
2.2. Những con tàu tình thương
Ngoài việc chăm sóc sức khỏe cho quân nhân hải quân và gia đình, yểm trợ y tế cho những chiến hạm, giang đoàn, duyên đoàn, hai bịnh viện hạm còn làm công tác dân sự vụ cho đồng bào ở các hải đảo và vùng duyên hải xa xôi.
Phục vụ y tế cho đồng bào nghèo gồm việc khám bịnh, phát thuốc, phân phối thực phẩm, văn nghệ giúp vui…
Những con tàu bịnh viện đi đến đâu cũng được đồng bào đón chào nồng nhiệt, thể hiện trọn vẹn tình quân dân cá nước.
Đó là những con tàu tình thương.
2.3. Một số hoạt động của Quân Y Hải Quân được trích như sau:
  • Y sĩ khám ngoại chẩn cho 28,253 quân nhân và gia đình. Thử nghiệm 74,428 người. Chụp quang tuyến cho 40,541 trường hợp. Trám nhổ răng 30,412 ca. Điều trị tại bịnh viện cho 14,848 bịnh nhân.
  • Về dược phẩm. Kho Y Dược Trung Ương Hải Quân yểm trợ cho các đơn vị quân y trung bình được 85% nhu cầu.
  • Hoa Kỳ cũng yểm trợ trong việc huấn luyện tại Mỹ, đặc biệt cho hai tàu bịnh viện HQ400 và HQ401.
  • Hoạt động của hai Y Tế Hạm rải đều ra khắp các Vùng Duyên Hải và Sông Ngòi, đến tận các hải đảo xa xôi.
Lịch sử Quân Y HQ/VNCH kết thúc vào ngày 30/4/75. Cố y sĩ Trung Tá Nguyễn Thanh Trước, Y Sĩ Trưởng BVHQ, và cố y sĩ Đại Tá Đặng Tất Khiêm, trưởng khối QY/HQ /VNCH là những chỉ huy cuối cùng của quân chủng nầy.
2.1. Bịnh viện hạm HQ 400 mang người cũ trở lại Côn Đảo
Người dân Côn Đảo rất quen thuộc tên của những chiếc tàu “đầu bằng há mõm” loại HQ 400 của Hải Quân VNCH, vì đó là những phương tiện mang lương thực, thực phẩm cũng như mọi nhu yếu phẩm tiếp tế hàng tháng cho Côn Sơn.
Vui nhất là lần nầy, con tàu HQ 400 đã mang người bạn cũ thân thương, anh Sáu Y Tế, cựu Trưởng Ty Y Tế Côn Sơn, nay là một sĩ quan QYHQ, trở lại Côn Đảo.
Anh Sáu cho mọi người biết bịnh viện hạm có những phương tiện về dịch vụ y tế mà Ty Y Tế Côn Sơn không có, đó là phòng quang tuyến, phòng xét nghiệm, phòng nha khoa, phòng phẩu thuật. Thế là mọi người ùn ùn xuống tàu.
Y Sĩ Trưởng là Thiếu tá Bác Sĩ Nguyễn Tích Lai niềm nỡ tiếp đón mọi người. Lần nầy “Sáu Y Tế” trở lại mang theo niềm vui cho mọi người.
Một đêm văn nghệ do những ca nhạc sĩ trên tàu trình diễn giúp vui, mà chưa bao giờ có ở hòn đảo chỉ có công chức và tù nhân thôi.
Trước khi rời đảo, Y Tế Hạm HQ 400 đã để lại nhiều thuốc men mà bịnh viện Côn Sơn không có.
2.2. Tình trạng thiếu thốn của Ty Y Tế Côn Sơn
Nơi khám bịnh và trị bịnh mang tên Ty Y Tế Côn Sơn. Đa số trưởng ty là những cán sự y tế. Thỉnh thoảng có vài bác sĩ làm trưởng ty nhưng họ tìm mọi cách để rời khỏi đảo, nếu bộ Y Tế không cho thuyên chuyển thì họ gia nhập quân đội.
Không có bác sĩ giải phẩu. Thiếu thốn mọi bề. Ngày nay kim tiêm dùng một lần rồi bỏ nhưng hồi đó kim được dùng đi dùng lại cả chục, cả trăm lần, cho đến khi nào thấy bịnh nhân nhăn mặt nhíu mày khi chích vein thì mới đem ra mài lại cho bén. Mài kim là việc hiếm có, chỉ có ở Côn Sơn. Những phạm nhân được cử ra làm y tá làm việc mài kim khi bị cùn, lụt đó.
