Friday, April 24, 2015

Sỹ quan VNCH: “Mong đất nước khá hơn”



  Thiếu tá Mai Văn Chớ từng ở tù trong miền Nam một năm rồi sau đó bị chuyển ra Sơn La ở ngoài Bắc.  http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2015/04/150421_south_vn_veterans_accounts_vietnam_war

Một cựu thiếu tá không quân và một cựu lính biệt kích của Việt Nam Cộng hòa trước 1975 đều nói rằng các ông mong muốn nước Việt Nam có tương lai khá hơn so với hiện nay trong câu chuyện với BBC Việt ngữ nhân kỷ niệm 40 năm ngày 30/4.
Theo hai ông, hiện đang sinh sống ở miền Nam California, Hoa Kỳ, thì ngày 30/4 là ‘ngày đau buồn’ trong cuộc đời họ cũng như đối với miền Nam.

Thiếu tá không quân Mai Văn Chớ

Ông Chớ là phi đoàn phó phi đoàn 255 thuộc Sư đoàn 4 không quân đóng ở Cần Thơ. Ông cho biết những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa ông đã ‘sẵn sàng chiến đấu để chết vì Tổ quốc’.
Ông thuật lại vào ngày 30/4 ông đang thực hiện nhiệm vụ đổ quân thì ‘ở dưới đất chiến đấu rất khốc liệt’. Vào lúc 11 giờ trưa, đổ quân xong, ông lái máy bay về sân bay Bình Thủy để tiếp nhiên liệu nhưng chưa kịp thì nghe Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng.
“Cảm giác rất là buồn,” ông kể, “Tôi nghĩ tôi là người quân nhân phục vụ không quân đã chiến đấu đến giờ phút cuối cùng bây giờ tương lai không biết về đâu.”
“Nếu tôi không nghĩ đến vợ con thì tôi đã tự sát,” ông Chớ nói và cho biết trước đó ông ‘thấy đất nước mình trước sau gì cũng mất’ sau khi Tổng thống Dương Văn Minh kêu gọi di tản chiến thuật và các sỹ quan được kêu gọi tử thủ đến giờ phút cuối cùng.

“Vũ khí đạn dược mình không có thì làm sao chiến đấu được,” ông nói thêm và mô tả tâm trạng của người dân miền Nam khi đó là ‘hoang mang’ vì ‘không biết chế độ cộng sản như thế nào’.
Những ngày sau đó, ông Chớ ra trình diện rồi bị ở tù. Ông ở tù trong miền Nam một năm rồi sau đó bị chuyển ra Sơn La ở ngoài Bắc và đến năm 1979 khi quân Trung Quốc đánh qua thì ông bị chuyển về Thanh Hóa.
“Ở tù không được hưởng quy chế tù binh,” ông kể, “11, 12 giờ đêm bị kêu ra thẩm vấn.”
Theo lời ông mô tả thì khi được đưa ra miền Bắc ông thấy đời sống người dân ở đó ‘rất khổ sở’.
Còn gia đình ông chính quyền mới không cho ở Sài Gòn nữa mà bị bắt đi kinh tế mới ở Long Tân, Phước Tuy, và ‘cất nhà lá mà sống’. Sau khi ra tù vào năm 1982 ông về vùng kinh tế mới ở cùng gia đình.
“Tới giờ phút đó tài sản của tôi không còn gì nữa hết. Tôi về làm ruộng,” ông kể, “Nhưng cuối cùng cũng hết cơm gạo để ăn thì tôi vô rừng đi cưa lấy gỗ.”
Ông cũng thuật lại hai lần ông đi vượt biên bằng đường biển đều bằng ghe nhỏ. Lần thứ nhất ông bị tàu hải quân của chính quyền bắt lại và bị giam trong bốn tháng. Lần thứ hai vào năm 1985 thì ghe của ông đã may mắn gặp tàu ngầm Hoa Kỳ tiếp tế thực phẩm và cuối cùng đã đến được trại tỵ nạn ở Malaysia.
Lúc đó, ông cho biết những người ở trại tỵ nạn yêu cầu nhóm của ông viết thư về nhà khuyên người thân ‘đừng đi vượt biên nữa’ vì các nước trên thế giới đã giúp người tỵ nạn Việt Nam được 10 năm rồi.
“Tôi ra đi tìm sự sống trong cái chết,” ông nói, “Tàu nhỏ, xăng dầu không đủ, hải đồ, hải bàn không có và chỉ hy vọng gặp tàu buôn giúp chúng tôi thôi.”
“Ngày 30/4 là niềm đau chung của miền Nam và đối với gia đình tôi,” ông nói, “Nhưng nếu thời gian có trở lại mà tôi biết rằng đi chiến đấu để mà ở tù thì tôi cũng chấp nhận vì tôi bảo vệ lý tưởng của mình.”
“Tôi là người Việt Nam. Lúc nào tôi cũng muốn đất nước mình được thống nhất. Nhưng trong cái thế tôi là người lính Việt Nam Cộng hoà chiến đấu vì lý tưởng tự do mà lý tưởng không thực hiện được là nỗi đau lớn đối với tôi,” ông nói.
“Lúc nào tôi cũng mong đất nước Việt Nam được phồn thịnh, nhân dân Việt Nam được ấm no,” ông nói thêm, “Tương lai đất nước có cơ may nào đó bắt kịp láng giềng.”
Theo ông thì nếu Việt Nam Cộng hòa không sụp đổ thì bây giờ ‘không thua Đại Hàn đâu’.

 Phạm Hòa, lính biệt kích


Ông Phạm Hòa: ''Quân lực Việt Nam Cộng hòa chúng tôi không có gì thù hận người chiến binh bộ đội Bắc Việt''.
“Tôi gia nhập quân đội vào mùa hè đỏ lửa năm 1972. Đó là khoảng thời gian rất ngắn và đầy biến động trong cuộc đời tôi,” ông Hòa kể và cho biết đơn vị của ông không hề biết là đang được di tản khi nhận được lệnh lên tàu ra Phú Quốc vào ngày 29/4.
“Khi tàu ra đến hải phận quốc tế vào buổi trưa ngày 30/4 thì chúng tôi nghe qua radio ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng.”
“Khi đó trong phòng mấy ngàn người. Tất cả mọi người cùng òa khóc một lúc,” ông nói.
“Chúng tôi biết cộng sản thắng thì cuộc đổi đời sắp xảy ra nhưng tất cả đều sẽ trong bóng tối và không có phần có lợi cho chúng tôi,” ông nói thêm.
Theo lời ông thì tâm trạng của ông và những người được di tản ‘gần như là bấn loạn’.
“Đi ra nước ngoài không biết mình làm gì. Không biết ngôn ngữ. Không có người giúp đỡ. Ngay cả quốc gia mình cũng không còn. Ngay cả quốc tịch mình cũng không còn. Mất toàn diện.”
Ông cho biết trước đó đa số các sỹ quan trẻ như ông đều ‘không nghĩ miền Nam sẽ mất ngay cả khi tiếp tế của người Mỹ không còn’.
Khi được hỏi vì sao quân đội miền Nam thua miền Bắc, ông Hòa nói: “Ngày nay ai cũng biết đó là sự phủi tay của đồng minh. Bên kia có cộng sản Trung Quốc, Nga Xô, Tiệp Khắc, Đông Âu, Đông Đức – tất cả các nước cộng sản đi vào chiến trường Việt Nam đánh Mỹ thì khi Mỹ rút thì làm sao một mình Việt Nam Cộng hòa có thể đương đầu với khối cộng sản thế giới?”
Khi được hỏi về kỷ niệm mà ông nhớ nhất thời còn chiến đấu, ông nói đó là khi ông đọc được lá thư của một người bộ đội Bắc Việt đã bỏ mạng sau khi chạm trán với đơn vị của ông vào năm 1974.
“Anh bộ đội ấy biết trước anh sẽ chết nên viết thư về cho mẹ nhắn cho mẹ thế này thế kia và nhắn cô người yêu cùng làng,” ông kể, “Cho đến khoảng đời sau này tôi cũng không thể nào quên tâm tư bộ đội Bắc Việt.”
“Người miền Nam, miền Bắc chúng ta đều trả giá và trả giá rất là đắt. Thành thử đó là đau thương cho cả đất nước Việt Nam,” ông nói và cho biết nếu gặp lại bộ đội Bắc Việt thì ông ‘cũng không có lý do thù hận’ vì ‘người chiến sỹ chỉ làm tròn bổn phận của họ mà thôi’.
“Anh em bên quân lực Việt Nam Cộng hòa chúng tôi không có gì thù hận người chiến binh bộ đội,” ông nói, “Họ cũng hy sinh như người miền Nam để tranh đấu cho Việt Nam sau này thôi.”
Tuy nhiên theo lời ông Hòa thì nước Việt Nam hiện nay ‘không như Việt Nam Cộng hòa mong muốn mà cũng không như bộ đội miền Bắc mong muốn’.
Ông Hòa nói sau năm 1975 ông có dịp về Việt Nam một thời gian để trao đổi kỹ nghệ và theo ông nhận xét thì Việt Nam giờ đây ‘tất cả đời sống xã hội đều thua xa thế giới’.
“Đất nước Việt Nam tuổi trẻ có rất nhiều người giỏi. Nếu chính thể Việt Nam thay đổi thì trong tương lai Việt Nam sẽ khá hơn nhiều.”

Cuộc phỏng vấn của BBC Việt ngữ với cựu thiếu tá không quân Mai Văn Chớ và cựu lính biệt kích Phạm Hòa của quân đội Việt Nam Cộng hòa được thực hiện trong tháng Tư, 2015 tại Nam California


Thursday, April 23, 2015

Thế hệ trẻ sau 75 và những nhìn nhận về lịch sử


Cát Linh, phóng viên RFA
2015-04-23
    
Audio: Thế hệ trẻ sau 75 và những nhìn nhận về lịch sử Phần âm thanh Tải xuống âm thanh
Việc ít học sinh đăng ký thi môn Sử phản ánh việc dạy và học môn Sử có vấn đề và cũng có thể phản ánh sự e ngại của các em.Thí sinh Phạm Khánh Linh làm bài thi Lịch sử chiều 2/6 tại hội đồng thi trường THPT Quang Trung (Đống Đa, Hà Nội)
Việc ít học sinh đăng ký thi môn Sử phản ánh việc dạy và học môn Sử có vấn đề và cũng có thể phản ánh sự e ngại của các em.Thí sinh Phạm Khánh Linh làm bài thi Lịch sử chiều 2/6 tại hội đồng thi trường THPT Quang Trung (Đống Đa, Hà Nội)
Photo Nhu Y/Tienphong
   
Thế hệ trẻ Việt Nam lớn lên và trưởng thành sau chiến tranh, qua những năm tháng đèn sách trong trường phổ thông và cả đại học, họ được giáo dục thế nào về lịch sử? Và nay qua phương tiện Internet họ có thể tiếp cận những nguồn thông tin khác hẳn mà họ được học ở nhà trường cũng như các kênh tuyên truyền chính thống, họ có thắc mắc, đặt vấn đề và đi tìm câu giải đáp cho những nghi vấn của bản thân và bạn bè đồng trang lứa ra sao?

