Monday, July 2, 2018

BIỆT ĐỘNG QUÂN & CHIẾN DỊCH “GIAN LAO 1” XÂM NHẬP CHIẾN KHU D. NGUYỄN KHẮP NƠI.

Viết cho Ngày Quân Lực 19 Tháng 6 và Ngày Thành Lập Binh Chủng Biệt Động Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 1 Tháng 7.
Từ năm 1954, sau khi Hiệp định đình chiến đã được ký tại Geneve, dân chúng cả hai miền Nam Bắc có 100 ngày để chọn lựa nơi mình sinh sống. Đồng bào miền Bắc được quyền di cư vào miền Nam, sống dưới chế độ Quốc Gia Tự Do Công Bằng Bác Ái do Thủ Tướng Ngô Đình Diệm lãnh đạo. Bọn Việt cộng trong Nam cũng được quyền “tập kết” ra ngoài Bắc để tiếp tục xây dựng chủ nghĩa cộng sản của chúng.
Trên giấy tờ là như vậy, nhưng trên thực tế, bọn Việt cộng đã để lại một số cán bộ tại miền Nam, gọi là “nằm vùng” để tìm cách phá hoại chính phủ Quốc Gia.
Sau khi đắc cử Tổng Thống vào năm 1955, ông Ngô Đình Diệm đã từng bước tạo dựng lên một quốc gia thành bình thịnh trị, một chế độ Cộng Hòa nhân bản cho Miền Nam Việt Nam.
Khi thấy Miền Nam bắt đầu vững mạnh, bọn Việt cộng nằm vùng đã được chỉ thị từ Hà Nội bắt đầu chính sách khủng bố, đánh du kích, để phá hoại sự an ninh của Việt Nam Cộng Hòa.
Bọn Việt cộng dùng chiến thuật du kích, tập trung quân vào một đồn bót ở nơi xa xôi hẻo lánh thiếu quân phòng bị để tấn công chớp nhoáng rồi rút lui.
Để đối phó với bọn du kích này, ngày 16 tháng 2 năm 1960, Tổng thống Ngô Đình Diệm chỉ thị thành lập các Đại đội Biệt động quân, tuyển chọn những chiến binh thiện chiến của các Sư đoàn Bộ binh và Quân khu, của Binh chủng Nhảy dù, Thủy quân Lục chiến và ngay cả từ Liên đoàn Quan sát số I (Biệt kích nhẩy toán ra Bắc), để huấn luyện thêm cho họ kỹ thuật hành quân độc lập và tác chiến chống du kích. Các Đại đội Biệt động quân này được trang bị vũ khí gọn nhẹ với quân phục là quần áo bà ba đen, được gởi đi tới khắp các quân khu, tỉnh lỵ, sống chung với dân chúng để tìm ra những toán du kích và địa điểm tập họp của chúng, khi đêm về, họ hành quân đến tận nơi tiêu diệt bọn chúng rồi rút về thật nhanh.
Các Biệt Động Đội đã đạt được những thành công vượt bực, tiêu diệt rất nhiều đám du kích, trở thành tử thần của những đám Việt công nằm vùng, nên chỉ qua một thời gian ngắn, đã có 65 Biệt Động Đội được thành lập.
Nhiều toán huấn luyện lưu động của Lực Lượng Đặc Biệt (Special Force) của Hoa Kỳ đã được gửi đi từ căn cứ Fort Bragg, N.C. đến Việt Nam để trợ giúp về huấn luyện và tổ chức các đơn vị BĐQ cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. 
Ngày 1 tháng 7 năm 1960, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã ký sắc lệnh chính thức thành lập Binh Chủng Biệt Động Quân, chỉ định Thiếu tá Lữ Đình Sơn làm Chỉ huy trưởng. Quân phục chính thức của Biệt động quân cũng được chuyển sang quân phục rằn ri mầu áo hoa rừng và với mũ nồi mầu nâu.
Mặc dù hình thành Bộ chỉ huy riêng, nhưng trên thực tế, các Đại đội Biệt động quân vẫb tác chiến theo sự chỉ huy của các Tư lệnh Sư đoàn hoặc Tiểu khu trưởng tại địa bàn hoạt động. Bộ Chỉ huy Trung ương chỉ có nhiệm vụ quản trị, điều hành, bổ sung quân số, huấn luyện, trang bị, thanh tra, theo dõi, thống kê, báo cáo các hoạt động của các đơn vị Biệt động quân trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa mà thôi.