Đời sống của họ cũng thiếu thốn đủ thứ. Thỉnh thoảng có được một bữa tiệc mà món ăn là nhau của sản phụ trong một ca sanh. Cắt rún nhưng không chôn nhau. Chôn nhau là lãng phí. Rượu là alcohol của bịnh viện pha với nước dừa cũng làm say nhừ tử để quên những ngày tháng tù tội.
3* Tàu siêu bịnh viện hoa Kỳ
  http://port.sihanoukville-cambodia.com/images/pacific-partnership/P1080501.jpg https://www.mercyships.org/wp-content/uploads/2014/08/Africa-Mercy-transporting-supplies.jpg
            Tàu bệnh viện USNS Mercy (T-AH19)
Ngày 17-8-2015, tàu bịnh viện USNS Mercy (T-AH-19) và tàu hộ tống USNS Millinocket của Hải Quân Hoa Kỳ đã đến Đà Nẵng trong một công tác nhân đạo.
USNS Mercy được mệnh danh là tàu siêu bịnh viện, với 1,000 giường bịnh, 12 phòng giải phẩu kỹ thuật cao, thực hiện giải phẩu đa khoa gồm tai mũi họng, thần kinh, tiết niệu, nha khoa, sản phụ khoa, tim và lòng ngực… và chỉnh hình. Có 1,600 sĩ quan, gồm bác sĩ Hoa Kỳ, Úc, New Zealand và mộtTrung tá Bác sĩ Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt là Josephine Nguyễn Cẩm Vân.
3.1. Sự khác biệt giữa USNS và USS trong Hải Quân Hoa Kỳ
USNS= United States Naval Ship
USS= United States Ship
USNS là tàu thuộc Hải Quân Hoa Kỳ nhưng thủy thủ đoàn và chiếc tàu đều thuộc về dân sự, dưới sự quản lý và chỉ huy của Bộ Chỉ huy Vận tải Quân đội (Military Sealift Command).
USNS không trang bị hệ thống vũ khí. Không trực tiếp chiến đấu và chỉ trang bị vũ khí tự vệ mà thôi.
USS (United States Ship) là những chiếc tàu dưới sự điều khiển chỉ huy của Hải Quân Hoa Kỳ. Được trang bị hệ thống vũ khí để trực tiếp chiến đấu. Toàn bộ thủy thủ là quân nhân Hải Quân Hoa Kỳ.
3.2. Vài nét về tàu bịnh viện USNS Mercy
USNS Mercy (T-AH-19) được xem là một bịnh viện khổng lồ di động trên biển.
Mercy là chiếc tàu bịnh viện đầu tiên của lớp tàu Mercy. Con tàu thứ hai là USNS Comfort (T-AH-20).
Mercy bao gồm ý nghĩa của đức hạnh (Virtue) và tình thương (Compassion).
Nhiệm vụ chính của tàu Mercy là cung cấp dịch vụ y tế và giải phẩu một cách nhanh chóng cho Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, những đơn vị không quân trú đóng trên bờ, cho hải quân và các chiến dịch quân sự Hoa Kỳ.
Nhiệm vụ thứ hai của tàu Mercy do chính phủ điều động đến phục vụ y tế cho các thiên tai, cứu trợ nhân đạo.
Cảng nhà của USNS Mercy đóng tại San Diego, California.
Nhân sự trên tàu gồm hai thành phần:
  • Thủy thủ doàn. Chịu sự quản lý của Bộ Chỉ huy Vận tải Hải Quân Hoa Kỳ.
  • Nhân viên y tế. Đặt dưới sự chỉ huy của Quân Y Hải Quân Hoa Kỳ.
Những chi tiết về chiếc tàu.
Tàu dài 272.50m. Đứng hàng thứ hai sau lớp sân bay Nimitz, dài nhất thế giới, 332.8m. Sườn tàu rộng 32.18m.
Tốc độ 17.5 hải lý/giờ (32.4 km/giờ)
Thủy thủ đoàn 1,214 quân nhân. Nhân viên quân y: 63 dân sự, 956 quân y hải quân. Đặc biệt là có Trung tá Quân Y Hải Quân gốc Việt là Josephine Nguyễn Cẩm Vân.