Từ những trang sách về lịch sử của cuộc chiến

Thế hệ những học sinh, sinh viên ở miền bắc cũng như tại miền nam sau năm 1975 luôn được nhà trường giáo dục niềm tự hào về đất nước Việt Nam qua những chiến thắng oanh liệt chống Pháp, đánh tan đế quốc Mỹ… dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Bác Hồ vĩ đại…
Họ, những người trẻ ấy đã mang niềm tự hào và tiếp nhận giá trị lịch sử từ nhà trường, qua các phương tiện tuyên truyền chính thống của nhà nước cho đến khi những phương tiện truyền thông hiện đại được phổ biến giúp họ cơ hội tiếp cận nhiều hơn, sâu hơn về những bài học lịch sử được nhồi nhét thuở còn thơ. Từ  đó, họ bắt đầu đặt câu hỏi và đi tìm câu trả lời…
Châu Quyên, một người trẻ nói về điều này:
“Tất cả những cái gì được nói trong sách giáo khoa, được tuyên truyền trước đây thì bây giờ người ta đều đặt câu hỏi là có thật hay không có thật.”
Niềm tin của những người trẻ này hoàn toàn không còn bị buộc chặt với những gì họ được truyền nhận qua sách vở ở nhà trường. Bên cạnh họ còn có những thế hệ lớn hơn, những người đã trải qua  gần trọn vẹn hai cuộc chiến kể cho họ biết về những gì đã xảy ra. Thêm vào đó, với thực tế những gì đang diễn ra trong xã hội họ đang sống, niềm tin của họ bắt đầu lung lay, họ phải đặt câu hỏi và đi tìm.
Sách giáo khoa sau thời điểm chiến tranh dạy như thế thì trẻ con hiểu như thế thôi. Sau 1975 đến giờ thì những đứa trẻ đó đã trưởng thành rồi. Họ bắt đầu so sánh, đặt câu hỏi và đi tìm tòi, thì bây giờ người ta có những câu trả lời cho chính câu hỏi của mình
Châu Quyên
Trên trang tài khoản facebook cá nhân của một người tên là Bạch Cúc có ghi: “Rồi lịch sử trong những trang sách giáo khoa đã nuôi dưỡng trong tôi sự thù hận, tôi hận bọn Mỹ, bọn Ngụy ghê ghớm. Tuổi thơ đầy ắp những dấu hỏi sao bọn Mỹ, bọn Ngụy lại ác đến thế?
Khi phải đọc và thuộc lòng những đoạn mô tả hình phạt tra tấn khủng khiếp bọn Mỹ Ngụy dành cho các chiến sĩ cách mạng là hầu như tôi đều sợ đến mức nổi da gà, rùng mình và ám ảnh mãi với những hình ảnh khủng khiếp…Chúng khiến cho tâm hồn tôi, tuổi thơ tôi nhuốm đầy máu bạo lực, sự sợ hãi và cả sự hận thù sâu sắc…”
Những lời ghi nhận của tác giả Bạch Cúc vô tình làm gợi lên câu chuyện về bức ảnh tướng Nguyễn Ngọc Loan chĩa súng vào đầu một tù nhân Việt Cộng trên đường phố Sài Gòn năm 1968, một trong những bức ảnh nổi tiếng nhất về chiến tranh Việt Nam.
Có lẽ không một ai, dù là thế hệ trước hay sau chiến tranh mà không biết đến tấm ảnh nổi tiếng này, trên sách giáo khoa hoặc truyền thông chính thống trong nước.
Nhưng không phải ai cũng được biết rằng 30 năm sau, trong cuộc phỏng vấn với tạp chí Times năm 1998, nhiếp ảnh gia chiến trường Eddie Adwards, tác giả của bức ảnh lịch sử ấy phải thốt lên rằng “Tôi đã giết chết vị tướng ấy bằng cái máy ảnh của mình.” và ông khẳng định: “Ảnh chụp là vũ khí quyền lực nhất trên thế giới.”
Báo VNExpress đăng bài - Lịch sử không phải để thù hận.
Báo VNExpress đăng bài - Lịch sử không phải để thù hận.
Là người thuộc thế hệ chuyển giao giữa hai chế độ, Châu Quyên, với một tuổi thơ gắn liền sông nước của miền Tây Nam bộ cũng tự nhận mình đã đọc và tìm hiểu rất nhiều ngoài những gì được học trong nhà trường, nhất là lịch sử:
“Sách giáo khoa sau thời điểm chiến tranh dạy như thế thì trẻ con hiểu như thế thôi. Sau 1975 đến giờ thì những đứa trẻ đó đã trưởng thành rồi. Họ bắt đầu so sánh, đặt câu hỏi và đi tìm tòi, thì bây giờ người ta có những câu trả lời cho chính câu hỏi của mình.”
Với một xa lộ thông tin truyền thông hiện đại như hiện nay, không quá khó để tìm thấy sự bày tỏ thương tiếc về một xã hội mà 40 năm trước, trong những trang sách giáo khoa gọi là ‘nguỵ quân nguỵ quyền, độc ác, đánh chiếm một nửa đất nước Việt Nam’ có nhiều điều phải xem lại.
Cô Châu Quyên tiếp lời:
“Không phải người ta thương nhớ không thôi mà người ta luyến tiếc thời đó. Thời điểm đó người ta tôn trọng tính nhân bản rất nhiều. Đến thời điểm này sau 40 năm, xã hội Việt Nam nhiễu nhương quá nên người ta bắt đầu đặt những câu hỏi ngược lại về lịch sử. chứ cách đây 10 năm chắc không có ai đặt câu hỏi đó làm gì.”
Chị Thư Nguyễn, người sinh ra và lớn lên giữa núi rừng Gia Lai bạc ngàn sau năm 1975 có nhận định tuy khá nhẹ nhàng, nhưng tựu trung vẫn là những câu tự hỏi lòng:
Liệu có anh hùng Núp không? Có Phan Đình Giót lấp lỗ châu mai không? Có Lê Văn Tám tự thiêu không? Tôi suy nghĩ lại phải chăng đó chỉ là những hình nộm hoặc những hình ảnh quá cao siêu được xây dựng nên?
“Tôi may mắn được sống và lớn lên trong thời bình, nghĩa là trong cảnh quê nhà không có bơm rơi đạn nổ. Thật sự nói về lịch sử cuộc chiến 1975 thì anh hùng hay kẻ thù của hai bên chiến tuyến chỉ được biết đến thông qua sách giáo khoa từ văn thơ, lịch sử hoặc xem báo đài, tivi. Nhưng điều đó chỉ dừng lại ở sự tiếp nhận. Bên cạnh đó, mình được sự chia sẻ, dạy dỗ, minh chứng từ những người thương yêu xung quanh, những người mà mình rất tin tưởng. Do đó, với tôi, chiến tranh đổ máu mới độc ác. Còn lại chỉ là cuộc chiến giữa hai chế độ.”

Cho đến những anh hùng và và sự kiện

Không thể phủ nhận hoặc không tự hào về hình ảnh Hoài văn hầu Trần Quốc Toản với lá cờ thêu sáu chữ vàng “Diệt cường địch, báo hoàng ân” đã tức giận bóp nát quả cam vì không được vào tham dự bàn việc nước. hình ảnh đó thấm sâu vào tâm trí của chúng ta từ thuở nhỏ và chưa bao giờ chúng ta có nghi vấn để mày mò đi tìm sự thật.
Phòng thi môn sử chỉ có hai thí sinh tại HĐT trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai Q3, TP.HCM chiều 2-6
Phòng thi môn sử chỉ có hai thí sinh tại HĐT trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai Q3, TP.HCM chiều 2-6 (Ảnh: Như Hùng/TT)
Vẫn là lịch sử, nhưng, hình ảnh của anh hùng Núp, của Nguyễn Văn Trỗi, Lê Văn Tám ngày nay đang trở thành những câu hỏi lớn cho thế hệ trẻ.
“Càng nhìn nhận lại anh hùng hay kẻ thù thì tôi nhìn nhận ra là liệu có anh hùng Núp không? Có Phan Đình Giót lấp lỗ châu mai không? Có Lê Văn Tám tự thiêu không? Tôi suy nghĩ lại phải chăng đó chỉ là những hình nộm hoặc những hình ảnh quá cao siêu được xây dựng nên?”
Và họ khẳng định, sau khi trải qua những buổi học thuộc lòng trong quãng thời gian cắp sách đến trường:
“Đúng đó là những hình nộm. Hình nộm được dựng lên để có mục đích trong việc tuyên truyền cho đấu tranh giải phóng miền Nam, cách nói theo phía bên kia người ta bảo như thế.”
Không phải người trẻ chỉ đi tìm sự thật về những người anh hùng mà họ được dạy phải học thuộc lòng, bây giờ họ đi tìm cả sự thật về những những sự kiện tiêu biểu trong từng giai đoạn lịch sử.
“Thời gian thực hiện cải cách ruộng đất rơi vào thập niên 50, 60. Lứa tuổi của tôi không chứng kiến được. Sau này học lịch sử của nhà trường cũng không đề cập vấn đề này. Nhưng có một sự bắc cầu ở đây là chúng ta đặt quá nhiều câu hỏi vì có quá nhiều bất cập so với sách vở và thực tế. người ta bắt đầu tìm thông tin trên mạng.….Phong trào đó được chỉ đạo và người ta phải làm theo.”

Vậy, thời điểm này họ đã có câu trả lời cho mình chưa?

Cũng từ tài khoản facebook của người tên là Bạch Cúc có ghi: “Tôi đã bị bịt mắt quá lâu trong một đường hầm đen tối để rồi tôi hoang mang, hụt hẫng, đau đớn khi phải lần mò từng bước, lần mò tìm lại từng chút ánh sáng của sự thật để trở thành như ngày nay, tôi thật sự tiếc vì đã mất quá nhiều thời gian…”
Với Châu Quyên thì cô cũng cho rằng nhiều người ở thế hệ trẻ hiện nay cũng đã có câu trả lời cho những thắc mắc của họ.
“Đúng, tại thời điểm này ai cũng có câu trả lời cả. Có điều nó nằm trong suy nghĩ của mỗi người,chưa chuyển thành hành động mà thôi. Giới trẻ thế hệ 9X, 8X cũng đặt câu hỏi mà, chứ không nói cái thời 7X hay thời chuyển giao giữa hai chế độ.”
Sự thật mà bị che dấu dưới bất kỳ hình thức nào đi nữa thì cũng không tốt, bởi vì sự thật được phơi bày quá muộn thì sẽ ảnh hưởng đến cả một thế hệ
Châu Quyên
Khi mà: “Trăm năm bia đá cũng mòn. Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ” thì sự thật của lịch sử đóng vai trò vô cùng quan trọng. Nhất là những trang sử đó là những sách giáo khoa góp phần xây dựng một ý thức hệ cho tương lai của một dân tộc. Thế nhưng, chính những người đã được tiếp nhận ý thức hệ đó đang phải đi tìm minh chứng sửa lại những gì họ được học.
Và, với nguồn tài liệu không giới hạn của truyền thông internet, thế hệ trẻ ngày nay có nhiều cơ hội để đi tìm câu trả lời cho những thắc mắc xuất phát từ thực tế của xã hội xung quanh.
Phần lớn họ là những người sinh ra khi cuộc chiến vừa kết thúc. Như nhận định sau đây của một thanh niên sinh ra ở Hà Nội nhưng lớn lên và có cuộc sống ở miền Nam Việt Nam:
“Thật ra giới trẻ bây giờ không quan tâm. Nhưng bắt đầu tầm khoảng từ ba mươi mấy trở lên bắt đầu tìm đọc xem cái gì thật sự đang diễn ra trên nước mình trước đây. Mình bỏ qua bước đánh giá lịch sử là đúng hay sai, họ làm đúng hay sai, mà trước mắt hãy đọc để biết xem cái gì đã diễn ra.”
Qua những gì diễn ra trong xã hội đang sống, và phương tiện truyền thông hiện đại, họ tìm đến dòng lịch sử và thừa nhận giá trị của lịch sự bằng chính tư duy của mình.
“Có những người tìm đọc lại từ thời chính phủ Trần Trọng Kim trước năm 45 trước đây gọi là chính phủ bù nhìn. Bây giờ người ta đọc lại thì thấy rằng với thời điểm đó, những người đó phải hoà hoãn với chính phủ nhật để giữ hoà bình cho Việt Nam, mà sau này bị kết luận là chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim đi theo người Nhật. bây giờ mình đọc lại tất cả và mình nhận xét cái nào thật cái nào không.”
Lịch sử của một dân tộc là niềm tự hào của dân tộc ấy. Con người và sự kiện đã diễn ra trong lịch sử sẽ là nguồn gốc cơ bản cho văn hoá và tư tưởng của những thế hệ kế thừa về sau. Chính vì vậy, họ có quyền tự hào và có quyền đòi hỏi sự thật. Xin mượn lời của Châu Quyên thay cho lời kết thúc về nhìn nhận của những thế hệ trẻ sau năm 75 về lịch sử Việt Nam:
“Sự thật mà bị che dấu dưới bất kỳ hình thức nào đi nữa thì cũng không tốt. Còn sự lừa dối hay không lừa dối thì không đánh giá ở đây. Tôi chỉ muốn nói khía cạnh nếu sự thật mà bị che dấu quá lâu thì sẽ không tốt bởi vì sự thật được phơi bày quá muộn thì sẽ ảnh hưởng đến cả một thế hệ sẽ bị mập mờ về những giá trị đó, không biết cái nào là đúng cái nào là sai.”