http://www.gstatic.com/hostedimg/e9c365b11c1d20c2_landing
Trước quy mô chiến tranh mở rộng, ngày 1 tháng 8 năm 1961, các Trung tâm Huấn luyện Đà Nẵng, Nha Trang, Sông Mao được hợp nhất thành Trung tâm Huấn luyện Biệt động quân Dục Mỹ. Các trung tâm Trung Hòa và Thất Sơn cũng được sát nhập thành Trung tâm Huấn luyện Biệt động quân Trung Lập để có thể huấn luyện quy mô cấp Tiểu đoàn.
Đầu năm 1962, các Đại đội Biệt động quân thuộc quyền các Tiểu khu được thu hồi để thành lập 3 Tiểu đoàn đặt dưới quyền các Quân khu là Tiểu đoàn 10 (Quân khu 1), Tiểu đoàn 20 (Quân khu 2) và Tiểu đoàn 30 (Biệt khu Thủ đô), trực thuộc Quân Đoàn III.
(Sau này, các tiểu đoàn nói trên đã được đổi tên thành Tiểu đoàn 11, 21 và 31 để tương ứng với thứ tự từng vùng chiến thuật.)
Những hoạt động của các Tiểu đoàn Biệt Động Quân nói trên và các Đại Đội Biệt Động Quân Biệt lập đã bị quên lãng nhiều do thời gian quá lâu và sự mai một của các cấp chỉ huy.
 May mắn thay, trong một cuộc họp thường kỳ của Hội Biệt Động Quân Tiểu Bang Victoria, vào tháng 2/2018, chúng tôi đã tìm ra một vị chỉ huy đã từng hành quân với Biệt Động Quân vào những thời điểm đầu tiên của Binh Chủng Biệt Động Quân.
 Theo thông lệ, cứ bốn tháng một lần, hội BĐQ chúng tôi họp nhau tại nhà của một hội viên hoặc tại một quán ăn thuận tiện, để vừa hàn huyên tâm sự chuyện xưa của những ngày tháng cũ và nhận Tập San Biệt Động Quân do Tổng Hội Biệt Động Quân Hải Ngoại ấn hành và gởi tặng.
Kỳ họp mặt tháng 2/2018 vừa qua, chúng tôi gặp nhau tại quán ăn Bonjour Vietnam, số 258B đường Victoria Street, Richmond VIC 3121.
Chủ quán là chị Tuyết - với kinh nghiệm về nấu những món ngon Miền Trung từ hồi còn bé theo mẹ nấu ăn cho tới khi qua Pháp, mở những tiệm ăn ở Quận 13 và 20 ở Paris – chị đã mở quán ăn Bonjour Vietnam khoảng một năm nay để giới thiệu với khách hàng Melbourne những món ngon của Xứ Huế.
Khi chợt nghe chúng tôi nói chuyện về Binh Chủng Biệt Động Quân, chị đã lắng nghe và khi tan buổi họp, chị đã xin lỗi chúng tôi để . . . cũng nói chuyện về Biệt Động Quân:
-“Xin lỗi các anh cho tôi hỏi, nẫy giờ tôi có được nghe (họp ở nơi công cộng mà, ai nghe được thì cứ nghe) các anh nói chuyện về Biệt Động Quân . . .”
-“Vâng, vì chúng tôi là Lính Biệt Động ngày xưa, nên chỉ có một đề tài đó mà nói chuyện với nhau . . . Chị . . . cũng là Lính Biệt Động hay sao?”
-“Dạ Không, hồi đó tôi còn nhỏ lắm, chưa biết gì về lính cả, nhưng còn nhớ rất rõ là ba tôi có đi hành quân chung với những anh lính đội Mũ Nâu.”
-“Ô! Thế thì hay quá, xin chị có thể cho biết bác tên gì và hiện bác có ở Melbourne này không?”
-“Ba tôi tên Diễn, Đỗ Văn Diễn. Tôi mới bảo lãnh ba tôi qua Melbourne cách đây hai năm, hiện ông đang sống chung với chúng tôi. Ba tôi thích nói chuyện về Lính lắm, nhưng chưa có dịp gặp người lính nào cả. Hôm nay nghe các anh nói chuyện về Lính, nhất là Lính Biệt Động Quân, tối nay tôi về nhà kể lại cho ba tôi nghe, chắc ba tôi sẽ thích lắm đấy.”   
-“Nếu vậy xin chị cho tôi số điện thoại của bác để chúng tôi xin hầu chuyện và mời bác đi họp chung với chúng tôi cho vui. Chị có nhớ bác đi lính từ năm nào hay không? Chắc bác cũng . . . lớn tuổi rồi ha chị?”