3.3. Công tác quân y
  http://tamnhin.net/stores/news_dataimages/xuanhoang/082015/17/16/722cfdd626288d0206d72528f66c6ca2_4c.jpg C:\Users\Davis\Desktop\PHẨU THUẬT TÀU MERCY.jpg Trung tá Bác sĩ Hải quân Hoa Kỳ Josephine Nguyễn Cẩm Vân
    Trung tá Bác sĩ Hải quân Hoa Kỳ Josephine Nguyễn Cẩm Vân trên tàu Mercy
1. Năng lực chữa trị bịnh nhân
Tàu có 1,000 giường bao gồm:
  • 80 giường khu chăm sóc đặc biệt. 20 giường khu hồi sức. 280 giường khu chăm sóc trung bình. 120 giường khu chăm sóc nhẹ. 500 giường khu chăm sóc giới hạn.
2. Các phòng ban và trang thiết bị
- Nơi tiếp nhận bịnh nhân. Dịch vụ quang tuyến X. Phòng thí nghiệm. Trung tâm tiếp nhận vô trùng. Cung cấp thuốc men. Vật lý trị liệu và điều trị bỏng (phỏng). Đơn vị chăm sóc đặc biệt. Dịch vụ nha khoa. Dịch vụ nhãn khoa. Nhà xác. Chỗ giặt ủi. Nhà máy sản xuất oxy.
3.4. Tàu hộ tống USNS Millinocket T-EPH-3
  http://militaryvideos.com/wp-content/uploads/2015/08/hsv4.jpg https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/0/02/The_Military_Sealift_Command_hospital_ship_USNS_Mercy_(T-AH_19)_and_the_Joint_High_Speed_Vessel_USNS_Millinocket_(JHSV_3)_participates_in_Pacific_Partnership_2015_150527-N-BK290-598.jpg
                 Tàu hộ tống USNS Millinocket T-EPH-3
Tàu hộ tống USNS Millinocket có nhiệm vụ hộ tống tàu tình thương USNS Mercy. Đó là tàu vận tải hạng nặng, tốc độ rất nhanh, trực thuộc Bộ Tư Lệnh Vận Tải Quân Đội Hoa Kỳ.
Hai bên hông tàu có những hành lang để chở nhiều xe quân sự và dân sự lên xuống tàu rất nhanh.
Tốc độ tàu USNS Milinocket từ 35 đến 45 knots/giờ (từ 65 đến 83km/giờ). Lợi thế của tàu vận tải hạng nặng nầy là chuyển quân với đơn vị lớn có trang bị vũ khí hạng nặng của các quân chủng.
4* Hậu duệ của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa trong Hải Quân Hoa Kỳ
Theo Hội Quân Nhân Mỹ Gốc Việt thì có hơn 3,000 quân nhân người Mỹ gốc Việt đang phục vụ trong Quân Đội Hoa Kỳ. Trong đó có trên 1,000 sĩ quan với hơn 20 đại tá. Một số đại tá có đủ điều kiện thâm niên để thăng cấp chuẩn tướng hay phó đề đốc.
Hậu duệ của Hải Quân VNCH trong số những sĩ quan đó.
4.1. Rạng danh gia đình của cựu Hải Quân Đại úy Vũ Thế Hiệp
Đại tá Hải Quân Hoa Kỳ Vũ Thế Thùy Anh
Ái nữ của cựu HQ Đại úy Vũ Thế Hiệp là cô Vũ Thế Thùy Anh được vinh thăng Đại tá Hải Quân Hoa Kỳ hồi tháng 7 năm 2015.
Ba người con khác của Đại úy Hiệp cũng thành đạt trong ngành y khoa:
  • Vũ Thế Duy Anh, bác sĩ quang tuyến.
  • Vũ Thế Tuấn Anh, bác sĩ cấp cứu.
  • Vũ Thế Quốc Anh, bác sĩ nhãn khoa.
Cựu Đại úy Hải Quân Vũ Thế Hiệp rất tự hào là một sĩ quan Hải Quân VNCH. Ông luôn luôn nhắc nhở các con, sống cho xứng đáng là người Việt Nam.
4.2. Những Đại tá Hải Quân người Mỹ gốc Việt
1). Đại tá bác sĩ Huỳnh Trần Mylene. Giám đốc Chương trình Chuyên viên Y Khoa Quốc Tế (Director of the Air Force International Specialist Program).
