Sunday, October 15, 2017

Phim Vietnam War Và Người Việt Hải Ngoại Nỗi Buồn Lịch Sử “Được Làm Vua, Thua Làm Giặc”

* Những thành quả của phim VIETNAMERICA trong tháng 8 và 9
* "Đừng tức giận, hãy lấy lại công bằng" Don't get mad, get even
· Triều Giang
Trong hai tháng 8 và tháng 9 vừa qua, dư luận trong  cộng đồng người Việt khắp nơi, đặc biệt là tại Hoa Kỳ, đã có những cuộc tranh cãi thật sôi nổi về cuốn  phim The Vietnam War do truyền hình PBS sản xuất, đồng đạo diễn bởi hai nhà làm phim tài liệu nổi tiếng vào bậc nhất tại Hoa Kỳ hiện tại, ông Ken Burns 
và bà Lynn Novick.

Vai chính thành vai phụ
Hầu hết mọi người Mỹ Gốc Việt sau khi xem phim The Vietnam War không khỏi buồn phiền, tức giận vì sự sai, sót, thiên vị và chủ đích nhằm rửa mặt cho sự hèn nhát và sai lầm của phe phản chiến được cổ súy và hỗ trợ nhiệt tình của Hệ Thống Truyền Hình PBS, một hệ thống truyền thông đã đóng vai trò quan trọng trong việc thất thủ của miền nam, Việt Nam. Là một trong những vai chính trong cuộc chiến tranh nhưng phim The Vietnam War chỉ dành cho Việt Nam Cộng Hòa một chỗ đứng mờ nhạt của một vai phụ để rồi họ đã không được nói lên tiếng nói của mình; vì sao họ phải chiến đấu trong cuộc chiến tranh khốc liệt máu lửa trên 20 năm, vì sao họ phải buông súng, và những gì đã xảy ra cho họ và gia đình họ trong suốt cuộc chiến tranh, nhất là sau khi cuộc chiến chấm dứt?

Những phản bác
Để phản bác lại, đã có nhiều bài viết được đăng trên các báo giấy, báo điện tử, trên internet, và  nhiều ý kiến được nêu lên tại các buổi thảo luận do PBS tổ chức tại nhiều thành phố trên khắp nước Mỹ trước và sau khi phim The Vietnam War được chính thức chiếu vào trung tuần tháng 9 vừa qua. Những ý kiến phản bác  bằng cả hai thứ tiếng Việt và Anh đã được người Nam Việt Nam và cả cựu chiến binh Hoa Kỳ từng tham chiến tại Việt Nam, từng phải hy sinh rất nhiều trong cuộc chiến qua những bài tranh luận sâu sắc và giá trị, với những chứng cứ rõ ràng từ kinh nghiệm sống, từ tài liệu đã được giải mật của thư khố Quốc gia, bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, và từ những thư khố của các đơn vi quân đội của Hoa kỳ để vạch rõ những sai sót, một chiều của cuốn phim dài 18 tiếng, tốn kém đến 30 triệu Đô la, 10 năm làm việc của hằng trăm người và một chương trình quảng bá sâu rộng, ồn ào vào bậc nhất của hệ thống Truyền Hình PBS trong những tháng ngày qua.

Điều gì sẽ còn lại?
Thế nhưng, những cuộc tranh luận dù sôi nổi đến đâu cũng sẽ có ngày lắng xuống và dần quên đi theo năm tháng. Cái còn lại là cuốn phim đồ sộ này vẫn sẽ còn đó, mãi mãi để cùng với những cuốn phim tài liệu đồ sộ về sự tốn kém cũng như chiều dài của nó như phim Vietnam Ten Thousand Day War gồm 26 phân đoạn, dài 13 giờ do nhà báo phản chiến gốc Canada, Michael Maclear đạo diễn và nhà báo Peter Arnett viết truyện phim (1980), hay phim Vietnam, A History Television dài 13 tiếng gồm 13 phân đoạn do Hệ thống PBS WGBH-TV in Boston sản xuất, với 4 đạo diễn: Judith Vecchione, Austin Hoyt, Martin Smith, Bruce Palling và 8 người viết truyện phim: Martin Smith, Elizabeth Deane, Richard Ellison, Marilyn Mellowes, Bruce Palling, Judith Vecchione và Austin Hoyt (1983). Năm 1997 phim này được cắt xén cón lại 11 giờ với 11 phân đoạn được cho chiếu lại trên hệ thống PBS và được liệt kê vào danh mục phim nói về kinh nghiệm của người Mỹ ( American Experiences), Cuốn phim này được quảng bá là cuốn phim tài liệu thành công nhất của PBS với ước lượng 9% tổng số các nóc gia xem với số lượng 9.7 triệu người. Cả hai phim kể trên làm nền tảng cho cuốn sách “Vietnam, A History” của Stanley Karnow trở thành sách bán chạy nhất trong năm 2004.

Những văn hóa phẩm phim ảnh, sách báo kể trên đều có liên quan đến Hệ thống Truyền Hình PBS mà quan điểm chống chiến tranh Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ qua đã không hề thay đổi; quan điểm cho rằng Hoa Kỳ đã sai lầm trong việc “xâm lăng” (invade) Việt Nam, thay thế Pháp để phải tốn kém hàng nhiều trăm tỷ Đô la và nhất là tổn thất trên 58,000 sinh mạng của người Mỹ để ủng hộ cho phe ác (wrong side-ý chỉ miền Nam Việt Nam). Lý do Mỹ và miền Nam thua là vì Quân đội Nam Việt Nam hèn nhát, không chịu chiến đấu, chính phủ Nam Việt Nam thối nát, lính Mỹ vào Việt Nam thì hiếp phụ nữ, giết trẻ con…Luận điệu này  được đóng góp thêm bởi hàng trăm những cuốn sách được viết bởi những  tác giả phản chiến, xin đơn cử một vài tác giả như Frances Fitzgerald ( Fire In The Lake, 1972), Neil Sheehan ( A Bright Shining Lie, 1988), Marylyn B. Young ( The Vietnam War, 1945-1990), Gerald Nicosia (Home To War, 2004)…Đặc biệt luận điệu này còn được phụ họa bởi một số chính trị gia còn có những ảnh hưởng trong chính trường đương đại như cựu Bộ trưởng Ngoại giao John Kerry, Bob Kerry, Henry Kissinger…

Bất cân bằng lực lượng
Tất nhiên, không phải các tác giả nào cũng thuộc phe phản chiến, một số cuốn sách có giá trị phản ánh sự thật viết bởi các tác giả nổi tiếng, với công tâm và được nghiên cứu kỹ lưỡng như Giáo sư Tiến sĩ Lewis Sorley (A Better War, 1999), Giáo sư Tiến sĩ Robert F. Turner ( Vietnamese Communism, Its Origin and Development, 1975), James E. Parker Jr. ( Last Man Out, 2000 & Vietnam War and Its Ownself, 2015), và một số tác giả gốc Việt viết sách bằng tiếng Anh như Cựu Đại sứ Bùi Diễm (In the Jaws of History-1999), Trương Như Tảng (A Viet Cong Memoir – 1986), Yung Krall (A Thousand Tears Falling-2011), Lan Cao (The Lotus and The Storm- 2015)…nhưng con số này còn tương đối ít ỏi. Riêng về phim tài liệu bằng tiếng Anh thì ngoài cuốn phim VIETNAMERICA  (2015) của Hội Bảo Tồn Lịch Sử và Văn Hóa Người Mỹ Gốc Việt (VAHF) và phim tài liệu có diễn xuất Ride The Thunder (2015) do  Koster Films, LLC  sản xuất, chúng ta cũng có phim Journey of The Fall của Đạo diễn Trần Hàm nhưng phim đã được làm theo thể phim truyện, mặc dù truyện phim dựa trên sự thật nhưng vẫn có hư cấu nên rất khó có thể đưa vào học đường, thì hầu như không có cuốn nào khác có tầm cỡ được chiếu tại các rạp.

Nỗi buồn lịch sử:” Được làm vua, thua làm giặc”
Nhìn vào cuộc diện trên, chúng ta tự đặt câu hỏi: liệu chúng ta có thể làm gì để có thể thay đổi? Để trả lại sự thật cho lịch sử? Để nói lên chính nghĩa của miền Nam Việt Nam và nhất là nói lên lời công đạo cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa và hơn 2 triệu người lính Mỹ đã tham chiến, hy sinh để bảo vệ tự do cho miền Nam Việt Nam? Để cho nhiều triệu người phải bỏ mạng trong cuộc chiến tranh khỏi phải chết vô nghĩa, và nhất là để con cháu chúng ta khỏi phải cúi mặt tủi hổ mỗi khi học về lịch sử chiến tranh Việt Nam?

Cộng đồng người Việt hải ngoại và nhất là tại Hoa Kỳ đã sống trong thế giới tự do này tuy chưa lâu như một số cộng đồng khác, nhưng cũng đủ dài để chúng ta hiểu được rằng chúng ta có thể làm bất kỳ chuyện gì mà chúng ta muốn, trong khuôn khổ luật pháp cho phép. Vì thế, việc viết sách, làm phim tài liệu  có liên quan đến chiến tranh Việt Nam bằng tiếng Anh để nói lên sự thật, để không phải chấp nhận lịch sử  “Được làm vua, thua làm giặc” là điều chúng ta có thể làm và phải làm.