Wednesday, April 22, 2015

NỖI LÒNG 30/4 của nữ nghệ sỹ Kim Chi

 (người quấn khăn rằn trong hình) Xin hãy kiên nhẫn , nhẫn nại với tôi , lắng nghe và đọc các tâm sự đau khổ của tôi .
Trước đây mỗi năm tới ngày 30/4 tôi rất vui nên hay tổ chức gặp gỡ bạn bè.  Nhiều lần tôi bay vào SG cùng đồng đội về thăm căn cứ cũ ở miền Đông, miền Tây Nam bộ. Chúng tôi thắp hương cho bè bạn đã hi sinh để bày tỏ lòng tri ân với những người đã để lại tuổi xuân ở chiến trường. Rồi chúng tôi quây quần bên nhau cùng ôn lại bao kỉ niệm buồn, vui những năm chiến tranh ác liệt. Trong lòng chúng tôi tràn ngập niềm vui và tự hào vì nghĩ rằng mình đã dâng hiến cả tuổi trẻ để góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước....
*********************************************************************************************************************************************************
   Ngày còn trẻ khi đang phục vụ trong đoàn Văn công Giải Phóng ở chiến trường, tôi rất tha thiết được kết nạp vào đảng NHÂN DÂN CÁCH MẠNG.  Ngày được kết nạp tôi đã sung sướng đến trào nước mắt. Tôi nghĩ là mình đang được đứng trong đội ngũ những người tiên phong nhất, tốt đẹp nhất, những con người dám đem cả mạng sống ra để giải phóng quê hương. Ngày ấy tôi tin mãnh liệt vào sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng NHÂN DÂN CÁCH MẠNG. Rằng “Giải phóng miền Nam để chấm dứt chiến tranh. Sẽ xây dựng một Việt Nam ẤM NO, TỰ DO, DÂN CHỦ, HẠNH PHÚC và GIÀU MẠNH”. Vì tin tưởng mạnh mẽ cho nên tôi luôn ở trong tâm thế sẵn sàng hi sinh cho tương lai tốt đẹp của đất nước...
 Những văn nghệ sĩ trên chiến trường thời ấy, cũng như tôi, ai cũng tin tưởng sau chiến tranh Việt Nam sẽ có một tương lai tươi sáng. Nhưng bây giờ, nếu nhạc sĩ Xuân Hồng còn sống, chắc ông sẽ chọc tôi: "Buồn chi, nước mắt lại trào?". Đúng, ngày xưa khóc trong niềm vui chiến thắng, nay tôi lại phải khóc 'trong nỗi đau thời cuộc', trong những nỗi buồn da diết!
"Vui sao, nước mắt lại trào" - bây giờ tôi mới thấy đó là niềm vui ngộ nhận, sai lầm rất to lớn trong đời tôi !!! Hóa ra, niềm vui, niềm tin và những hy vọng cứ sáng lên trong tôi suốt thời chiến trường khói lửa ấy là do "nghệ thuật tuyên truyền" giả dối , ma quái , xảo quyệt của Bác Hồ Tàu Chệt Hồ Tập Chương và đảng CSVN !!!!!, và có lẽ chính người đi tuyên truyền thời ấy nay cũng "tâm tự vấn tâm"  , tự hỏi lòng mình , tâm trí mình về sự 'ngộ nhận' to lớn đó !!!
Mấy năm qua, mỗi lần 30/4 tôi mất hẳn cảm giác hạnh phúc, mất hẳn sự tự hào như những năm trước đây. Tôi buồn vì niềm tin trong tôi hoàn toàn đổ vỡ. Nghĩ lại, nhận rõ và xác thực hơn: Những năm  tôi 'đi theo lý tưởng' Bác Đảng và bom đạn thì quả là tôi "lớn rồi mà như ngây thơ , ngu xuẩn , dại khờ ". Tôi cũng như biết bao đồng đội đã qúa 'ngây thơ , ngu ngốc'
Đúng thế, dần dần tôi nhận ra lời tuyên bố hùng hồn của đảng CS ngày ấy nay như không hồn , vô ý nghĩa ! Những điều nói và làm khác biệt nhau , trái ngược nhau , nói một đường , nhưng lại làm một ngả khác , đường khác , nẻo khác !!!! làm ngược với nói như thế, dân Nam bộ chúng tôi đã đúc rút: "Nói dzậy mà hổng phải dzậy". Thực tế đời sống chính trị-xã hội đã  hoàn toàn khác biệt trái ngược với những điều tôi hằng tâm niệm ... Chỉ thấy toàn là những sự giả dối , gian trá , lọc lừa , độc ác , tham ô mà họ không dễ tự nhận biết, không dễ sám hối !!!
Trong cương lĩnh đảng CSVN tuyên bố “người cày có ruộng”. Vì lẽ đó nên con em nông dân đi lính , đi bộ đội đông nhất khi đất nước có chiến tranh. Ở nông thôn miền Bắc VN đóng góp quá nhiều máu xương cho các cuộc chiến. Vậy mà cho đến hôm nay có rất nhiều gia đình vẫn đói nghèo vì bị cướp đất , cướp đồng , cướp ruộng cho những dự án. Có còn xứ sở nào nhiều dân oan như ở VN không ?? Hiến pháp VN không công nhận quyền tư hữu ruộng đất là cố tình để những nhóm lợi ích tước đoạt ruộng đất của nông dân. Câu chuyện chính quyền Tiên Lãng Hải Phòng dùng cả lực lượng quân đội và công an tấn công cưỡng chế đất của anh em nhà Đoàn Văn Vươn đã khiến dư luận trong và ngoài nước phẫn nộ. Kết quả là luật pháp VN đã dùng luật rừng để bỏ tù người nông dân can đảm dám dám chống lại sự bất công , sự vô lý , sự phi lý , sự gian ác của cường quyền và bạo lực .  Đau xót lắm! Căm hận lắm !....
Người nông dân mất ruộng , mất đất , mất vườn , mất nhà buộc phải ra thành phố kiếm sống ở các khu công nghiệp.  Các chủ nhà máy  , chủ hãng xưởng bóc lột họ đến tận xương tủy.
Trong số đó có nhiều người thuộc diện gia đình có công, đáng ra họ phải được nhà nước quan tâm chăm sóc. Mỗi khi tổng động viên, chính cha, anh, chồng , con họ đã ra trận và có rất nhiều người đã không trở về. Cho tới nay có rất nhiều gia đình còn chưa lấy được hài cốt của con em và thân nhân mình ..... Đảng và nhà nước thật qúa bất nhân , tàn ác và phi nghĩa ......
Đó là những chiến sĩ VN đã hi sinh trong chiến tranh biên giới Việt - Trung ở phía Bắc. Các phần đất đó nay bị Trung Quốc lấn chiếm , tước đoạt .... và các chiến sĩ , các bộ đội đã hy sinh trong các trận hải chiến với Trung quốc để bảo vệ các biển đảo .... Nay cũng bị Trungquốc chiếm đoạt , cướp mất .... Đã như vậy , các lãnh đạo tồi tệ của CHXHCN CSVN lại còn hỗ trợ , giúp đỡ và bán các đất đai , lãnh thổ , lãnh hải , biển đảo VN cho kẻ thù Tàu Chệt để lấy tiền , vàng bạc của TQ đem chia nhau  bỏ vào túi bị riêng của cá nhân !!!!........  
 Đã 40 năm “ giải phóng Miền Nam” nhưng với người Miền Nam thì từ ngữ “ giải phóng” đầy mỉa mai. Miền Nam trước đây được biệt danh là “ hòn ngọc viễn đông”. Nhưng “ giải phóng” vô thì họ bị mất nhà cửa , mất tài sản , mất của cải , tiền bạc. Rồi chồng con bị tù đầy… Mất tất cả nên hàng  triệu người miền Nam buộc phải trở thành thuyền nhân bỏ nước ra đi ,  chạy trốn Bác Hồ và các đảng viên Cộng Sản !!!!!. Đã hàng mấy trăm ngàn người bị chết trôi trên biển , làm mồi cho cá mập.... Nhưng họ vẫn tìm mọi cách để chạy đi trốn Cộng Sản ... Vì sao như vậy , vì lý do nào ?????   Nếu Cộng Sản tốt đẹp , tốt lành thì họ đã ở lại với Cộng Sản rồi !!! Đằng nầy nếu cái cột đèn , con kiến , cái bàn , cái ghế mà có thể chạy được thì chúng sẽ chạy ra khỏi VN để trốn thoát Cộng Sản !!!!!!! Tại sao có nhiều kẻ ngu dốt , xuẩn ngốc , khờ khạo lại không nhận biết và thấu hiểu những điều nầy ??? ???  Những kẻ chiến thắng đã cư xử với người thua cuộc tàn bạo một cách tiểu nhân. Khi nhân ra được sự tồi tệ này tôi thấy vô cùng đau đớn !!!!  Tôi nhận thấy đảng , nhà nước và các lãnh đạo của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thật rất tồi tệ , đê hèn , ghê tởm , đáng khinh bỉ , đáng phỉ nhổ còn hơn rác , còn hơn mấy thứ rận , rệp , trùn , giun , sán chết sình , chết toi ở bờ đê , đáy ruộng , bờ tre , bờ cỏ !!!!! Không thể tưởng tượng được !!!!! .......
Báo chí của đảng cứ ra rả nhận mình là “công bộc của dân”. Nhưng các  “công bộc” nầy lại có đất đai , nhà cửa nguy nga, tráng lệ ở khắp nơi trong nước, ngoài nước.... Họ giàu nứt đất , nẻ đai , giàu đến nỗi gà ăn bạc , ăn tiền của họ ... Tiền bạc họ gửi ra bạc tỉ dollas ở ngân hàng thế giới. Các “ công bộc” cấp to thì ăn công trình, dự án to.  Các “ công bộc” cấp nhỏ ở nông thôn thì lùa bắt bò, dê, gà , vịt của  nhân dân chạy  vào chuồng nhà họ hàng đàn.  Mà đó là những súc vật mà dân chúng nuôi để hỗ trợ cho chương trình xóa đói giảm nghèo ở nông thôn.  Bọn  họ hăm  dọa sẽ trả thù những người dám tố cáo . Cái bọn “ công bộc” giả hiệu ấy chúng ăn từ dưới ăn lên, từ trên ăn xuống thì hỏi dân lành làm sao sống nổi??  Con cháu các quan , các cán bộ và các đại gia nhà nước  đều được đưa sang du học ở các nước tư bản tự do, nhiều nhất là ở Mỹ.... Khi trở về nước họ đều nắm giữ những chức vụ quan trọng để tiếp tục đục khoét , ăn bẩn , xơi nuốt tiền bạc của nhân dân và đè đầu , cưỡi cổ sống trên xương máu của nhân dân !!!! ....
Cái gọi là “xây dựng kinh tế định hướng XHCN” đã làm cho nhà nước thua lỗ hàng nghìn tỉ đồng ở nhiều dự án như Vinasin, Vinalines, Bauxite...Đường sá chỉ làm vài hôm đã sụt lún vì nhà thầu ăn bớt vật tư, làm ăn dối trá…Họ bán tất cả những gì có thể và giờ đây bán tiếp cây xanh ở thủ đô Hà Nội ... Họ đốn bỏ các cây cổ thụ đó để dọn đường , dọn nơi , dọn chỗ cho trống trải , quang đãng , không có gì cản trở , vấp váp để cho các trực thăng , các máy bay lên thẳng , xuống thẳng , các xe tăng , thiết giáp , các quân xa của các binh đội Cộng Sản Trung quốc sang tấn công , đánh chiếm , xâm lăng , thống trị , cai quản Việt Nam một cách thật rất dễ dàng bất cứ khi nào Trung quốc muống sang để chiếm cứ bắt VN làm nô lệ liếm nước tiểu của bọn chúng !!!! Thật là qúa thê thảm !!! Qúa nham hiểm , qúa độc ác , qúa gian trá , lọc lừa ,  gạt gẫm toàn thể  nhân dân và Dân Tộc Việt Nam !!!!!
Nhà nước tiêu tốn quá nhiều tỉ đồng cho những việc xây dựng các tượng đài chỉ nhằm để phô trương , khoe khoang khoác lác bề ngoài ... Thay vì dùng tiền đó để xây những chiếc cầu cho các tỉnh nghèo miền núi để trẻ em đi học qua sông không phải đu giây, không phải lội nước.
Về đường lối thì ĐCS và nhà nước VN vẫn quyết tâm xây dựng đất nước theo con đường Chủ Nghĩa Xã Hội không tưởng , phi nhân , phi nghĩa , phi lý  mặc dù tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói rằng :  “ có thể trăm năm nữa XHCN cũng chưa hoàn thiện”.... !!!! ....
Chính vì cái đường lối kì quái này mà hiện nay đất nước vẫn đói nghèo , lạc hậu, thụt lùi !!!!
Về quan hệ quốc tế thì VN ngày càng phụ thuộc vào Trung Quốc một cách thảm hại cả kinh tế lẫn chính trị:
- Biển đảo, đất đai biên giới của VN bị Trung Quốc ngang nhiên lấn chiếm mà các lãnh đạo VN cam tâm im lặng . Đáng lẽ ra VN phải kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế về việc TQ ngang nhiên đưa con tàu HD 981 vào hải phận VN. Không dám kiện đã là hèn. Hèn hơn nữa là thẳng tay đàn áp những ai lên tiếng phản đối. Đội ngũ công an luôn sẵn sằng khủng bố, bắt bớ, tù đầy những người chống Trung Quốc.  Đám dư luận viên hung hãn như một lũ chó ghẻ điên khùng , chúng vô học , vô giáo dục , vô lương tri ,  chúng tấn công, chửi bới những người đi tưởng niệm các chiến sĩ đã hi sinh ở Hoàng Sa, Trường Sa.  Chúng gán tội , ghép tội , dán cho những người dám đấu tranh cái nhãn hiệu là “ phản động”....
- VN cho Trung Quốc thuê đến hơn 340.000 ha đất rừng hạn 50 năm. Đó là những vùng rừng núi có tính chiến lược dọc các tỉnh biên giới phía Bắc , vì vậy Trung quốc tha hồ đưa các bộ đội của nó trá hình , giả dạng làm các công nhân vào chiếm đóng , đóng chốt ở các miền đó đến lâu dài vô thời hạn như bọn chúng đã đóng chốt ở các đảo của Tây Sa , Hoàng Sa , Trường Sa ..... Nhà nước Cộng Sản VN làm sao đuổi chúng đi , vô phương cách !!!!! ....
- Các blocger , các nhà báo dám lên tiếng tố cáo càc lãnh đạo , các cán bộ  tham nhũng , hối lộ , đòi ăn tiền , biển thủ công qũy , gian lận , gian tham , ăn cướp , ăn trộm , bóc lột dân chúng và chống Trung Quốc xâm lăng , xâm lược lần lượt bị bắt nhốt vào tù. Hiện nay trong các trại giam còn rất đông các tù nhân lương tâm , những người vì yêu nước thương dân !!!!
- VN đã tham gia kí kết Quốc Tế Nhân Quyền (QTNQ), có chân trong ban lãnh đạo QTNQ. Nhưng chính VN là nước vi phạm quyền Sống , Quyền Tự Do Căn Bản Của con người nhiều nhất... Nhiều Tù Nhân Lương Tâm  bị tra tấn đánh đập hết sức dã man trong các trại giam. 
Bao nhiêu vụ án oan sai đẩy người ngây thơ , thật thà , lương thiện , vô tội vào cảnh tù đày…
Với tôi bây giờ 30/4 không phải là giải phóng miền Nam.... Miền Nam trước đây là mơ ước của Thái Lan, của Singapore , Mã Lai , Nam Hàn .... Vậy mà bây giờ VN ta tụt xa , thua xa , sau họ hằng thế kỉ ....
Bây giờ mỗi lần 30/4,  tâm trạng tôi rất đau đớn bởi vì niềm tin vào đảng CSVN và chế độ XHCN , niềm tin vào các lãnh đạo Cộng Sản vô học , vô giáo dục , thấp kém , vô tri thức , vô lương tri , vô nhân nghĩa đã hoàn toàn đổ vỡ.  Các nỗi đau buồn không diễn tả được bằng lời.
Nhưng tôi có một niềm tin mãnh liệt vào ý chí của toàn dân VN cả trong và ngoài nước sẽ không để mặc cho những người lãnh đạo muốn làm gì cũng được. Những trí thức, đảng viên cấp tiến, những sĩ quan quân đội bên anh em trẻ trong các tổ chức xã hội dân sự cùng sát cánh trong đội ngũ xuống đường ngày càng đông. Theo xu thế văn minh tiến bộ của loài người nhất định nhân dân sẽ đòi được NHÂN QUYỀN, DÂN CHỦ, phải có hai thứ đó thì mới mong THOÁT TRUNG. Chỉ có thoát Trung thì Việt Nam mới cất cánh. Hiện nay các tỉnh phía Nam công nhân các nhà máy đã xuống đường hàng trăm ngàn người. Đó là báo hiệu đã có nhiều người bước qua nỗi sợ hãi. Tôi tin rồi sẽ tới lúc mọi người sẽ nhận ra mình phải tự cứu mình. Nhất định ngày đó sẽ tới. Các vị quan chức cao cấp hãy tin đi khi mà nhân dân đã nổi giận thì các vị sẽ mất tất cả. Nhất định nhân dân sẽ CHIẾN THẮNG.  Chủ Nghĩa Cộng Sản , Chủ Nghĩa Xã Hội - Chế Độ Cộng Sản , Chính Sách Cộng Sản đã qúa lỗi thời , qúa lạc hậu , qúa sai lầm , qúa gian trá , qúa độc ác , Chỉ có lọc lừa , gạt gẫm nhân dân mà thôi !!!!!
Tôi mơ ước một ngày rất gần nước Việt Nam sẽ đổi mới theo cùng thời đại trên trái đất này với một thể chế chính trị thực sự hợp lòng dân , một đất nước thực sự có Tự do, Dân chủ, Nhân quyền và Công Lý , Công Đạo . Khi đó, tôi 'lại sẽ vui' biết bao khi được đoàn tụ cùng tất cả bà con, anh chị em ở hải ngoại trở về trong niềm vui hòa hợp dân tộc, cùng xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, văn minh.
Hà Nội, tháng 4.2015          Ký Tên    Nghệ Sỹ  Xuất Sắc   Kim Chi