Cha là sĩ quan Quân Y VNCH. Em trai là Trung tá Huỳnh Trần Đại Apollo, bác sĩ thuộc ngành Y Học Không Gian (Chief of Aerospace Medicine). Ngoài ra còn có Đại tá Bác sĩ Không Quân Michelle Huỳnh (Đã giải ngũ năm 2014)  
  http://vietlifestyles.com/wp-content/uploads/2015/05/Untitled29.png http://3.bp.blogspot.com/_pFGuZRZdHKw/S_h5CuJ2hYI/AAAAAAAAABM/onszicCEgUE/s1600/DaiTaTrinhH%C6%B0ng1.JPG image
Từ trái qua. Đại tá BS Huỳnh Trần Mylene * Đ/t BS HQ Trịnh Hưng * Đại tá Tôn Thất Tuấn
Đại tá Nha sĩ Hải Quân Trần Ngọc Nhung, gia nhập Hải Quân năm 1989, và Đại tá Nha sĩ Hải Quân Thu Phan Getka. Chồng là Trung tá HQ Eric Getka, ngành thần kinh tâm lý.
      http://motgoctroi.com/StNguoiNViec/SQViet/tranngocnhung.jpg blank
Từ trái qua. Đại tá Nha sĩ Tran Ngoc Nhung “đứng” và Đại tá Nha sĩ Thu Phan Getka “ngồi * Đại tá Danielle J. Ngô gia nhập Lục quân Hoa Kỳ năm 1990.
Năm 2010 đã có những Đại tá Hải Quân (Navy Captain) là các đại tá: Hà Văn Thinh, Bác sĩ Christopher Stephen Lý, Trinh N.K., Thomas Nguyễn.
   http://vietlifestyles.com/wp-content/uploads/2015/05/Untitled26.png http://vietlifestyles.com/wp-content/uploads/2015/05/Untitled38.png http://www.sbtn.tv/sites/default/files/styles/article_detail/public/articles/dai_ta_khong_quan_michael_phan.jpg?itok=yX2caCeL
Đại tá Thomas Nguyen chỉ huy Tiểu đòan 2, Trung đoàn 44 Phòng không
Đại tá Chau Huu Hanh được thăng cấp Đại tá năm 2010. Đ/t Michael Phan
12 Hải Quân Đại tá gồm có các Đại tá: Dương Hữu Ngân, Đỗ H. Thuy, Trần Quốc Bảo, Phạm Tuấn Xuân, Đoàn William Ray II, Huỳnh Thanh T., Lac Tri H., Nguyễn Mark Minh Duy, Trần Jim T., Liebig Tina Trần, Dương Thanh X. N. và Đại tá Lê Bá Hùng.
Lê Bá Hùng sinh năm 1970 tại Huế. Là người gốc Việt đầu tiên giữ chức vụ Hạm trưởng một tàu chiến hiện đại nhất của Hải Quân Hoa Kỳ. Đó là chiếc USS Lassen.
  http://img.v3.news.zdn.vn/w660/Uploaded/sotnzj/2015_10_27/hamtruong6.jpg http://www.rfa.org/vietnamese/vietnam/chinh-tri/Uss-lassen-commander-hung-le-talks-about-his-port-visit-to-vietnam-11062009144123.html/lebaHung-navy-mil-305.jpg Image
        Hạm Trưởng Đại tá Lê Bá Hùng chỉ huy Khu trục hạm USS Lassen DDG-82
Hồi tháng 6 năm 2010, Đại tá Nguyễn Minh Hùng được ghi tên trong danh sách tuyển chọn để thăng cấp Phó Đề đốc.
  http://vietlifestyles.com/wp-content/uploads/2015/05/Untitled27.png http://data.vietinfo.eu/News/2014/07/13/206512/1405257785.0388.jpg http://2.bp.blogspot.com/-FkEGUlVQQDE/U1N2LcZGr0I/AAAAAAAAaoI/J__O0qj8jJ0/s1600/KQ_DaitaBacsi_Paul_Doan.png
Từ trái qua. Đại tá Nguyễn Minh Hùng. Đại tá y sĩ Nguyễn Dương 3* Đại tá Không Quân Paul Đoàn
4.3. Những Hải Quân Trung tá gốc Việt
Những HQ Trung tá gốc Việt như: HQ Trung tá Cao Hùng, Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Người Nhái, Châu Hữu Hạnh, Patrick Reardon, Nhật Thomas Trần, Kimberly Mitchell (Em bé trong chiếc nón lá ở Đại Lộ Kinh Hoàng năm 1972), Trung tá bác sĩ Hoàng Ngọc Tuấn.