Thành quả của VIETNAMERICA trong tháng 8 &9
Một điều may mắn là dù dư luận bị hỏa mù bởi nhóm phản chiến, nhưng vẫn có những người có công tâm nếu chúng ta trình bầy câu truyện của chúng ta với chứng cớ rõ ràng, với lý luận vững chắc, trung thực, vấn đề vẫn được chấp nhận và đón nhận. Lấy ví dụ của cuốn phim VIETNAMERICA đã ra mắt khán giả hơn 2 năm qua, đi trình chiếu gần 20 thành phố tại Hoa Kỳ và Canada và vừa được sự bảo trợ của Cộng Đồng Người Việt Liên Bang Úc Châu, hội VAHF đang chuẩn bị một Tour trình chiếu vào đầu tháng 12, 2017 tại 7 thành phố tại Úc Châu và New Zealand; qua các thành phố Victoria, Melbourne, Adelaide, Sydney, Wollongong, Brisbane và Auckland, New Zealand. Trước đó, VIETNAMERICA  cũng đã được chọn trình chiếu tại Viện Bảo Tàng Truyền Thông Hoa Kỳ là cơ quan cao quý nhất của truyền thông Hoa Kỳ và cả thế giới vào tháng 10, 2015.

Nội trong hai tháng 8 và tháng 9, 2017 vừa qua, dư luận sôi nổi đổ dồn vào phim The Vietnam War, thì phim VIETNAMERICA cũng đã đón nhận được một số thành quả đáng kể như đầu tháng 8, phim được chọn trình chiếu tại Quốc Hội Hoa Kỳ đi kèm với một buổi Thảo luận với các diễn giả được nhiều người biết đến và một số nhân vật trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt đến, như hai giáo sư Lewis Sorley, Robert F. Turner, Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, nhà sản xuất Nancy Bùi, Bác sĩ Cựu Đại tá Không Quân Mylene Hùynh, Charlie Quý Tôn, CEO của Regal Nails và một cuộc triễn lãm tranh của nhiều họa sĩ Mỹ Gốc Việt danh tiếng như Ann Phong, Vũ Hối, CHÓE…Xin đính kèm video tường trình của đài SBTN-DC trong Link dưới đây:

VIETNAMERICA đã chính thức phát hành vào Thư viện Hoa Kỳ
Cùng trong tháng 9, 2017, phim VIETNAMERICA được chính thức phát hành vào hệ thống Thư viện Hoa Kỳ và được đánh giá bởi nhà phát hành The AVCafe’ là phim đứng vào hàng đầu của loại phim tài liệu năm 2017 của Thư Viện “The 2017 Best Librarians Documentaries”.

Tờ Library Journal's số ra ngày September 1st, 2017 đã trân trọng giới thiệu tới độc giả với nhận xét: ” Câu truyện (phim VIETNAMERICA)  tuyệt vời này sẽ giúp khán giả hiểu biết và mang ơn vấn đề của người tị nạn, điều mà số báo này đặc biệt đặt trọng tâm vào”. Đính kèm bài nhận xét trong attachment.

Riêng tờ Video Librarians phát hành vào tháng 9 đã điểm phim VIETNAMERICA ngang hàng “Highly Recommended” với phim The Vietnam War của Ken Burns và Lynn Novik cũng được điểm phim trong cùng số báo. Đính kèm trong attachments.

Chúng tôi cũng được biết hội VAHF đã phỏng vấn trên 700 nhân vật Mỹ Việt liên hệ đến cuộc chiến và người tị nạn Việt Nam trong chương trình Oral Histories của Hội. Dự định ban đầu của hội là làm một bộ phim dài 12 tiếng, gồm 6 tập nhưng vì không đủ ngân quỹ nên gói gọn vào 90 phút thành phim VIETNAMERICA và đặt trọng tâm vào lý do của cuộc chiến và tị nạn, cùng hành trình gian khổ tìm tự do để giới trẻ hiểu được nguồn gốc tị nạn của mình. Hội VAHF đã phải tạm gác những phần quan trọng khác. Hiện hội đã và đang đưa những cuộc phỏng vấn của chương trình Oral Histories vào thư khố điện tử để giới thiệu tới các Đại học qua địa chỉ: http://vietdiasporastories. omeka.net/

Từ những tài liệu có được, việc thực hiện một bộ phim tài liệu có tầm óc để đưa vào gìong chính về chiến tranh Việt Nam và hậu chiến tranh sẽ chỉ còn là ngân quỹ. So sánh ngân quỹ $350,000 để thực hiện cuốn phim VIETNAMERICA được người Mỹ đánh giá không thua gì phim The Vietnam War với kinh phí trên $30 triệu đô la thì ngân quỹ cần thiết để hoàn tất VIETNAMERICA toàn tập sẽ chỉ là một con số thật khiêm nhường mà theo thiển ý của chúng tôi, cộng đồng người Việt hải ngoại của chúng ta sẽ đủ sức để hoàn thành. Để mỗi khi các nhà sử học nói đến chiến tranh Việt Nam, họ có thêm tài liệu để có thể nghe tiếng nói về phía chúng ta, và chúng ta không còn phải sống với nỗi buốn của lịch sử:  “Được làm vua, thua làm giặc”!

Chúng ta có thể lấy lại công bằng
Cha ông của chúng ta vẫn dạy rằng” Hùm chết để da, người ta chết để tiếng”. Chúng ta muốn để tiếng như thế nào về thế hệ của chúng ta cho những bài học lịch sử về chiến tranh Việt nam và lý do của sự có mặt của con cháu chúng ta trên quê hương thứ hai này ?

Người Mỹ vẫn có câu nói mà chúng ta cần phải suy nghĩ; đó là “Don’t get mad, get even”. Tạm địch là “Đừng tức giận, hãy lấy lại công bằng!”. Nếu người Việt chúng ta quyết tâm làm được điều này thì con cháu chúng ta sẽ không phải cúi mặt trước những bài học lịch sử về chiến tranh Việt Nam và lý do có mặt của chúng tại quê hương thứ hai này. Hơn thế nữa, chúng ta phải làm ngay bây giờ vì những nhân chứng lịch sử cả người Việt lẫn người Mỹ trẻ nhất cũng đang ở lứa tuổi trên 60, 70 và 80, họ sẽ không còn nhiều thời gian để chờ đợi chúng ta.

Mọi liên lạc xin email về
·Triều Giang

Monday, October 9, 2017

Quà Hồi Môn Của Mẹ - Phạm Phong Dinh


Con rạch không rộng lắm, nhưng chiếc cầu khỉ lắt lẻo bắt ngang trên mặt nước đã làm Tấn ngại ngần. Chàng nhìn cái chân phải teo tóp của mình, rồi nhìn những thân cây mù u lồi lõm nằm dài chênh vênh trên những cái trụ cây tràm hình chữ thập mỏng manh cắm sâu xuống lòng rạch. Mấy đám lục bình lá xanh điểm những cụm hoa tím nhạt tấp vào chân trụ cản dòng nước chảy, tạo thành những âm thanh rầm rì, nghe như tiếng suối róc rách chảy giữa cánh rừng hoang vu ngoài miền Trung, mà nhiều lần chàng đã có dịp lội qua. Tấn lắc đầu nhìn cây cầu khỉ chông chênh, cái nhịp ở giữa nhô vút lên so với hai nhịp gần bờ nước, làm nên một cái dốc cao đầy thách đố đến lạnh lùng. Tấn cũng có tài làm xiếc đi cầu khỉ như bất cứ người dân miền Cửu Long nào chứ, vì chàng là dân ruộng đồng chính hiệu mà. Nhưng cái đó là ngày xưa kìa, lúc hai cái chân của chàng còn nguyên xi mỗi bên. Bây giờ thì tuy chàng vẫn còn đủ hai chân, nhưng một cái to một cái teo. Đi qua chiếc cầu khỉ với những cái tay vịn rất lỏng lẻo này, thì với một cái chân khập khiễng, chẳng khác gì chàng đi lò cò một chân. Đó mới chính là vấn đề gay cấn, không khéo chàng sẽ ngã vào đám ô rô lởm chởm gai nhọn mọc dầy đặc hai bên chân cầu mất. Đã thế mà thôi đâu, dân đi đồng qua lại đã bôi một lớp sình trơn láng lên cầu như người ta phết mỡ bò. Nhưng dù gì thì gì, với bất cứ giá nào Tấn cũng phải chinh phục nó. Tấn chợt phì cười một mình. Cái chất lính trong máu chàng hãy còn đậm đà nhiều lắm, nên chàng đã nghĩ đến cụm từ ngữ “với bất cứ giá nào” để giải quyết mọi trường hợp khó khăn, mà chàng và các bạn vẫn hằng đương đầu trên khắp nẽo chiến trường.

Tấn bắt đầu đặt cái chân teo lên nhịp cầu thứ nhất, một tay nắm khúc tràm dài làm chỗ vịn, một tay đung đưa giống như anh kép cầm sào đi trên sợi dây căng. Cái chân to bên kia bước lên. Tấn thấy coi bộ không mấy khá. Mấy con cá thòi lòi bốn chân trông rất giống mấy con rắn mối trên cạn đuổi bắt nhau chạy soàm soạp trên mặt bùn. Tấn cố bước lên bước nữa. Chiếc ba lô căng đầy phía sau lưng như chuyển sức nặng từ lưng chàng xuống cái chân teo. Tấn rên lên trong lòng, má ơi, thế nào con cũng rớt. Giữa lúc chới với bối rối như vậy, thì bỗng đâu có một giọng trong trẻo của ai đó gọi đến:
- Anh ơi, có muốn quá giang hôn?
Tấn nhìn về hướng tiếng gọi, a ha, một cô thôn nữ trên một chiếc tam bản. May ơi là may. Tấn vẫy tay kêu lên:
- Dạ, dạ, cô làm ơn cho tôi quá giang qua bên kia sông.
Cô gái chỉ vài cái chèo nhẹ, đã tấp mũi ghe vào chân cầu, đám ô rô kêu rào rạt dưới lườn ván. Tấn khập khểnh bước xuống. Cô gái cười hóm hĩnh:
- Xuống được không đó?
Tấn cũng đùa:
- Tam bản thì nhằm nhò gì cô, ngày xưa tôi còn xuống tàu đổ bộ nữa kìa, ái dà...

