Tuesday, June 14, 2016

Thiệp Mời Dạ Hội "Ngày ghi dấu 44 năm Chiến Thắng An Lộc"



An-Lộc Foundation kính mời Quý Vị hỗ trợ 
"Ngày ghi dấu 44 năm Chiến Thắng An-Lộc"
(Thiệp Mời attached file).

QUỐC-NAM, Chủ Tịch

An-Lộc Foundation


P.S.

Trực thăng và xe Jeep Quân Đội sẽ chào đón quý vị tham dự Dạ Hội “Ngày ghi dấu 44 năm Chiến Thắng An-Lộc”.


Sau ngày Độc Lập July 4 của Hoa Kỳ, Dạ Hội "Ngày ghi dấu 44 năm Chiến thắng An-Lộc" quy mô và đầy sáng tạo, sẽ chào đón quý chiến hữu QLVNCH & gia đình, từ 5:30G chiều Thứ Sáu ngày 8 tháng 7 năm 2016. Quý Vị khắp hải ngoại hãy chuẩn bị tham dự một chương trình văn nghệ về Người Lính VNCH được An-Lộc Foundation dàn dựng mới lạ và hấp dẫn từng phút hội diễn trên sân khấu Seafood Palace Restaurant 800 ghế ngồi ở Thủ đô tị nạn Westminster (miền Nam Cali, Hoa Kỳ). Bản tin về sự kiện họp mặt quý chiến hữu các Quân Binh Chủng và văn nghệ về Người Linh QLVNCH "độc nhất vô nhị" như vậy, tại Link sau đây:



Để về thăm Thủ đô tị nạn Little Saigon (Nam California) và gặp gỡ những Chiến Sĩ Anh Hùng sống sót cuối cùng của mặt trận An-Lộc 93 ngày đêm tử chiến với Bắc Quân (CSVN), quý vị hãy ủng hội vé 30 Mỹ-kim bằng cách dùng Thẻ Tín Dụng mua ngay tại www.bolsatickets.com. Bời số ghế ngồi trong "Ngày ghi dấu 44 năm Chiến thắng An Lộc lần đầu tiên tại Hoa Kỳ" tháng 7/2016 hạn chế, nên Quý Vị vui lòng giữ chỗ ngay hôm nay.

An-Lộc Foundation hân hạnh kính mời.

Monday, June 13, 2016

Tưởng Nhớ Cha Người Chiến Sĩ Biệt Động Quân VNCH

Nhân Ngày Quân Lực 19-6, nhìn lại sự tham chiến của Mỹ tại VN

Trong bối cảnh của cuộc chiến trạnh lạnh từ 1947-1973, người Mỹ gần như đã thất bại, khi đối đầu để ngăn chận ảnh hưởng của Nga Sô Viết, cho dù đã sử dụng rất nhiều chiến lược hoàn cầu, từ chủ thuyết Containment sang Domino, hết phản du kích tới trực diện tham chiến. Rốt cục mọi hy sinh, nổ lực, bạc tiền và mạng lính của Mỹ, Ðồng Minh và VNCH thành vô ích, khi Hoa Kỳ tới Paris vào tháng 1-1973, cúi mặt để nhận tờ giấy lộn của cái được gọi là “Hiệp định hòa bình ngưng bắn VN” .Tóm lại, trong cuộc chiến VN, chỉ có bọn đại tư bản lái súng Mỹ và các con buôn trung gian liên hệ khắp thế giới, làm giàu mà thôi.

          Sự bội tín của người Mỹ tại VNCH, còn là dây chuyền giúp Nga chiếm ảnh hưởng tại Iraq, Libya, Angola, đưa các đảng xã hội lần lượt nắm quyền tại Tây Âu. Ở Trung Mỹ, dưới sự tiếp tay của Nga và Cu Ba, đảng CS Sandinista chiếm Nicaragua, cùng đe dọa các nước quanh vùng, nhất là El Salvador. Ðó là chưa nói tới dịch khủng bố quốc tế, lợi dụng sự thất thế uy tín của người Mỹ, gieo rắc máu lửa chết chóc khắp nơi cho nhân loại.

          Vì vậy đã không có đại chiến thứ ba, mà chỉ có cuộc chiến khu vực. Cũng vì Bắc Cao và Bắc Việt lúc đó là chư hầu của Ðệ tam Cộng Sản quốc tế, đã xung phong nhận lãnh trách nhiệm làm tên lính tiền phong của đế quốc đỏ trong khu vực. Nên Liên Xô - Trung Cộng, đã chọn bán đảo Triều Tiên và Ðông Dương, làm hai CHIẾN TRƯỜNG thí điểm, để hai khối thanh toán, đồng thời cũng là nơi mà các cường quốc, dùng để tiêu thụ số bom đạn thặng dư sau thế chiến và thử nghiệm những loại vũ khí mới vừa chế tạo.

          Chỉ tội nghiệp cho các dân tộc nhược tiểu trong vùng chiến cuộc bỗng dưng bị họa lây, gồm Cao Ly, Việt Nam, Lào, Campuchia ..  do hai đảng Cộng Sản Bắc Cao và Bắc Việt, rước voi về giày mả tổ, tàn phá quê hương và hủy diệt dân tộc mình. Vì nếu không có sự xuất hiện của đảng Cộng Sản Ðệ Tam Quốc Tế, chắc chắn các quốc gia trên, trong đó có Việt Nam cũng sẽ như các nước trong vùng như Ấn Ðộ, Pakistan, Tích Lan, Miến Ðiện, Mã Lai, Tân Gia Ba, Nam Dương.. thuộc địa cũ của Anh-Pháp hay Phi Luật Tân thuộc Mỹ, cũng độc lập mà không cần phải gây ra cuộc kháng chiến chín năm (1946-1954), làm tốn biết bao máu xương của đồng bào, lại còn hủy hoại tài nguyên và nhiều công trình kiến tạo của tiền nhân để lại .

          Ðó là thực chất của cái, được thế giới gán cho danh từ hào nhoáng “Chiến Tranh Giải Phóng Việt Nam” . tuy chỉ là một giai đoạn ngắn ngủi nhưng lại bi thảm nhất trong dòng sông lịch sử Hồng-Lạc, với sự yểm trợ của khối Cộng Sản Ðệ Tam Quốc Tế và sự tham chiến của Hoa Kỳ, giúp Người Việt hai bên chiến tuyến, chém giết nhau một cách tận tuyệt.

          Theo Kenneth E.Sharpe trong “The Post Vietnam Formula under Siege và Political Science Quarterly”, thi giai đoạn 1960 tới cuối năm 1971, được coi như là thời kỳ “Giải Kết” của Mỹ. Chính Tiến sĩ Henry Kissinger đã chủ trương, đưa Trung Cộng về lại với Thế Giới Tự Do bằng sự đánh đổi  Bỏ Rơi Tiền Ðồn Chống Cộng tại Á Châu là VNCH . “Hành động giải kết trên, tuy có tạo được cho đương sự một tầm vóc quốc tế nhưng kết quả đã đưa đến sự bại trận nhục nhã” cho nước Mỹ, bởi vì Kissinger đã lẫn lộn giữa chính trường và khuôn viên trường đại học. Tóm lại chỉ vì ngu muội, Kissinger đã tự mình đưa nước Mỹ vào một thời kỳ suy thoái nhất trong lịch sử Hoa Kỳ (1973-1980), dưới sự lãnh đạo của đảng Dân Chủ toàn phần.

           Tóm lại, sau bốn mươi mốt năm VNCH bị sụp đổ nhưng ngày nay vẫn còn nhiều tác giả ngoại quốc, mỗi khi có dịp nói-viết về cuộc chiến trên, vẫn cứ dựa vào các tài liệu tuyên truyền của cộng sản, nên thường lý luận một chiều, đôi lúc thật hàm hồ bừa bãi. Chính những cuốn sách và cái máy nói này, đã khiến cho ai đọc hay nghe tới, cũng đều có cảm tưởng là những người lãnh đạo nước Mỹ lúc đó, toàn ngu xuẩn hay điên rồ, cho nên mới bị sa lầy và tháo chạy khỏi miền Nam, vào ngày 30-4-1975 một cách nhục nhã .

          Với người Mỹ qua thói quen tự cao tự đại, sau khi tháo chạy khỏi chiến trường để bị mang tiếng bội tín với thế giới tự do, vì không giữ được lời hứa, bảo đảm quyền sống tự do của đồng bào Việt-Miên-Lào trên Bán đảo Ðông Dương, nên vẫn cứ phải loay hoay giữa tự ái và lương tâm, khi muốn giải đáp trước công luận quốc tế và trong nước, lý do tại sao một cường quốc bách chiến bách thắng như Mỹ lúc đó và hiện tại, lại có thể bị thua trước một đối phương nhỏ bé, lạc hậu như cộng sản Bắc Việt ? dù chúng đã được toàn khối Cộng Sản viện trợ, hay rất lỳ lợm, dã man, tham tàn, coi mạng sống của đồng bào VN và cán binh thua cỏ rác.

          Ngày nay nhờ những khai quật từ các văn khố khắp thế giới, nhất là sự sụp đổ của gần hết khối xã hội chủ nghĩa trong đó có Liên Xô và các nước Ðông Âu nhưng quan trọng nhất vẫn là những bản tự khai của các chóp bu tại Bắc Bộ Phủ, cho ta nhận rõ phần nào giải đáp trên, về thực chất của cuộc chiến Việt Nam (1955-1975). Như Pháp năm 1954, người Mỹ đã thua cộng sản trong mặt trận ý chí tại thủ đô Hoa Thịnh Ðốn và ngay trên đất nước mình, chứ không phải ở chiến trường Ðông Dương. Cũng từ đó, người Mỹ thường nhắc nhớ tới thành ngữ  “No more Việt Nam” như một thứ mặc cảm tội lỗi, luôn đè nặng đất nước Hoa Kỳ, cho tới lúc Tổng thống Reagan vào ngày 21-5-1982, khai sinh một nước Mỹ mới, khi tuyên bố chiến lược tấn công, để ngăn chận sự bành trướng của khối cộng sản quốc tế

          Tất cả không phải vì QLVNCH không chịu chiến đấu trước kẻ thù, hoặc Miền Nam không có tướng tài và cấp lãnh đạo xứng đáng sau khi Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị sát hại hay Chính Phủ VNCH không có chính nghĩa như Thượng Nghị Sĩ Mỹ là Mc.Cain vừa tuyên bố lếu láo vô trách nhiệm trên báo chí, mà là NƯỚC MẮT NHƯỢC TIỂU VN, hay nói đúng hơn chúng ta đã bị Thực Dân Mới nhân danh là Liên Hiệp Quốc, bán đứng trong canh bài phân chia ranh giới chính trị, quân sự giữa hai khối tư bản và cộng sản, đã sắp xếp sẵn sau khi Ðệ Nhị Thế Chiến kết thúc. Nhiều nước Ðông Âu kể cả Ðức cũng chịu chung số phận nhược tiểu như VN và Cao Ly, khi nằm trong thế cờ quốc tế đã định đoạt sẵn. Nhưng may thay Họ đã tự mình tháo gỡ được gông cùm nô lệ cộng sản vào đầu năm 1990, khi Liên Bang Sô Viết và phần lớn khối cộng sản đệ tam quốc tế tan rã.

          Tại VN trước năm 1975, dù không bị sa lầy, Hoa Kỳ vẫn tháo chạy vì mục đích nối kết với Trung Cộng, phá vỡ thế liên hoàn Nga-Hoa, đã hoàn thành từ 1972. Sự bất lương của người Mỹ là " ăn không đưọc thì đạp đổ " và phá hủy những thứ gì còn lại của người khác cho tan nát. Đó cũng là lý do Mỹ vô duyên vô cớ, đem quần đảo Hoàng Sa của VNCH giao cho Trung Cộng ngày 19-1-1974 vì sợ VC sẽ đem bán cho Liên Sô sau khi chiếm đưọc miền Nam. Hành động vô trách nhiệm này đã giúp Tàu đỏ có cơ hội độc chiếm gần như toàn bộ biển Đông ngày nay, trong đó phần lớn của VN..

1- Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam
          Theo luật pháp hiện hành, thì Tổng Thống Mỹ là Tổng Tư Lệnh quân đội, cố vấn bởi Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia, để ban hành các quyết định quân sự, được thi hành bởi Bộ Trưởng Quốc Phòng, xuống tới các Bộ Tham Mưu Liên Quân và các Bộ Tư Lệnh Hải Ngoại, trong số này có BTL Thái Bình Dương chỉ huy trực tiếp các BTL Không Quân, Lục Quân, Hạm Ðội 7 và Cơ Quan Viện trợ Quân Sự Mỹ tại VN (MACV).

          Từ năm 1965 khi Hoa Kỳ bắt đầu đổ quân ào ạt vào VNCH. Ðể đáp ứng nhu cầu chiến lược, Mỹ lập Lực Lượng Lục Quân Hoa Kỳ tại VN (US Army VN - USARV), bao gồm tất cả các đơn vị bộ binh Mỹ đang tham chiến ở đây, trực thuộc cả hai BTL Lục quân và cơ quan MACV Thái Bình Dương. Theo hệ thống tổ chức trên, lực lượng tham chiến của Mỹ tại VN còn có Hải quân + Quân đoàn III Thủy bộ TQLC và Quân đoàn 7 Không quân.

          Sự hiện diện của người Mỹ tại VNCH sau Hiệp định Geneve 1954, đầu tiên là Phái bộ Cố vấn Viện trợ Quân sự Ðông Dương (MAAG - Indochina) rồi đổi thành Phái Bộ CVVTQS -VN (MAAG - VN) với nhiệm vụ cố vấn và huấn luyện QLVNCH và chấm dứt ngày 8-2-1962 bằng Cơ quan MACV, duới quyền chỉ huy của các tướng lãnh :
- Trung tướng S.William, Tư lệnh MAAG từ 11/1955 - 9/1960.
- Trung tướng LMcGarr , TL MAAG từ 9/1960 - 2/1962.
- Ðại tướng P.Harkins , TL MACV từ 2/1962 - 6/1964.
- Ðại tướng W.Westmoreland, TL MACV, từ 6/1964 - 7/1968.
- Ðại tướng C Abram, TL MACV từ 7/1968 - 6/1972.
- Ðại tướng F. Weyand, TL MACV từ 6/1972 - 3/1973.
- Thiếu tướng J Murray , TL DAO, từ 3/1973 - 8/1974
- Thiếu tướng H Smith, TL DAO, từ 8/1974 - 4/1975.

          Tại VN, Hoa Kỳ thành lập Quân Ðoàn 1 (1 Field Force US) ngày 15-3-1966, có BTL đóng tại Nha Trang, chỉ huy tất cả các đơn vị Hoa Kỳ tham chiến tại Vùng 2 Chiến thuật của VNCH tới ngày giải tán về nước 30-4-1971, gồm có SĐ4BB, Lữ đoàn 3/SĐ25BB, Lữ đoàn1/SĐ101 Dù, Lữ đoàn 173 Nhảy dù, Liên đoàn 41 và 52 Pháo Binh .

          Cùng lúc Quân Ðoàn II (II Field Force US) cũng được thành lập, có BTL đóng tại Biên Hoà, chỉ huy các đơn vị Mỹ tham chiến tại Vùng 3 Chiến Thuật của Nam VN tới ngày giải tán 2-5-1971, gồm SĐ1BB, SĐ1Kỵ Binh Không Vận, SÐ9BB, SĐ25BB, SĐ101Dù, Lữ đoàn 173 Dù, Trung đoàn 11 Kỵ binh, Liên đoàn 23 và 54 Pháo binh.

          Tại Vùng 1 Chiến thuật của VNCH, Hoa Kỳ thành lập Quân đoàn III Thủy Bộ TQLC (III Marinne Amphibious Force), có BTL đóng tại Ðà Nẵng, chỉ huy SĐ1 và 3 TQLC, 2 Trung đoàn đổ bộ, Không đoàn 1 TQLC cùng Quân đoàn XXIV.

          Về quân số tham chiến của Hoa Kỳ, khởi đầu 760 (1959), 

900 (1960), 
3205 (1961), 
11.300 (1962), 
16300(1963), 
23300 (1964), 
184.300 (1965), 
383.300 (1966), 
485.600 (1967), 
536.100 (1968), 
475.200 (1969), 
334.600 (1970). 
156.800 (1971), 
24.200 (1972) và 
50 (1973). 


Như vậy từ sau Hiệp Ðịnh Ba Lê ra đời, QLVNCH một mình ngăn chận và chống trả với toàn Khối Xã Hội Chủ Nghĩa, cho tới ngày Miền Nam mất theo lệnh đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh, vào trưa ngày 30-4-1975.

- Các Vị Tướng Lãnh Hoa Kỳ Tử Thương Tại VN

THIẾU TƯỚNG WILLIAM JOSEPH CRUMM:
Sinh ngày 20-9-1919, Scarsdale New York, nguyên Tư Lệnh Sư Đoàn 3 Không Quân thuộc Bộ Tư Lệnh Không Quân Chiến Lược, Mỹ. Ngày 7-7-1967, tướng W. J. Crumm đích thân lái một chiếc B.52 dẫn đầu một hợp đoàn gồm 3 chiếc B.52 đến yểm trợ chiến trường ở miền Nam Việt Nam. Lúc còn cách ngoài khơi tỉnh Vĩnh Bình (vùng 4 chiến thuật) khoảng 32km, tai nạn xảy ra khi hai chiếc B.52 chạm cánh vào nhau và rớt xuống biển đông VNCH. Có sáu người bị chết (không tìm được xác) và bảy người được cứu sống. Trong số người tử nạn có thiếu tướng W. J. Crumm. Ông là sĩ quan cấp tướng đầu tiên của quân đội Mỹ chết tại chiến trường Việt Nam .

THIẾU TƯỚNG ROBERT FLANKLIN WORLEY:
Sinh ngày 10-10-1919, Riverside California . Nguyên Tư Lệnh Phó Không Lực 7, Không Lực Thái Bình Dương. Ngày 23-7-1968, tướng R.F. Worley tự mình lái chiếc máy bay phản lực loại RF-4C Phantom, đến yểm trợ một đơn vị bạn ở hướng tây-nam Huế thì máy bay bị trúng đạn phòng không của Cộng sản Bắc Việt. Chiếc Phantom được ghi nhận đâm vào một sườn núi, khoảng 85km tây-bắc phi trường Đà Nẵng.

THIẾU TƯỚNG BRUNO ARTHUR HOCHMUTH:
Sinh ngày 10-5-1911 Houston, Texas, nguyên Tư Lệnh Sư Đoàn 3 Thuỷ Quân Lục Chiến, hoạt động trong hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị. Vào ngày 14-11-1967, tướng B.A. Huchmuth đang trên đường đến thăm chuẩn tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh SĐI/BB thì trực thăng của ông bỗng dưng phát nổ trên không tại hướng tây bắc thành phố Huế. Trong số những quân nhân Mỹ tử nạn trên chiếc trực thăng còn có thiếu tá Nguyễn Ngọc Chương là sĩ quan liên lạc SĐI/BB cạnh Bộ Tư Lệnh SĐ3/ TQLC Mỹ.
Thiếu tướng B.A.Hochmuth là vị tướng duy nhất của TQLC Mỹ chết tại chiến trường Việt Nam .

THIẾU TƯỚNG KEITH LINCOLN WARE:
Sinh ngày 23-11-1915, Denver Colorado , nguyên Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh (Sư đoàn Anh Cả Đỏ, The Big Red One Division). Ngày 13-9-1968, trong lúc đang chỉ huy đơn vị cơ hữu chạm súng với VC, chiếc trực thăng chỉ huy của ông bị trúng đạn phòng không của VC, và bị rơi ở địa điểm khoảng 6km tây-bắc Lộc Ninh tỉnh Bình Long.

CHUẨN TƯỚNG WILLIAM ROSS BOND:
(Chúng tôi tạm dịch chức vụ Brigadier General, tướng một sao của quân đội Mỹ là chuẩn tướng) Sinh ngày 4-12-1918, Portland , Maine , nguyên Tư Lệnh Lữ Đoàn 199 Bộ Binh. Ngày 1-4-1970, lúc nhận được tin một đơn vị của mình là Chi đội 2, Chi đoàn D, Thiết đoàn 17 Kỵ Binh bị địch tấn công khi đang hộ tống một đoàn xe tiếp tế trên tỉnh lộ 15, phía nam Võ Xu tỉnh Long Khánh. Tướng W.R. Bond đã đáp trực thăng của mình xuống ngay trận địa để đôn đốc chiến sĩ. Khi ông chạy khỏi máy bay độ vài thước thì bị trúng đạn ngay vào ngực. Trực thăng khẩn cấp đưa ông khỏi trận địa, nhưng ông đã tắt thở lúc còn trên không. Chuẩn tướng W.R. Bond là vị tướng thứ nhất của quân đội Mỹ tử trận ngay trên mặt đất Việt Nam, không phải trên máy bay.

THIẾU TƯỚNG ALBERT BROADUS DILLARD, JR: Sinh ngày 1-9-1919, Lake Charles , Louisiana , nguyên Tư Lệnh Công Binh Mỹ ở Việt Nam . Ông bị tử thương ngày 12-5-1970 lúc từ Pleiku bay trực thăng đến trại Biên Phòng Plei D'Jreng để thám sát Tỉnh lộ 509. Trực thăng của tướng J.B. Dillard bị trúng đạn phòng không của CS và phát nổ. Địa điểm xảy ra khoảng 16 km hướng tây-nam thị xã Pleiku.

THIẾU TƯỚNG GEORGE WILLIAM CASEY: Sinh ngày 9-3-1922, Allston Massachusetts , nguyên Tư Lệnh Sư Đoàn I Không Kỵ (The First Air Calvary Division). Ngày 7-7-1970, tướng G.W. Casey từ Phước Vinh tỉnh Tuyên Đức, dự tính đến thăm thương binh ở bệnh viện dã chiến Cam Ranh. Trên đường bay, trực thăng chở ông bị trúng đạn phòng không của CS Bắc Việt và đâm xuống đất.

Hải quân Đề đốc Rembrandt C. Robinson: Hải quân Đề đốc  Rembrandt C. Robinson
Sinh ngày 2-10-1924 Clearfield Pennsylvania . Nguyên Hạm Trưởng (Soái Hạm) Khu Trục Hạm USS Flotilla 11, kiêm Tư Lệnh Chiến Đoàn Khu Trục Hạm thuộc Hạm Đội 7. Vào buổi tối ngày 8-5-1972, sau khi dự họp trên một chiến hạm gần đó, ông dùng trực thăng trở về soái hạm thì tai nạn xảy ra lúc máy bay không đáp đúng vị trí trên tàu. Trực thăng lao xuống biển và vỡ tan làm chết tất cả những người trên trực thăng. Nơi xảy ra tai nạn nằm ngoài khơi biển đông Việt Nam, gần bán đảo Đồ Sơn thành phố Hải Phòng, Bắc Việt. Đề đốc R.C. Robinson là vị tướng Hải quân duy nhất của quân đội Mỹ bị chết trong chiến cuộc Việt Nam .

CHUẨN TƯỚNG RICHARD JOSEPH TALLMAN: Sinh ngày 28-3-1925, Honesdale Pennsylvania , nguyên Tư Lệnh Phó Bộ Tư Lệnh Vùng 3 Yểm Trợ (Third Regional Assistance Command: TRAC). Ngày 9-7-1972, tướng R.J. Tallman đáp trực thăng xuống An Lộc, tỉnh Bình Long để họp với thiếu tá Joe Hallum thuộc toán cố vấn Trung đoàn 48/BB và đại uý Willbanks, toán cố vấn Trung đoàn 43 SĐ 18/BB. Cuộc họp bàn thảo về sự phối hợp yểm trợ cho lực lượng phòng thủ ở thị xã An Lộc. Lúc trực thăng sắp cất cánh thì quân VC tập trung pháo kích dữ dội vào khu vực bãi đáp làm chết tại chổ bốn người. Chuẩn tướng Tallman bị thương nặng, được tản thương về bệnh viện 3 dã chiến tại Saigon, và chết lúc còn trên bàn mổ.