  https://tranbathoaimdphd.files.wordpress.com/2014/02/cao-hc3b9ng.jpg Trung tá Bác sĩ Hải quân Hoa Kỳ Josephine Nguyễn Cẩm Vân http://intermati.com/hanna/2014/04m/23d/66.jpg
HQ Trung tá Cao Hùng *Trung tá Bác sĩ Josephine Nguyễn Cẩm Vân * Diệp Khanh
4.4. Thiếu tá Elizabeth Phạm là nữ phi công xuất sắc của TQLC Hoa Kỳ
  http://4.bp.blogspot.com/-M_EzujL2978/ULqFBhlKeGI/AAAAAAAAAO4/tT-KYRTYC9c/s1600/252372_137835389699932_1993474473_n.jpg C:\Users\Davis\Desktop\1. BETH PHAM.jpg https://i1.wp.com/media.defenseindustrydaily.com/images/AIR_EA-18G_Underside_lg.jpg
Thiếu tá phi công TQLC Elizabeth Phạm và hôn phu là Alexander Roloss. Phi cơ F-18
Thiếu tá Elizabeth Phạm là ái nữ của cựu bác sĩ Quân Y /VNCH, Phạm Văn Minh. Cô là người Châu Á đầu tiên lái phi cơ phản lực siêu thanh F-18, cũng là nữ phi công duy nhất của Không Đoàn 242 TQLC Hoa Kỳ, lái phi cơ hiện đại nầy.
Cô phục vụ trong đơn vị ứng chiến thường trực tiền phương của TQLC trong vùng Thái Bình Dương và chiến trường Vùng Vịnh, đặc biệt là Iraq.
Hôn phu là Alexander Roloss cũng là phi công lái F-18 cùng đơn vị. Phu quân của cô Elizabeth Phạm cho biết “Bây giờ cô không phải chỉ là một phi công bình thưòng mà cô được vinh danh trong hạng những phi công xuất chúng vì nằm trong chương trình "Top Secret Clerance" Bí mật Chiến Lược Quốc Phòng”
F-18 là phản lực cơ siêu thanh thuộc thế hệ thứ 4, hoạt động trong mọi thời tiết. Trang bị nhiều loại bom và hỏa tiễn. Tốc độ ở Mach 1.8 (1,915 km/giờ).
Elizabeth Phạm làm rạng danh phụ nữ Việt Nam. Một anh thư thời đại.
4.5. Hai vị tướng người Mỹ gốc Việt trong Quân Đội Hoa Kỳ
Hai vị tướng người Mỹ gốc Việt là Chuẩn tướng Lương Xuân Việt và Chuẩn tướng Châu Lập Thể (Lapthe C. Flora).
1). Thiếu tướng Lương Xuân Việt
   Colonel Joseph M. Martin http://4.bp.blogspot.com/-xEvwBg13CoY/U5EG8z7mvTI/AAAAAAAAApE/tKQBQT-HoSg/s1600/135349-LUONG_X_VIET---400.gif http://www.thienlybuutoa.org/Misc/LuongXuanViet-family.jpg


Năm 1975, ông Lương Xuân Việt đến Mỹ khi 10 tuổi. Thân phụ là Thiếu tá Lương Xuân Đương thuộc Sư đoàn TQLC/VNCH.
Ông đỗ cử nhân môn sinh hóa, tiến sĩ môn Khoa Học và Nghệ Thuật Quân Sự.
Khi còn đại tá, ông là Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 với quân số 9,000 người. Lữ đoàn 3 thuộc Sư đoàn Dù 101 của Quân Đội Hoa Kỳ.
Chuẩn tướng Việt đã lập được nhiều thành tích trên chiến trường Iraq. Bộ QP/HK cử ông thuyết trình trước các tướng lãnh và quan chức quốc phòng về chiến thuật và cách chỉ huy của ông.
Trả lời phỏng vấn đài CNN, tướng Việt cho biết: “Chúng tôi đã phá vỡ trên một chục ổ khủng bố, tịch thu được nhiều tài liệu tình báo. Dẹp tan các thủ lãnh Al-Qaeda địa phương. Bắt giữ trên 1,000 tên khủng bố. Giúp Iraq thành lập Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia”.
Trên tạp chí Time ngày 26-6-2007, ký giả Mark Kukis cũng tường tuật thành tích của ông.
Hiện nay ông giử chức vụ Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Nhật Bản
Thành tích xứng đáng được mang Thiếu tướng hai sao của QĐ/HK.
Gia đình tướng Việt có 5 người. Vợ là bà Quyên Kimberly Lau. Con gồm một gái hai trai. Ashley Thu Diễm (13 tuổi), Brandon Xuân Huy (10 tuổi) và Justin Xuân Quốc (7 tuổi).