Thiếu chút nữa chiếc chân teo đã trợt ra khỏi tấm ván mũi ghe. Cô gái không khỏi không đưa tay lên miệng cười khúc khích. Tấn tọa xuống tấm ván nhìn cô gái làm nàng chợt đỏ mặt. Giữa ánh nắng buổi trưa, trên giòng nước óng ánh màu hồng nhạt của phù sa, chiếc áo bà ba trắng và chiếc quần vải đen của nàng nổi bật lên trên nền trời trong xanh. Dưới chiếc nón lá màu ngà, khuôn mặt trái xoan hơi bầu đặc trưng của con gái miền quê, với làn da trắng ửng hồng khỏe khoắn của tuổi thanh xuân tràn trề sức sống. Không trắng làm sao được, khi mà quanh năm các cô được những cây dừa cao to xum xuê lá, những cây bàng cây gòn rậm rạp cành nhánh xanh tươi chở che cho từ những vạt nắng nóng miền nhiệt đới. Nàng đứng thanh thoát như một bức tượng điêu khắc đẹp, hai cánh tay chéo vào nhau, đôi vai nhỏ rướn về trước một chút nhấn mái chèo sâu xuống đáy nước, rồi hai cánh tay mở rộng ra, chiếc ngực tròn trịa hơi ưỡn lên, nửa thân nàng ngã về sau quạt đôi chèo đưa chiếc xuồng phóng tới. Cái xuồng mũi nhọn phóng băng trên giòng sông nhỏ, trong lòng xuồng chất đầy những quày chuối xiêm xanh mướt, những nải đầy trái no núc. Tấn chống tay lên cằm, chợt nhớ đến hình ảnh những cô thôn nữ ở quê chàng tận bên kia giòng Tiền Giang. Mãi nhìn động tác chèo nhịp nhàng của cô gái, Tấn không hay chiếc xuống đã tấp vào bờ lúc nào.
Cô gái đưa tay lên nghiêng vành nón lá, đôi môi nhỏ hồng nhỏ nhẹ nhắc:
- Tới rồi ông lính ơi!
Con gái miền quê sao cô nào cô ấy dạn dĩ quá đi thôi. Cũng may cho Tấn, con nước đang lớn, nên mũi ghe ghếch lên bờ đất, chàng bước xuống dễ dàng. Khi chàng ngoáy đầu nhìn lại thì chiếc xuồng đã tách ra khỏi đám ô rô cóc kèn mọc xanh um trên bãi sình dựa bờ nước. Tấn gọi với theo:
- Cám ơn cô, cô... cô gì... gì... ơi.
Chiếc xuồng phăng phăng ra đến giữa lòng con rạch, một cơn gió uà vào bờ, mang theo tiếng cười trong trẻo như tiếng chim hát của cô gái:
- Ơn nghĩa chi anh gì... gì... ơi .
Tấn ngẩn ngơ đứng nhìn theo chiếc áo bà ba ấp ủ cái dáng nảy nở tròn trịa của cô gái cùng chiếc xuồng theo con nước ròng rút ra ngoài vàm sông lớn.

Đi quanh co mấy nẽo đường trên những con đê đất sét nhỏ phủ rơm, hỏi thăm và theo lối chỉ của vài người dân dưới ruộng, hay mấy cô gái ngập thân dưới những đìa nước hái những cọng rau muống hoang đỏ bóng, Tấn đã thấy thấp thoáng bên rặng trâm bầu đàng xa một mái tranh nhỏ nằm trên một giồng đất. Dường như Tấn đã đi sâu lắm vào tận cuối làng, vì chàng không còn thấy nhà cửa nhiều như ở ngoài gần vàm sông nữa. Có lẽ đây là căn nhà cuối cùng, nó nằm chơ vơ cô lẻ trên một cái mô đất hoang phế, trông thật tội nghiệp. Đằng sau mái lá là một khoảnh rừng dừa nước um tùm, mà chàng nghe tiếng kêu áo não của những con chim cúm núm trong đó. Tấn bước giữa mấy cây chuối già cỗi dường như đã chặt quày mà chưa có ai đốn chúng ngã xuống để cho bọn chuối con vươn lên. Căn nhà lá lụp xụp nằm thụt sâu vào phía sau một cây cóc lớn rậm rạp cành lá, những trái cóc chín rụng nằm đầy trên mặt đất da đã bủn sang màu nâu rửa nát.

Tấn tần ngần đứng trước khung cửa nhỏ tối om, tự hỏi không biết mình có phải đã tìm đến đúng cái mình tìm. Dường như chẳng có ai trong nhà cả. Tấn chân thấp chân cao đi vòng bên hông nhà bước ra phía sau, chàng trông thấy cái sàn nước nhỏ ghép bằng những mảnh ván dừa nằm de ra trên một con lạch nhỏ chảy vào đám rừng dừa nước. Một bà già đang quay lưng về phía chàng hí hoáy làm cái gì đó. Có lẽ bà lão đang vo gạo thì phải. Đôi vai gầy trơ xương của bà lão nhô lên cao, làm chiếc cổ nhỏ ốm tong teo của bà như rụt mất xuống giữa hai cái hốc vai. Mái tóc xám lơ thơ của bà chỉ có thể bó lại thành một cái búi tí xíu như một cái củ hành tròn nhỏ. Nghe tiếng động, bà lão ngơ ngác ngước mắt lên nhìn, chiếc đầu của bà lắc lư tìm phương hướng. Tấn chợt thảng thốt kêu lên trong lòng. Một bà lão mù. Đôi mắt của bà già chỉ toàn là một màu đùng đục, giống như hai viên đạn có vân cẩm thạch trắng khắc vào giữa hai cái hố sâu. Ôi, có phải bà cụ này là má của mày không Hên. Bất giác chàng đưa tay lên túi áo nắn nắn cái gói giấy của bạn gửi. Bà lão vễnh tai nghe ngóng, cái miệng móm mém của bà phát ra một thứ âm thanh khàn khàn:
- Ai đó? Có phải Trâm hông con?
Hai bàn tay bà lão đang nắm hai cái quai một cái nồi nhôm nhỏ ám đầy lọ nồi đen thật thảm hại. Tấn bước đến gần nhẹ giọng:
- Thưa bác, bác có phải là má của Hên không?
Bà già giật mình buông cái nồi rớt trên sàn nước, bà đưa cánh tay chỉ còn lớp da nhăn nheo bọc ngoài xương run run tìm lấy tay của người lạ:
- Ai? Cậu... cậu là...ai? Cậu hỏi thằng Hên hả?
Tân nắm lấy bàn tay xương xẩu khô khốc của bà lão:
- Thưa bác, con là bạn chung đơn vị với Hên...
Năm ngón tay của bà mẹ bấu mạnh thêm, giọng bà run run:
- Hên, Hên, cậu ơi... cháu... cháu, Hên có về không?
Tấn gục đầu cố dấu tiếng thở dài:
- Dạ chưa bác, Hên nhờ con về đây thăm bác trước, nó sẽ... sẽ về khi người ta cho phép.
Tấn nhắm mắt. Chàng nhớ lại cái khoảnh khắc cuối cùng, Hên đặt vào lòng bàn tay mình cái gói giấy, nó ân cần dặn chàng:
- Nếu tao không về thì mày đem cái này cho má tao!
Tấn dùng dằng cự nự:
- Mày nói bá láp, bộ cứ đi là phải chết sao?
Hên gãi đầu:
- Thì tao chỉ phòng xa vậy thôi. Mốt tới phiên mày đi, mày có gì gửi thì tao đem về cho má mày!
Tấn đổ quạu lên:
- Má tao là mấy bà phước, má gì mà má...
Hên cười giả lả:
- À há, tao quên, mày là thằng con bà phước.
Tấn rùng mình. Lần này thì nó đi luôn thật. Toán của Hên vừa nhảy xuống giữa rừng thì đã bị hốt trọn gói, chẳng đứa nào sống sót. Chiếc trực thăng bị nổ cháy nằm xác xơ trên mặt đất, những cái xác nám đen văng vung vãi.

Bà mẹ run run đứng lên, Tấn đưa tay dìu bà đi vào nhà theo lối cửa bếp. Chiếc lưng cong làm cho mái tóc bạc của bà mẹ chỉ cao ngang chỏm vai của chàng. Tấn khom người chui vào khung cửa nhỏ. Bà lão quờ quạng tìm chiếc ghế ngồi xuống, đôi mắt trắng đục nhìn Tấn chăm chăm:
- Thằng Hên nó mạnh giỏi không cháu?
- Dạ... mạnh chớ bác.
Linh cảm của một bà mẹ về một chuyện gì đó không bình thường lóe lên trong đôi mắt vô hồn của bà, bà lão vẫn nhìn Tấn trừng trừng. Tấn rút gói giấy dầy trong túi áo đặt vào tay bà già:
- Thằng Hên nó gởi cái này về cho bác.
- Cái gì vậy cháu, cháu mở ra giùm bác coi.