Saturday, April 18, 2015

Vòng vây thế tục / Thương Phế Binh VNCH / Dòng Chúa Cứu Thế


Ngày 14/4, hơn 150 thương phế binh VNCH không khỏi bất ngờ khi được tin chương trình chăm sóc sức khỏe định kỳ của họ bị hủy bỏ đột ngột. Nơi đến quen thuộc và đầm ấm là Nhà thờ Chúa cứu thế, Kỳ Đồng, đã im lặng sập cửa mà không một lời giải thích, theo lệnh của linh mục Giám tỉnh là ông Giuse Nguyễn Ngọc Bích.
Không chỉ riêng các thương phế binh VNCH sửng sờ, mà chính những người tham gia phục vụ chương trình này cũng không nói nên lời. Với nhiều người, phục vụ cho những con người khốn khó này là niềm vui và ước nguyện chân thành của họ. Đặc biệt, trong bối cảnh của một nước Việt Nam với vết thương nội chiến vẫn chưa lành, sự kỳ thị với những cựu quân nhân VNCH vẫn là một chủ trương thấy rõ.
Có cái gì đó rất bất thường đang diễn ra ở nhà thờ Dòng Chúa cứu thế, Kỳ Đồng, nơi mà lâu nay, được khắp nơi ngưỡng mộ là ngôi nhà của lòng lành và công lý. Ngay sau sự kiện buộc ngừng khám bệnh cho thương phế binh, còn có nhiều tin tức nói rằng chẳng bao lâu nữa, nội dung lễ Công lý và Hòa Bình hàng tháng sẽ bị kiểm duyệt chặt chẽ. Phòng truyền thông Chúa cứu thế VNRs và phòng Công lý & Hòa Bình cũng sẽ đóng cửa hoặc bị kiểm soát theo kiểu ra lệnh áp đặt. Các nhân viên thư viện cũng sẽ bị đuổi việc và thay bằng người mới “đáng tin cậy” hơn. Dưới sự kiểm soát của linh mục Giuse Nguyễn Ngọc Bích, có vẻ đang có một cuộc “thay máu”, mà mọi thứ như chỉ để thuần phục trước cuộc đời thế tục bên ngoài.
40 năm sau 1975, từ nhà thờ Chúa cứu thế, người ta đã chứng kiến sự lên tiếng cho cái đúng, kêu gọi cho lòng nhân ái và ra sức bảo vệ con người. Không chỉ riêng người Công giáo, mà cả những Phật tử, tu sĩ Cao Đài, Hòa Hảo… cũng đều kính trọng những gì mà các linh mục nhiều đời nơi đây gìn giữ. Điểm son mới nhất, và có lẽ cũng là một cột mốc lịch sử nhân văn, đó là phong trào vận động hủy bỏ án tử hình tại Việt Nam, cũng như việc đấu tranh cho các án oan. Cụ thể là trường hợp của tù nhân Hồ Duy Hải và Nguyễn Văn Chưởng. Sức tác động của truyền thông Chúa cứu thế là một trong những lý do khiến tòa án phải dừng ngày tử hình và suy xét lại vụ án.
alt
Cha Tân Giám Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam(2015-2018), Giuse Nguyễn Ngọc Bích (giữa)
Linh mục Giuse Nguyễn Ngọc Bích đã khiến nhiều tín đồ Công giáo ngạc nhiên trước sự thay đổi mà ông tạo ra. Những thay đổi này, có thể biến thay đổi diện mạo của ngôi nhà của Chúa, một cách hết sức chính trị, theo chiều hướng chống lại lẽ phải và tự nhiên. Nhiều năm nay ở Việt Nam, đã có không ít chùa, đền, nhà thờ… đã tự mình thay đổi như vậy, một cách vừa dễ hiểu, vừa khó hiểu.
Sự kiện của nhà thờ Chúa cứu thế không là ngoại lệ. Phật giáo, một tôn giáo ước lượng có đến 20 triệu tín đồ ở Việt Nam cũng không khác gì. Theo tiết lộ của Wikileak, năm 2005, khi về Việt Nam, Thiền sư Nhất Hạnh nói rằng ông tìm thấy có quá nhiều sự sắp đặt chính trị trong các nhân sự và chùa tại Việt Nam, gây nên những tác động xấu. Thậm chí, theo ông mô tả, Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng lệ thuộc Nhà nước về tiền bạc.
Tệ hại hơn, trong năm 2007, khi Thiền sư Nhất Hạnh tổ chức cầu siêu cho những người chết trong chiến tranh, chết oan ức, bao gồm tù cải tạo, thuyền nhân… nhưng ngay sau buổi lễ, một nhân vật cao cấp của giáo hội là hòa thượng Thích Trí Quảng đã đi lên, cầm micro và tuyên bố ngược, nói rằng lễ cầu siêu này chỉ dành riêng cho liệt sĩ của chế độ.
Đi tìm một lý do cho những thay đổi tại nhà thờ Chúa cứu thế, Kỳ Đồng, ít có ai tin rằng đây là một nhiệm vụ được giao từ tòa Tổng giám mục mà linh mục Nguyễn Ngọc Bích phải thi hành. Cũng có giả thuyết cho rằng, hành động của ông Bích có đích đến là chức giám mục của Dòng Chúa cứu thế, vốn đang để trống. Dĩ nhiên, mọi việc sẽ thuận lợi hơn sau 4 năm tại nhiệm, nếu làm vui lòng chính quyền thế tục. Tuy nhiên, trước khi điều gì sẽ đến, lúc này, mọi người đang im lặng ôm một nỗi đau không có lời giải thích.
Tuy nhiên, dù ở cương vị giám tỉnh, tức quyền uy tuyệt đối, linh mục Giuse Nguyễn Ngọc Bích cũng vẫn phải đối diện với sứ mạng mà ông đã tuyên thệ cả đời. Sự kiện xua đuổi các thương phế binh VNCH đã được mời từ trước có thể chứng cứ quan trọng chống lại ông từ đây về sau. Sách Hiến pháp và Quy luật Dòng Chúa cứu thế, trang 30, chương 1, có ghi rõ “… chúng ta đặc biệt phải chăm sóc người nghèo, người thấp hèn và người bị áp bức. Việc rao giảng cho những người này là một dấu chỉ của sứ vụ thiên sai (x.Lc4,18), và Đức Kitô, một cách nào đó, đã muốn đồng hóa chính mình Ngài với họ (Mt 25,40)”. Những gì ông Bích làm, đã đi ngược với quy luật được tòa thánh Vatican phê chuẩn vào tháng 10-1965. “Vì quy tắc căn bản của đời tu là đi theo Chúa Kitô như đã được trình bày trong Tin Mừng, nên điều này phải được xem là quy luật tối thượng trong Dòng của chúng ta” (HP74), theo thư của Bề trên Tổng quyền Josef. G. Pfab, Css.R, viết năm 1982 cho tất cả linh mục của Dòng Chúa cứu thế.
Lẽ ra chuyện xảy đến trong lòng nhà thờ Chúa cứu thế là chuyện nội bộ của một địa phận tôn giáo, không nên bàn tới. Thế nhưng, với những hoạt động lâu nay, mà tên tuổi ngôi nhà của Chúa và Dòng Chúa cứu thế đã vượt xa khỏi nước Việt Nam, cũng như là niềm tin và sự kính trọng của nhiều người khác, kể cả người ngoại đạo, đã khiến sự kiện hôm nay cần phải được đặt ra suy xét. Người người đang nhìn vào đó, để xem, liệu bầy tôi của Chúa có đủ đức tin để vượt thoát được vòng vây thế tục trên đất nước này, để còn phụng sự cho con người và công lý hay không?
Tuấn Khanh