2). Chuẩn tướng Châu Thế Lập
    Chuẩn Tướng Flora, tay trái đặt trên bìa cuốn Kinh Thánh do con gái cầm, tay phải giơ tay thề trung thành với Tổ Quốc Hoa Kỳ và giữ sự trung tín trong chức vụ mới. Image result for chuẩn tướng châu thế lập
Chuẩn Tướng Châu Thế Lập Flora, tay trái đặt trên bìa cuốn Kinh Thánh do con gái cầm, tay phải giơ tay thề trung thành với Tổ Quốc Hoa Kỳ và giữ sự trung tín trong chức vụ mới.
Đại tá Lapthe C. Flora đang giữ chức Chỉ huy trưởng Lữ đoàn Vệ Binh Quốc Gia Virginia 91.
Sau khi được Hội Đồng Thăng Cấp tuyển chọn, Bộ Tư Lệnh binh chủng đề nghị lên Bộ Quốc Phòng. Hồ sơ được chuyển sang Quốc Hội và đã được Thượng Viện phê chuẩn thuận vào tháng 8 năm 2015.
Được vinh thăng Chuẩn Tướng lúc 9 giờ 30 sáng Thứ Hai, 6-6-2016, tại Đài Tưởng Niệm D-Day ở thành phố Bedford, tiểu bang Virginia.
Châu Lập Thể sinh năm 1962 tại Việt Nam. Quốc tịch Việt Nam. Cha mẹ là người Việt gốc Hoa. Thân phụ tử trận năm ông lên 2 tuổi.
Vượt biên sang Mỹ năm 1980. Ông được vợ chồng người Mỹ là John và Audrey Flora bảo trợ nên mang họ Flora để nhớ ơn. Ông từng phục vụ trong những đơn vị tác chiến, từ tiểu đoàn, Lữ đoàn Bộ Binh, tác chiến trên các chiến trường Bosnia, Kosovo, Afghanistan. Hồi tháng 5 năm 2015 được cữ giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Lữ đoàn Vệ Binh Quốc Gia Virginia số 91.
5* Hậu duệ quân nhân Việt Nam Cộng Hòa phục vụ quê hương thứ hai
5.1. Phục vụ quê hương thứ hai
Cộng đồng người Việt rất dễ hội nhập vào xã hội Mỹ. Họ không mang lại khó khăn, phiền phức và lo ngại cho quốc gia đã mở rộng vòng tay tiếp nhận họ. Không như một vài cộng đồng sắc tộc và tôn giáo đến tỵ nạn ở Mỹ đã tạo ra.
“Xin nhận nơi nầy làm quê hương”. Quê hương thứ hai, sau khi quê hương thứ nhất bị mất vào tay chế độ độc tài Cộng Sản.
Nhiều người Việt đã thực hiện lời cam kết khi tuyên thệ gia nhập quốc tịch Mỹ. Họ gia nhập quân đội để trực tiếp phục vụ và bảo vệ quê hương thứ hai. Đó là ân nghĩa, là đạo lý làm người.
Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh có nói, chúng ta nợ đất nước nầy rất nhiều, mặc dù họ không đòi nhưng chúng ta có bổn phận phải trả.
Hậu duệ của quân nhân VNCH nói chung, của Hải Quân VNCH nói riêng, đang làm điều đó.
5.2. Mười hai anh hùng liệt sĩ gốc Việt trong Quân Đội Hoa Kỳ
  https://www.tncvonline.com/cms/uploadedcontent/newsDocs/img/coHSTQLCLeNgocBinh.jpgThượng sĩ Lực lượng đặc biệt Nguyễn Mạnh Tùng. Hạ sĩ bộ binh Trần Quốc Bình.
     Hạ sĩ Lê Ngọc Bình*Thượng sĩ LLĐB Nguyễn Mạnh Tùng* Hạ sĩ Trần Quốc Bình
“Nước Mỹ rất may mắn có những công dân là di dân khắp năm châu trong đó có Việt Nam. Nước Mỹ vô cùng biết ơn con cái của những gia đình tỵ nạn Việt Nam như trường hợp của người lính trẻ Lê Ngọc Bình, đã hy sinh cho đồng đội và cho đất nước đang cưu mang họ.”
Đó là lời phát biểu của Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ông Paul Wolfowitz, trong tang lễ được tổ chức theo lễ nghi quân cách của Hạ sĩ TQLC Lê Ngọc Bình tại Nghĩa trang Quân đội Quốc gia Arlington, Washington, D.C. .