Gói giấy được thằng Hên cẩn thận cột chằng lại bằng nhiều lớp dây thun. Khi Tấn đã mở tung ra hết những lớp bọc, một xấp giấy bạc dầy phải đến hai tháng lương của Hên nằm xếp ngay ngắn lên nhau hiện ra, Tấn đặt nắm tiền vào tay bà mẹ:
- Bác ơi, đây là tiền của Hên gởi về cho bác đó.
Bà mẹ chợt khóc òa lên, trong hai cái hố mắt mờ của bà mấy giọt lệ chảy tràn ra ngoài:
- Cháu, cháu... thằng Hên đã chết rồi phải không? Đây là tiền tử của nó phải không ...

Bà mẹ buông những đồng tiền rơi lả tả xuống đất. Tấn đỡ lấy bà già rối rít trấn an:
- Không phải đâu bác, cái này... tụi con ở trong rừng không có ăn xài, nên tụi con dư tiền nhiều lắm.
Chàng cúi xuống lượm những tờ giấy bạc lên cho trở vào cái gói giấy và đặt nó trên bàn:
- Bác cất tiền đi, mai mốt Hên về thăm bác. Thôi bây giờ con xin phép bác con đi...
Bà lão chộp lấy cánh tay Tấn giằng lại, một tay bà lau giòng nước mắt trên đôi má:
- Con... cháu... ở đây bác nấu cơm, cháu ngủ ở đây rồi mai hãy đi, trời chiều rồi đâu còn đò nữa.
Tấn nhìn qua khung cửa. Mặt trời đang chìm dần xuống trên đỉnh những ngọn dừa nước sau nhà. Bà lão nói đúng. Đâu có còn đò máy vào buổi chạng vạng như thế này. Bà lão quờ quạng đi ra sàn nước tìm cái nồi gạo vo, nhưng Tấn đã ngăn lại:
- Bác cứ nằm nghỉ đi, để con nấu cơm cho.

Bà mẹ đăm đăm nhìn chàng, Tấn tự hỏi bà thấy gì sau đám mây trắng đó:
- Mấy con ăn cơm sấy trong rừng ngán lắm hả?
- Dạ, đói quá ăn cái gì cũng ngon hết bác.
Tấn bắc chiếc nồi nhôm gạo lên bếp thổi phù phù. Chàng nhìn vào một góc bếp tìm thêm củi. Ủa, lạ quá đi, một bà già mà có ngần ấy củi tràm vun đầy xài mấy tháng cũng chưa hết nữa. Bà má của thằng Hên chì thật, không biết bà lấy củi ở đâu, rồi còn chẻ củi nữa chớ. Tấn mở cái tủ lưới ọp ẹp tìm thức ăn. Ủa, một tộ cá sặc kho, dưới đáy chất nước mắm và chút mỡ kẹo đặc lại thành một lớp váng màu nâu sậm trông rất hấp dẫn. Cái này và với cơm, thêm một tô canh chua cá rô nấu với bạc hà hay rau muống là hết thuốc. Ước cái gì là có cái nấy liền. Tấn nghe có tiếng một cô gái vọng từ cửa trước:
- Bác Tư ơi, con có hái rau muống nấu canh chua nè.

Thiếu chút nữa Tấn đã ngã ngửa ra phía sau. Cái giọng trong trẻo này nghe rất quen, có lẽ nào... Bà lão vui mừng kêu vói lên:
- Trâm hả con? Xuống đây, xuống đây, có cậu bạn của thằng Hên về thăm nè.
Tấn có cảm tưởng cô Trâm nào đó đang lao xuống và mang theo một cơn gió mạnh, chàng quay lại nhìn. Bỗng Tấn kêu lên trong nỗi ngạc nhiên:
- Ủa, là... là cô...
Cô gái cũng đứng sững người lại tròn mắt nhìn chàng trai:
- Á... là ông lính quá giang đây mà.
Bà lão ngơ ngác nhìn lên:
- Cái gì vậy Trâm?
Trâm bẽn lẽn nhìn ông lính:
- Dạ hồi nãy con chở ông này qua sông đó bác Tư.
Bà già vui mừng sờ soạng kéo cô gái ngồi xuống ghế:
- Vậy là mấy con quen nhau rồi hả. Trâm, tiền của thằng Hên nè, con cho bác gởi lại...
Trâm đẩy tay bà lão nhỏ nhẹ:
- Đâu có gì bác Tư, bác giữ đó xài.
Bà lão cố ấn một nắm tiền vào tay cô gái:
- Con giúp bác hoài, bây giờ con phải nhận, bác cám ơn con còn không hết ...

Đến bây giờ thì Tấn đã mường tượng hiểu. Đống củi trong góc bếp, tộ cá kho, khạp gạo đầy, đều là do bàn tay quán xuyến của Trâm. Không cần phải suy đoán gì nhiều, Tấn cũng có thể kết luận được ngay, Trâm và Hên, hai đứa nó là đôi tình nhân, rồi vì chiến tranh mà phải gạt lệ chia tay nhau. Chàng lên đường, ân cần nhắn nhủ người yêu ở quê nhà chăm sóc mẹ già giùm. Khi chàng về lúc đất nước đã thái hòa, thì đôi đứa sẽ nối lại cuộc tình và sống với nhau đến trọn đời. Ôi, tình yêu ở miền thôn dã sao mộc mạc mà thơ mộng đến vậy. Tấn và nhiều đồng đội chàng đã từng nghe những bài hát với những giọng hát nỉ non tương tự như thế. Trong bóng vinh quang rộn ràng. Anh bước hiên ngang về làng. Miền Nam reo vui nơi nơi thanh bình ca. Nhưng đánh giặc mãi hoài, Hên mất xác, chàng khập khểnh thương phế, mà sao vẫn chưa thấy đất nước được thái hòa.
Tấn còn đang miên man suy nghĩ thì bỗng nhiên, chàng nghe bếp lửa kêu xèo một tiếng. Trâm giật mình chạy đến cúi xuống nhìn:
- Thôi chết, cơm trào!
Tấn rên lên trong lòng. Thôi rồi, cơm trào có nghĩa là cơm nhão. Gạo đã nở hết cỡ, dù có chắt hết nước nó vẫn cứ... nhão. Tấn sượng sùng nhìn cô gái cầu cứu. Trâm ném cho chàng một cái nhìn trách móc:
- Nghe nói lính tráng nấu cơm hay lắm mà!

Chiếc xuồng tam bản theo chiều sóng đi chênh chếch về phía bên kia con sông lớn. Con sông Hậu Giang bao la bát ngát, vóng vỗ đồm độp hai bên mạn xuồng, làm cho nó bị dồi lên xuống như một chiếc lá khô. Hàng hàng lớp lớp ngọn sóng sủi bọt đùn đẩy nhau chạy lăn tăn theo giòng nước, trông như những đóa hoa trắng xóa. Tấn ngồi ở đầu ghe nhìn theo hai chiếc mái chèo quẫy nước. Những khóm lục bình đầy hoa tím trôi dật dờ hai bên chiếc xuồng. Ánh mặt trời buổi sáng rải lên mặt sông, xuyên qua những làn hơi sương mù ẻo lả lãng đãng trên sóng nước. Bọn chim trời đảo lượn trên cao tìm mồi, thoắt cái, có một con phóng vút xuống như một mũi tên, đôi cánh xoải rộng gần như chạm mặt sông, chiếc mỏ nhọn mổ sâu xuống. Khi con chim cất cánh lên, một chú cá đen nhánh đang dẫy dụa trong đôi gọng kềm khép chặt của nó. Không ghìm được, Tấn vỗ tay hoan hô:
- Hay lắm!
Trâm lơi mái chèo đưa tay lên quẹt vài giọt mồ hôi trên trán:
- Anh chưa từng thấy chim bắt cá bao giờ sao?
Tấn quay lại:
- Có chứ. Nhưng đã lâu lắm rồi...
Chàng nhìn những giọt mồ hôi rịn nhỏ lóng lánh trên hai cánh mũi của cô gái đề nghị:
- Trâm nghỉ chút để tôi chèo thế cho.
Trâm cười nhẹ:
- Chèo được không đó?
Tấn xăng xái:
- Được chứ, tôi là người ở quê như Trâm mà.
- Quê anh ở đâu?
Tấn làm ra vẻ bí mật:
- Tôi ở bên kia sông Tiền Giang, cái xã tôi ở có cái tên rất ngộ nghĩnh là, à..., tôi đố Trâm có cái xã nào của Việt Nam mình mang tên ba nước lớn mạnh trên thế giới. Nếu cô nói trúng thì tôi sẽ chèo từ đây qua đó, rồi từ đó trở về nhà bác Tư.
Trâm nhíu mày suy nghĩ, cái trán da căng mịn màng của nàng thoáng mấy đường nhăn. Trâm cắn môi:
- Xã Mỹ... Mỹ Tho.
- Trật lất!
- Tây Ninh?
- Trật luôn, cái đó là tỉnh chứ đâu phải xã.
Cô gái lắc đầu:
- Thôi em chịu thua... khó quá hà...
Tấn đã toan nói, thì chợt Trâm hớn hở kêu lên:
- Á, em nhớ ra rồi, có phải anh ở xã Mỹ Đức Tây hôn?
Tấn gãi đầu làm ra vẻ rầu rầu:
- Phải rồi. Thôi, Trâm nghỉ để tôi chèo trả nợ...
Trâm bật tiếng cười khúc khích:
- Thôi anh thương binh ơi, cho anh thiếu chịu đó, không cần đâu. Chưa chắc ai đã chèo hơn ai.