Có tất cả 11 vị tướng Mỹ chết ở Việt Nam . Ngoài ra còn 2 vị tướng chết vì bạo bệnh.
( tham khảo tài liệu của BĐQ Đỗ Như Quyên)

2-Hoa Kỳ Có Bị Sa Lầy Tại Chiến Trường VN Không ?

         Sau khi " Bức Điện Tín " của CS Bắc Việt gửi Hoa Kỳ xin đầu hàng Mỹ vô điều kiện vào cuối tháng 12/1972 đưọc bạch hóa và công bố rộng rãi vào năm 2015, thì chúng ta có quyền trả lời là quân đội Mỹ không bịsa lầy tại chiến trường, mà Họ đã tự ý tháo chạy để có lý do Bán Đồng Minh VNCH cho giặc Cộng.

          Năm 1977, Ngoại trưởng kiêm cố vấn an ninh quốc gia Kissinger, nhân vật mang tiếng đã manh tâm bán đứng VNCH cho khối cộng sản đệ tam quốc tế mất chức, sau đó đã lần lượt xuất bản nhiều tập hồi ký chính trị như : Những năm tháng ở Bạch Cung (1979), Niên Đại Sóng Gió (1982) và Bí Lục Kissinger.. hé mở nhiều bí ẩn lịch sử cận đại về các thời kỳ chiến tranh lạnh giữa Mỹ-Liên Xô-Trung Cộng, Chiến tranh VN và cuộc thăm viếng Trung Cộng của Tổng thống Mỹ Richard Nixon vào tháng 2-1972, trước khi Hà Nội mở cuộc tấn công mùa hè vào các tỉnh Quảng Trị, Bình Long, Kon Tum và Bình Ðịnh của VNCH.

          Cũng nhờ những tiết lộ này, mà ngày nay ta mới biết được bộ mặt thật của cặp Nixon-Kissinger, chỉ vì lợi lộc của riêng mình, đã bán đứng đồng minh bạn bè cho kẻ thù. Vì muốn kéo Trung Cộng vào phe cánh, Hoa Kỳ qua Nixon-Kissinger đã chủ động đề nghị viện trợ tối đa cho Tàu, tất cả những quân dụng vũ khí chiến lược, kể cả cung cấp vệ tinh để Tàu thu lượm tin tức tình báo từ Liên Xô. Theo Bill Burr, chuyên gia nghiên cứu các vấn đề ngoại giao của Mỹ, thuộc Ðại Học Washington, cũng là chủ biên hồi ký Bí lục Kissinger, cho biết cuộc đi đêm bí mật của Kissinger tại Bắc Kinh, khởi đầu từ năm 1971 qua đề nghị Hoa Kỳ sẽ thiết lập một chương trình vệ tinh tình báo, để tặng Trung Cộng. Sau đó tại trụ sở LHQ ở New York vào tháng 12-1971, Kissinger đã cho Ngoại trưởng Hoàng Hoa nhiều tin tức liên quan tới quân sự của Liên Xô, để chuyển về Tàu. Tuy vậy để che mắt Liên Xô và thế giới, Hoa Kỳ cũng như Trung Cộng luôn đóng kịch kình chống nhau tại bàn hội nghị.

          Tóm lại, giống như trường hợp VN, trước khi Tổng thống Nixon chính thức thăm Trung Cộng và sau này, Kissinger đã bí mật tới Bắc Kinh rất nhiều lần, để gặp cả Mao-Chu và Trung Cộng cũng đã đáp ứng cho Mỹ thiết lập một trạm tình báo-quân sự, dọc theo biên giới Nga-Hoa, để thu lượm tin tức, theo dõi tình hình chuyển động của Liên Xô. Tháng 7-1973, một điệp viên CIA tên James Lilley được cử giữ chức trưởng trạm tình báo này, cũng là người trực tiếp phụ trách đường dây liên lạc Trung-Mỹ. Tháng 4-1975, theo yêu cầu của Ðặng Tiểu Bình, Tổng thống G.Ford đã viện trợ cho Trung Cộng rất nhiều quân trang dụng chiến lược, trong đó có nhiều thiết bị điện tử dùng để chế tạo vũ khí bom đạn hiện đại. Kissinger còn tiết lộ nội dung cuộc họp thượng đỉnh giữa Nga-Mỹ cho Trung Cộng. Tất cả cho thấy mức độ khả tín của người Mỹ, trong lúc cùng hợp tác đồng mình, để từ đó chúng ta mới nhận diện rõ ràng về ý nghĩa của sự sa lầy tại VN, mà các sử gia trong và ngoài nước thường hay gán ghép cho Hoa Kỳ.

          Người Việt tị nạn CS đã sống ở Hoa Kỳ trong bốn mươi mốt năm qua, nên đâu còn lạ gì bản chất ngoại giao môi miệng của họ, hoàn toàn khác biệt với hành động thực tế. Tại A Phú Hãn và Iraq, nguời Mỹ lấy “nhân quyền” cùng cớ “Saddam Hussein có Weapons of Mass Destruction và tiêu diệt khủng bố”  làm bình phong để che đậy hành động quân sự và dành thị trường cho tư bản Mỹ-Anh tiêu thụ hàng hóa, cùng dịch vụ khai thác dầu khí trên lãnh thổ của hai quốc gia Hồi Giáo này.

          Ðọc lịch sử nước Mỹ, ta thấy dù dân chủ hay cộng hòa, thì quyền lợi của tư bản Mỹ vẫn là ưu tiên số một .Tóm lại, dù Mỹ với tổng thống hèn kém như Carter hoặc cứng rắn cỡ Reagan, thì mục tiêu hành động của chính phủ, đều do quốc hội quyết định, cũng vẫn là làm sao cho dân chúng Hoa Kỳ được hưởng thụ nhiều hơn trước. Còn tất cả chỉ là phương tiện , để đảng nọ đảng kia mới còn cơ hội tái đắc cử cầm quyền tiếp. Hiểu thêm điều này nữa, mới cảm thấy bớt uất nghẹn khi biết Tổng thống Johnson đã đưa vào VN tới 550.000 quân + 80.000 người của các nước Ðồng Minh và 150 tỷ đô la chiến phí. Rồi đang lúc VNCH sắp đạt được chiến thắng cuối cùng, qua các trận đại chiến vào Tết Mậu Thân 1968, các cuộc hành quân Toàn Thắng vượt biên giới sang Kampuchia 1970 và nhất là trận Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972.. thì Tổng Thống Mỹ là Nixon, kế thừa chiến lược của TT.Johnson lại ký Hiệp ước ngưng bắn Paris 1973, tháo chạy khỏi VNCH, bỏ mặc cho Miền Nam bị toàn khối cộng sản đệ tam quốc tế cưỡng đoạt vào trưa ngày 30-4-1975.

          Ngày nay nhờ Quốc Hội Mỹ đã thông qua đạo luật  “Quyền tự do tư liệu và thông tin”, nên Thư Viện Quốc Gia Mỹ đã giải cấm những văn kiện tuyệt mật, có liên hệ tới cuộc chiến Ðông Dương lần 2 (1945-1975), qua nhiều đời Tổng Thống Mỹ liên hệ, từ Truman cho tới Carter.. Nhờ vậy người ngoài mới biết được những bi hài kịch đã diễn ra suốt thời gian Mỹ tham chiến tại VN, ngay trong hậu trường của những chóp bu tại Tòa Bạch Ốc, mà những nhân vật quyết định vận mệnh của VN , phần lớn là Dân Sự hay Chuyên Viên Hành Chánh, trong đó hầu hết chưa một ngày ở trong quân ngũ hay trốn quân dịch, như trường hợp của Tổng Thống Bill Clinton sau này. Ðó là việc quân lực Mỹ chưa bao giờ được phép sử dụng hết khả năng chiến đấu, nhất là hai quân chủng Không và Hải quân Hoa Kỳ, chủ nhân ông của bất cứ chiến trường nào, rất được thế giới nể sợ.

          Còn một bí mật khác cũng không kém phần bi thảm, đó là khi Mỹ đưa quân đội mình tới chiến đấu ở VN, thì cũng đồng lúc tư bản Mỹ tha hồ xuất cảng quân trang dụng sang Nga, các nước Ðông Âu lẫn Tàu. Sau đó các nước này thay nhãn đổi hiệu, rồi lại chuyển tiếp tới Hà Nội, để Bắc Việt chuyển vận vào Miền Nam cho bộ đội Cộng Sản có phương tiện dồi dào, bắn giết chẳng những QLVNCH mà cả quân Mỹ và các nước đồng minh đang chiến đấu tại chiến trường. Nói chung dù có thái độ cứng rắn như Tổng thống Truman, trước chủ nghĩa bành trướng sắt máu của Trùm Ðỏ Staline vào năm 1947 hay to miệng nhảy múa chống cộng cùng mình như Tổng thống Nixon, thì cuối cùng cũng vẫn là cùng thỏa thuận với nhau để chia chiến lợi phẩm trên xác chết của con mồi.

          Riêng về câu hỏi, tại sao siêu cường Mỹ với một bộ máy chiến tranh ghê gớm, lại để cho 58.000 quân sĩ thiệt mạng và mấy trăm ngàn người khác bị thương ? cuối cùng tháo chạy, sau khi chỉ lấy được về nước, một số tù binh bị Bắc Việt cầm tù. Ðô đốc Grant Sharp, cựu tư lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, đã giải thích “cuộc chiến thất bại không phải vì chống không lại địch quân, mà vì chính sách của Hoa Thịnh Ðốn đã đẻ ra quá nhiều chiến lược, nào leo dần tới đáp ứng, rồi đang mềm dẻo đột nhiên dội bom, sau đó tự ý ngưng và thương thuyết tại bàn hội nghị để đạt chiến thắng”.

          Cuối cùng tự mình trói tay đầu hàng, rồi tháo chạy khỏi chiến trường, dù chẳng hề bị sa lầy hay bị lâm vào tuyệt lộ..  Ðây cũng là kết quả như lời cảnh giác của Tướng Maxwell Taylor, nguyên cố vấn quân sự của Tổng Thống J.Kennedy, từ năm 1961 “Nếu Hoa Kỳ tới VN với mục đích tối hậu, là giúp cho nước này chống lại sự xâm lăng của cộng sản, thì cuộc chiến sẽ không có giới hạn, nên chúng ta không thể không đánh thẳng ra Hà Nội, để tiêu diệt sào huyệt của chúng”.Nhưng tiếc thay đất Bắc, nơi phát sinh ra cuộc chiến VN, lại là vùng đất bảo đảm an toàn nhất, mà các tổng thống Mỹ dành cho Cộng Sản Bắc Việt..

          Ðã vậy TT Johnson còn cấm quân Mỹ không được tấn công hay truy sát quân Bắc Việt, tại lãnh thổ Lào và Campuchia giáp ranh với VN. Trong khi đó ai cũng biết trên phần đất này, Hà Nội đang mở đường mòn HCM, lập các khu hậu cần, mật khu, tích trữ lương thực quân dụng và tập trung quân để tấn công vào lãnh thổ VNCH.. Chính cựu Tổng thống Eisenhower cũng lên tiếng thắc mắc là tại sao TT. Johnson lại không dám tấn công thẳng vào đầu não của quân Bắc Việt tại Hà Nội, trong lúc đó hầu hết tướng lãnh Mỹ thì phẫn nộ, vì nhận được lệnh đánh nhau với VC phải đạt chiến thắng nhưng hai tay họ thì bị trói chặt bởi các luật lệ không biết đâu mà mò.