Biệt Động Quân 6
-“Dạ, ba tôi đi lính khóa 5 Võ Bị Đà Lạt, năm nay cũng khoảng 85 tuổi rồi.”
-“Khóa 5 Đà Lạt! A! Vậy bác là . . . Đại Huynh Trưởng của chúng tôi rồi.
Tôi có số điện thoại của bác đây rồi, xin chị tối nay về báo cho bác biết là chúng tôi xin gọi điện thoại nói chuyện với bác. Nếu bác đồng ý, xin chị cho chúng tôi biết để sửa soạn.”
Hai ngày sau, tôi đã được mời đến tư gia của Đại Huynh Trưởng Đỗ Văn Diễn và đã được Huynh Trưởng tóm tắt về đời lính của mình và kể lại một trong những cuộc hành quân đại quy mô nhất của Binh Chủng Biệt Động Quân mà huynh trưởng đã , như sau:
Tôi là Đại Tá Đỗ Văn Diễn - Cựu Tỉnh Trưởng Phước Long – Cựu Tư Lệnh Biệt Khu Phước Bình Thành năm 1962.
Tôi nhập ngũ năm 1951, được gởi đi thụ huấn Khóa 5 Hoàng Diệu tại Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, từ năm 1951 đến 1952. Lúc đó Chỉ Huy Trưởng là Thiếu Tá Le Fort và một trong những Huấn Luyện Viên của khóa tôi là Trung úy Nguyễn Văn Thiệu.
Ra trường, tôi được chỉ định phục vụ tại Trung Đoàn Thần Phù, đóng ở Huế. Đến năm 1956 thì về đóng quân ở Pleiku. 
Tôi được thăng cấp Đại Úy khi phục vụ tại Lữ Đoàn Liên Binh Phòng Vệ Tổng Thống Phủ. Năm 1960 được thăng cấp Thiếu tá, lãnh trách nhiệm là Tỉnh Trưởng Tỉnh Phước Long. Vì những thành công đã đạt được trong việc tái tạo an ninh và an cư lạc nghiệp cho dân chúng trong tỉnh nà, tôi đã được vinh thăng Trung tá.
Ngày 15 tháng 11, 1962 tổng thống Ngô đình Diệm ban hành sắc luật để thành lập biệt khu Phước Bình Thành. 
Biệt khu Phước Bình Thành cách Saigon vào khoảng 70km về hướng đông bắc và rộng khoảng 80km vuông gồm ba tỉnh Phước Long, Bình Long và Phước Thành. Mặc dù lúc đó tôi mới 26 tuổi, nhưng vì đã có kinh nghiệm điều hành tỉnh Phước Long và cũng đã tốt nghiệp khóa huấn luyện Biệt Động Quân tại căn cứ Fort Benning, Tiểu bang Georgia, nên tôi đã được Tổng Thống Ngô Đình Diệm tin cẩn và giao trọng trách làm Tư Lệnh Biệt Khu Phước Bình Thành, với quân số bao gồm Tiểu Đoàn 30 Biệt Động Quân Đặc Biệt (tiểu đoàn đầu tiên thí nghiệm hoàn toàn trang bị AR-15) và 18 Đại đội Biệt Động Quân Biệt Lập, tăng cường thêm trung đoàn 32 Bộ binh. Về pháo binh yểm trợ có một pháo đội 155mm, bẩy khẩu 105mm và hai trung đội súng cối 81mm.
Với một quân số lón lao và được trang bị tối tân như vậy, mục đích của biệt khu là gìn giữ an ninh và an cư lạc nghiệp cho dân chúng của ba tỉnh tân lập và tập trung mọi nỗ lực đ tiêu diệt những căn cứ điạ của Việt Cộng trong Chiến khu D, để bọn Việt cộng không còn chỗ nương tựa, không còn đe dọa thành phố Sài Gòn được nữa. 
Trong quá khứ, chiến khu D được bọn Việt cộng ra công xây dựng từ năm 1946 khi còn giao tranh vói thực dân Pháp. Sau hiệp định Geneve, bọn Việt cộng vẫn còn ẩn náu trong chiến khu này và càng ngày càng mở rộng Chiến khu Đ đã được Việt Cộng và trước đó là Việt Minh xử dụng nhiều năm như một an toàn khu cho việc huấn luyện, tiếp tế, nơi dưỡng quân cho các đơn vị tác chiến. 
Để sửa soạn cho việc tấn công vào chiến khu D, tôi đã nhiều  lần cùng Bộ Tư Lệnh và các cố vấn Mỹ đi máy bay để thám sát, nhưng rất khó mà nhìn thấy gì vì rừng lá trùng diệp đã che khuất hầu như tất cả những gì ở phía dưới.
Image result for ARVN RANGER
Tôi đã cho nhiều Đại đội Biệt Động Quân hành quân vào chiến khu nhiều lần, nhưng vì hàng rào phòng thủ của chúng rất vững, nên khi qua được những trạm gác này vào tới các hầm bí mật thì chúng đã rút đi hết rồi, nhưng anh em Biệt Động cũng bắt được một vài tên lính gác và quan trọng nhất là đã tiếp đón vài sĩ quan Việt cộng ra đầu thú theo chính sách chiêu hồi.
Vào khoảng đầu tháng Hai năm 1963, Biệt Khu Phước Bình Thành đã dùng toàn thể lực lượng Biệt Động Quân thực hiện chuyến xâm nhập lâu dài nhất vào chiến khu D dưới danh hiệu cuộc hành quân ‘Gian Lao 1’. 
Kế hoạch hành quân dựa theo tin tình báo do hàng binh địch cung cấp về chỗ đóng quân của bộ chỉ huy chiến khu Đ của địch. Các đại đội Biệt động quân trang bị nhẹ,  xâm nhập sâu vào trong chiến khu D bằng cách băng rừng xuyên qua vòng đai an ninh bên ngoài tới bên trong. 
Muốn giữ bí mật cho cuộc hành quân, mỗi lần lính Biệt Động đụng một trạm gác nào là phải bao vây tiêu diệt hết những tên lính trong đó, nhưng vì hệ thống phòng thủ của bọn Việt cộng rất dầy đặc, nên đã có một số lính Cộng sản chạy thoát khỏi đuọc vòng vây báo tin cho những toán gác ở phía trong, nên anh em phải càng thận trọng hơn nữa.
Vào buổi chiều của cuộc hành quân, Thiếu tá Tư Lệnh Phó cuộc hành quân  đã cho toán quân của mình dừng chân để nấu cơm chiều. Vì địa điểm đóng quân bị lộ, nên vào sáng hôm sau, khi anh em Biệt động quân vừa di chuyển ra khỏi khu vực đóng quân chừng 500 thước, trung đội đi đầu rơi vào ổ phục kích của Việt cộng, trung đội đi sau và bên hông đã kịp thời phản công, nên bọn Việt cộng đã rút lui ngay sau đóTổn thất về phía địch không rõ vì chúng đã kéo xác và đưa những thương binh đi hết, nhưng về phía BĐQ, có một số thương vong, trong đó có những Sĩ Quan vừa mới ra trường.
Tôi đang đi cùng Bộ Chỉ Huy, nghe được tin báo, đã tức khắc lên đích thân chỉ huy cuộc hành quân, ra lệnh cho các Đại đội sau khi dừng quân ăn cơm chiều là phải di chuyển ngay tới địa điểm đóng quân khác ngay để dừng chân qua đêm. 
 Ngày hôm sau Biệt động quân xuất phát tại một điểm cách đó chừng năm cây số, rừng thật rậm rất khó di chuyển, mất bốn ngày so với lộ trình cũ chỉ mất hơn một ngày .
http://www.gstatic.com/hostedimg/ca645bd6f02b887f_landing
Lần chạm địch kế tiếp là vào cuối ngày thứ tư của cuộc hành quân. Lúc đó vào khoảng 5 giờ chiều, khi toán khinh binh báo là đã tìm ra một binh trạm nhỏ của Việt cộng và bọn chúng vẫn chưa biết là đã bị bao vây. Tôi cho lệnh tiếp tục bao vây và quan sát chứ chưa tấn công, và triệu tập ngay cuộc họp với Bộ chỉ huy và các cố vấn Mỹ. Điều đầu tiên phải xác định là  binh trạm đó cách xa mục tiêu chính của cuộc hành quân chính (một căn cứ rất lớn của bọn Việt cộng) bao xa? Nếu quá gần, tiếng súng sẽ làm cho bọn VC ở đó biết và sẽ lẩn trốn ngay lập tức. Nếu hai nơi cách xa nhau, sẽ tấn công binh trạm đó ngay lập tức và phải triệt hạ hoàn toàn binh trạm đó để tin tức không bị lộ.
Vì địa điểm của hai nơi gần nhau, và vị trí của Biệt Động Quân không bị lộ, nên tôi đã quyết định cho dừng quân để tấn công hai vị trí cùng một lúc vào sáng sớm mai.
Vào lúc 4:00 gìơ sáng, các binh sĩ Biệt động quân di chuyển đến vị trí tấn công. Đến 6:00 gìơ cuộc tấn công bắt đầu và đến 6:15 trận đánh chấm dứt. 
Để cho cộng quân không có thì giờ chuẩn bị, lệnh tiến quân về hướng mục tiêu chính được ban hành ngay tức khắc.
Vào khoảng 10:00 gìơ sáng, sau khi di chuyển được ba, bốn cây số, toán khinh binh BĐQ bắt đầ ghi nhận tiếng súng địch, các đơn vị phía sau vội vàng lên tiếp ứng.  Cuộc chạm súng kéo dài vào khoảng hơn nửa tiếng.
Thừa thắng xông lên, Biệt động quân tràn vào một căn cứ thật là rộng lớn. Tuy nhiên, bọn Việt Cộng đã kịp thời rút lui, chỉ bắt được một thương binh và một hàng binh.
Qua cuộc thẩm vấn, anh em báo cáo cho tôi rằng, tên Việt cộng bị thương sau đó chết là trung sĩ trong trung đội bảo vệ, còn tên hàng binh là một chính trị viên trong bộ chỉ huy chiến khu. Tên này muốn ra hàng đã lâu nhưng không có dịp, đã cho biết thêm là, những tên Việt cộng thoát chết trong lần tấn công đầu tiên đã kịp thời báo động khoảng hai tiếng đồng hồ trước khi bị tấn công, nên chúng đã di chuyển những tài liệu quan trọng cùng vũ khí đến nơi khác, phần anh, anh cố tình ở lại chiến đấu chỉ với mục đích . . . bị bắt và đầu hàngKhi gặp tôi, hàng binh này đã trình ra danh sách các đơn vị cộng sản cơ hữu trực thuộc chiến khu D và điạ điểm của các binh trạm khác. 
http://www.gstatic.com/hostedimg/dea14121101a4d20_landing
Vào lúc 14:00 gìơ chiều BĐQ bắt đầu tìm kiếm các binh trạm khác. Một tiếng đồng hồ sau phát giác một khu vực với nhiều công sự phòng thủ, pháo đài. 
Tôi xem xét những thứ bọn Cộng sản bỏ lại, nhận thấy rằng bọn chúng có đủ lực lượng và thời gian để phản công, nhưng cố tình lẩn tránh, như vậy chắc chắn là chúng đang củng cố hàng ngũ, chờ dịp bất ngờ phản công.
Để tránh bị phản công, tôi cho lệnh anh em Biệt Động bung ra lục soát và đóng quân rải rác để kiểm soát, tìm hiểu cách bố trí của bọn chúng.
Bọn Việt cộng đã lập ra những trung tâm huấn luyện và dưỡng quân nằm sâu bên trong chiến khu và để các đơn vị bảo vệ hoạt động bên ngoài xung quanh các căn cứ này. Xuyên qua chiến khu D là một hệ thống trạm xá cách nhau khoảng từ 15 đến 20 cây số, dùng làm trạm dừng chân cho các chuyến xâm nhập từ đường mòn Hồ chí Minh vào. Do cách thức canh phòng cẩn mật như vậy, chỉ cần một tên trốn thoát cuộc bao vây cũng đủ báo cáo cho hệ thống phòng thủ bên trong để chúng tùy nghi bao vây tiêu diệt Biệt Động Quân hoặc trốn chạy nếu không đủ sức tấn công.
Bộ chỉ huy Biệt Khu Phước Bình Thành đã quyết định chiếm đóng và cho anh em Biệt Động Quân lục soát thật là cẩn thận vùng hành quân trong chiến khu D này.
Chúng tôi đã tìm thấy một bệnh xá cho 200 thương bệnh binh, một trung tâm huấn luyện, kho tiếp liệu và một căn cứ cho cấp tiểu đoàn. 
Vì chiến khu D quá rộng lớn, quân số của Biệt Khu không đủ để luc soát và chiếm đóng chiến khu D, nên sau khi đã tìm đủ tin tức, tôi cho phá hủy tất cả những bệnh xá, kho lương thực và vũ khí bắt được rồi rút về Đông Xoài vào ngày 15 tháng Hai mà không bị tổn thất nào.
Cuộc hành quân chứng tỏ sự hữu hiệu của các Đại đội Biệt Động Quân Biệt lập và Tiểu đoàn 30 Biệt Động Quân, sự chịu đựng cam go và sức chiến đấu dai dẳng của anh em Biệt Động Quân.