Sau một đêm trằn trọc dưới mái lá lụp xụp của bà mẹ Hên, Tấn đã khoác ba lô từ giã bà để lên đường. Sau gần chục năm ở lính, trong lòng chàng nôn nao muốn trở về quê cũ. Dù ở đó chẳng còn ai chờ đợi, cha mẹ chàng đã mất từ lâu, anh chị cũng không, nhưng Tấn vẫn thấy một nỗi thúc giục xốn xang từ tận đáy lòng, một tiếng gọi thiết tha từ nơi mà chàng đã cất tiếng khóc chào đời. Bà mẹ của Hên suốt đêm đã lăn trở trên chiếc chõng tre phía bên kia và cứ hỏi chàng mọi chuyện về Hên. Bà giăng bắt, chặn ví những sơ hở của chàng, để tìm ra trong đó dấu hiệu cái chết của con bà. Linh tính của một bà mẹ dường như đã tiên báo cho biết, sự hiện diện của Tấn là một điềm chẳng lành, mà bà phải gạn hỏi cho ra. Bà lão nằm quấn mình trong cái mền cũ sờn rách, cái thân xác ốm chỉ còn da bọc xương của bà dường như chìm mất dưới tấm mền bùng nhùng, chỉ còn nhú lên mái đầu tóc bạc. Một bà lão mù sống đơn độc trong một căn nhà lá nhỏ bé, ở giữa cánh đồng mênh mông gió hú. Tấn trằn trọc ỡ giữa những tiếng kêu oàm oạp của bọn ếch nhái từ đám dừa nước, và tiếng vạc săn mồi trong sương trên những cánh đồng lúa. Tấn đã chạnh lòng nghĩ đến cuộc chia tay sáng ngày mai, chàng sẽ không còn bao giờ trở lại chốn này.


Tấn cố nén những tiếng thở dài thương cảm tình cảnh khốn khó của bà lão. Chàng không dám nghĩ đến những ngày sắp tới của một bà mẹ mù ngày ngày mỏi mòn trông ngóng tin của thằng con ở tận ngoài miền cao nguyên. Tấm giấy báo tử của đơn vị nhờ chàng đem về trao lại cho bà mẹ, Tấn vẫn còn giữ trong túi. Làm sao mà chàng dám đưa tờ giấy đó ra cho một bà lão mù tội nghiệp và trơ trọi thảm thương như thế này. Đơn vị chàng đã mấy lần gửi giấy báo tử mà nó cứ bị trả về. Ở chốn đồng không quạnh quẽ nầy, lấy đâu ra số nhà. Chỉ đến khi chàng bị thương tật được giải ngũ trở về cố hương, thì người ta nhờ chàng cố gắng truy tìm bà mẹ của Hên. Cái gói giấy bí mật của Hên gửi chàng phải đến gần một năm sau mới đến được tay người nhận.

Buổi sáng, Tấn đã gượng giả vờ tươi tỉnh nắm lấy bàn tay của bà mẹ trong phút giây giã từ:
- Con xin phép bác con đi cho kịp chuyến đò sáng.
Đôi mắt trắng đục của bà lão ngước lên nhìn chàng, đôi môi xám xịt và khô nứt của bà lắp bắp:
- Cháu... cháu... nói thằng Hên xin phép về thăm bác...
- Dạ, thế nào nó cũng về thăm bác.
Tấn biết mình đã nói dối. Bà mẹ ấn vào tay Tấn nải chuối xiêm vừa chín tới:
- Bác không có gì cho cháu, cháu lấy nải chuối này lấy thảo.

Tấn đi nhanh ra khỏi căn nhà lá, trái tim chàng nhộn nhạo một nỗi muộn phiền cảm thương. Chàng không dám quay lại nhìn đôi mắt hấp háy ứa mấy giọt nước mắt của bà mẹ. Nhưng khi chàng vừa bước đến ngưỡng cửa, đột nhiên cây cột bên mái hiên chuyển mình răng rắc rồi đổ sụp xuống. Một góc mái lá đổ nhào theo. Cây cột bị mối ăn nhiều năm, đến lúc không còn chống chỏi được nữa, nó đã gãy gục. Tấn tần ngần đứng nhìn cái mái đổ, hai bàn tay chàng đan vào nhau bối rối. Tấn cắn môi suy nghĩ. Chàng lắc đầu thở ra một hơi dài. Tấn biết rằng, chàng phải ở lại thay Hên dựng cái mái lá này. Chàng ái ngại nhìn lên những đốm sáng xuyên qua nóc. Ôi, căn nhà đã quá dột nát. Nhà dột mà cột cũng xiêu. Chắc là phải thay hết nguyên hai cái mái nhà. Làm ơn thì làm ơn cho trót, Tấn tính toán, chắc mình phải chơi luôn mấy cái vách chung quanh nữa, cũng đã rách nát tả tơi quá rồi, coi như tân trang hết cha nó cái nhà. Khi nghe Tấn đề nghị nàng chở chàng đi đặt mua lá mới, Trâm đã nghiêng đầu nhìn chàng, đôi mắt rưng rưng không thể nói được một lời nào.
- Anh Tấn ơi, anh nói thật đi, có phải anh Hên đã hy sinh rồi không?
Tấn giật mình ngước lên nhìn đôi mắt u sầu của Trâm, chàng ú ớ:
- À, không... không... làm gì có chuyện đó.
Cô gái nhẹ lắc đầu nghẹn ngào:
- Anh đừng dấu em, bác Tư không nhận thấy, chứ em thì thấy...
- Trâm đã thấy gì?
- Anh... anh đã khóc hồi sáng này, lúc em vừa mới qua thấy anh đứng bên cái mái đổ.
Tấn quay mặt chỗ khác:
- Không phải, chỉ vì...
Trâm vẫn không chịu buông tha chàng:
- Bụi lọt vô mắt phải không, em không tin. Em biết anh nói dối...
Chợt cô gái ôm mặt khóc nấc lên, nàng buông chèo ngồi sụp xuống tấm ván. Chiếc ghe không người chèo chống quay vòng vòng như trong một cơn trốt xoáy. Trâm ngước đôi mắt đẫm đầy nước mắt lên:
- Em biết anh Hên đã chết rồi!
Tấn gượng chống chế:
- Làm sao Trâm dám chắc như vậy được chứ?
Trâm khóc òa lên:
- Đêm qua ảnh đã về, em thấy máu me tùm lum hết!

Đến nước như thế rồi thì không còn dấu diếm được nữa, dù có tin chuyện mộng mị hay không, Tấn đành thở dài rút tờ giấy báo tử ra trao cho Trâm:
- Đã vậy thì thôi, sớm muộn gì thì bác Tư và Trâm cũng phải biết sự thật.
Trâm đón lấy tờ giấy hối hả đọc. Bỗng dưng nàng có cái cảm giác nhộn nhạo như là chiếc ghe đang chao đảo dữ dội, trời đất quay cuồng, những đống lá dường như bị gió cuốn bốc lên bay tán loạn trên không trung. Từ trong thanh quản của Trâm ngân nga tiếng kêu bi thương, rền rền trên những bọt sóng nước. Rồi nàng đổ xuống lòng chiếc xuồng nằm chết lịm...

Dòng đời trôi lặng lẽ như những sợi mạng nhện giăng âm thầm trên một góc chiếc mái lá thấp. Một cái bàn thờ nhỏ, cũ kỹ nằm dựa chiếc vách ngăn đôi nhà trên và nhà bếp, bên trên có hai cái khung hình. Cái khung bên phải có tấm hình của một người đàn ông trung niên nét mặt khắc khổ, râu mép và râu càm kéo dài xuống thành một chùm ngắn. Hình chưng đã lâu nên đã ngã màu vàng úa và lốm đốm vài vệt trắng. Phía bên trái, là ảnh bán thân một người thanh niên trong chiếc áo lính màu ô liu, ánh mắt và nụ cười hiền hậu. Một chiếc lư hương nhỏ đang nghi ngút khói thơm từ những cọng nhang vàng mảnh. Một dĩa gồm vài thứ trái cây đơn sơ mộc mạc ở miền quê. Đu đủ, mãng cầu, vú sữa, cam, quít. Một vài món thức ăn đạm bạc có thể tìm được ở những vùng đất nghèo nàn. Tép rang, cá rô chiên dầu dừa, măng mạnh tông xào, canh nấm rơm. Một chai rượu đế nhỏ, mấy cái chung sành, hai chén cơm và hai đôi đũa. Một bà lão đang đứng lâm râm khấn vái trước di ảnh của hai người đàn ông. Phía bên phải của bà lão, một cô gái trong chiếc áo bà ba lụa mới màu hồng. Nàng rưng rưng nước mắt nhìn đăm đăm vào tấm hình của người lính trẻ. Trong màn lệ nhạt nhòa, trời ơi, nàng có nhìn lầm không, chàng đang mĩm cười với nàng. Cô gái lảo đảo vịn tay vào góc bàn thờ. Bên phía tay phải bà cụ là một chàng thanh niên trẻ tuổi như người lính trong ảnh, chàng cũng mặc một chiếc áo lính màu ô liu và chiếc quần tây vải đen bạc màu.

Bà lão sờ soạng nắm hai bàn tay của cô gái và chàng trai giọng nghèn nghẹn:
- Tấn con, Trâm con. Hôm nay cúng giỗ giáp năm thằng Hên, bác có chuyện muốn nói với hai con. Dắt bác lại bộ ván đi con.
Vẫn nắm chặt tay đôi trai gái, bà lão kéo họ cùng ngồi xuống:
- Chuyện của hai đứa bây, bây giờ tính sao?
Cô gái thẹn thùng cúi đầu xuống vân vê tà áo:
- Sao là sao Bác Tư?
Bà già móm mém cười:
- Thôi, bác biết hết rồi. Hai đứa bây... thương nhau phải hông? Nói thiệt đi để bác tính cho.