          Tóm lại như Nixon đã nhận biết từ năm 1954, cộng sản dùng chiêu bài “chiến tranh giải phóng”, để mà xâm nhập và khuynh đảo chính trị tại Nam VN, chứ không bao giờ công khai vượt tuyến như tại Triều Tiên năm 1950. Thêm một điểm đặc biệt khác, là lúc đầu những người trí thức và khoa bảng Mỹ gần như thờ ơ không ngó tới việc Hoa Kỳ tham chiến tại VN. Nhưng từ giai đoạn 1967 về sau, nhất là sự kiện cộng sản bị thảm bại trong trận tổng công kích Tết Mậu Thân 1968, thì giới trên nhập cuộc qua phong trào phản chiến trên đất Mỹ, chống đối và đánh phá chính phủ dữ dội, còn hơn VC thứ thiệt ở VN, cũng chưa thấy hoạt động công khai dữ dằn như phong trào phản chiến tại Mỹ. Ðây là một nghịch lý nổi bật và mai mỉa nhất của Mỹ, trong cuộc chiến VN.
Ðó là sự kiện công dân Mỹ (như đào hát Jane Fonda chẳng hạn), hay sĩ quan John Kerry (hiện là ngoại trưởng) đã công khai đứng hẳn về phía Hà Nội, cổ võ cho giặc chống lại quân đội và chính phủ mình, qua các cuộc biểu tình phản chiến, cầm cờ máu đốt cờ Mỹ, phủ nhận huy chương, lên đài phát thanh truyền hình chửi bới hay tới tận Hà Nội để hoan hô HCM

          Khi than rằng “Chúng ta đã đánh bại chính ta”, đó là nhận xét của Tổng Thống Johnson về nước Mỹ và ngay cả bản thân mình, trong suốt thời gian cầm quyền với một sức mạnh quân sự vô địch, nhưng đầu óc lại chỉ nghĩ tới chiến thắng VC bằng chính trị, một chiến lược giá rẻ, mà không một nhà lãnh đạo nào của thế giới nghĩ tới sự kỳ quặc này, nhất là khi phải đối mặt với những kẻ sát nhân khủng bố thâm độc như cộng sản quốc tế.

          Năm 1967 Nixon nhậm chức tổng thống, khiến ai cũng nghĩ tới nước Mỹ sẽ leo thang chiến tranh, vì ông ta là một nhân vật diều hâu có môn bài. Về lý thuyết, Nixon cũng giống như TT Kennedy và Johnson, có chung mục tiêu là cả ba đều cương quyết không muốn VNCH phải sụp đổ vì Bắc Việt xâm lăng. Nhưng cả ba đã lầm lẫn chiến lược lúc nhập cuộc. Với TT Kennedy và Johnson, cả hai cùng chủ trương tham chiến trong giới hạn, để không gây xáo trộn tại chính quốc, nên nói ngăn chận nhưng vẫn không cản nổi sự xâm nhập của bộ đội từ miền Bắc xâm nhập vào Nam và sự khuynh đảo chính trị tại VNCH. Khi Nixon lên cầm quyền, cũng là lúc nước Mỹ qua vai trò của Kissinger, đang đi đêm để nhúm nhen sự nối kết Mỹ-Hoa, phá thế liên hoàn Nga-Trung, trong thế cờ thời chiến tranh lạnh giữa ba nước Hoa Kỳ-Liên Xô và Trung Cộng. Bởi vậy Nixon không bao giờ dám leo thang chiến tranh tại VN, vì sợ phản lại lời hứa “rút quân” khi ứng cử, lại vừa làm mất sự thân thiện với Trung Cộng lẫn Nga đang cổ võ và ủng hộ VC cưỡng chiếm miền Nam. Ðó là lý do Nixon trao lại cuộc chiến đang tiếp diễn ác liệt tại chiến trường Nam VN, cho VNCH tự lo liệu, qua danh từ hào nhoáng “Việt Nam Hóa Chiến Tranh”.

          Sau này qua các hồi ký chính trị của những nhân vật thân cận cao cấp của Chính Phủ VNCH như Nguyễn Văn Ngân, Nguyễn Phú Ðức, Nguyễn Tiến Hưng, Hoàng Ðức Nhã.. ta mới biết được gánh nặng của các nhà lãnh đạo VNCH suốt 20 năm tồn tại, từ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm tới TT Nguyễn Văn Thiệu và Trần Văn Hương.. tất cả đều bị Hoa Kỳ dùng viện trợ và sinh mệnh, để áp lực, khống chế, ép bắt hăm dọa VNCH phải thi hành theo đường hướng của Mỹ, nhất là sự ký kết hiệp ước ngưng bắn ngày 27-1-1973, ngày nay bị đánh giá như tờ giấy lộn không hơn không kém, đối với sự giải quyết hòa bình tại VN lúc đó.

          Ngoài ra những bức thơ viết tay của Tổng Thống Nixon và Ford, gửi mật cho TT .Nguyễn Văn Thiệu, với sự trang trọng cam kết, đã nói lên cái gọi là “thực chất của sự mưu tìm hòa bình trong danh dự” và trên hết đã phần nào lột trần hai nhân vật “Nixon-Kissinger”, trong vai trò chủ động tháo chạy khỏi Miền Nam, để khỏi bị sa lầy.

          Không được đáp ứng theo nhu cầu đòi hỏi, TT J.Kennedy đạo diễn tấn tuồng binh biến ngày 1-11-1963 hạ sát Tổng Thống hợp pháp của VNCH là Ngô Ðình Diệm, để gây xáo trộn chính trị suốt ba năm, rồi kết luận miền Nam thiếu lãnh đạo

          TT Nixon và cố vấn an ninh quốc gia Kissinger, dùng đủ mọi thủ đoạn, kể cả hành động đê tiện là đe doạ ám sát TT Nguyễn Văn Thiệu, để hoàn thành cho được bản hiệp ước ngưng bắn Paris 1973, mới có cớ hợp thức cho phép bộ đội miền Bắc có mặt tại miền Nam, tiếp tục xâm lăng thôn tính Miền Nam, như Kissinger đã hứa với Mao-Chu tại Bắc Kinh năm 1972, mà mới đây trong hồi ký có nhắc tới.

          Nói là “Việt Nam Hóa Chiến Tranh” nhưng lại cắt viện trợ, ngưng cung cấp quân trang dụng như lời hứa, khiến cho QLVNCH lâm vào tình trạng kiệt quệ, phải bỏ nhiều phần lãnh thổ vì không có phương tiện để phòng thủ. Rồi trong lúc Bắc Việt xua hết lực lượng, tấn công cưỡng chiếm VNCH, thì người Mỹ tháo chạy trong danh dự, suốt đêm trên nóc nhà bằng trực thăng, qua sự đùm bọc bảo vệ an ninh của QLVNCH lúc đó. Cuối cùng từ ấy đến nay, vẫn không ngớt đổ tội cho QLVNCH là không chịu chiến đấu, nên quân đội Mỹ phải sa lầy và Miền Nam mới bị sụp đổ, khi kẻ thù đang hấp hối chờ đầu hàng vào cuối năm 1972, qua những trận mưa bom tàn khốc trên đất Bắc.

          Thực chất của người Mỹ khi tham chiến tại VN là thế đó !

          Câu nói của cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nay đã đi vào lịch sử " các ông (người Mỹ) triệt hạ tiền đồn chống cộng VNCH. Điều này không quan trọng vì còn có nhiều tiền đồn chống cộng khác. Nhưng nếu các ông để mất Miền Nam VN vào tay cộng sản quốc tế Bắc Việt, thì sớm muộn, đất nước và dân tộc VN cũng bị diệt vong trong tay việt cộng ",

          Lời tiên tri đã trở thành hiện thực sau 41 năm người Mỹ tháo chạy khỏi Sài Gòn sáng ngày 30-4-1975.


Viết từ Xóm Cồn Ha Uy Di
Tháng 6-2016
MƯỜNG GIANG

Thursday, June 9, 2016

30 Tháng Tư trên Quốc Lộ 4 - Từ Mỹ Thuận đến Trung Lương

“…Câu chuyện sắp kể, dù tôi vẫn chưa thể xác quyết, đã liên quan đến việc sống chết của 2 người lính thuộc bộ chỉ huy Thiết Đoàn 2, Sư đoàn 9 Bộ binh. Hy vọng thân nhân của các anh sẽ đọc được câu chuyện này..”

“…Ngày đó có những anh hùng, những tên hèn và kẻ chịu hèn. Tôi là loại người sau cùng…”

Trước 75, đoạn Mỹ Thuận Trung Lương thuộc về Quốc Lộ 4 chỉ có 60 km, chạy qua các quận Cái Bè, Cai Lậy và Châu Thành của tỉnh Định Tường. Tuy ngắn nhưng đây là đoạn huyết mạch nối thủ đô Saigon với các tỉnh Miền Tây. Do đó, khi Cộng quân bao vây Saigon trong những ngày cuối, Sư đoàn 9 đã di chuyển Bộ Chỉ Huy nhẹ về thị xã Mỹ Tho, Phối hợp với Sư đoàn 7 để bảo vệ mạn nam của Saigon. Sáng hôm định mệnh, tôi được lệnh rời Bộ Tư Lịnh ở Vĩnh Long để đi Mỹ Tho. Như thế, tôi sẽ phải vượt qua đoạn đường vừa nói.   
Nguồn: Google Earth --- Chú thích: Người viết

Từng năm từng năm cứ đến 30 Tháng Tư, tôi lại trăn trở với những điều đã mục kích. Nay có hai lý do khiến tôi quyết định phải viết ra: Trước tiên, câu chuyện sắp kể, dù tôi vẫn chưa thể xác quyết, đã liên quan đến việc sống chết của 2 người lính thuộc bộ chỉ huy Thiết Đoàn 2, Sư đoàn 9 Bộ binh. Hy vọng thân nhân của các anh sẽ đọc được câu chuyện này, và xin tha thứ cho sự chậm trễ của tôi, nếu như một rủi ro tận cùng đã đến với các anh. Sau là, đã bao tháng đợi năm chờ, tôi chưa nghe ai kể điều gì xảy ra trên đoạn Quốc Lộ 4, từ Mỹ Thuận đến Trung Lương ngắn ngủi này, dù chắc chắn không thiếu gì nhân chứng.
Ngày đó có những anh hùng, những tên hèn và kẻ chịu hèn. Tôi là loại người sau cùng, mang nặng món nợ làm chứng nhân, nay trung thực kể lại sự kiện được nhìn thấy. Xin đọc với trái tim rộng lòng chia sẻ, không phải bằng khát khao thưởng thức một áng văn chương. Và bất cứ ai nhận ra mình có mặt trong bài viết này, tôi tha thiết xin cho được một lần tái ngộ.
Rời Vĩnh Long bằng phương tiện của Thiết đoàn 2. Cả xe GMC 7 người: ngồi buồng lái gồm tài xế và trưởng xa là bên thiết giáp; ngồi khoang sau 5 người, kể cả tôi, thuộc Bộ tư lịnh Sư đoàn 9. Cấp sĩ quan: chỉ có mình tôi. Vũ khí: súng trường M16, với cấp số đạn gấp đôi, cùng một ít lựu đạn. Ngoài nón sắt, chúng tôi đều mặc áo giáp. Đêm hôm trước theo dõi đài VOA và BBC, tình hình đã rất bi đát.

Xe đến ngã ba quẹo vào Bắc Mỹ Thuận phải chậm dần lại, vì đầy chật đủ loại xe đò cùng hành khách. Những người buôn bán rong vẫn hối hả tới lui réo gọi rao bán. Sinh hoạt không khác chi ngày thường, ngoại trừ gương mặt mọi người đều đậm nét lo lắng hoang mang. Quân xa chúng tôi được ưu tiên qua phà. Nước sông lúc này đục trắng; phải sang giữa mùa mưa, nước phèn từ ruộng đồng đổ ra mới làm nước sông trong lắng hơn. Nhìn Lục bình trôi nổi, tôi bồi hồi nhớ lại kỷ niêm 3 năm trước, lần đầu tiên trong đời qua khúc sông này lúc cận tết, để về trình diện Sư đoàn ở Sadec. Khi đứng trên phà, nhìn những đài hoa Lục Bình màu tím nhạt, trôi nổi trên sông nước mênh mông, rồi nghĩ lại hoàn cảnh phiêu bạt, sau bao năm sớm rời ghế nhà trường, mà không khỏi chạnh lòng..

“Có buổi nào về bên kia sông,”
“Thấy thương hoa tím Lục Bình không?..”
“Để lòng chạnh nhớ người xưa ấy,”
“Duyên kiếp phận đời cũng long đong.”