Hạ sĩ TQLC Lê Ngọc Bình đã anh dũng đứng ra ngăn chặn một chiếc xe tải chứa đầy chất nổ của quân khủng bố, đang lao nhanh vào trại quân TQLC HK ở Iraq. Hạ sĩ Bình đã bắn chết tên tài xế, chiếc xe lật ngang và phát nổ bên ngoài trại quân.
Sức công phá quá mạnh làm cho Hạ sĩ Bình bị trọng thương và từ trần sau đó.
Ngoài tử sĩ Lê Ngọc Bình còn có nhiều anh hùng gốc Việt đã hy sinh tánh mạng cho nước Mỹ.
Trung sĩ nhất Nguyễn Văn Thanh, tử trận ngày 22-12-1996. Hạ sĩ TQLC Alan Dinh Lâm, tử trận ngày 22-4-2003. Hạ sĩ TQLC Andrew S. Đang, hy sinh ngày 22-3-2004. Hạ sĩ Trần Quốc Bình, tử trận ngày 7-10-2004. Hạ sĩ TQLC Victor R. Lữ, hy sinh ngày 13-11-2004. Thượng sĩ Lực Lượng Đặc Biệt Nguyễn Mạnh Tùng, tử trận ngày 14-11-2006. Trung sĩ Nguyễn Ngọc Long, tử trận ngày 10-2-2007. Hạ sĩ Nguyễn Hồng Đan, hy sinh ngày 8-5-2007. Trung sĩ 1 bộ binh Tran Hai Du, tử trận ngày 20-6-2008. Binh nhất bộ binh Ngô Q. Tan, tử trận ngày 27-8-2008. Hạ sĩ TQLC Nguyen Lee Van Te, hy sinh ngày 28-12-2010.
Từ năm 1996 đến tháng 12 năm 2010 đã có 12 anh hùnggốc Việt hy sinh trên các mặt trận Iraq và Afghanistan.
6* Nguồn gốc bi đát của nữ Trung tá Hải Quân Hoa Kỳ
6.1. Đứa bé trong chiếc nón lá
  https://encrypted-tbn0.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcTxs_KyHvYaayR67WY1nrYyFB7HY4Zt3omtv16Omu9ref8htcn_ http://i1094.photobucket.com/albums/i449/thinhdangduytan/Album7/Album%208/c991f1ddf31045018f31e093b30aa886_zpsb4f86ab3.jpg
Trên Đại Lộ Kinh Hoàng tỉnh Quảng Trị năm 1972 của Mùa Hè Đỏ Lửa, trong hàng chục ngàn người chạy nạn Cộng Sản bị chết vô số dưới mưa đạn đại bác của Việt Cộng. Một đứa bé đang trườn trên bụng người mẹ đã chết, tìm vú để bú. Cảnh tượng thương tâm đó khiến cho người lính quân cụ không thể bỏ qua. Anh đặt đứa bé vào chiếc nón lá rồi thất thểu chạy theo dòng người chạy nạn.
Anh lính quân cụ giao đứa bé lại cho Thiếu úy Thủy Quân Lục Chiến VNCH tên Trần Khắc Báo, vì anh đã kiệt sức.
Thiếu úy Trần Khắc Báo đặt tên đứa bé là Trần Thị Ngọc Bích vào giao cho nữ quân nhân Phòng Xã Hội Sư đoàn TQLC. Cuối cùng đứa bé được giao cho các bà sơ ở Cô Nhi Viện Thánh Tâm, Đà Nẵng, chăm sóc.
Cũng trong năm 1972, Trung sĩ Không quân người Mỹ tên James Mitchell đến Cô Nhi Viện Thánh Tâm xin em bé Ngọc Bích làm con nuôi và đưa về Mỹ sống ở trang trại tại Solon Springs, bang Wisconsin.
Kimberly Mitchell trở thành Trung tá Hải Quân làm việc ở Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ.
  http://womenforwoundedwarriors.org/wp-content/uploads/Mitchell-480x453.jpg https://scontent-ord1-1.xx.fbcdn.net/hphotos-xfa1/v/t1.0-9/1044046_474106056007640_1596713292_n.jpg?oh=2ec5e335fab31754d24f13427e6c71cb&oe=57586D3A
   Nữ Trung tá Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt - Kimberly Mitchell  trong lần gặp Cựu Tổng Thống Mỹ Bill Clinton trước đây
Phần Thiếu úy Trần Khắc Báo, ông bị bắt làm tù binh năm 1972 và được thả năm 1981. Sau khi ra tù, ông cố tìm tông tích của đứa bé ở Đại Lộ Kinh Hoàng năm xưa nhưng không có kết quả.