Trâm buồn rầu đưa mắt nhìn người lính trong ảnh, chàng vẫn đang cười với mình, nàng gượng gạo trả lời:
- Bác Tư cho con chờ ảnh thêm một năm nữa...
Bà mẹ thở dài:
- Thôi đủ rồi con, ba năm dài quá rồi. Thời buổi này chờ đợi vậy là thằng Hên nó cũng mát ruột lắm rồi con. Thằng Tấn mày nghĩ sao?
Tấn lúng túng:
- Dạ, Trâm nói phải đó bác. Để thủng thẳng...
Chàng nhìn vào ánh mắt hiền hậu của người trong hình, lòng dậy lên những khoảnh khắc của quá khứ:
- Con vẫn luôn có cái linh cảm là Hên chưa chết bác à!
Đôi mắt mờ đục của bà mẹ sáng lên tia hy vọng, bà bấu vào vai Tấn run run:
- Thật vậy hông con?
- Dạ, lúc tụi con nhảy xuống tìm kiếm thì thấy mất một cái xác, nhưng không biết là của ai, cái nào cái ấy cháy thành than hết rồi.
Bà lão lẩm bẩm một mình:
- Nếu nó còn sống thì nó cũng phải về chớ...
Bà đưa tay áo lên quẹt nước mắt:
- Trâm, con lấy cái hộp gỗ mun trên đầu giường đưa cho bác.

Chiếc hộp được bà lão gói trong một lớp vải điều đỏ, mà bà gối đầu lên đó ngủ từ mấy chục năm qua, đến nỗi vải đã ngã sang màu bạc phếch. Bà lão run run ôm chiếc hộp trong lòng, đôi bàn tay nhăn nheo của bà sờ soạng, ấp ủ nó như đang nâng niu một báu vật. Bà chậm chạp mở dần tấm vải điều để lộ chiếc hộp gỗ mun chạm trỗ rất công phu, sau nhiều năm tháng đã ngã màu đen bóng. Bà lão trao chiếc hộp cho Trâm khàn khàn giọng:
- Trâm con mở ra đi con...

Trâm lạ lùng đón lấy chiếc hộp, lòng thầm hỏi, có phải chăng đây là những món gia bảo của bà, bà đưa cho mình làm gì, tại sao bà không tự mở ra có phải hơn không. Trâm hồi hộp mở nắp, bên trong hiện ra một lớp vải điều đỏ chói nữa. Tâm mở tiếp gói vải. Ôi trời, trước mắt nàng hiện ra những món nữ trang vàng chói rực rỡ. Tấn nghiêng đầu nhìn vào. Một cái kiềng đeo cổ, một sợi dây chuyền dầy nặng và tấm mề đay cẩm thạch đã lên nước màu xanh đậm, một đôi bông tai cẩn hột xoàn to bằng mút đũa, hai chiếc nhẫn trơn, có lẽ là nhẫn cưới và một cặp xuyến vàng đeo tay cẩn hồng ngọc. Một gia tài lớn của một bà già nghèo. Trâm chợt nhận biết bàn tay của bà mẹ đang run rẩy trên mái tóc của mình:
- Trâm con, đây là của hồi môn má của bác trao lại hồi bác theo bác trai. Bây giờ... bây giờ, bác trao lại cho con với thằng Tấn.
Đôi môi héo úa của bà mẹ lắp bắp, đứt khoảng:
- Thằng Hên mất rồi, bác còn có hai đứa bây, bác cho hai đứa con đó. Mai mốt bác có... có... theo ổng rồi, thì hai đứa con bán vòng vàng này lấy vốn làm ăn với người ta...
Trâm không ghìm được cơn đau xót, nàng ngã vào lòng bà mẹ khóc nức nở:
- Má ơi, con không dám nhận đâu...
Bà mẹ nở nụ cười thương mến, bà vuốt tóc nàng:
- Bác... má... biết trong mình của má, không lâu đâu mấy con ơi... Mấy con làm đám cưới cho tía má, với thằng Hên vui lòng...
Mấy giọt nước mắt của bà mẹ rơi lã chã lên đôi má của Trâm, nàng vùi vào ngực bà nấc lên không nói được lời nào. Tấn nắm chặt tay bà lão cảm động:
- Tụi con không thể lấy được đâu... má ơi!
Đây là tiếng yêu thương lần đầu tiên sau nhiều năm côi cút chàng gọi một bà mẹ. Chàng đã không thể ra đi, mỗi lần khoác ba lô lên vai, đã đi ra đến con đê ngoài xa rồi, mà khi nhìn lại thấy cái bóng nhỏ còm cõi của bà mẹ đứng tựa cửa trông theo, Tấn chịu không nỗi, chàng lại quày trở lại. Rồi cứ nấn ná lần lửa mãi, nuôi trong lòng một hy vọng, rồi sẽ có một ngày Hên trở về. Mới vậy mà đã ba năm.

Một bóng người cao to, không biết từ lúc nào đã lừng lững đứng chắn giữa khung cửa, làm bên trong căn nhà tối sầm lại. Anh kêu lớn lên hớn hở:
- Má ơi, con đã về!
Bà mẹ rùng mình ú ớ, đôi cánh tay bà vươn về phía trước:
- Thằng Hên phải không?
Hên chạy ào vào ôm lấy mẹ:
- Con là Hên, con đã về...
Bà mẹ cuống cuồng quấu chặt lấy đôi vai đầy của thằng con kéo xuống ngửi hít:
- Đúng là thằng Hên đây rồi.
Trong màn nước mắt, Hên nhập nhoạng trông thấy bóng hình người con gái mà chàng luôn mang theo cùng với trái tim trên khắp nẽo quê hương, Hên kêu lên:
- Trâm em, anh là Hên đây!

Một buổi sáng đẹp, ánh mặt trời xuyên qua cành lá làm thành những sợi chỉ vàng óng. Lũ chim chóc ca hát ríu rít đón bình minh một ngày mới trên ngọn cây xanh trước nhà. Tấn hân hoan khoác ba lô lên vai quay nhìn lại lần cuối cùng mái lá đầy ắp kỷ niệm của ba năm trường. Lần này thì chàng đã có thể ra đi với lòng thanh thản. Trong lòng chàng cuồn cuộn một nỗi xôn xao không biết gọi tên là gì. Có phải chăng đó là một niềm hạnh phúc chứa chan cùng chia sẻ với người bạn chiến đấu của mình về từ cõi chết. Hên vỗ vai bạn bịn rịn:
- Tấn, mày là thằng bạn tốt nhất trên đời, tao mang ơn mầy. Mầy hãy ở lại đây, đừng đi đâu hết, mày đâu còn ai mà về. Ở đây mày có tất cả.
Tấn nắm lấy tay bạn:
- Tao nấn ná đến giờ này là vì mày. Bây giờ thì tao phải về quê của tao. Cây có cội, nước có nguồn. Tao phải về chăm nom mồ mả ông bà, ba má tao.
Trâm rơm rớm nước mắt:
- Anh Tấn nhớ về thăm tụi em.
Hên cầm đôi dầm lên:
- Để tao đưa mầy ra ngoài vàm đón đò máy.
Trâm đỡ lấy đôi dầm:
- Anh để em, em muốn chèo tiễn đưa anh Tấn đi.
Khi đã ngồi lên trên chiếc xuồng cùng với Hên, Tấn quay đầu nhìn lại căn nhà nhỏ trên giồng đất. Bà mẹ đang quờ quạng bước ra trước cửa nhìn theo. Bà đưa tay lên vẫy. Tấn thẫn thờ vẫy tay chào mẹ. Cuối cùng thì chàng đã có thể dứt áo ra đi. Ở giữa ánh nắng chói chang rực rỡ và tiếng chim hót rộn rã trên cành.

Phạm Phong Dinh

Hậu Đình Hoa Vàng. (Viết từ một người dân Việt Tị Nạn tại Little Sàigòn California)


(Viết từ một người dân Việt Tị Nạn tại Little Sàigòn California)  

 

Trong thàng 9 năm 2017 vừa qua, một cuốn phim tài liệu có tên là "The Vietnam War" do Ken Burn và Lyn Novick  thực hiện, mà người ta cho rằng đây là  những người  đại diện  cho  thành phần phản chiến, hay thuộc Truyền Thông Dòng Chính (TTDC) tại Mỹ làm ra với một ngân khỏan khá lớn lên đến vài chục triệu Mỹ Kim để hòan thành tập phim tài liệu dài 10 tập và cũng theo lời qủang cáo  thì bộ phim đã  phải  miệt mài  mất khỏang  10 năm mới xong. Bộ phim tài liệu này ai cũng thấy là  phỏng vấn một số   quân nhân Mỹ tham chiến tại VN, với một số  cựu thù là cán Binh Việt Cộng xuất phát từ Miền Bắc VN là chính, tuy nhiên bộ phim này khác với một số bộ phim về chiến tranh VN có từ trước thì bộ phim lại có thêm phần phỏng vấn một số quân nhân VNCH  tức là bạn chiến đấu (comrad-in-arms) đã bị bỏ rơi của Mỹ tại Miền Nam trước kia cho thêm phần xôm tụ.