Biệt Động Quân 7
Sau cuộc hành quân thành công này, đa số các chiến sĩ tham dự đều được thăng cấp và tưởng thưởng, tôi cũng được thăng cấp Đại tá.
Đó là kỷ niệm đầu tiên cũng là cuối cùng của tôi với anh em Biệt Động Quân.
Đã hơn nửa thế kỷ qua rồi, trí nhớ đã hao mòn, hôm nay, nhân dịp được gặp lại anh em Biệt Động Quân, tôi kể lại câu chuyện ngày xưa này. Nếu có gì thiếu xót, xin anh em bổ khuyết dùm.
Ghi chú:
Tháng 11 năm 1963, một số Tướng Lãnh của quân đội đã đem quân đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm, một số khác chống lại cuộc đảo chánh này. Tôi nằm trong nhóm thứ hai.
Cuộc đảo chánh thành công, Tổng thống Diệm bị thảm sát, tôi và các anh em khác cũng bị vạ lây và phải lưu vong qua Pháp. Phiên tòa Quân sự năm 1964 xử khiếm diện tôi 18 năm tù, tước đoạt binh quyền, tịch thu tài sản.
Năm 1968, qua sự can thiệp của một số anh em đồng khóa, tôi được miễn truy cứu và trở lại sống với gia đình ở khu Đa Kao.
Sau khi Sài Gòn thất thủ, tôi cũng bị gọi đi tù cải tạo ở Hà Sơn Bình, Yên Bái đến năm 1988 mới được thả về. Vì còn mẹ già, nên tôi đã ở lại Việt Nam trông nom gia đình, tới năm 2015, các con tôi đã bảo lãnh tôi qua Úc.
NGUYỄN KHẮP NƠI.
Viết theo lời kể của Cựu Đại Tá Đỗ Văn Diễn – Melbourne. 
Những trích đoạn khác phỏng theo tài liệu của Wikipedia và Vũ Đình Hiếu