Friday, April 17, 2015

Nam Lộc / Người Di Tản Buồn / Hành Trình Một Giấc Mơ / The making of Asia 76

Chiều nay có một người di tản buồn

Nam Lộc / Người Di Tản Buồn  

DVD ASIA 76 Hành Trình Một Giấc Mơ







40 năm, nhìn lại về ngôn từ

Dương Thu Hương:

Trong hồi ức 40 năm, đài Á Châu Tự Do hỏi chuyện nhà văn Dương Thu Hương về quan điểm của bà về những vấn đề liên quan đến cuộc chiến Bắc-Nam cũng như những hệ luỵ của nó.
Tường An: Thưa bà, cách đây đã lâu, trong một bài viết, bà có nói ngày 30/4, vào đến miền Nam bà đã ngồi trên vỉa hè và khóc. Nhân đây bà có thể giải thích về những giọt nước mắt ngày 30/4, 40 năm về trước không ạ ?
Dương Thu Hương: Vào miền Nam tôi khóc vì sao? Là bởi vì tôi hiểu đạo quân chiến thắng ở miền Bắc phụ thuộc vào một chế độ man rợ. Rất nhiều dân tộc văn minh bị tiêu diệt bởi một chế độ man rợ hơn, bởi vì họ hung hăng hơn, vì họ có thể văn minh hơn vì văn hoá nhưng họ kém về phương diện tổ chức quân sự. Sau này tôi mới hiểu tôi cũng ngây thơ tôi khóc thế thôi. 30/4 tôi còn khóc vì một lý do khác nữa là vì chúng tôi bị lừa. Chúng tôi đi không nghĩ ngày về, nhưng mà chúng tôi tưởng chiến thắng quân ngoại xâm nhưng thực sự hoàn toàn là không phải. Và tất cả tuổi trẻ của chúng tôi đã bị tiêu huỷ đi. Và vì vậy mà tôi khóc, trong những giọt nước mắt của tôi có cái phần chung cho dân tộc và có phần riêng của chúng tôi, của những người bạn tôi đã chết và của bản thân tôi đã hy sinh tuổi xuân một cách vô ích.»
Tường An: Thưa bà, cuộc chiến dài 21 năm mà miền Bắc gọi là «Chống Mỹ cứu nước» đã chấm dứt vào ngày 30/4, bà có nhận xét gì về cái ngày mà Việt Nam ngưng tiếng súng, ngày mà đại tướng Văn Tiến Dũng gọi là «thiên anh hùng ca vĩ đại của chiến tranh nhân Việt Nam trong thế kỷ XX » ạ?
Dương Thu Hương: Đối với tôi ngày 30/4 có 2 phía : phía những người Việt ở miền nam thì gọi là ngày «Quốc hận», phía những người Việt ở miền Bắc thì gọi là «ngày Giải phóng của dân tộc» thì tất cả 2 cái đó thì tôi cho là cần phải xét lại ngôn từ , bởi vì ngôn từ nó cũng bấp bênh và nó cũng chao đảo với thời gian, nói tuỳ theo quan niệm con người , tuỳ theo cách nhìn con người để mà thay đổi. Về phía những người miền Bắc tưởng rằng đó là một sự sung sướng, một chiến công lừng lẫy, một thắng lợi vô tiền khoáng hậu trong lịch sử. Bây giờ nhìn lại tôi thấy nó chỉ là một ánh đèn loé lên trên một chặng đường, mà cái chặng đường ấy phía sau khi ánh đèn ấy loé lên thì nó đã dần dần trôi vào bóng tối. Thắng lợi ngày 30/4 là một thứ mà người ta gọi là « illusion » tức là một ảo ảnh. Bởi vì sau cái ảo ảnh ấy thì có những thực tại chồm đến và người Cộng sản ngập trong những cái thực tại ấy. Sự thất bại liên tục của họ trên tất cả những chính trường, trên ngoại giao cũng như là đối nội.
Tường An: Bà có thể giải thích tại sao từ một chiến thắng mà người Cộng sản gọi là «cuộc kháng chiến thần thánh » họ lại trở nên thất bại sau này như bà nhận định
Dương Thu Hương: Cái sự chiến thắng đó đem cho họ một lòng kiêu hãnh quá độ. Cho nên cái chiến thắng ấy là mở màn cho tất cả những thất bại sau này. Và bây giờ, mặc dù họ còn giữ được chính quyền nhưng cái thất bại thì rõ ràng không ai có thể chối cãi được là họ đã trở thành một bộ phận nô lệ của triều đình Cộng sản phương Bắc và cái sự bán nước của họ dù diễn ra trong bóng tối, nhưng nhân dân và tất cả nh người có lương tâm đều đoán được một cách chính xác. Chiến thắng 30/4 khiến cho những người Cộng sản có món mồi bở béo giống như ông Nguyễn văn Trấn viết trong cuốn «Viết cho Mẹ và Quốc hộ » - tôi cho ông Nguyễn văn Trấn là một người rất chính trực - ông ấy nói : nhà của người ta lấy, vợ của người ta ngủ v.v… và tức là một sự chiếm đoạt về mặt tài sản đối với tất cả những người mà đã chiến bại. Họ đã thực hiện phương sách của Mao Trạch Đông, tức là «Toạ sơn quan hổ đấu» tức là để chọ người Việt đánh nhau với người Mỹ, một cuộc chiến tranh sức tàn lực kiệt để mà dễ biến thành một thứ thuộc địa nghìn năm Bắc thuộc lần thứ hai.
Tường An: Tại sao bà cho là phải xét lại chữ «Quốc hận" của những người miền Nam, những người đã thua trong cuộc chiến này, thưa bà ?
Dương Thu Hương: Về mặt những người miền Nam mà gọi là « Quốc hận » thì họ cũng phải nhìn lại. Tại sao ? Tại sao lại là « Quốc hận » Trước khi hận những người khác họ phải hận chính họ . Tại sao cùng một thời điểm, người Mỹ tạo ra những điều kiện để tạo ra chính sách dân chủ của 2 nơi : miền nam Việt Nam và miền Nam Hàn Quốc. Tại sao Hàn Quốc chiến thắng mà Việt Nam chiến bại ? Tại sao cùng một cơ hội lịch sử như thế, người Nam Triều Tiên họ đã chớp lấy cơ hội để biến đất nước của họ thành một xứ sở văn minh phồn thịnh, còn miền Nam thì không ? Cái đó phải xét lại.
Tường An: Từ khi sang Pháp năm 2006 cho đến nay, có vẽ như bà ít tiếp xúc với cộng đồng người Việt hải ngoại, phe chống Cộng cũng như phe thân Cộng, chắc là phải có lý do nào đó có phải không ạ?
Dương Thu Hương: Bây giờ nhìn lại những phong trào chống Cộng của người Việt hải ngoại, ta thấy cái gì ? Trừ những vụ treo đầu dê bán thịt chó như Hoàng Cơ Minh ra, rất nhiều chính khách khác chỉ chờ cơ hội để về Việt Nam thương thuyết với Cộng sản để chia ghế. Những nhà chống Cộng ở đây tôi biết thì hoàn toàn là một thứ trò du hí để thoả mãn cái lòng tự tôn của họ. Bởi vì sống ở nước ngoài họ không có một gương mặt hãnh diện, một vị trí xứng đáng cho nên là họ nêu chiêu bài chống Cộng, nhưng lúc nào cũng ngóng chờ Cộng sản chìa tay ra để trở về chia ghế. Và có những ông Cộng sản chưa cần mời đã vội vàng đến sứ quán làm lành trước . Vì sao . vì họ thấy đấu tranh mệt mỏi quá, hàng Cộng sản đi kiếm được một chút vui thú trong cuối đời. Cho nên bây giờ muốn chiến thắng Cộng sản thì trước tiên phải chiến thắng chính bản thân mình. Bây giờ rất nhiều Việt kiều ở nước ngoài chửi Cộng sản nhưng về trong nước lại vui thú, cho làm ăn, cho kiếm tiền, cho chơi gái rẻ. Cho nên cái tinh thần chống Cộng của tôi cũng giống như cái đuôi con chó, vẫy lên rồi vẫy xuống theo cái lợi ích của họ.»
Tường An: Từ sự phân tích những tiêu cực của phe Cộng sản cũng như phe chống Cộng, bà có kết luận gì về cuộc đấu tranh trên chiến trường mới này ạ ?
Dương Thu Hương: Tóm lại, tôi thấy cần phải chống Cộng, nhưng trước hết cần phải soi lại bản thân mình. Thế còn người Cộng sản nhìn lại ngày 30/4 như một điều hãnh diện thì tôi đó là sự ngu ngốc . Bởi vì bây giờ, cái đứa ngu nhất thì cũng hiểu là họ đang bán nước và sẽ còn bán nước một cách trầm trọng hơn. Và nếu không có một sự kiện nào có thể thay đổi được vận mệnh quốc gia thì chắc chắn 1000 năm Bắc thuộc lần thứ hai sẽ diễn ra. Không phải với một đoàn quân phương Bắc kéo sang nữa mà là một sự khống chế toàn bộ về mặt chính trị và kinh tế bắt đầu từ đảng Cộng sản Trung quốc đối với đảng Cộng sản Việt Nam và sau đó là hai nhà nước cùng một hệ thống mà tôi gọi là một thứ phong kiến trá hình.
Tường An: Xin cám ơn bà đã dành thì giờ cho đài Á Châu Tự Do

Nghe phần phỏng vấn của Hạ Sĩ Nhất ( HSI ) Trần Thiện Thanh Sơn, ĐĐ 113/TD 11 Nhảy Dù.



TPB Võ Phùng Nhơn BDQ
người trực tiếp bốc mộ Cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo 
1.- Phóng sự từ Việt Nam, viếng mộ cố Đại tá Nguyễn Đình Bảo, 

43 năm sau ngày ông hy sinh (12/04/1972).



Nghe phần phỏng vấn của Hạ Sĩ Nhất ( HSI ) Trần Thiện Thanh Sơn, ĐĐ 113/TD 11 Nhảy Dù.  

Theo lời CH Trần Thiện Thanh Sơn phần mộ của ĐT Nguyễn Đình Bảo do CH Phạm Trung Hiếu 
chuyển hài cốt về từ đồi Charlie.  