        Sau khi được trình chiếu, phía Cộng sản VN thì lên án gay gắt bộ phim vì người Mỹ tuy tảng lờ tội ác của VC qua vụ tàn sát diệt chủng Mậu Thân tại Huế 1968, nhưng lại cho thế giới thấy "đừng nghe những gì VC nói mà hãy nhìn kỹ những gì VC làm" vì vậy việc nhà cầm quyền Hà Nội cấm phổ biến "The Vietnam War" tại VN thì cũng  dễ hiểu vì không còn lựa chọn nào khác, vừa có lý do để qua mặt anh Tàu Cộng về lòng trung thành của VC với Trung Cộng, nhưng trong lòng thì vui sướng qúa chừng  vì coi như nhận được thông điệp "trúng tuyển nghĩa vụ quân sự"của người mắt xanh, trong khi phía Hoa-Kỳ  thì dân chúng thờ ơ vì biết rồi "khổ lắm nói mãi", còn phía quần chúng VNCH cũng có kẻ  binh người chống bộ  phim nhưng  chỉ mang tính cá nhân "xấu hay đẹp tùy người đối diện..."... Riêng  về phía người bại trận, đã có hàng trăm  chiến sĩ VNCH  bao gồm người di tản trước năm 1975, hay vượt biên, họặc cựu tù nhân HO cũng đã được mời phỏng vấn nhưng hầu hết các cuộc phỏng  mà người Mỹ dành cho họ đều bị lọai bỏ ngay vì không cần thiết mà chỉ nặng phần làm hoa lá cho nên rốt cuộc chĩ còn được dăm ba người VNCH đạt tiêu chuẩn... mới được xuất hiện trong bộ phim tài liệu này cho có vẻ vô tư và công bằng .
          Qua bộ phim "The Vietnam War" thì  ai cũng dễ dàng nhận thấy mục đích của nó, nhưng tại sao  lại cho trình chiếu vào thời điểm này ? Câu trả lời thuộc về người chủ đã bỏ tiền ra thực hiện nó cho nên mọi người  hãy đợi đấy (wait and see) vì không ai dại gì lại bỏ tiền ra để đi săn vịt trời ! (wild goose chase). Nước Mỹ luôn đứng đầu khoa học và kỹ thuật trên thế giới, và đầu óc người Mỹ (think tank) cũng vậy, luôn tiên liệu trước  được mọi việc cho nên Hoa-Kỳ luôn hãnh diện là  "The Nation under God" cũng không  có gì là qúa đáng.

       Khi nhắc đến chiến tranh Việt Nam lúc này làm người ta nhớ lại chuyện xảy ra  cũng chẳng xa xôi lắm còn được nhiều người chưa quên, có 3 vị Đại Tá còn tại chức và  cùng lúc được huấn luyện về Ngọai Giao tại  Mỹ, nhưng một vị là 1 Đại tá người Mỹ gốc Việt, còn 2 Đại Tá  kia  đến từ Hà Nội (trong số 2 Đại tá VC này, có một ông không muốn về lại VN nữa) và khi thụ huấn xong cũng như đã được an vị đâu đấy thì không bao lâu cả 3 vị Đại Tá này đều được thăng cấp  Tướng...  riêng vị Đại Tá Mỹ gốc Việt này  đã trở thành vị Tướng người Mỹ  gốc Việt Nam đầu tiên tại Hoa-Kỳ khiến đồng bào tị nạn cũng có chút thơm lây, nhưng nếu ai có dịp trở lại chốn cũ tại Mỹ  hay có dịp  thăm  Ngũ Gíac Đài, tức  đại bản doanh của Bộ Quốc Phòng (DOD) Hoa-Kỳ tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn thì  cũng chỉ thấy hình ảnh người lính Việt Nam được  ghi nhận tại đó mỗi khi họ được tu nghiệp hay thăm viếng Ngũ Gíac Đài nhưng  những  anh lính mới này tuy  mang tên  họ Việt Nam nhưng lại tòan là cán binh Việt Cộng, còn những hình ảnh tên tuổi của  những quân nhân VNCH năm xưa một thời đã sống chết với  bạn đồng minh Hoa-Kỳ trong cuộc chiến VN thì  hầu như không biết tìm thấy ở nơi mô, cũng như khống  tìm thấy đâu  nữa trong "Lầu Năm Góc" này !

          "lối xưa  ngựa cũ hồn thu thảo,
            lầu cũ, lâu đài bóng tịch dương."

            Có một chuyện khá  lạ, khi bộ phim "Vietnam War " được ra mắt quần chúng  thì liền sau đó, một e-mail được tung vào cộng đồng mạng nhắc về một bài báo cách đây 17 năm (2000) của nhật báo Register, một tờ  báo lớn nhất của Mỹ tại quận Cam (Orange County California) về chuyện bà Kiều Chinh bị "phục kích" nhưng với lối hành văn đầu đuôi không được rõ ràng và trung thực như tả mơ hồ về không gian tại thương xá Phước Lộc Thọ, cũng như không có một giòng nào nhắc đến Thượng Nghị Sĩ tại AZ, John Mc Cain, trong khi ông lại là kép chính có mặt vào đêm đó .
          Sẵn nhắc lại chuyện cũ khiến bà con Việt Tị Nạn nhớ lại chuyến vận động tranh cử Tổng Thống của Ứng cử viên Thượng Nghị Sĩ Hoa-Kỳ John Mc Cain đã đến Phước Lộc Thọ, Little Sàigòn, quân Cam và theo chương trình trong buổi buổi vận động tranh cử này có sự phát biểu của một số nhân sĩ đã được tuyển chọn trước, họ tượng trưng cho Cộng Đồng Việt Nam mà  đa số  theo Đảng Cộng Hòa tại địa phương ủng hộ TNS Mc Cain, nhưng đến phần  phát biểu của bà Kiều Chinh, một Minh Tinh nổi tiếng VN và Quốc Tế rất được nhiều người hâm mộ, nhưng rất tiếc bà không được phát biểu suông sẻ trong tối hôm đó, vì bị một số người "đánh phủ đầu" ngay khi bà vừa bước lên sân khấu với lời buộc tội bà đã gían tiếp tiếp tay cho VC qua việc giúp một số Cựu Quân Nhân Hoa Kỳ làm thiện nguyện xây trường tiểu học cho trẻ em nghèo khó tại một số vùng xa nơi còn thiếu ánh sáng kinh kỳ tại VN.
          Đã có rất nhiều đồng bào và chiến hữu có mặt trong đêm vận động tranh cử của TNS Mc Cain đã không tránh khỏi bất ngờ trước cảnh bà Kiều Chinh  bị "phục kích"  được ra tay  bởi một số kẻ  đánh thuê  núp dưới ngọn cờ Vàng để  thực hiện việc chia rẽ và phá nát sự đòan kết  trong cộng đồng VN Tị Nạn và họ đã thành công khá dễ dàng đến nỗi bà Kiều Chinh đã phải bàng hòang " trong buổi đấu tố này! vì sự việc diễn biến khá nhanh khiến đồng bào tị nạn không kịp phản ứng, cũng như  không ai còn cảm thấy đây là chuyện của riêng bà trong đêm đen tối đó mà ai cũng còn cảm thấy đây là nỗi bất hạnh chung của bà con tại Thủ Đô người Việt Tị Nạn nói riêng và của người Việt Quốc Gia  khắp nơi nói chung đã không tiên liệu trước âm mưu nhằm  bôi bẩn và bẻ từng chiếc đũa trong một bó đũa lớn của cộng đồng VN Tị Nạn, vậy ai trồng khoai đất này !
        Người Mỹ có câu "Kill them or join them" (giết họ hay theo họ), nhưng riêng với người Việt Quốc Gia yêu nước sau bao phong ba bão táp đổ ập xuống đầu nhưng họ vẫn không bị gục ngã hay thay đổi lòng dạ  mà vẫn cố gắng "ngoi dậy hùng cường đi lên", như bà Kiều Chinh và những anh chị em Văn Nghệ Sĩ Quốc Gia khác vẫn còn tiếp tục thực hiện được thêm nhiều tác phẩm nghệ thuật cao qúy mang tính bất tử như  đã  ghi lại  từng hình ảnh sống động và rất thực  qua những thước phim quay lại cảnh  dân Việt đã cố gắng tìm đường sống trong cái chết khi đi  tìm tự-do nơi xứ người bằng máu và nước mắt, cảnh khốn cùng  của những Chiến Sĩ VNCH bị đọa đày trong các trại tù cải tạo  khốc liệt  của VC qua chính sách "tha tội chết, bắt tội sống"  v.v.... làm chấn động khắp thế giới và  đã làm  bao nhiêu người Việt Nam phải rơi nước mắt trong nỗi uất hận mỗi  khi nhớ lại thảm họa sau ngày mất nước, như một vết thương lòng chưa biết khi nào mới lành miệng mà phim "Vượt Sóng" được xem như một  tiêu biều bên cạnh nhiều bộ phim khác với bao cảnh vượt biên mang tính chia lìa và đẫm máu của đồng bào mà suốt lịch sữ 4 ngàn năm VN chưa từng có .
        Người đời  thường nói "hũu xạ tự nhiên hương", Bà Kiều Chinh là một Minh Tinh màn bạc nổi tiếng  tuy nhiên ngòai đời thường bà có cuộc sống khá gỉan dị và bình thường như bao phụ nữ VN khác tuy  ít khi nói về mình nhưng bà con Việt Nam ai cũng biết Bố bà bị Tù Cộng Sản ngòai Bắc, khi di cư vào nam nằm 1954 bà đã lập gia đình với một Chiến Sĩ Nhảy Dù VNCH và có nhiều thân nhân trong gia đình bà đã anh dũng đền nợ nước để bảo vệ Tự Do cho Miền Nam VNCH và tại hải Ngoại bà Kiều Chinh trong suốt mấy chục năm qua lúc nào  bà cũng luôn sát cánh với các Hội Đòan Quốc Gia, anh em Chiến Sĩ VNCH, bà làm gương sáng cho người Việt Nam cũng như  rất quan tâm đến  các thế hệ Việt Nam được sinh ra hay lớn lên tại Mỹ, nhất là những Chiến Sĩ Hoa-Kỳ gốc Việt Nam (VAUSA).