Thursday, June 21, 2018

Lễ gắn cấp bậc Thiếu Tướng Lương Xuân Việt tại Nam Hàn ngày 21 tháng 6 năm 2018

Cờ 2 sao của Thiếu Tướng Lương Xuân Việt 6/21/2018 South Korea

Anh Hòa, chỉ mình anh có tấm Hình này. / 
Thiếu Tướng Lương Xuân Việt 
tối ngày 21 tháng 6 năm 2018 South Korea

Chị Lương Xuân Việt và ái nữ gắn lon cho Bố

 2 con trai gắn lon cho bố
VIDEO





 

Wednesday, June 20, 2018

Thiếu Tướng Lương Xuân Việt


Thiếu Tướng Lương Xuân Việt

Thưa Quý Vị, Quý Niên trưởng và Chiến hữu,
Tướng Lương Xuân Việt đã có quyết định thăng cấp Thiếu tướng từ tháng 6/2017, trước khi được bổ nhiệm phục vụ tại Đại Hàn, vào ngày 21/06/2018 tới đây sẽ được chính thức gắn hai sao.
Được biết, theo sự giải thích từ một thân nhân của Tướng Lương Xuân Việt: Thường lệ Bộ Quốc Phòng xem xét trong năm 2017-2018  có bao nhiêu Thiếu Tướng đến tuổi về hưu, và họ sẽ cho số Chuẩn Tướng được thăng Thiếu Tướng lần lượt được thay thế vào những chổ trống đó. Các vị Thiếu Tướng này có ngày về hưu khác nhau, nên các vị tân Thiếu Tướng phải chờ đợi theo thứ tự, cho đến khi tới phiên mình, như trong trường hợp này, Tướng Lương Xuân Việt đã chờ cả năm, mới được gắn hai sao.

https://baomai.blogspot.com/ 
Tướng Lương Xuân Việt, là vị tướng đầu tiên, và hiện nay Ông là quân nhân Mỹ gốc Việt Nam Cộng Hòa, cấp bậc cao nhất trong Lục Quân (nói riêng) và Quân Lực Hoa Kỳ (nói chung).
Tướng Lương Xuân Việt đương nhiệm chức vụ Tư Lệnh Phó đặc trách Tổng quát và Điều hành của Đệ Bát Quân Đoàn / Lộ quân (U.S Eighth Army), trấn đóng tại căn cứ Camp Humphreys, gần Anjeong-Riand Pyeongtaek, Đại hàn Dân Quốc. Được biết Camp Humphreys, là căn cứ lớn nhất của Quân lực Hoa Kỳ tại hải ngoại.  

https://baomai.blogspot.com/ 
Quý Vị, Quý Niên trưởng và Chiến hữu có thể theo dõi trực tiếp buổi lễ gắn cấp bậc Thiếu tướng của Tướng Lương Xuân Việt trên Facebook của U.S Eighth Army. 
Giờ California sẽ là 9:30 P.M, tối ngày 20 tháng 6, 2018. Giờ Miền Đông sẽ là 00:30 A.M (12 giờ 30) sáng ngày 21/06/2018. 

Trân trọng.