2.- Ký sự đường dài - Những cuộc viếng thăm quý TPB VNCH (Tập 2), ngày 10.04.2015.


Cuộc viếng thăm Thương Binh Việt Nam Cộng Hòa của phái đoàn Dòng Chúa Cứu Thế Sàigòn. 
Xin mời nghe những lời nói cảm động và ân tình dành cho Chiến sĩ QLVNCH  của phóng viên VRNs Cô Anna Huyền Trang

CHUYẾN BAY CUỐI CÙNG TỪ ĐÀ NẴNG

  JAN WOLLETT
(Nữ Trưởng Tiếp Viên Hàng Không)
"Tại sao họ bắn? Chúng tôi là những người bạn tốt”

Ngày 29/3/1975 đáng lẽ nhân viên khách sạn Sài Gòn phải đánh thức tôi dậy lúc 5 giờ sáng . Tôi là tiếp viên trưởng của một chuyến bay khứ hồi ra Đà Nẵng . Nhưng 5 giờ sáng hôm ấy không có ai đánh thức tôi dậy. Khoảng 6 giờ sáng mới có điện thoại của Val Witherspool, một nữ tiếp viên khác. Cô ấy bảo: “Chị xuống ngay phòng đợi khách sạn trong vòng 5 phút.” Khoác bộ đồng phục, tôi lập tức chạy xuống cầu thang. Ông Ed Daly và Val đang chờ tôi ở dưới nhà. Bruce Dunning, làm việc cho hãng tin CBS cũng đã có mặt. Tôi bảo Bruce: “Bọn này phải ra Đà Nẵng”. Anh ta nói: ’’Có tin thành phố này rơi vào tay Bắc Việt rồi” Tôi nói: “Nếu thành phố này đã mất thì chúng tôi đâu có đi” Bruce yêu cầu được đi theo chuyến bay. Ông Daly bảo: “Muốn đi thì đi. Có mặt ở phi trường Tân Sơn Nhất trong vòng một giờ đồng hồ nữa.”
Bruce tập họp Mike Marriotte, chuyên viên quay phim và Mai Văn Đức, chuyên viên âm thanh, rồi chở họ ra phi trường. Chúng tôi bước lên chiếc World Airway Boeing 727. Là tiếp viên trưởng, tôi được thông báo là sẽ có một hay hai tiếp viên người Việt đi thông dịch, sẽ có binh sĩ bảo vệ để đương đầu với đám đông. Hôm trước, chúng tôi đã gặp khó khăn ở Đà Nẵng, và chúng tôi cũng sẽ phải mang theo nước ngọt, nước cam, bánh mì săng-uých cho hành khách.
Vừa vào phi cơ, tôi nói với Val và Atsako Okuka, một nữ tiếp viên khác: “Các bạn hãy xem xét ngay mọi thứ.” Chúng tôi thấy không có đồ ăn thức uống. Đó là dấu hiệu đầu tiên cho biết một cái gì bất thường đang xẩy ra…Không nước ngọt, không nước  cam, không bánh mì, không đồ ăn thức uống trên phi cơ. Cũng không có tiếp viên người Việt, cũng chẳng có binh sĩ bảo vệ nào hết.
Chúng tôi thảo luận xem có nên bay ra hay không. Lúc ấy Daly và phi hành đoàn đã lên phi cơ rồi. Dunning và toán làm tin CBS cũng vậy. Hai nhân viên cơ quan  USAID leo lên. Họ trấn an chúng tôi là mọi việc ở Đà Nẵng cũng tốt thôi, không cần gì đến binh sĩ bảo vệ.
Lúc đó 8 giờ sáng, quá muộn so với giờ ấn định máy bay cất cánh. Ông Daly quyết định cứ đi Đà Nẵng để đón một số người tỵ nạn gồm đàn bà và trẻ em mà khỏi cần đến binh lính hộ tống hay thông dịch viên.
Chuyến bay ra khá êm. Chúng tôi mang theo một nhà báo người Anh và một người nữa của hãng tin UPI. Trong chuyến bay chúng tôi chuyện trò thân mật với nhau.
Phi cơ bắt đầu đổi cao độ để hạ xuống Đà Nẵng. Theo kế hoạch, sau chúng tôi 20 phút sẽ có một chuyến World Airway 727 khác do Don McDaniel lái. Sau anh ta, lại một chuyến 727 nữa do Dave Wanio điều khiển. Chúng tôi dự tính sẽ đậu từ 10 đến 15 phút để lấy khách rồi cất cánh, để chuyến thứ hai, rồi thứ ba đáp xuống. Với cách ấy chúng tôi có thể đem đi được 3 chuyến trong vòng dưới một tiếng đồng hồ.
Nhưng khi hạ cánh có một cái gì rất lạ lùng.
Không hề thấy một bóng người.
Không một ai, cả phi trường hoàn toàn hoang vắng. Đột nhiên trong lúc phi cơ đang “chạy taxi” trên đường vào bến, đoàn người chợt xuất hiện. Họ chạy ào ra từ những nhà chứa máy bay, Hàng ngàn con người-tôi nói đúng nghĩa là hàng ngàn con người đua nhau chạy đến chúng tôi- Họ chạy bộ, chạy xe gắn máy, chạy xe thùng, xe Jeep, xe hơi, xe đạp…Họ chạy đến phía chúng tôi bằng bất cứ phương tiện nào họ kiếm được.
Chúng tôi đã có một kế hoạch là ông Daly và Joe Hrezo, trưởng trạm của hãng World Airways sẽ ra khỏi phi cơ. Họ sẽ lo việc sắp hàng hành khách ở lối vào cầu thang phía sau. Tôi sẽ đứng ở phía trước phi cơ, Atsaco ở giữa còn Val đứng ở khoảng sau.
Chúng tôi cho phi cơ chậm lại. Lúc ấy tôi đang đứng trong phòng lái nhìn ra cửa sổ trước, chợt thấy có điều kỳ lạ. Một nhóm người lái chiếc xe vận tải nhỏ đuổi bên cạnh chiếc tàu bay. Một người đàn ông nhảy khỏi xe, chạy đến trước chúng tôi. Tôi nhìn về phía anh ta, lúc ấy chúng tôi đang đi chậm, anh ta rút một khẩu súng lục, bắn vào chúng tôi.
Đột nhiên tôi có cái cảm giác kinh dị y như đang đứng giữa khung cảnh của một phim cao bồi. Tôi đã nghĩ rằng: “Tại sao họ bắn chúng tôi? Chúng tôi là những người bạn tốt!”
Chúng tôi cho tàu chạy khỏi người đàn ông có súng và đi chậm lại ở phía xa. Bây giờ tôi bắt đầu chờ người khách đầu tiên lên phi cơ. Chúng tôi dự tính sẽ cho họ ngồi vào ghế, bắt đầu từ những hàng trước, lần lượt đến phía sau, sẽ sắp đặt họ trong vòng trật tự.
Rồi những người lính bắt đầu lên.
Họ chạy xồng xộc với cặp mắt man dại. Chừng chín người lính đã lên, tôi xếp họ ngồi vào ghế. Rồi người thứ mười lên, nhưng hắn không chịu ngồi. Hắn bị kích động, cứ chạy lên chạy xuống la lớn bằng tiếng Anh: “Bay đi! Bay đi! Bay đi! Chúng nó sắp pháo kích vào phi trường kìa!” Hắn cứ la hét như thế mãi. Tôi nắm lấy hắn, tôi cũng hét lên: “Im mồm, tôi bảo ông ngồi đâu thì ông ngồi xuống đó.” Tôi đẩy hắn xuống ghế.
Nhưng có điều lạ: rất ít người lên phi cơ. Vì vậy tôi nghĩ cần phải ra sau xem có chuyện gì…Tôi thấy Daly dưới chân cầu thang đang bị dằn xé. Áo ông rách vụn. Joe Hrezo biến đâu mất. Val đang cố giúp Daly lôi người lên cầu thang trong lúc tàu bay cứ tiếp tục chạy trên phi đạo. Còn dưới chân thang, hàng tram người tuyệt vọng, điên cuồng, la hét cố bấu víu lấy Val và Daly. Đoàn người tiến đến không ngừng. Họ từ khắp phía, chạy đến cầu thang không ngớt. Tôi leo xuống. Daly ở dưới thang, ông cố lập trật tự bằng khẩu súng lục vung lên trời. Val cố giúp những người đang leo qua cạnh cầu thang. Một gia đình 5 người chạy đến phía tôi cầu cứu. Đó là bà mẹ, ông bố, hai đứa con nhỏ, một trẻ sơ sinh còn ẵm trên tay mẹ. Tôi có thể nhìn rõ nét sợ hãi trên khuôn mặt khi họ cố chạy đến phía tôi. Tôi quay lại định nắm tay người mẹ kéo lên. Trước khi tôi kịp nắm tay bà, một người đàn ông đứng sau đã nổ súng vào 5 người này. Họ ngã gục cả xuống, đám đông đạp ngay lên xác họ. Cái hình ảnh cuối mà tôi thấy là họ biến mất dưới chân đám đông. Chỉ vài tiếng nổ lớn, họ biến mất, tất cả những người ấy. Còn gã đàn ông vừa bắn xong đã đạp ngay lên thân họ để leo tới cầu thang. Hắn đè lên mọi người, chạy vào lòng phi cơ. Tất cả mọi thứ quá sức hỗn loạn điên cuồng. Tôi còn nhớ vào giây phút điên dại ấy, tôi nghĩ: “Chốc nữa sẽ tính chuyện này”, tôi tiếp tục kéo người lên phi cơ. Chợt cảm thấy một người đàn bà đang níu tôi từ phía hông cầu thang, bà nắm cánh tay tôi, cố lọt lên bực thang. Tôi muốn giúp bà ta nhưng cũng sợ bị rơi tuột khỏi thành cầu. Tôi bèn quay lại nắm cánh tay người đàn bà, kéo qua thành cầu. Nhưng một người đàn ông ở phía sau đã níu lấy, giựt bà khỏi tay tôi. Khi bà rơi xuống, người đàn ông kia đạp ngay lên lưng, lên đầu người đàn bà để leo lên thang. Hắn dùng người đàn bà như một hòn đá kê. Daly nhìn thấy chuyện xảy ra. Liền khi gã đàn ông tung được  chân qua thành cầu, Daly nắm khẩu súng đập một cú vào đầu gã. Tôi nhớ lúc ấy đột nhiên tôi thấy vòi máu vọt ra, gã đàn ông rơi xuống, người ta đạp lên hắn. Tôi nhớ tôi đã nghĩ: “Đáng kiếp”. Gã đàn ông này biến mất dưới bàn chân dày xéo của đám đông.
Lúc ấy người đổ ùn ùn vào phi cơ, tôi chạy trở vào xem Atsatko có xếp nổi chỗ ngồi không. Cô nắm lấy tay tôi, bảo: “Đại úy Ken Healy đang cần chị”. Tôi đến phòng lái gõ cửa. Cửa mở, Đại úy Healy bảo: “Joe Hrezo đã lạc khỏi phi cơ. Khi nào hắn trở lại được cho biết .” Tôi đáp: “OK.” Chuyện xảy ra là Joe và thông tín viên người Anh đã bị đám đông kéo tuột khỏi tàu, không trở vào được nữa. Chúng tôi lạc mất cả hai người. Joe tự chạy tới đài kiểm soát không lưu, người kiểm soát viên cho anh ta vào. Sau đó Joe liên lạc được với máy bay. Ken Healy cho biết chúng tôi sẽ “chạy taxi” đi rà trên đường vào bãi và yêu cầu Joe phóng ra khi máy bay tới gần . Chúng tôi sẽ không dừng một giây nào. Liền khi Joe lọt vào phi cơ, chúng tôi sẽ cất cánh. Đại úy Ken Healy bảo: “Khi thấy chắc chắn Joe vào phi cơ rồi, gõ lên cánh cửa cho tôi hay”. Tôi đi sau, bảo Val: ” Val, canh chừng cầu thang, thấy Joe vào thì giơ tay, tôi sẽ ra hiệu cho Ken biết”
Trong khi đợi phi cơ chạy qua đài kiểm soát, người ta tiếp tục ào tới. Chúng tôi ấn họ xuống, 5, 6 người một ghế. Trong lúc làm việc, tôi nhớ là đã tự hỏi: “Thế còn đàn bà, trẻ con đâu hết?” Hóa ra, mọi hành khách đều là binh sĩ. Sau đó, tôi đếm chỉ có 11 người đàn bà và trẻ con. Tất cả chỉ có thế! Còn lại đều là binh sĩ…