Tạm biệt Lục Bình, tạm biệt hoài niệm. Bây giờ xe đã rời phà, bắt đầu lăn bánh vào Quốc lộ 4. Tình hình bến bắc bên này hoàn toàn khác hẳn. Dân chúng xôn xao, hành khách nháo nhác, đủ các loại xe nằm ụ lại bên đưòng tắt máy chờ đợi. Chiều ngược lại, không một bóng xe. Thình thoảng tiếng súng và đạn pháo nổ đâu đó vọng đến, lại làm mọi người chộn rộn chỉ trỏ bàn tán. Hỏi ra thì biết rằng phía trưóc bị đắp mô, phải chờ công binh giải tỏa. Xe dân sự không được phép di chuyển.

Khá xa, qua khỏi cầu và ngã ba An Hữu thì gặp đơn vị công binh lập rào cản ngăn chận. Khúc này nhà cửa dân cư thưa thớt, căn cứ quân sự cũng không. Thỉnh thoảng một chiếc xe Zeep trang bị máy truyền tin, được đích thân một viên Đai úy công binh cầm lái chạy tới lui lăn xăn. Hình ảnh này nói lên một tình huống nghiêm trọng bất thường. Lần cuối khi dừng lại bên cạnh xe chúng tôi, gương mặt ông đầy vẽ căng thẳng với ống nghe áp chặc trên tai. Rồi đột nhiên với dáng vẻ đầy hối hả, ông bấm còi inh ỏi vừa ra dấu vừa hét to cho chiếc xe công binh ủi đất, khoảng trăm mét phía trước, quay đầu cùng chạy về phía bắc Mỹ Thuận. Tôi gọi với theo hỏi, nhưng không kịp. Chẳng hiểu mô đã phá xong chưa, và tại sao lại hối hả rút về. Chúng tôi bỗng dưng lạc lõng giữa đất trời. Nhìn tới nhìn lui, phía nào cũng ruộng đồng hoang vắng giống nhau.

Lách qua “con ngựa gổ” làm rào chắn tượng trưng, xe liều lỉnh tiếp tục hành trình. Đến Xã Mỹ Đức Tây, xe phải dừng ngay trước dốc cầu, vì đang có chuyện ở phía trước. một vài xe đò nằm ụ bên đường tự bao giờ, khách tản lạc đi đâu cả, trên xe chỉ vài chị bạn hàng, căng võng nằm, ra dấu và nói cho biết “các ổng” đang cắm cờ chận đường phía trước. Các em bán rong chạy tới chào mời chúng tôi mua trái cây, giá rẻ như đem cho! Xuống xe, rảo bộ vào chợ xã, nằm trên một vùng gò đất. Người buôn kẻ bán chỉ hơi hối hả một chút. Trong các quán ăn uống, cũng có vài anh lính đia phương ngồi sẵn. Tôi vào một quán, gọi tô mì. Xem lại, chỉ là mì gói bột nêm trụng nước sôi, thêm vài miêng thịt luộc thái mõng!

Ăn xong, trên đường trở ra xe, vừa bước xuống lòng đường thì bên kia một chiếc lam ba bánh chạy trờ qua mặt vội vàng. Trên xe đầy tiếng ồn ào ngưòi lớn con nít kêu khóc. Người tài xế mặt mày hớt hơ hớt hãi xanh lè, nhảy bắn ra khỏi xe đứng thở hổn hển quên cả việc thu tiền. Hành khách tuôn chạy tứ tán. Một bà chị cứ vừa đi vừa chấp tay bái lậy tứ phía, miệng líu ríu lầm rầm gì không rỏ. Một bác gái lớn tuổi ngồi té bệt dưới đất, vừa khóc vừa gào “trời ơi tội nghiệp người ta quá mà! Người ta có làm gì đâu mà bắn người ta!” Tôi đến gặp anh tài hỏi chuyện. Đi theo hướng tay anh, tôi nhìn thấy trên cản và kính chắn phía trước còn nhiều những vệt máu và óc trắng chưa khô. Anh run rẩy kể lại, một người lính ngồi ngay bên tay phải của anh trên băng ghế lái bị “mấy ông” chận lại kêu bước xuống, rồi không hỏi không gì bắn luôn vô đầu. Tôi cũng biết thêm, bà cụ gào khóc kia không liên quan thân thích gì với người lính bị bắn.

Bưóc về đến xe của mình, quay lại thấy những người lính ở đồn Địa Phương Quân gần đấy chạy tới xôn xao thăm hỏi những khách đi xe và anh tài. Một chốc sau, còn đang nghĩ ngợi về cái chết của người lính và tình huống tiến thoái lưỡng nan, thì bất chợt tiếng radio từ một nhà dân bên đường được mở lên thật lớn. Lệnh “bàn giao” từ Tổng Thống Dương Văn Minh đang được phát đi. Mọi người trên xe đều lộ vẽ ngỡ ngàng căng thẳng. Đoạn băng phát đi phát lại không thể nghe nhầm lẫn được. Chữ nghĩa “bàn giao” tuy còn đầy sĩ diện, nhưng không che dấu được hàm ý “đầu hàng”. Biết chữ nghĩa nào diễn tả cho hết nỗi buồn và đau xót cùng cực trong lòng tôi, và mọi người khi ấy trên nét mặt.

Thời gian trôi qua khá lâu. Bây giờ thì tiếng radio đã được nhiều nhà nối tiếp nhau mở lớn, vang vọng cả khu chợ. Dân chúng gọi nhau báo tin và xôn xao bàn tán. Những người lính địa phương cũng đã chạy hết về đồn trại. Nơi đây, chúng tôi đã xa bắc Mỹ Thuận 10km, còn 50km mới đến Trung Lương. Nơi an toàn gần nhất có thể đến được là quận Cai Lậy, cũng phải 25km. Mọi người đang phân vân, bất chợt nhiều tràng súng nổ ròn rả từ phía đồn trại, tiếng la báo động inh ỏi, và những người lính lúp xúp cầm súng dàn ra bờ công sự phòng thủ. Trên khu nhà chợ, hàng quán xầm xập đóng cửa, dân chúng tán loạn, có người vừa chạy vừa hô “Mấy ổng tới! Mấy ổng tới!’ Chị bạn hàng nhảy tháo khỏi xe, luống cuống nhặt dép lên vừa khóc lóc than van vừa chạy trốn vào một nhà bên đường “Chết rồi! hàng họ của tôi sao nè trời!” Rồi trong phút chốc, sự ồn ào náo loạn biến mất; kể cả tiếng radio cũng tắt ngúm. Trên quốc lộ chỉ còn trơ trọi bảy người chúng tôi! Còn “mấy ổng”, theo cách người dân Miền Tây gọi VC (việt cộng), thì chưa thấy đâu cả.

Không chần chừ thêm, người tài xế cho nổ máy và đạp ga lút tới. Xe nhảy chồm lên cầu rồi đổ dốc; qua cầu không xa, chúng tôi đã ra khỏi khu dân cư. Bắt đầu từ đây, hai bên đồng ruộng tít tắp. Chúng tôi 5 người sau xe ghìm súng ra hai bên, sẵn sàng với mọi tình huống bất ngờ. thỉnh thoảng xe phải chậm lại vì những ổ gà hoặc mô gò do VC đào đắp, cố gắng theo dấu của một xe nào trước đó đã qua, để tránh mìn. Có những đoạn bị cắm cờ VC xanh đỏ, dù là xa lề cả trăm mét, để chứng tỏ chủ quyền. Có lúc đạn bắn ra đâu đó từ những bờ vườn, đành nhờ ơn phúc ông bà. “Đường ta.. ta cứ đi.”

Chạy độ chừng 10km đến địa hạt của một xã kế tiếp. Tình hình ở đây hoàn toàn khác hẳn, hàng quán mở cửa xôn xao, dân chúng đi lại trên đường tấp nập, không thấy bóng dáng một người lính nào. Từ những căn nhà bên lề, radio được mở thật lớn, có cả đài VC, phát đi bằng giọng nữ xướng ngôn viên miền Bắc, và những bài “nhạc đỏ”. Chưa hết nỗi ngỡ ngàng, thì xe đã dừng lại ở một ngã ba đường rẻ lên trụ sở Xã, cách hơn trăm mét. Tôi thấy dân chúng quần áo mới đủ màu, nhộn nhịp như hội chợ, và cờ VC lớn nhỏ treo đầy quanh trụ sở. Thì ra xã này đã được “bàn giao”! Đúng lúc ấy, một anh du kích gầy gò nhỏ thó trong bộ bà ba đen và chiếc mũ tai bèo từ một quán bên lề bước ra, trên tay khẩu AK chúc xuống, chậm chạp đi quanh xe nhìn chúng tôi với dáng vẻ bất ngờ và tò mò. Chúng tôi đứng trên xe, cũng súng cầm tay trong tư thế tương tự. Cảm giác lạ lùng, cứ như thật như mơ. Một vài phụ nữ ngang qua nói lớn “hòa bình rồi mấy anh ơi! Hết đánh nhau rồi!” Sợ tình thế này kéo dài không biết có điều gì xảy ra, người tài xế vội vã cho xe chạy. Anh du kích chỉ lặng lẽ nhìn theo không phản ứng.

Suốt đoạn đường sau đó, không có tiếng súng tấn kích, hoặc dấu vết lửa đạn trên những vùng đất đi qua. Ngoài chuyện đào hố đắp mô và treo cờ xa xa, tuyệt nhiên không một chốt ngăn chận được thiết lập, mà lẽ ra phải có. Xét ra, áp lực quân sự của đối phưong không lớn, chỉ ở mức quấy rối, vậy mà quốc lộ đã bị cắt đứt từng đoạn, do bởi áp lực tâm lý của tình hình chung. Cái không khí “chiến tranh và hòa bình” thay nhau ẩn hiện, vì thỉnh thoảng lại gặp một khu phố chợ đã “bàn giao” treo cờ xanh đỏ lác đác. Gần đến ngã tư thị trấn Quận Cai Lậy, các căn cứ đồn trú hai bên vẫn còn phất phới cờ vàng.

Dừng ở ngã tư rẻ vào thị trấn, đường phố vắng tanh dân chúng, nhà cửa đóng im ỉm. Nhưng đằng sau công sự chiến đấu, những người lính địa phương vẫn sẵn sàng trong tư thế chiến đấu. Tiếng đạn nhỏ và đạn pháo binh bắn đi xa gần còn nghe thấy vang vọng bầu trời. Bây giờ đã vài giờ sau lệnh bàn giao. Cai Lậy chưa đầu hàng! Lòng tôi dâng lên một niềm cảm xúc. Có lẽ cũng cần nhắc lại một việc, thị trấn Cai Lậy đã được biết đến rất nhiều trong vụ VC pháo kích vào một trường tiểu học ngày 9 tháng 3 năm 1974, đã khiến 32 học sinh tử vong và 55 học sinh khác bị thương. Và hơn 2 năm trước, tôi cũng đã đồn trú và hành quân vùng này hơn 3 tháng.

Sau suy tính, anh trưởng xa lại quyết định chạy tiếp. Chỉ còn 25km là sẽ an toàn hơn, nếu về đến được ngã ba Trung Lương, thị xã Mỹ Tho. Đường đi bây giờ êm ả, không còn thấy màu cờ xanh đỏ. Nhưng nhìn bên phải, các trụ điện cao thế tròn dài cả chục mét, đúc bằng xi măng cốt sắt, bị đặt chất nổ nằm ngã gục, thậm chí có nơi đến 3 trụ nằm xếp kề nhau, vì cứ thay cái mới là lại bị cho nổ phá tiếp. Tỉ lệ trụ điện bị hủy hoại cũng phải 1/3, nhiều hơn rất nhiều so với cách đây một tuần tôi cũng đã qua đây. Chạy 8km thì xe ngang qua đồn bảo vệ xã Điềm Hy, anh em bính sĩ trong đồn đang lố nhố trên tuyến chiến đấu nhìn ra. Cột cờ giữa sân vẫn lồng lộng lá cờ vàng. Xe chạy thêm chừng 1/2km, từ xa chúng tôi đã nghe tiêng súng nổ, và trông thấy một chiếc xe đò dài nằm lật ngửa đưa tất cả các bánh lên trời tự bao giờ. May mắn chiếc xe chỉ nằm ngửa dài gọn về bên phải, nên người tài xế xe chúng tôi vẫn giữ nguyên tốc độ với toan tính vượt qua. Nhưng vừa khỏi tầm che khuất bởi căn lầu gạch bên phải, tôi đã chứng kiến một cảnh tượng diễn ra mà suốt đời không bao giờ quên được...