Không Quân Việt Nam Cộng Hòa


 Kỷ niệm Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 19-6
Một ngày của Không Quân
Kính tặng quý vị đoạn phim về cuộc sống Không Quân Việt Nam hay còn gọi là Không Lực Việt Nam Cộng hòa (tiếng Anh: Vietnam Air Force, VNAF) là Quân chủng Không quân trực thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa, nguyên là một lực lượng mạnh về trang bị và quân số, trước 1975 và đã được xếp hạng 4 trên Thế giới và đã tồn tại từ 1955 đến 1975.
_____________________________________________
Lực lượng không quân Việt Nam Cộng hòa được hình thành từ một số phi công người Việt được tuyển chọn bay cùng với các phi công Pháp với tư cách là sĩ quan của quân đội Pháp. Khi Quốc gia Việt Nam, được thành lập, các sĩ quan người Việt này được chuyển sang cơ cấu Quân đội Quốc gia Việt Nam, bản thân Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam Nguyễn Văn Hinh cũng xuất thân là một sĩ quan phi công, vì vậy, ông rất chú trọng việc xây dựng Lực lượng Không quân. Tháng 6 năm 1951, một cơ quan phụ trách về ngành Không quân trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam được thành lập với tên gọi là Ban Không quân, ban đầu chỉ làm nhiệm vụ phụ trách Phi đội Liên lạc. Trên thực tế, các phi công người Việt chỉ làm nhiệm vụ bay cùng với các phi công Pháp trong các phi vụ. Các chức vụ chỉ huy và Phi công chính đều là sĩ quan Pháp. Ngay cả chức vụ Trưởng Ban Không quân, kiêm Phụ tá Không quân cho Tổng tham mưu trưởng cũng là sĩ quan Pháp.
Tháng 4 năm 1952, thành lập Trung tâm Huấn luyện Không quân tại Nha Trang nhưng vẫn do các sĩ quan Pháp đảm nhiệm Chỉ huy trưởng và trực tiếp huấn luyện. Năm 1953, thành lập thêm 2 phi đội Quan sát và Trợ chiến tại Tân Sơn Nhứt và Nha Trang. Năm 1954, Ban Không quân được đổi thành Phòng Không quân, năm 1955, Không quân Pháp bàn giao lại cho Không quân Quốc gia Việt Nam khoảng 25 vận tải cơ C-47, 2 phi đoàn quan sát L-19 và 25 khu trục cơ cánh quạt F8F Bearcat lỗi thời, tháng 7 năm 1955, lần đầu tiên một người Việt được giữ chức vụ Phụ tá Không quân là Trung tá Nguyễn Khánh, giai đoạn đầu ngành Không quân chỉ được quy định với quân số 40 sĩ quan, 120 hạ sĩ quan và 500 binh sĩ.


=> Thời Đệ Nhứt Cộng Hòa
Sau cuộc trưng cầu dân ý tháng 10 năm 1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố thành lập Việt Nam Cộng hòa. Lực lượng Không quân Quốc gia Việt Nam cũng được cải danh thành Không quân Việt Nam Cộng hòa. Thiếu tá Trần Văn Hổ, đương kim Phụ tá Không quân, được thăng Trung tá, và trở thành Chỉ huy trưởng đầu tiên của Không quân Việt Nam Cộng hòa, năm 1957, theo chương trình hợp tác viện trợ, một phái đoàn Không quân Hoa Kỳ sang nghiên cứu tình hình để soạn thảo kế hoạch huấn luyện cho Không quân Việt Nam Cộng hòa.

Nhiều sĩ quan, hạ sĩ quan được tuyển chọn sang tu nghiệp tại các trường Không quân Hoa Kỳ. Các phi trường Tân Sơn Nhứt, Biên Hòa, Đà Nẵng được xây dựng mở rộng. Trung tâm Huấn luyện Không quân Nha Trang cũng được xây dựng quy mô hơn, nhằm đào tạo tại chỗ các khóa hoa tiêu và quan sát viên, và các khóa đào tạo chuyên viên để bổ sung cho các đơn vị, tháng 9 năm 1959, một phi đội đầu tiên gồm 6 phi cơ Skyraider (Thiên tướng) được Hoa Kỳ chuyển giao cho Không quân Việt Nam Cộng hòa. Sau đó trong vòng 1 năm có thêm 25 chiếc Skyraider khác được bàn giao tại Căn cứ Không quân Tân Sơn Nhứt. Năm 1960, Phi đoàn 1 khu trục cơ được thành lập và bắt đầu hoạt động từ Bến Hải đến Cà Mau để yểm trợ cho bộ binh Việt Nam Cộng hòa

Năm 1961, chương trình trợ giúp của Hoa Kỳ có tên Farm gate đã đưa các loại phi cơ cánh quạt huấn luyện T28, oanh tạc cơ hạng nhẹ B26 và vận tải cơ C47 cùng khoảng 124 sĩ quan và 228 quân nhân Hoa Kỳ sang giúp huấn luyện. Các hệ thống hướng dẫn và kiểm soát không lưu được thiết lập tại các phi trường Tân Sơn Nhứt, Đà Nẵng và Pleiku, liên đoàn 1 Không vận đầu tiên được thành lập với trung tá Nguyễn Cao Kỳ được chỉ định làm liên đoàn trưởng.

Hoa Kỳ cũng trao cho Không quân Việt Nam Cộng hòa thêm 16 vận tải cơ hạng trung C123 trong tháng 12 năm 1961, ngày 26 tháng 2 năm 1962, hai phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử trên đường công tác đã đột ngột quay trở lại dội bom mưu toan giết chết Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm.

Ngay lập tức tổng thống Ngô Đình Diệm ra lệnh đình chỉ vô hạn định các phi vụ chiến đấu, cũng vì lý do này mà đương kim Tư lệnh Không quân là Đại tá Nguyễn Xuân Vinh bị thất sủng, phải xin giải ngũ với lý do sang Hoa Kỳ học ngành Tiến sĩ Không gian, năm 1962, các đơn vị Không quân tác chiến và Yểm trợ tác chiến được tăng lên cấp Không đoàn tại mỗi vùng chiến thuật: Không đoàn 41 (căn cứ ở Đà Nẵng), Không đoàn 62 (Pleiku), Không đoàn 23 (Biên Hòa), Không đoàn 33 (Tân Sơn Nhất), Không đoàn 74 (Cần Thơ)