Tháng 9 năm 1994 Thiếu úy Báo cùng với vợ và con gái đến Hoa Kỳ theo diện HO và định cư ở thành phố Albuquerque, bang New Mexico.
6.2. Gặp lại ân nhân cứu mạng sau 40 năm
  https://daohieu.files.wordpress.com/2014/02/tran-khac-bao-02.jpg?w=593 http://www.vietboatpeoplemuseum.ca/wp-content/uploads/2015/03/sau-41-nam-02.jpg
Thiếu úy Trần Khắc Báo thuật lại: “Một hôm tình cờ tôi đọc được một bài viết của tác giả Trúc Giang trên tờ Việt Báo Hải Ngoại số 66 phát hành tại New Jersey, tác giả kể lại câu chuyện đi Mỹ của một em bé trong cô nhi viện Đà Nẵng mang tên Trần Thị Ngọc Bích. Đọc xong tôi rất xúc động pha lẫn vui mừng, vì có thể 80, 90% cô Ngọc Bích đó là do mình cứu và đặt tên cho cô.”
Sau đó, ông nhờ người bạn tên là Đào Thị Lệ làm việc trong New York Life, có chồng người Mỹ và có em cũng ở trong Hải Quân Hoa Kỳ, liên lạc tìm kiếm Mitchell. Và chính cô Đào Thị Lệ là người đầu tiên trực tiếp nói chuyện với Trần Thị Ngọc Bích đang làm việc tại Ngũ Giác Đài.
6.3. Giây phút cảm động
Sau khi được liên lạc với ông Trần Khắc Báo, cô Mitchell quyết định tổ chức một cuộc gặp mặt trước truyền thông Hoa Kỳ. Cô mời 7 đài truyền hình và những nhà báo tham dự. Không có việc tiếp đón ở phi trường hay khách sạn, mà cô muốn giây phút cảm xúc đầu tiên và thật sự trước mặt truyền thông Hoa Kỳ, tại cơ quan Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia ở bang New Mexico.
“Tôi muốn gặp ông Trần Khắc Báo”, cô Mitchell nói với ông Chủ tịch Cộng Đồng.
“Đây là ông Trần Khắc Báo”.
Lập tức Kimberly Mitchell, Trần Thị Ngọc Bích, tiến đến ôm lấy ông Báo, cả hai cùng khóc nức nở.
Giây phút cảm động được đưa lên truyền hình và báo chí Hoa Kỳ.
Cô Kimberly cho biết, cô có hai cái may, đó là được những người lính VNCH cứu mạng và được người cha nuôi nhận làm con và đưa về Mỹ nên mới có được như ngày nay.
Ông Trần Khắc Báo cho biết, ông được một cái may là tình cờ đọc được bài viết của tác giả Trúc Giang Minnesota. Tựa bài: “Cuộc chạy trốn Cộng Sản kinh hoàng trong lịch sử Việt Nam”. (Ngày 28-4-2012).
7* Kết luận
Những ngày tháng sôi động mà miền Trung bị đe dọa sắp mất vào tay Cộng Sản Bắc Việt, hai con tàu tình thương HQ 400 và HQ 401 trở lại làm nhiệm vụ vận tải, đưa số người tỵ nạn khổng lồ về Phú Quốc.
Đồng bào nói với nhau những câu chan chứa đầy ân tình: “Nếu không có Hải Quân ra đón thì số người chết ở Vùng 1, Vùng 2 gia tăng gấp bội, vì Việt Cộng nó có chừa ai đâu, dân hay quân gì thì chúng cũng nã pháo tiêu diệt”.
HQ 400 và HQ 401 trong đoàn 30 chiến hạm đưa 30,000 người từ Côn Sơn đi Philippines để vào Mỹ.
Đó là người tỵ nạn thuộc thế hệ thứ nhất mà con cái họ đã tạo ra những thành tích vẻ vang trong việc phục vụ nước Mỹ. Thứ Trưởng Quốc Phòng Paul Wolfowitz đã đại diện nước Mỹ đưa ra lời cám ơn: “Nước Mỹ vô cùng biết ơn con cái của những gia đình tỵ nạn Việt Nam như trường hợp người lính trẻ Lê Ngọc Bình đã hy sinh cho đồng đội và cho đất nước đang cưu mang họ”.
Trúc Giang
Minnesota