Bên phải Quốc Lộ nơi chiếc xe đò lật ngửa là một thửa ruộng trơ trụi. Cách lề độ 50m là một Thiết vận xa M113 nằm quay mặt vào một bìa vườn nằm cách đường khoảng 200m. Đạn 12ly8 từ trong vườn bắn ra từng nhịp, âm thanh nặng nề chát chúa. Nhờ chen lẩn với đạn lửa mà tôi có thể thấy rỏ những tia đạn phóng đi găm nhắm vào thân chiếc thiết vận, và vút cả ngang qua mặt lộ. Cứ theo vũ khí sử dụng, tôi đoán chừng đây phải là đơn vị lớn của cộng quân. Quanh xe M113, không thấy một đơn vị bộ binh tùng thiết nào cả, duy nhất một người lính thiết giáp đơn độc trên nóc xe, đầu đội nón sắt, cúi ôm khẩu đại liên ngồi sau hai tấm thép chắn đạn, đang từng nhịp bắn trả về phía bờ vườn. Hai bên cứ thay phiên bắn “giao hữu” qua lại rất bình tỉnh từ tốn. Hình ảnh người lính Thiết Giáp ấy đẹp và hào hùng làm sao. Sau này tôi mới biết, giờ đó bao nhiêu tướng lĩnh công chức cao cấp đã ra nằm yên ngoài hạm đội rồi!
Hình minh họa (Nguồn: internet)
Đang phóng nhanh đột nhiên trưởng xa khẩn cấp cho dừng lại, rồi cả hai người nơi buồng lái đồng loạt nhảy ra khỏi xe. Mọi người ở khoang sau vừa bị ngã chúi vì bất ngờ, cũng nhất tề xốc dậy ôm súng nhảy theo, tấp xuống bờ đường bên trái. Quân trang tài vật vẫn còn nguyên vẹn trên xe. Nằm trên bờ ghìm súng nhìn qua, cuộc so đạn giữa hai khẩu đại liên đang tiếp tục. Cố quan sát bìa vườn, tôi vẫn không thể nhìn thấy ra quân đối phương. Bây giờ tôi mới thật sự quyết định nắm lấy quyền điều động. Cần nói thêm ở đây, các anh em quân nhân tuy là lính thiết giáp và sư đoàn nhưng toàn là dân hậu cứ văn phòng, người của các phòng ban, lại vốn không trực thuộc quyền chỉ huy của tôi.

Dặn dò hai người lính thiết giáp ở lại coi chừng xe, tôi dẫn bốn người còn lại đi vòng dãy nhà lá thưa thớt sau lưng để quan sát địa thế. Phía sau này chỉ toàn đồng trống. Quan sát xa hơn về bên phải, khoảng ba bốn trăm mét, tôi nhận ra có một đơn vị bạn đang đóng các chốt trên bờ ruộng nằm cặp sau nhà dân. Nhìn theo cách đóng quân trong tình huống và khu vực này, tôi đoán chắc đó phải là tiểu đoàn của Sư Đoàn 7. Bây giờ thì hiểu ra, tại sao Cộng quân đã không dám tấn công một chiếc thiết vận xa đơn độc bên kia, nằm tênh hênh như một chiếc mồi nhử. Và giờ tôi có thể đoán biết, người lính và chiếc M113 kia phải thuộc về đơn vị Thiết Đoàn 6 Kỵ Binh, SĐ7BB. Cài hết bốn người ở lại dàn ra canh chừng mặt sau, tôi quay lại cận thận vỗ vào liếp cửa sau của căn nhà lá.

Một sự im lặng tuyệt đối, tôi ghé mắt nhìn qua khe. Căn nhà xơ xác nghèo quá, chỉ có một cái kệ tre đựng chén đũa, vài cái nồi đen đúa móp méo treo trên vách, và một nồi cơm lớn nằm trơ trỏng giữa nhà. Một cái hầm nổi, vừa làm nơi trú ẩn vừa làm giường bên trên, chiếm mất gần nửa căn. Chợt nghe tiếng động bên trong, tôi lên tiếng lần nữa và quyết định gở cọng dây kẽm cột cánh cửa. Từ trong hầm tiếng rục rịch lao xao, và vài đứa con nít khóc ré lên. Một bà cụ nhô đầu ra sợ hải “súng đâu mà bắn quá chú ơi!” Tôi mĩm cười trấn an “xa xa thôi bác ơi, ở đây lính tụi con không hà! Tội nghiệp quá, bác cho mọi người ra đi, mấy đứa nhỏ trong đó ngộp chết!” Tử tế bà cụ chỉ vào nồi cơm mời tôi và quyết giữ mọi người ở lại trong hầm. Tôi dùng cái gáo dừa, múc nưóc từ trong lu đổ đầy một cái nồi, rồi cầm cái rá đựng chén đũa, tất cả cùng nồi cơm nguội đóng cục, lần lượt đưa đến ngoài miệng hầm dặn dò “bác và cả nhà ăn đi nghe! Thôi con đi!” Bước ra, tôi lo lắng không cột cửa lại vì nhớ đến mấy loạt đạn lửa bên kia bờ vườn, biết đâu có thể làm cháy nhà.

Quay về bờ đường phía trước, chợt đâu bên phải, một chiếc zeep bất ngờ từ xa phóng nhanh tới, bên trên là hai quân nhân. Nhưng chỉ vừa qua khỏi chiếc GMC của chúng tôi, trước khi đến chiếc xe đò lật ngửa, thì họ vội vã dừng xe, phóng nhảy xuống bờ lề, khi trông thấy cuộc đọ súng giữa hai khẩu đại liên, với những tia đạn chạy quét lên cả mặt lộ. Bây giờ đối phương đổi trò chơi mới. Khẩu 12ly8 chuyển hướng nhắm vào chiếc zeep và GMC. Đạn bắt đầu bay ngay trên đầu chúng tôi, từng nhịp ngắn hai ba viên. Tiếng đạn đi xé gió cùng với tiếng nổ đùng đùng đầy uy hiếp. Chỉ trong vòng mười phút, cả hai xe đều bị bể hết một bên bánh, sau những tiếng xì hơi như tiếng thở dài áo nảo. Riêng chiếc zeep bị trúng đạn làm chập điện, khiến còi xe rú vang kéo dài cái âm thanh rú rít thê lương cho đến khi yếu dần ngèn nghẹn và tắt hẳn. Đột nhiên, một người lum khum rón rén quay lại, chồm nửa người vào xe, bới lấy khẩu M16 và dây đựng băng đạn trong lúc vội vã không kịp cầm theo, rồi nhảy trở ra thật nhanh gọn.

Thời gian lại cứ từ từ trôi qua, cho đến lúc bất chợt có một chiếc M113 thứ hai từ phía xã Điềm Hy xuất hiện, chạy rầm rập qua chỗ chúng tôi. Có tiếng súng bắn và tiếng réo gọi vang dội. Chiếc thiết vận dưói ruộng bắn một loạt đạn cuối cùng về phía bìa vườn, rồi lui lại quay chạy theo chiếc kia về phía Long Định. Tôi cho tập họp tất cả lại và đưa ra ý định: quay trở lại xã Điềm Hy. Tôi trình bày qua kế hoạch và được mọi người tán thành. Chúng tôi 5 người dàn ra nằm trên bờ lộ, ghìm súng về phía bìa vườn nơi có khẩu 12ly8. Hai người trưởng xa, và tài xế nhanh chóng nhảy lên xe cho nổ máy chạy lùi lại một đoạn khá xa rồi quay đầu xe. Chiếc xe chạy lệt bệt xiêu vẹo thiệt tội nghiêp, tuy nhiên sự việc diễn ra suôn sẻ. Khi đã qua tới chỗ che khuất bởi căn lầu gạch bên kia đường, theo kế hoạch họ phải dừng lại chờ đón chúng tôi. Nhưng không, họ cho xe chạy đi luôn! Mọi người đều ngỡ ngàng rồi quay nhìn tôi chờ đợi. Nhanh chóng tôi quyết định cần phải đi tránh xa ngay địa điểm này. Theo chiến thuật “di động và hỏa lực”, chúng tôi thay phiên di chuyển dần về xã Điềm Hy. Khi gần đến đồn, tôi mới biết còn có một đơn vị Cảnh Sát Dã Chiến phòng thủ ngay trong khu vườn thưa bên ngoài.

Đến gần cổng rào của đồn, tôi thấy chiếc GMC giờ vẫn còn tiếp tục chạy cách trước mặt gần 200m. Cũng đúng lúc đó, lố nhố bên lề và dưới ruộng, mười mấy du kích quần áo bà ba đen xuất hiện nhốn nháo với súng ống. Tôi nghe tiếng súng nổ râm ran, nhưng chiếc xe vẫn nghiêng ngã chạy ngang qua đám du kích. Tôi thấy rỏ một người đưa khẩu B40 lên ngang vai, lửa và khói trắng bùng lên ngay bên hông xe trước khi âm thanh đạn nổ đến được tai tôi. Rồi đám người bu bám nhảy lên, quăng ném những ba-lô quân trang trên xe xuống. Bên trong đồn, nhiều người đứng ở công sự cùng chứng kiến. Lúc ấy, một người lính chạy ra mở cổng rào. Len qua những hàng kẽm gai concertina, tôi thấy nhiều cọc cắm gắn mìn claymore. Phải hơn 50m mới vào tới bờ đất phòng thủ bên trong. Những người lính bên trong thấy chúng tôi mang phù hiệu sư đoàn thì có vẻ chăm chú đặc biệt.

Một anh chuẩn úy ra chào đón chúng tôi rất thân tình niềm nở, Sau tự giới thiệu nhau, nay tôi vẫn còn nhớ, anh tên Hòa, Phân Chi Khu trưởng Điềm Hy; gia đình anh sinh sống ở vùng ngã tư Bảy Hiền, Saigon. Chúng tôi trao đổi qua lại với nhau về tình hình trong ngoài căn cứ. Bây giờ chúng tôi có hơn năm mươi tay súng, còn lại cũng bằng số ấy là đàn bà con nít, vợ con của các anh em binh sĩ. Bên ngoài, quân số Cảnh Sát Dã Chiến nhiều hơn. Mọi người cũng đã nghe biết lệnh “bàn giao”. Anh hỏi tôi ý kiến, tôi xác định chỉ tuân hành theo lệnh của cấp chỉ huy trực tiếp. Anh cho biết vẫn còn giữ được liên lạc âm thoại với chi khu, trên Quận vẫn còn tử thủ. Nhưng cũng đúng lúc ấy, anh trung sĩ truyền tin vội vã trao ống nói máy PRC25 cho anh Hòa “Thiếu úy ơi! Tụi nó xâm nhập vào hệ thống mình rồi!”

Gọi các đơn vị bạn, tất cả đêu đã bị cướp tần số. Gọi qua căn cứ Long Đinh, cách đó 8km, thì cũng đã bị xâm nhập, hai bên đang thách đố chửi nhau loạn xạ trên máy. Cũng cần nói rỏ, CC Long Đinh là nơi thiết đặt bộ chỉ huy chiến thuật của Tiểu Khu Định Tường. Gọi trở lại Chi khu lần nữa, thì không còn nghe trả lời. Chi khu đã thất thủ hay đã “bàn giao”!? Cũng lúc ấy, có tiếng súng nổ bên ngoài đồn, rồi tiếng loa gọi “Tên Dương Văn Minh đã đầu hàng! Để bảo vệ sinh mạng, các anh phải buông súng ngay! Miền Nam đã được Cách Mạng hoàn toàn giải phóng! Các anh sẽ được đối xử nhân đạo theo đúng chính sách hòa giải dân tộc của chính phủ cách mạng..” Trên công sự chiến đấu, binh lính vẫn dàn ra cầm súng chờ lệnh. Bên ngoài nhóm du kích ban nảy, giờ thấy đông hơn, đang tự tin đắc thắng ngang nhiên đi tới lui trên mặt lộ, có người tay cầm cây cờ xanh đỏ chạy quơ phất phới. Tình hình đó, nếu chuyện nổ súng xảy ra, tôi cam đoan họ sẽ phải tổn thất nặng ngay trong loạt đạn đầu.