=> Thời Đệ Nhị Cộng Hòa
Sau cuộc "chỉnh lý" lên nắm quyền, tướng Nguyễn Khánh thực hiện một số cải tổ trong quân đội. Ngoài việc đặt ra thêm cấp bậc Chuẩn tướng, ông còn cho thay đổi tên gọi "Quân đội Việt Nam Cộng hòa" thành "Quân lực Việt Nam Cộng hòa".
Danh xưng Không lực Việt Nam Cộng hòa cũng được sử dụng chính thức từ lúc đó, năm 1965, Không lực Việt Nam Cộng hòa có thêm các Phi đoàn khu trục cơ A-37 Dragonfly và sau đó là các pPhi đoàn không vận cánh quạt loại lớn C-130 Hercules và trực thăng CH-47 Chinook, ngày 3 tháng 2 năm 1965, một phi đoàn gồm 24 chiếc A-1H Skyraider do Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ chỉ huy cất cánh từ Căn cứ Không quân Đà Nẵng và tham gia vào Chiến dịch Mũi tên lửa (Flaming Dart) do Hoa Kỳ vạch định, tấn công các địa điểm ở phía bắc vĩ tuyến 17, ngày 11 tháng 2 năm 1965, Đại tá Nguyễn Ngọc Loan, Tư lệnh phó Không lực Việt Nam Cộng hòa, làm Phi đoàn trưởng 28 chiếc Skyraider của Việt Nam Cộng hòa cùng với 28 chiếc F100 của Không quân Hoa Kỳ mở cuộc tấn công thứ hai vào lãnh thổ phía bắc vĩ tuyến 17. Trong đợt này phi công Phạm Phú Quốc bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc Việt Nam
Năm 1967, Không lực Việt Nam Cộng hòa có thêm 1 Phi đoàn khu trục trang bị phản lực cơ F-5. Số hiệu của các đơn vị cấp phi đoàn được cải tổ xếp thành 3 số. Theo đó, chữ số đầu trong 3 chữ số của đơn vị cấp phi đoàn được dùng để chỉ công dụng của phi đoàn đó: số 1 là Phi đoàn liên lạc, số 2 là Phi đoàn trực thăng, số 3 là đặc vụ, số 4 là vận tải, số 5 là khu trục, số 7 là quan sát, số 8 là hỏa long, và số 9 là huấn luyện, năm 1970, với đà phát triển nhanh của Không lực Việt Nam Cộng hòa, các Không đoàn chiến thuật phát triển thành 4 Sư đoàn không quân, tác chiến hỗ trợ cho 4 vùng chiến thuật. Năm 1971, Sư đoàn 5 Không quân được thành lập và trở thành lực lượng Không quân trừ bị của Bộ Tổng tham mưu.
Năm 1972, thành lập thêm tại Quân khu 2 Sư đoàn 6 chịu trách nhiệm vùng trời chiến trường cao nguyên Trung phần, năm 1975, Không lực Việt Nam Cộng hòa có 5 Sư đoàn Không quân tác chiến (20 phi đoàn khu trục cơ với khoảng 550 phi cơ A-1H Skyraider, A-37 Dragonfly, và F-5, 23 phi đoàn trực thăng với khoảng 1000 phi cơ UH-1 Iroquois và CH-47 Chinook, 8 Phi đoàn quan sát với khoảng 200 phi cơ O-1 Bird Dog, O-2 Skymaster, và U-17), 1 Sư đoàn vận tải (9 Phi đoàn vận tải với khoảng 150 phi cơ C-7 Caribou, C-47 Skytrain, C-119 Flying Boxcar, và C-130 Hercules), 1 Không đoàn tân trang chế tạo, 4 Phi đoàn hỏa long (attack squadron) với các phi cơ Fairchild AC-119, Lockheed AC-130. Ngoài ra còn có các Phi đoàn trắc giác (tình báo kỹ thuật), Phi đoàn quan sát, và Biệt đoàn đặc vụ 314.