Mọi người ngồi trên ghế với những bộ mặt căng thẳng. Gã khùng vẫn tiếp tục la lối: “Bay đi! Bay đi! Bay đi!”
Khi tàu đến gần đài kiểm soát. Daly vẫn còn đâu đó dưới cầu thang để kéo người vào. Tàu chạy rà qua đài kiểm soát được một lát, Val quay người lại, giơ tay lên. Tôi gõ vào cửa phòng lái. Phi cơ bắt đầu rồ máy. Chúng tôi gia tăng vận tốc. Gã khùng lúc trước la lối đòi bay, bây giờ sợ hãi thét lên: “Ối! Ối! tàu bay đang cất cánh trên cỏ.”
Thật ra, chúng tôi chạy để cất cánh từ phi đạo, lối vào bãi đậu, và Ken đã rồ máy để cảnh cáo người ta tránh ra, nếu không chúng tôi sẽ cán qua mà chạy.
Phi cơ leo lên cỏ vì đã vào cuối đường bến, không còn cách nào trở lại được. Chúng  tôi cứ tăng tốc lực bay vượt lên, do đó đã đụng phải một chiếc xe và một cọc hàng rào gây hư hỏng cho  cánh phi cơ. Nhưng hư hỏng  trầm trọng nhất là do đạn và lựu đạn ném vào một bên cánh. Ở trong phi cơ, chúng tôi không thấy được hư hại, không rõ tình trạng thế nào. Nhưng đại úy Ken Healy biết rất rõ.
Dầu thế, chúng tôi vẫn phải bay lên. Phải thoát khỏi Đà Nẵng. Chưa một giây phút nào tôi nghĩ là không thể thoát. Không ai có thì giờ để nghĩ những điều như vậy giữa cơn rối loạn. Sau  này tôi khám phá được suýt chút nữa chúng tôi đã không thoát. Đáng lẽ chúng tôi đã mất mạng vì các hư hỏng của phi cơ. Với 358 con người ở lòng tàu, còn lại 60 người khác trong khoang chở hàng, có cả người mắc trên bánh xe. Chiếc máy bay này thật sự chỉ dùng để chở có 133 hành khách thôi.
Sau này Ken Healy gởi cho hãng Boeing những con số thống kê liên hệ đến chuyến bay. Người ta cho chạy điện toán rồi bảo chúng tôi: Theo cách tính của họ, phi cơ chẳng thể nào cất cánh. Vậy mà chúng tôi đã cất cánh được. Sau Ken cũng gởi cho Boeing một điện tín khác, nói: “Quý ông quả đã chế được một cái tàu bay tốt hết xảy.”
Sau khi cất cánh, tôi bắt đầu đếm hành khách. Tôi chú ý một người ngồi ghế trước, mặt tái xanh, bị thương nặng, ruột đổ lòng thòng. Tôi dùng tay nhét đại ruột vào, giật cái khăn trên cổ một người nào đó quấn quanh bụng ông ta lại. Tôi kéo thùng cứu thương xuống. Thuốc men mất đâu cả từ Sài Gòn. Chúng tôi không có bất cứ một vật dụng y khoa nào trên tàu. Trống trơn. Không thuốc men bông băng gì. Sau khi tạm ổn thỏa với người đàn ông ghế trước, tôi nhìn ra lối đi, thấy một người khác đang bò lết đến bên tôi. Tôi nhận ra gã, đầu bê bết máu. Máu vấy đầy mặt. Chính là gã đàn ông đã kéo người đàn bà ra khỏi tay tôi. Đó là gã đàn ông bị Daly nện với khẩu súng lục. Lần sau chót tôi thấy hình ảnh người đàn bà bị nghiến trên mặt đất. Cũng lần sau chót tôi thấy gã đàn ông này bị đám đông đạp lên. Vậy mà sao gã cũng lết được vào phi cơ? Bây giờ gã đang bò. Tôi nhớ đó là lần duy nhất trong ngày tôi đã cầu nguyện, tôi cầu: “Lạy chúa. Xin đừng để cho gã này tiến lại gần con”. Gã cứ lồm cồm lết đến. Gã nắm lấy ống quần tôi. Gã nhìn lên tôi. Gã chỉ nói: “Xin cứu tôi”
Thế là tôi nắm đại một người, kéo khỏi ghế, tôi giúp gã ngồi vào ghế. Đầu gã nứt, tôi có thể nhìn thấy bên trong máu lầy nhầy. Không có gì để cầm máu cả. Tôi biết nếu tôi không giúp cho máu cầm lại, gã sẽ chết ngay trên tay tôi. Một người lính ngồi bên cạnh mặc cái áo tác xạ. Tôi xé toạc cái áo, bốc một nắm mạt cưa  nhét vào vết thương. Tôi cứ nhồi mãi mạt cưa vào để chận vòi máu. Chắc chắn giới Y khoa Mỹ sẽ giật mình với phương pháp này, nhưng nó đã tỏ ra hữu hiệu. Tôi giật lấy cái sơ mi của một người khác, buộc quanh đầu gã để giữ mạt cưa lại…
Gã được bình yên suốt chuyến bay. Gã thật mạnh, không bị bất tỉnh lần nào. Tôi đi về phía sau lần nữa, thấy Val, Daly và Joe Hrezo đang cố kéo một người đàn ông mắc kẹt trong cầu thang sau. Cửa máy bay sau không đóng được. Người ấy bị kẹt trong thang, gẫy chân. Sau cùng họ lôi được người này ra, mang vào trong phi cơ. Val và tôi cố bó cái chân gẫy với một miếng gỗ – Lúc ấy Joe bảo tôi rằng thông tín viên người Anh không trở lại được. Anh ta bước ra phi đạo Đà Nẵng để thu hình đám đông, rồi vô phương trở vào phi cơ trong lúc rối loạn. Anh ta còn ở trong đài kiểm soát. Ken Healy hứa sẽ có một chiếc trực thăng Air America đến đón. Về sau, anh ta cũng đã trở vào được Cam Ranh. Val, Atsako và tôi tiếp tục cấp cứu cho mọi người trên tàu. Việc này chiếm hết thì giờ và tôi đoán là khi đã bay được một giờ đồng hồ thì chúng tôi mới bắt đầu nhìn đến các hành khách khác không bị thương. Tôi thấy vẻ kinh sợ trên mặt họ. Cuối cùng, họ nhận thức được họ đã làm những gì. Họ bắt đầu hỏi “Còn những chuyến bay khác nữa không?”
Chúng tôi trấn an bằng cách nói thác: “Còn chứ, còn nhiều chuyến nữa.” Những người này bây giờ đã hiểu ý nghĩa việc bắn giết đồng bào để leo vào chuyến bay. Bây giờ họ ân hận. Đành nói dối thôi, chứ chúng tôi cũng biết sẽ không còn chuyến nào ra Đà Nẵng nữa. Đây là chuyến chót. Những người đi sau không ra nữa. Ken Healy đã liên lạc với Don McDaniel của chuyến 727 kế, bảo anh ta đợi chúng tôi ở Phan Rang, và bảo anh ta điện cho Dave Wanio quay lại Sàigòn để sửa soạn việc hạ cánh khẩn cấp. Tàu chúng tôi hư hỏng nặng, Ken không dám chắc bánh xe buông xuống được khi chúng tôi xuống Sàigòn. Tôi hiểu điều đó có nghĩa gì.
Trong lúc ấy, phi cơ nóng kinh khủng mặc dù thang máy bay phía sau vẫn hạ xuống, cửa sau vẫn mở trống hốc. Người ta không thể thở nổi trong máy bay với chừng ấy con người – chúng tôi nhờ Đức, chuyên viên âm thanh của CBS luôn luôn nhắc nhở bằng tiếng Việt trên máy phát thanh là “Yêu cầu đừng hút thuốc.” Hành khách tuyệt đối cấm hút thuốc, và nếu có người hút thuốc là hỏa hoạn sẽ xảy ra lập tức.
Sau công tác cứu thương cho hành khách, tôi nhận ra trên máy bay không có gì cho họ uống. Nhưng có một ngăn nước đá đã chảy, bây giờ đầy nước lạnh. Tôi bảo Bruce Dunning xé tấm màn ra từng miếng vải vuông nhỏ, nhúng nước. Tôi lấy những mảnh vải ướt, đi lên đi xuống chuyển cho hành khách tạm thời lau mặt. Người nào cũng nhễ nhại mồ hôi. Tôi bảo Val và Atsako làm một cái gì để nâng tinh thần những người này. Sau những gì họ đã làm với chính các bè bạn, chiến hữu họ, sự xúc động đang chậm chạp kéo đến dày vò họ. Họ đã bỏ gia đình. Họ đã giành giật, bắn giết nhau để lấn vào tàu. Bây giờ cơn náo loạn biến mất, nhận thức về cái ghê tởm đã xảy ra đang ngấm dần.
Vì thế, chúng tôi đi quanh, nói chuyện, vỗ vai, chùi mặt mày, lau tay, cố làm một vài điều giúp họ thoải mái đôi chút.
Lúc ấy, tôi cũng chết khát. Daly đến bên, mở áo sơ mi ló ra cho thấy một chai coca. Ông bảo “ra phòng lái.” Tôi đi ra phòng lái, ngồi xuống ghế quan sát viên, Daly tiến đến với một chai coca. Ông mở nút đưa tôi. Tôi nhớ tôi đưa chai coca lên miệng, nhưng nước cứ trào khỏi cằm, chảy xuống bộ đồng phục. Tôi không nuốt nổi. Chúng tôi chuyền cái chai coca độc nhất quanh phòng lái. Một lần nữa, Ken Healy nói với tôi về các hư hỏng của chiếc tàu bay. Ông bảo không dám chắc cái bánh xe mũi có thể buông xuống được, nếu nó xuống được, chưa chắc sẽ chịu đựng được thân tàu. Ông báo động: phải sẵn sàng đối phó bất cứ điều gì khi hạ cánh xuống Sàigòn.
Tôi trở lại khoang hành khách, phục vụ loanh quanh. Chợt mọi người đều xúc động nhìn qua phía trái. Chúng tôi đã bay đến Phan Rang. Don McDaniel và phi hành đoàn đang bay ở cao độ 35,000 bộ, họ đang chờ chúng tôi. Cuối cùng họ thấy một chấm đen ở phía dưới, họ nhận ra chúng tôi và đang bay xuống phía chúng tôi. Chúng tôi nhìn ra cửa sổ. Ngoài kia, tương phản với bầu trời xanh tuyệt vời, trên đám mây trắng nõn là chiếc tàu bay World 727 xinh đẹp màu đỏ và trắng. Một cảm giác sảng khoái đột nhiên chạy qua khắp chiếc tàu, và lúc ấy tôi biết cái cảm giác này cũng đi suốt qua tôi. Chúng tôi biết một chiếc phi cơ chị em đã tìm ra chúng tôi. Chúng tôi sẽ an toàn vì cô chị chúng tôi nay đang hộ tống chúng tôi trở về bình an.
Thế là anh chàng Don McDaniel lái chiếc tàu bay của anh ta lượn quanh chiếc tàu bay chúng tôi để lượng giá những hư hỏng. Anh ta gọi Ken Healy, bảo “’Hình như có một xác chết lủng lẳng trên bánh xe của bạn.” Ken đã hỏi anh ta về việc đó. Một người bị cán khi bánh xe lùi lại. Nhưng cái chết của người này đã cứu mạng sống của tám người khác dưới guồng bánh xe vì xác chết đã cản cần máy lại, không làm cho bánh xe lùi thêm nữa.
Như vậy lúc đó chúng tôi biết sẽ phải đương đầu với nhiều vấn đề gây ra bởi bánh xe. Các cửa khoang chở đồ mở toang, cầu thang sau còn treo thòng xuống, cửa sau cũng mở trống, vành xếp của cánh máy bay bị đạn bắn sẽ không hoạt động khi hạ cánh. Chúng tôi đang ở tình trạng khó khăn nghiêm trọng.