Tình trạng căng thẳng và khẩn cấp, Anh Hòa đích thân cầm máy gọi Chi khu, lần này bên kia có tiếng nạt nộ đe dọa “bọn ‘ngụy’ ở đây đã đầu hàng cả rồi, các anh còn ngoan cố đến chừng nào?” Cùng lúc ấy, một trái đạn B40 bắn vào mái tôn của căn nhà sau lưng chúng tôi. Quay lại tôi còn kịp nhìn thấy khói lửa òa lên. Tiếng đàn bà con nít la khóc inh ỏi. Chúng tôi được báo cáo ngay có vài người bị thương. Anh Trung sĩ nhất truyền tin đứng cạnh tôi nổi máu, lúc này đã bỏ máy, cầm trên tay khẩu M79, anh đưa lên nhắm và bóp cò không chờ lệnh lạc. Trong lúc vội vã anh quên rằng khẩu M79 luôn luôn tự động khóa an toàn sau khi nạp đạn, nên súng không kích hỏa. Đó cũng là một điều định mệnh. Vì nếu không, hy vọng gì bạn được đọc câu chuyện hôm nay!

Tôi vỗ nhanh vào vai anh, ra hiệu không được bắn. Anh Hòa nhìn tôi giọng xúc động “Chi khu mất rồi! Mình tính sao đây Thiếu úy?” Nếu phải đánh nhau, chúng tôi thắng là cái chắc, vì quân số vũ khí áp đảo, đối phương lại khinh địch phơi mình trên mặt quốc lộ. Nhưng sau đó là gì ai cũng biết. Tôi ngậm ngùi nhìn anh Hòa giữ nguyên tắc “căn cứ và sinh mệnh mọi người nơi đây tùy thuộc anh. Anh quyết định thế nào tôi sẽ làm theo” Anh hỏi lại lần cuối “Mình buông súng Thiếu úy?” Tôi gật đầu muốn bật khóc.

Lệnh buông súng được loan ra, một chiếc áo thun làm cờ trắng được cột trên đầu một nhánh tre, khua lên trên nóc lô-cốt chỉ huy. Phía du kích yêu cầu chúng tôi phải hạ cờ Vàng xuống trước. Anh Hòa cho người phụ tá của anh ra tháo dây, hạ cờ. Không ai ra lệnh, nhưng toàn thể mọi người đứng nghiêm lặng lẽ như chào lần vĩnh biệt. Cờ chưa xuống hết, tôi đã cúi mặt để che dấu dòng lệ đang ứa ra. Trong diễn tiến đau lòng ấy, chúng tôi chua xót ý thức rất rỏ thấy mình đang phải đầu hàng, làm gì có chuyện mơ màng hai chữ “bàn giao”! Một du kích xông xáo mở các rào cản chạy vào, vài người nửa vào theo. Số du kích chia ra. Một người chạy đến cột cờ giữa sân, trước lô-cốt chỉ huy nơi chúng tôi đang đứng, tháo hẳn lá cờ Vàng ra khỏi dây, ném bỏ nằm rũ dưới mặt đất, rồi thay vào bằng lá cờ xanh đỏ, kéo lên . Một vài người khác lùng xục reo hò “Súng..! Súng..! Nhiều quá!” Một dãy người đứng ngay trên lối ra vừa dùng mắt dò xét, vừa liên tục nói lời trấn an “Hòa bình rồi, các anh đừng có lo, không có trả thù trả oán gì hết, tất cả sẽ được đối xử đúng theo chính sách nhân đạo..”

Lúc này anh Hòa và vài anh em thân tín đã thay đổi trang phục áo dân sự. Các anh làm như thế là đúng, buông súng thì trước mắt chỉ là cứu sinh mệnh anh em binh sĩ và thân nhân của họ, chứ ai bảo đảm điều gì với chính anh và ban chỉ huy. Phần tôi còn hơi tự ái, nhưng sau này ra đến cổng, nghĩ lại sống còn là trên hết, đành cũng phải chịu hèn thôi. Lợi dụng đông đảo nhốn nháo không ai để ý, tôi cởi áo cuộn lại ném sâu vào lổ cống ngay trên lối ra sát lề đường. Trong túi áo, còn một chiếc máy ảnh Minota chụp phim 8mm, nhỏ gọn bằng gói thuốc lá. Tiếc mà không dám giữ vì sợ bị nghi lầm làm gián điệp. Tội này nặng hơn tội làm quan! Kinh nghiệm Mậu Thân dạy mình phải biết sợ! Vật duy nhất, tôi còn gan giữ lại, là tấm thẻ căn cước quân nhân bọc nhựa, nhét trong vớ giầy.

Thẻ Căn Cước Quân Nhân như đã kể trong chuyện

Đi ra gần sau cùng, qua lá cờ bị bỏ nằm dưới đất ngay trên lối đi, tôi xúc động nhận rỏ một điều, trong lúc tuôn ra cổng, dù vội vã mọi người đêu thận trọng bước tránh một bên, không một ai dẫm đạp lên cờ.

Mọi người nằm dài trên mặt lộ. Tôi bị ép vào một chỗ gần bờ đường. Bình tỉnh quan sát để dự đoán tình huống. Du kích cầm súng chia ra bốn góc, hò hét chỉ chỏ chỗ nằm, không phân biệt lính hay phụ nử trẻ con. Một số du kích lần lượt đi lục soát thân thể từng người, xem còn cất dấu vũ khí gì không. Khi khám xét tới tôi, sờ thấy ở túi quần đầu gối có gói tiền hai tháng lương hơn 40 ngàn, anh ta hỏi lớn dồn dập “cái gì đây? cái gì đây?” Tôi trả lời “Tiền! Tiền! Tôi mới lảnh lương!” Anh ta chỉ bóp nắn thêm bên ngoài và yên tâm nói “Tiền hả? Anh cứ giữ đó để xài nghe!” Rồi lại tiếp tục lục soát qua người khác. Chi tiết này giúp tôi cũng cố thêm phán đoán tình thế. Anh lính nằm cạnh tôi trẻ măng, run lập cập, có thể nghe được tiếng đầu gối của anh va đập trên mặt đường. Lần đầu tiên tôi thấy nổi sợ của con người trước cái chết tưởng rằng sắp tới. Tôi khe khẽ trấn an “Tụi nó đứng bốn góc là chưa bắn được đâu!” Anh lính ngước nhìn tôi rồi hổn hển bất ngờ “chắc nó bắn quá Thiếu úy ơi!” Tôi xấu hổ quá, vì anh lính còn nhận nhớ ra tôi trong tình trạng cấp hiệu đã chạy đi theo chiếc áo ban nảy rồi, chỉ còn áo lót trên người.

Rồi mọi điều diễn ra yên ả. Toàn bộ đàn bà trẻ con được giữ lại. Số anh em quân đội và cảnh sát dã chiến, gộp lại lẫn lộn nhưng vì đông phải chia làm hai nhóm đi trước sau. Chúng tôi xếp hàng hai, đi dọc bờ lộ một đoạn chưa tới chiếc GMC thì bước xuống thửa ruộng khô. Tôi cố quan sát, chỉ thấy xe với lổ chỗ vết đạn, không thấy xác người đâu. Đoàn người lầm lủi đi, tay để xuôi, hai bên là du kích. Chợt một anh du kích nhận diện ra anh Hòa và chạy tới hô lớn “Anh Ba ơi anh Ba! Thằng Hòa Phân Chi Khu nè!” Ngưòi được gọi anh Ba nạt lại “Ngụy quân không có phân biệt, cho đi chung với nhau hết”. Qua dãy nhà dân đầu tiên nằm trên một thửa đất dài, tôi thấy phụ nữ người già trẻ nít đứng lóng ngóng nhìn chỉ trỏ khúc khích kêu gọi du kích. Rỏ ràng hai bên đã từng thân biết nhau. Trong đoàn chúng tôi có những tiếng xì xào, vì họ cũng từng tới lui quen biết những người trong xóm đó, làm sao tránh được nỗi ngỡ ngàng!

Đi khá sâu vào trong, quay lại không còn nhìn thấy quốc lộ. Cả đoàn dừng lại ở một xóm nhà chờ đợi. Nơi đó cũng đã có vài người bị bắt tự bao giờ. Lúc này trời cũng đã xế chiều. Một người du kích cao ráo từ xa đi nhanh tới trong bộ bà ba đen ủi phẳng mới tinh, khẩu K54 đeo bên hông, dáng vẻ chỉ huy. Nạt lớn “Thằng xã bắt được chưa?” Và tiến đến một người đứng cách tôi vài mét, nhìn trừng vào mặt và ra lệnh “Trói thằng cảnh sát này lại!” Ngưòi bị trói dáng vẻ khắc khổ, xương xương, đầy chịu đựng chứ không tỏ vẻ sợ hãi. Đứng cạnh anh là một chị phụ nữ, giờ đó vẫn quyết đi theo bên anh. Về sau tôi mới biết, anh là Cành Sát trưởng của xã, còn chị kia chỉ là bạn gái sống cặp theo anh mà thôi.

Đi theo cùng anh “xếp” du kích, với gương mặt lúc nào cũng hầm hè làm điệu làm dáng, là một người tròn mập bệ vệ hiền lành, với gương mặt như đang cười. Trong anh em có người nhận ra “Trời ơi cha này là Tư Mập, chủ quán cà phê ngoài ngã tư Cai Lậy đây mà! Chắc nó là cán bộ kinh tài rồi!” Trong cái không khí căng thẳng chờ đợi đó, một anh du kích nhỏ tuổi, đảo qua đảo lại trưóc mặt chúng tôi như phụ tuồng. Anh ta đặc biệt chăm chú nhìn tôi từ trên xuống dưới, bước đi rồi bất chợt quay lại chỉ vào tôi “anh này!”. Dù không phải là quát nạt mà tôi giựt thót người, phen này chắc là mình cũng được vào sổ đen. Đầu óc tôi “scan” thật nhanh: có tên nằm vùng nào đã chỉ điểm mình rồi!

Khi ấy anh du kích đưa tay chỉ xuống đôi giầy, nói với giọng rầy rà “Bây giờ mà anh còn mang giầy này nửa sao!” Thì ra.. Tôi cũng phải xin vài dòng về “câu chuyện một đôi giầy đã cởi”. Đó là loại “giầy bố Mỹ”, nửa da nửa bố rất đẹp, mang dịu chân, đi bộ nhiều không mỏi. Tôi đã mua lại từ một anh Đai Úy của Chi Khu Cai Lậy cách đấy 2 năm, khi làm việc chung với nhau trong bộ chỉ huy Trung đoàn 16. Như là định mệnh, ngày tàn cuộc chiến đôi giầy “trở về mái nhà xưa”, có chăng là khác chủ đổi phe! Tuy nhiên, khi cởi đôi giầy, tôi còn có nổi lo; vì tấm căn cước quân nhân còn cất dấu trong vớ. Vừa cởi ra là tôi rủ ống quần xuống ngay, cẩn thận đẩy đôi giầy ra xa trước mặt. Nhân tiện tôi gở lại bằng câu hỏi “người bị trói này làm sao vậy anh” Anh ta trả lời dứt khoát, thản nhiên “bọn tề ác ôn như thằng Xã, và cảnh sát sẽ phải tử hình thôi!” Ôi mạng người mong manh làm sao khi thù hận và cái ác lên ngôi!