          Có một câu chuyện được râm ram chuyền tai nhau tuy chĩ liên quan đến đám gia súc được nuôi trong trang trại của lòai người nhưng đọc thấy cũng  vui vui và cũng thấy sao quen quen nên xin được kể cùng ai chưa biết.      
... Một chú lừa sau một ngày làm việc  vất vả trở về nằm nghỉ, chú kiệt sức nằm thở nặng nề, chó ta liền chạy đến hỏi thăm.
          Chú lừa đau khổ nói :" ông bạn ơi! tôi thấy mệt mỏi qúa. Ngày mai tôi thật muốn nghỉ ngơi một hôm". Sau khi chó chào tạm biệt , ra về gặp  ngay mèo ở góc đường. chó nói:" này tôi vừa đi thăm anh lừa, anh ấy qúa mệt rồi, anh ấy nói rằng muốn được nghỉ một ngày... cũng không thể trách được ông chủ  đã bắt anh làm việc qúa nặng".
           Mèo ra gặp dê và nói:" anh lừa phàn nản chủ nhân bắt anh ấy làm việc qúa sức, anh ấy muốn được nghỉ ngơi một hôm, ngày hôm sau không làm việc nữa". Dê lại kể với gà rằng:"Lừa không muốn làm cho chủ nhân nữa, anh ấy phàn nàn vì phải làm qúa nhiều công việc nặng nhọc. Không biết chủ nhân khác có đối xửa với lừa của họ tốt hơn chút nào không ?".
          Gà lại nói với lợn rằng:"anh lừa, anh ấy muốn làm cho một gia đình khác. Thật là... chủ nhân sao lại đối xử với anh như vậy, bắt anh ấy làm qúa nhiều công việc nặng nhọc và dơ bẩn, thậm chí còn dùng roi  đánh  đập anh ấy tàn nhẫn". Trước bữa tối, bà chủ dọn cho lơn ăn, lợn thì thầm:" Thưa bà chủ, tôi muốn phản ảnh  đến bà một sự tình, anh Lừa dạo này có vấn đề trong suy nghĩ, bà phải giáo dục anh ấy cẩn thận, anh ấy không muốn làm việc cho chủ nhân nữa, anh ấy trách chủ nhân bắt anh ấy làm việc qúa nặng nhọc, qúa dơ bẩn, qúa mệt mỏi. Anh ấy còn nói anh ấy muốn rời chủ nhân và đến một nhà khác để ở."
          Sau khi biết chuyện bà chủ bèn kể với ông chủ rằng:"Lừa muốn phản bội ông, nó muốn đổi một người chủ khác. Tội phản bội này không thể tha thứ, ông định xử lý nó thế nào?".
           "Đối với kẻ phản bội giết không tha", người chủ vô cùng bực tức nói lớn:"Vậy là, chú Lừa một lòng làm việc chăm chỉ nhưng chỉ vì một tin đồn thất thiệt đã bị đem đi "giết chết", trong khi chính mình cũng không hiểu tại sao?
          Trong cuộc sống cũng vậy qua mỗi lần đồn thổi của một người, câu chuyện của một người sẽ hòan thành một câu chuyện khác. Hãy kiểm tra tính xác thực của nó, đừng tiếp tục đồn thổi mà khiến người khác phải chịu kết qủa không lường.
          Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu lúc sinh thời cũng gặp  rất nhiều chỉ trích  từ  những kẽ đối đầu ngòai  Hà Nội và ngay trong hàng ngũ Quốc Gia  cũng có một số người chê trách ông này nọ ... và ông cũng không mấy phiền hà gì với những điều chỉ trích này, tuy nhiên lúc nào ông cũng ước mong những ai, hay người nào chỉ trích ông thì hãy cố gắng làm những gì tốt hơn những việc ông đã làm... và cho đến nay điều  mong muốn cũng Tổng Thống Thiệu không biết có ai đã làm tốt hơn ông chưa ? riêng Việt Nam sau 42 năm nước đã thống nhất nhưng vận mệnh đất nước không biết sẽ đi về đâu? ngòai việc đi đâu, làm gì cũng chỉ thấy tòan là sự sự gỉa dối, đau  thương và nghèo khổ không lối thoát, trong khi kẻ thù truyền kiếp của dân tộc là Trung Cộng, một mặt họ đang ra sức tiêu diệt dân ta bằng chính sách diệt chủng cho ăn uống thuốc độc hàng ngày, mặt khác họ đang chờ đợi ngày sáp nhập VN vào Tàu Cộng  do VC dâng nộp, nhưng  chắc phải chờ đến Tết Congo thôi.

           Bà Kiều Chinh, chưa bao giờ lãnh lương từ "hậu đình hoa", tuy nhiên mọi người đều tin rằng bà cũng có ước mong giống như ước mong  của Tổng Thống Thiệu, tức là mong người đã  từng chỉ trích hay kẻ từng ném đá bà thì họ hãy làm gì cho  tốt hơn bà và dường như cho đến nay cũng chưa thấy ai đáng mặt anh hào về việc này, nhưng những cống hiến nghệ thuật cho thế giới và Việt Nam của bà đã làm ấm lòng Cộng Đồng VN Tị Nạn và đồng thời những tác phẩm điện ảnh gía trị của bà cũng là di sản gía trị của người Việt không Cộng Sản để lại cho con cháu mai sau .  
         Cuộc đời của bà đã cho tha nhân thấy được ý nghĩa và sự khác biết giửa 2 chữ Thành Công và Thành Đạt một cách rất sâu lắng, "thành công" là cái dễ tan biến và chỉ mang tính giai đọan nhưng sự "thành đạt" thì bao giờ cũng mang tính chân thiện mỹ và còn tồn mãi với thời gian.
          Hiện nay tuổi hạc của bà cũng đã cao và bà đã vào tuổi bát tuần (80) nhưng sự luôn có mặt của bà với đồng bào, với những Chiến Sĩ Vô danh VNCH, cũng như qua chiếc bánh mừng sinh nhật 60 năm nghệ thuật của bà từ các thế hệ trẻ, là những Quân Nhân Người Mỹ gốc Việt (VAUSA) tặng bà đã nói lên được tất cả và qua câu thơ cũ còn phảng phất...

Mỹ nhân tự cổ như danh tướng,
bất hứa nhân gian kiến bạch đầu

Phải chăng đây là ngọai lệ, là phần thưởng mà Đất Trời đã ban cho bà.

Nguyễn Văn Lành
Little Sàigòn California, tháng 10 năm 2017

Saturday, October 7, 2017

The Vietnam War – Phụ đề tiếng Việt- Gồm 10 Hồi – (10 Đoạn)


The Vietnam War – Phụ đề tiếng Việt- Gồm 10 Hồi – (10 Đoạn)

01: Déjà Vu (1858-1961) - Vietnamese

02: Riding the Tiger (1961-1963) - Vietnamese


03: The River Styx (January 1964-December 1965) - Vietnamese


04: Resolve (January 1966-June 1967) - Vietnamese

05: This Is What We Do (July 1967-December 1967) -Vietnamese

06: Things Fall Apart (January 1968-July 1968) - Vietnamese

07: The Veneer of Civilization (June 1968-May 1969)-Vietname

08: The History of the World (April 1969-May 1970)-Vietnames


09: A Disrespectful Loyalty (May 1970-March 1973)-Vietnamese


10: The Weight of Memory (March 1973-Onward) - Vietnamese




The Vietnam War | Vietnamese Subtitles | PBS

Watch The Vietnam War | Vietnamese Subtitles videos on demand. Stream full episodes online.


01: Déjà Vu (1858-1961) - Vietnamese | The Vietnam War | Vietnamese Subt...

After a century of French occupation, Vietnam emerges independent but divided.


02: Riding the Tiger (1961-1963) - Vietnamese | The Vietnam War | Vietna...

As a communist insurgency gains strength, JFK wrestles with US involvement in Vietnam.


03: The River Styx (January 1964-December 1965) - Vietnamese | The Vietn...

With South Vietnam near collapse, LBJ bombs the North and sends US troops to the South.


04: Resolve (January 1966-June 1967) - Vietnamese | The Vietnam War | Vi...

US soldiers discover Vietnam is unlike their fathers’ war, as the antiwar movement grows.


05: This Is What We Do (July 1967-December 1967) -Vietnamese | The Vietn...

President Johnson escalates the war while promising the public that victory is in sight.


06: Things Fall Apart (January 1968-July 1968) - Vietnamese | The Vietna...

Shaken by the Tet Offensive, assassinations and unrest, America seems to be coming apart.


07: The Veneer of Civilization (June 1968-May 1969)-Vietname | The Vietn...

After chaos roils the Democratic Convention, Nixon, promising peace, wins the presidency.


08: The History of the World (April 1969-May 1970)-Vietnames | The Vietn...

Nixon withdraws troops but upon sending forces to Cambodia the antiwar movement reignites.


09: A Disrespectful Loyalty (May 1970-March 1973)-Vietnamese | The Vietn...

South Vietnam fights alone as Nixon and Kissinger find a way out for America. POWs return.