Phi cơ tiếp tục bay về Sàigòn.
Tôi nói với Val “vào phòng rửa mặt,” ở đây tôi nói cho Val biết những cái trục trặc của tàu bay. Lúc hạ cánh, tôi sẽ ngồi hàng ghế trên, Val sẽ ngồi sau khoang phi cơ. Tôi bảo không biết chúng tôi thoát được không. Tôi dặn dò vài điều nhắn cho gia đình tôi trong trường hợp Val sống sót và nếu tôi không thoát được. Tôi bảo “Hãy cho gia đình tôi biết mọi sự cũng ổn thôi. Tôi đã không hề sợ hãi gì. “Tôi không khóc. Cô cũng vậy. Người ta không có thì giờ dành cho xúc cảm, mà hiển nhiên đây là lúc đầy cảm xúc, nhưng người ta đành phải giấu đi thôi.
Thế rồi phút cuối cùng của chuyến bay phải đến. Từ sau thân tàu, tôi bắt đầu đi lên, và đây là lúc một hành động tự phát xuất hiện. Một người đàn ông trao vào tay tôi khẩu M.16. Anh không nói tiếng Anh, tôi không nói được tiếng Việt, tôi không rõ anh ta muốn gì. Nhưng rồi tôi hiểu: anh muốn tôi hãy nhận lấy khẩu súng của anh. Vì thế tôi khoác cái khẩu súng khốn nạn lên vai, trong lúc bước đi, người ta bắt đầu trao thêm cho tôi mọi thứ khác. Khi đến phòng lái, trên vai tôi đã có vài khẩu M.16 lủng lẳng, một băng đầy đạn, một nắm đạn rời. Một vài người đã trao một hay hai viên, vài người khác trao cho tôi nhiều hơn, tôi còn có hai khẩu súng lục treo trên ngón tay. Chính lúc ấy – khi tôi đang nắm những viên đạn nhỏ và những thứ vũ khí trong tay – đột nhiên một cảm giác rõ rệt bừng ra – cuộc chiến của những người này đã chấm dứt. Họ không muốn súng đạn hay bất cứ gì nữa. Điều ấy thực chua chát: chính họ cũng đã ở cuối đường.
Khi tôi gần đến phòng lái, một gã khùng đặt một quả lựu đạn lên trên các thứ trong tay tôi. Tôi nhìn xuống, tự nghĩ “Trời ơi – một quả lựu đạn!” Phản ứng bản năng tôi là định xoay người, ném xuống phía sau máy bay. Nhưng tôi sợ nó đụng cầu thang phát nổ, tôi nghĩ “Chúa-ơi-tôi-sẽ-làm-gì-với-những-thứ-này?” Tôi đi về phòng lái, đá cửa. Charlie Stewart, kỹ sư chuyến bay mở ra. Tôi nói với anh: “Charlie, cầm lấy mấy cái này!” Tôi chưa bao giờ từng chạm tay đến một quả lựu đạn. Charlie cầm lấy. Anh ta và Mike Marriott vội tìm băng keo quấn lại. Họ quấn băng keo quanh quả lựu đạn, và mọi thứ tôi mang vào. Nếu lỡ có gì phát nổ, họ muốn bọc bớt lại càng nhiều càng tốt.
Đã đến lúc hạ xuống Sàigòn. Tôi gọi Mike Marriott tới bên cửa hông, chỉ cho anh cách mở cửa khẩn cấp và cách bung cầu tuột. Thông thường, đó là việc của Atsako, nhưng cô là tiếp viên mới, tiếng Anh không thạo, không chắc cô sẽ đối phó được trường họp khẩn cấp. Cho nên tôi muốn có một người đàn ông ngồi đấy.
Lúc tôi đang ngồi ở ghế trên với Bruce Dunning thì Daly từ phòng lái bước ra, ông yêu cầu Bruce xuống phía sau tàu. Ông muốn Bruce mang các phim ảnh quay được ở Đà Nẵng ra phía sau, nếu không ai sống sót thì các phim ảnh vẫn phải được bảo toàn. Tất cả đều cảm thấy mãnh liệt: Nếu chúng tôi không thoát, thế giới vẫn cần phải biết những gì xảy ra hôm ấy.
Daly đến, ngồi xuống cạnh tôi. Ông hỏi tôi có biết gì tình trạng chiếc máy bay không. Tôi nói biết. Ông hỏi tôi có sợ không. Tôi nói “Không, tôi không sợ chết.” Ông choàng cánh tay ôm tôi, nói “Cô bảnh lắm. Tôi sẽ đãi cô nhậu một chầu nếu mình thoát ở Sàigòn.” Tôi nói “Ông Daly, nếu sống sót, xin ông mua cho tôi một két bia.” Ông ta cười.
Rồi Daly lại bảo tôi “Những người này không hề biết súng của tôi trống rỗng.” Ông đã bắn hết đạn trong lúc cố duy trì trật tự ở cầu thang máy bay tại Đà Nẵng. Ông bảo “Tôi sẽ giữ khẩu súng để kiểm soát họ khi hạ cánh, như thế cô sẽ có thì giờ mở cửa và bung cầu tuột.” Tôi đáp “Tốt lắm.”
Chúng tôi bắt đầu một cuộc hạ cánh khá dài để xuống Sàigòn. Phi cơ bay hơi nhanh, tất nhiên không nên bay nhanh như vậy để hạ cánh, nhưng chúng tôi không điều chỉnh được vành xếp ở cánh. Và tôi ngồi ở cái ghế đặt ngay vị trí bánh xe mũi, ngồi đấy, tôi có thể cảm thấy bánh mũi có hạ xuống không? Có chống được thân tàu hay không? Rồi tôi cảm thấy bánh xe chính chạm phi đạo, tôi thấy phi trường bay vượt qua. Tôi cố chờ để cảm thấy cái bánh xe mũi hạ xuống mặt đường. Nhưng Ken đã giữ cho mũi máy bay cách khoảng mặt đất thật lâu. Tôi không hiểu làm thế nào anh đã giữ được như thế. Bỗng tôi thấy các toà nhà vút qua. Tàu chúng tôi đang chạy ngay trên phi đạo. Tôi hiểu bánh mũi đã hạ và chịu đựng được. Thế mà tôi không cảm thấy nó hạ xuống lúc nào. Ken đã khéo léo điều khiển chiếc 727 đáp xuống Sàigòn một cách nhẹ nhàng như thế. Rồi phi cơ cứ vùn vụt chạy trên phi đạo, vì chúng tôi không thể ngừng. Cảm ơn Thượng Đế, Sàigòn có được cái phi đạo dài 14,000 bộ! Bốn chiếc xe cứu hỏa chạy nhanh, kèm bên chúng tôi. Cuối cùng, chúng tôi quẹo qua đường vào bến. Phi cơ ngừng, không tỏ dấu hiệu rõ rệt nào là có sự nguy khốn cả. Tôi nhảy ra, mở cửa, nhưng không bung cầu cấp cứu. Joe Hrezo đã đứng trên mặt đất, hẳn anh ta đã chạy xuống bằng thang sau. Cùng một lúc, Joe và tôi la lên: “Xe tải thương, cáng cứu thương! Chúng tôi cần xe tải thương, cáng cứu thương.”
Người ta mang cầu thang đến cửa trước. Mọi người bên trong ngồi im lặng. Qua máy phóng thanh, Đức nhắc đi nhắc lại: “Ngồi yên, đừng di chuyển.” Không ai nhúc nhích. Sau đó chúng tôi bắt đầu chuyển người ra. Tôi nhớ có một người đàn ông châm một điếu thuốc. Ngay khi anh ta tới cửa trước, tôi yêu cầu anh không được hút thuốc vì có xăng. Anh ta ném điếu thuốc, dí chân lên điếu thuốc cháy đỏ. Tôi thấy anh ta đi chân không. Tôi nghĩ “Chúa ơi, thế thì đau lắm.” Nhưng anh không cảm thấy. Không ai trên tàu còn cảm thấy gì nữa.
Hầu hết hành khách được lùa sang một bên. Cáng tải thương mang vào tàu, họ khiêng người đàn ông với vết thương nặng trên đầu, rồi khiêng người đàn ông bị đổ ruột. Khi mọi người ra hết, chúng tôi bắt đầu kiểm điểm. Val và tôi bước qua lối đi, nhặt nhạnh súng, đạn, những quả lựu đạn bỏ lại trên ghế. Tôi nhận ra chúng nặng quá sức. Tôi bảo Val “Thôi kệ – Bỏ lại – sẽ có người khác đến lo chuyện ấy.”
Tôi và Val rời tàu. Chúng tôi là hai người cuối cùng rời tàu. Nhìn những chỗ hư hỏng của chiếc máy bay, chúng tôi sợ hãi khi thấy những mảng kim khí đã toác ra. Chúng tôi cũng sợ hãi nhìn những lỗ đạn trên cánh. Lúc ấy tôi nói với Val “Thật đáng ngạc nhiên là chiếc phi cơ này đã có thể bay được.”
Val và tôi được đón đến ban phi vụ, rồi đến khách sạn Caravelle. Người ta đưa chúng tôi tới văn phòng ông Daly, nơi đây thông tín viên NBC đang phỏng vấn tất cả mọi người. Tôi ngồi trên chiếc ghế dài uống bia trong lúc họ quay phim.
Trong phòng bên, vài chục phóng viên khác đang chờ. Họ đều muốn phỏng vấn chúng tôi. Tôi hỏi Daly “Chúng ta nên nói gì?” Ông ấy bảo: “Cứ nói sự thật.”
Daly đưa tất cả chúng tôi đi ăn tối hôm ấy. Khi về lại khách sạn, tôi tắm rất lâu. Tôi nằm xuống giường, nhưng không ngủ được. Tôi cứ nhìn thấy mãi hình ảnh những người buổi sáng hôm ấy ở Đà Nẵng. Tôi thấy người đàn bà bị đẩy đạp đến chết. Tôi có thể thấy cả quần áo của bà ta và cái xác máu me nát bấy. Tôi thấy gia đình năm mạng người bị bắn từ sau lưng ngã gục xuống. Rồi người đàn ông bò lồm cồm ở lối đi trên máy bay, lết đến bên tôi. Tôi nhận ra suốt đêm tôi sẽ không thể ngủ được. Tôi nhỏm dậy, ra ngồi ở bàn viết. Tôi nghĩ có lẽ tôi có thể viết lại. Tôi đã cố. Tôi viết được đôi chút. Nhưng thật khổ, chuyện ấy quá lớn đối với chữ nghĩa. Tôi không biết viết thế nào về câu chuyện đã xảy ra.
Thời gian trôi. Tôi mất ý niệm về thời gian. Chợt chuông điện thoại reo. Tôi bốc máy trả lời. Điện thoại viên bảo có một cú điện thoại viễn liên quốc tế. Tôi nhìn đồng hồ, nhận ra đã 7 giờ sáng. Rồi giọng một người đàn bà, nói trong điện thoại từ một đài phát thanh ở Los Angeles. Bà ta muốn phỏng vấn tôi. Bà đã xem cuốn phim CBS về chuyến bay Đà Nẵng trong mục tin tức. Thế là tôi kể cho bà nghe tất cả những gì đã xảy ra. Cuối cuộc phỏng vấn, bà ta nói một câu ngu ngốc nhất. Chưa bao giờ trong suốt đời tôi nghe ai có thể nói một câu ngu ngốc thế. Bà ta bảo: “Cô Wollett, nghe chừng cô còn buồn bực lắm!” Tôi không thể tin được sự ngây ngô như thế trong nhận xét của bà ta. Lúc ấy, biết bao ý nghĩ diễn ra trong trí. Nhưng tôi chỉ còn có thể nói: “Thưa bà, hãy đặt vấn đề như thế này: Đây không phải là câu chuyện mà người ta có thể chứng kiến mỗi ngày.”
Bà ta nói “Thôi, cảm ơn, cô Wollett. Nhân tiện, xin chúc cô một lễ Phục sinh vui vẻ.” Đến lúc ấy, tôi mới nhận ra: đó là ngày chủ nhật mùa lễ Phục sinh.
Bản dịch của nhà văn NGUYỄN BÁ TRẠC