Đoàn người tiếp tục đi sâu vào trong, gần đến nơi thì đã chạng vạng tối. Chúng tôi phải qua một con kinh nhỏ bằng xuồng thì tới trạm dừng chân cuối cùng. Chưa kịp vẹt mấy cành dừa nước bước chân lên bờ, tôi đã thấy và nghe tiếng năm sáu cô con gái rất nhỏ nhắn xinh đẹp cười khúc khích, chỉ chỏ nói năng xôn xao, nhưng toàn là giọng miền Bắc đặc sệt! “Dù chúng mày ơi!” “Dù ? Dù đâu?” Thực ra thì làm gì có Dù, chỉ có các anh em bên Cảnh Sát Dã Chiến mặt đồ bông thôi. Rồi đưa tay sờ lấy áo, một cô reo lên “vải tốt quá chúng mày ạ!” Lúc ấy một anh bộ đội già xuất hiện hét lớn “Các cô có biết là ai đây không? Đây là ngụy! Yêu cầu tất cả cảnh giác!” Các cô cười rúc rích, lui xa lại một khoảng, tiếp tục bàn tán.

Bây giờ trời đã tối hẳn. Khu dừng chân này là một xóm nhỏ, có duy nhất một quán tạp hóa với đèn măng-xông sáng rực. Tôi vào hỏi và mua thuốc đau bụng để phòng ngừa, vì bụng dạ tôi yếu lắm; chỉ còn một hộp duy nhất chưa đủ 10 ống “Lục Thần Thủy”. Tôi hỏi cả trụ sinh nhưng không có. Sau cùng, mua vài bao mì gói và kẹo bánh. Nhìn ra, mọi người cũng đang lục tục mua sắm này nọ. Biết anh Hòa, người phụ tá, và anh truyền tin không còn bao nhiêu tiền, tôi lấy xấp 40 ngàn chẵn chia đều cho cả tôi, mỗi người 10 ngàn phòng thân. Dò hỏi chị chủ tiệm, tôi biết mình đã gặp Văn Công Miền Bắc, cùng lực lượng bảo vệ.

Nghe có tiếng đài BBC phát ra, tôi và nhóm anh Hòa lân la đi đến. Qua khỏi một khúc quanh tôi thấy một sân phơi lúa được dùng làm chỗ đóng quân của Bộ Đội. Có khoảng chừng hai chục chỗ nằm trên nền đất ngay ngắn. 4 đầu nằm là những ống tre chôn thấp dưới mặt đất, đang được dùng để cắm cọc treo những chiếc mùng nilon ngắn thấp chừng 60cm. Ban ngày mà lấp đất lai, thì hành quân ngang qua cũng không có thể ngờ! Gần đó là mười mấy người bộ đội, nhỏ thó trẻ măng như đám con trai mới lớn, đang ngồi xen lẫn những khẩu AK, xếp chụm đầu từng 3 cây một, trong tư thế nghĩ. Họ quá tự tin vào tình hình và sự đắc thắng của mình đến độ không hề cẩn thận đề phòng.

Thấy chúng tôi chăm chú lắng nghe, anh bộ đội đang cầm máy có vẻ dễ dãi đắc ý “Vào đây! Vào đây!”. Chưa đợi chúng tôi ngồi xuống, anh đi tiếp một bài “Hòa bình rồi! Đất nước đã hoàn toàn được giải phóng. Bắc Nam một nhà, chúng mình là máu thịt Việt Nam cả! Các anh không phải lo lắng, không có việc trả thù. Đường lối Cách Mạng là khoan hồng nhân đạo, trước sau như một. Di chúc của Bác đã dạy rồi, thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!”. Chúng tôi bở ngỡ bất ngờ với cách nói bài bản thao thao như vậy, không lẻ đây là chính trị viên cộng sản. Anh trẻ quá, sợ chưa tới tuổi 18. Thấy chúng tôi phân vân, anh hăng hái nói tiếp “Rồi mai này đất nưóc giàu có, kinh tế phát triển, miền Nam không còn bất công xã hội nữa, tiêu chuẩn nhà nhà đều sẽ có một chiếc xe đạp!”

Tôi còn đang nhìn anh Hòa ngụ ý không biết mình có nghe lầm không, anh bộ đội già ở đâu lại chạy tới quát nạt “Các đồng chí chủ quan khinh địch thế này à! Súng vào tay! Phân tán ngay!” Chúng tôi lặng lẽ rời chổ. Ra ngoài xa tôi hỏi lại anh Hòa, xem có đúng mình nghe như thế không. Anh chưa kịp nói thì người trung sĩ đã buông tiếng chửi thề. Lời cuối cùng của người bộ đội trẻ ám ảnh tôi suốt đêm đó, và nhiều ngày tháng sau này. Tội nghiệp anh, miền Nam những nơi anh và đồng đội đi qua, chỉ là ruộng vườn với đầy kinh rạch, nên không thấy nhà nào có xe đạp cả! Và đó là cái tiêu chuẩn cao nhất mà anh có thể tưởng tượng ra được cho mỗi mái nhà sau sự nghiệp “giải phóng Miền Nam”!

Không lâu sau, lại được lệnh di chuyển; địa điểm cuối cùng chúng tôi đến là một căn nhà lá nhỏ, cửa để mở, ngọn đèn hột vịt bên trong hắt hiu một vũng sáng yếu ớt lù mù. Trước nhà là sân đất rộng. Giữa sân có ổ rơm cao bằng đầu người. Tất cả chúng tôi tập trung nằm nghĩ quanh đó. Nhóm chúng tôi ngồi dựa vào ổ rơm, cái âm ẩm, âm ấm của rơm thấm vào lưng. Cả một ngày căng thẳng và mệt mỏi. Bây giờ chúng tôi mới nhớ ra cái đói. Lặng lẽ chia nhau những bánh kẹo và mì gói vừa mua ra nhai sống. Phần anh Hòa, chạy đi thăm hỏi và chia tiền bạc bánh kẹo cho một số ngưòi. Nhớ ra từ chiều đến giờ không thấy măt mủi mấy ông bạn cùng chuyến xe định mệnh với mình đâu cả. Có lẽ họ đã tấp hết qua bên kia khi đoàn người bị chia hai. Một người lính địa phương nằm gần nhận ra tôi vội nói “Thiếu úy, lấy áo em mặc nè Thiếu úy!” Tôi nghẹn ngào muốn bật khóc. Giữ tay anh lại, không cho cởi áo, tôi lí nhí lời cám ơn.

Về đêm, trăng hạ tuần càng lúc càng lên cao. Mọi người vẫn còn rục rịch, chắc chắn là không một ai ngũ được. Trong đêm tiếng đạn vẫn còn nổ đâu đó lẹt đẹt. Tôi bồi hồi nhìn những pháo sáng xa xa bắn lên từ phía căn cứ Long Định cách đó 8km. Bấy giờ trí nhớ mới bắt đầu đi xa, nhớ đến cha mẹ và các em đang ở Saigon, rồi vợ ở tận Rạch Giá với con gái đầu lòng chưa đầy 4 tháng tuổi. Bất chợt môt góc trời phía Long Định bùng sáng lên, rồi âm vang đạn lớn nhỏ khá lâu sau đó vọng đến. Trận đánh cuối cùng này kéo dài hơn nửa giờ thì tiếng súng bắt đầu thưa thớt rồi tắt hẳn. Tôi cảm thấy tim mình cũng như chậm lại và tắt dần theo. Trời bổng lấm tấm mưa, pha loãng đi dòng lệ vừa ngập ngừng nơi khóe mắt tôi.

Ba ngày sau, chúng tôi mới được cấp giấy đi đường để về. Trong lúc chờ nhận giấy, tôi hỏi các anh em binh lính đi về đâu, rồi tùy theo xa gần tôi chia tiền còn lại cho mọi người. Chỉ giữ vừa đủ đi đường. Phải giơ tay nhiều lần mới đón được một chiếc xe đò dài, một phần vì hành khách đông nghẹt, một phần vì bạc bẻo tình đời, người ta sợ tôi xin quá giang! Lên được xe, anh lơ tử tế móc cái ghế nhỏ dưới gầm ra cho tôi ngồi ngay phía trước, nơi có thể quan sát toàn cảnh. Chạy một đỗi, vẫn không thấy anh nhắc chuyện tiền xe, tôi phải lên tiếng. Anh nhìn tôi trong áo lót, quần nhà binh, và chân không giầy dép, giọng ái ngại “anh cho bao nhiêu cũng được”. Tôi móc túi đưa anh số tiền đã dự trù sẵn. Anh trù trừ rồi cầm, không nói gì thêm. Sau này, về đến Saigon, xuống xe anh nằng nặc trả lại tôi “Gia đình em cũng đi lính mà anh!” Chúng tôi lặng nhìn nhau, chung một nỗi nghẹn ngào.

Trên xe hành khách pha trộn những gương mặt khác nhau. Đa số im lìm lặng lẽ, một số không nhỏ cười nói huyên thuyên. Cứ qua đó mà có thể đoán biết là dân phe nào. Xe chạy qua một đoàn quân miền bắc, đang đóng trò di hành trên đường, người nào cũng chất thật nặng vũ khí và quân trang. Toàn là thanh niên thấp lùn, tuổi trên dưới 17, Trên xe dưới đường dơ tay vẩy nhau. Niềm vui phe “được cuộc” lớn bao nhiêu, thì trong tôi, niềm đau người “bỏ cuộc” cũng không kém. Xe chạy một đoạn thì chầm chậm lại, vì trên đường lổn ngổn quần áo giầy nón mang phù hiệu của Sư Đoàn 7. Rồi cái tôi chờ đợi đã đến.

Vừa đến cầu Long Định, hành khách trên xe nhốn nháo ngó nhìn. Dấu đạn lớn nhỏ lổ trổ trên khắp các tường vách mái tôn và công sự chiến đấu, ghi dấu tích của một trận chiến đấu quyết tử. Đêm đầu tiên đã nghe, nhưng giờ được nhìn, tôi ngậm ngùi không biết bao nhiêu người lính Địa Phương Quân đã nằm xuống trong trận đánh cuối cùng này. Những hành khách im lặng ban nảy đã có người mắt đỏ hoe, người nhẫn nhục lấy khăn che nước mắt. Lúc đó tôi mới thấy mình còn có một nỗi đau lớn hơn cái đau thân phận cá nhân, đó là nỗi đau trong niềm ân hận với đồng bào, đã ủy thác niềm tin nơi những người cầm súng như mình. Đồng bào ơi! Tổ quốc ơi! Xin tha thứ cho tôi đã không tròn trách nhiệm!

Xe chạy còn 200m nữa thì đến ngã ba Trung Lương, bên tay phải là doanh trại đồn trú của Lực Lương Cảnh Sát Dã Chiến, và một đồn Địa Phương Quân nằm kế tiếp. Khung cảnh tan hoang cho thấy đã diễn ra ở đây một trận đánh kiểu đường phố. Không có những bờ đất đắp cao làm công sự phòng thủ. Mặt trưóc doanh trại là bức tường gạch cao ngang ngực, trang trí với khung gạch thưa rộng, đủ để gác súng bắn ra. Cách khoảng là những ụ chiến đấu đắp bằng bao cát. Bên trong là những dãy nhà gạch. Giờ đây tất cả đều tan tác đổ nát. Bảng hiệu đơn vị xụm xuống một chân, Hàng chữ “Cảnh Sát Dã Chiến” còn ẩn hiện dưới những vết đạn li chi. Dãy nhà gạch bên trong không còn treo sót lại được một cánh cửa lớn hay cửa sổ nào, tường vách trong ngoài xụp đổ từng mảng. Đồn lính Địa Phương Quân, cũng cùng số phận tan hoang, kiêu hùng nghiệt ngã. Hai đơn vị khác lề khác gốc, đã sát cánh nhau ở một đầu vào Quốc lộ, cùng đánh một trận cuối cùng trước khi giã từ vũ khí; và không biết có bao nhiêu sinh mệnh đã giã từ luôn cả cuộc sống mà tôi đã cam chịu tiếp tục.

Đã qua 40 mươi năm! Hôm nay, ngồi viết lại nhửng sự kiện ngày ấy, lòng tưởng nhớ thương kính tri ân các đồng đội, những người đã nằm xuống, để lại hào khí cho chúng tôi tiếp tục một cuộc đấu tranh khác. Dòng lệ hôm nay có cạn kiệt hơn, nhưng chắc chắn vẫn ấm mặn như buổi sáng hôm nào.

Kỳ Ngọc Thanh Vân (Liên lạc: kyngocthanhvan@gmail.com)