Blog Saigon Xưa 

Ngày Quân Lực 19-6

Video 
 Một đoạn phim rất đẹp và quý giá về Thiếu Tướng ''Nguyễn Văn Hiếu'' và Tướng ''Đỗ Cao Trí'” trong lễ bàn giao đầu năm 1970 khi Mỹ chuyển quân từ Lai Khê đến ARVN ... khoảng hơn 1 năm trước khi tướng Đỗ Cao Trí tư lệnh vùng 3 tử nạn do trực thăng rớt năm 1971 ...
=> Trung Tướng "Nguyễn Văn Hiếu"
Nguyễn Văn Hiếu (1929–1975) là một tướng lĩnh bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, được truy thăng cấp bậc Trung tướng, ông xuất thân từ trường Võ bị do Quốc gia Việt Nam với sự hỗ trợ của Quân đội Pháp mở ra ở nam Cao nguyên Trung phần vào đầu thập niên 50 của thế kỷ 20.
Ông đã từng chỉ huy các Sư đoàn Bộ binh và được cử giữ chức Phụ tá Đặc trách trong Ủy ban chống Tham nhũng thuộc Phủ Phó Tổng thống Trần Văn Hương, một vị trí đúng với con người và tính cách của ông, bản thân ông đã được một số tài liệu đánh giá là quang minh, liêm khiết, ông được cho là đã làm mất lòng nhiều đồng nghiệp vốn có nhiều tai tiếng tham nhũng, nhiều người cũng cho rằng đây là lý do dẫn đến cái chết bí ẩn của ông trong văn phòng tại bản doanh Bộ Tư lệnh Quân đoàn III ở Biên Hòa ngày 8 tháng 4 năm 1975, khi đang giữ chức Tư lệnh phó Hành quân Quân đoàn.
Cuối tháng 10 năm 1950, ông nhập ngũ Quân đội Quốc gia Việt Nam, mang số quân: 49/300.479, theo học khóa 3 Trần Hưng Đạo tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt (khai giảng ngày 5 tháng 11 năm 1950, mãn khóa ngày 25 tháng 6 năm 1951). Tốt nghiệp Á khoa với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Tuy nhiên sau đó ông bị bệnh lao phổi phải nằm nhà thương Lanessan Hà nội một thời gian. Đến đầu năm 1953, ông xuất viện và được chuyển đến phục vụ tại Phòng 3 Bộ Tổng tham mưu, Trưởng phòng là Đại tá Trần Văn Đôn. Ngay thời gian sau đó ông được thăng cấp Trung úy tại nhiệm, qua tháng 6 năm 1954, ông được thăng cấp Đại úy, sau khi Quân đội Việt Nam Cộng hòa thành lập năm 1955, ông vẫn tiếp tục phục vụ thêm một thời gian nữa ở Bộ Tổng tham mưu. Trung tuần tháng 8 năm 1957, ông được thăng cấp Thiếu tá, và chuyển đi phục vụ tại Phòng 3 của Bộ Tư lệnh Quân đoàn I, do Trung tướng Trần Văn Đôn làm Tư lệnh Quân đoàn.
Ngày 1 tháng 8 năm 1962, ông được thăng chức Trưởng phòng 3 Quân đoàn I, do Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm làm Tư lệnh Quân đoàn, đầu năm 1963, ông được đi du học tại Học viện Chỉ huy & Tham mưu Fort Leavenworth thuộc Tiểu bang Kansas, Hoa Kỳ, đến ngày 10 tháng 5 tốt nghiệp về nước. Ngày 1 tháng 6 cùng năm, ông được thăng cấp Trung tá và được cử giữ chức Tham mưu trưởng Sư đoàn I bộ binh, do Đại tá Đỗ Cao Trí (*) làm Tư lệnh Sư đoàn.
=======================
Giai đoạn này, Đại tá Đỗ Cao Trí được thăng cấp Thiếu tướng ngày 7 tháng 7 năm 1963. Ngày 21 tháng 8 năm 1963 tướng Trí được cử kiêm nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân đoàn I thay thế Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm.
=======================
Chiều ngày 8 tháng 4 năm 1975 có tin loan báo ra từ Bộ Tư lệnh Quân đoàn III ở Biên Hòa là ông đã chết ngay tại trong văn phòng làm việc. Giới quân sự nghi ngay tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân đoàn III, vì ông Toàn mang tiếng tham nhũng thuộc loại hạng gộc, trong khi đó ông Hiếu rất thanh liêm và hơn nữa, đã từng giữ chức Đặc trách chống tham nhũng thuộc phủ Phó Tổng thống Trần Văn Hương, ngày hôm sau, sau khi tham dự buổi họp báo của phát ngôn viên quân sự, thông tấn xã UPI loan tin như sau: ''Tư lệnh Phó Quân đoàn III, bảo vệ vùng Sài-Gòn được khám phá bị bắn tối thứ ba sau một cuộc cãi vả về chiến thuật với cấp trên của mình. Các nguồn tin quân sự nói là có vẻ ông ta tự vận. Các nguồn tin đó nói Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu chết với một vết thương do một viên đạn gây nên ở miệng tại văn phòng ở Bộ Tư lệnh Quân đoàn III nằm ven biên phi trường quân sự Biên Hòa, cách Sài-Gòn 18 dặm. Không biết sự kiện tướng Hiếu chết có liên quan gì với vụ oanh tạc Dinh Độc Lập của ông Nguyễn Văn Thiệu xảy ra sáng thứ ba cùng ngày không .. cho tới nay vẫn còn bí ẩn ..?
=> Tướng " Đổ Cao Trí"
Đỗ Cao Trí (1929–1971), nguyên là một tướng lĩnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ông xuất thân từ một trường Võ bị do Quân đội Pháp mở ra ở Nam phần Việt Nam. Ra trường, ông được điều về đơn vị bộ binh, nhưng sau đó ông tình nguyện xin chuyển qua binh chủng Nhảy dù (Ông là một trong số ít sĩ quan được lên tướng ở thời kỳ Đệ nhất Cộng hòa, Thiếu tướng ngày 7/7/1963, trước ngày đảo chánh Tổng thống Diệm gần 4 tháng). Ông từng được đánh giá là vị tướng chiến trường tài giỏi trong hàng ngũ tướng lĩnh của Quân đội. Năm 1971, đang là Tư lệnh Quân đoàn III, ông bị tử nạn trong khi đang thi hành nhiệm vụ, được truy thăng cấp Đại tướng.
Ông sinh ngày 20-11-1929 tại làng Bình Trước, Biên Hòa. Là con thứ tư trong một gia đình có 12 anh chị em, gồm 10 trai và 2 gái. Ông là cháu của một vị quan lại triều Nguyễn và là con của cụ Đỗ Cao Lụa và cụ Tô Thị Định. Đương thời 2 cụ là một gia đình điền chủ giàu có, thời niên thiếu ông học các Trường: Trường Tiểu học Nguyễn Du, Biên Hoà. Trường Trung học Lycée Petrus Ký, Sài Gòn. Tốt nghiệp Tú tài toàn phần (Part II).
Tháng 7 năm 1947, ông tình nguyện nhập ngũ vào Quân đội Pháp, theo học khoá Đỗ Hữu Vị Trường Sĩ quan Nước Ngọt (khai giảng tháng 8 năm 1947, mãn khoá tháng 6 năm 1948. Còn gọi là khoá 2 Võ bị Viễn Đông, vì khoá 1 Nguyễn Văn Thinh huấn luyện khoá sinh ở Đà Lạt, đến khoá Đỗ Hữu Vị thì chuyển trường về khu Nước Ngọt, Vũng Tàu). Tốt nghiệp và ra trường với cấp bậc Thiếu úy. Ngay sau đó, ông được chọn du học khoá bộ binh tại trường thực tập bộ binh Auvours, Pháp. Qua năm 1949, chuyển sang binh chủng Nhảy dù, ông được du học tiếp khoá Huấn luyện Nhảy dù Pau, Pháp và tốt nghiệp cùng năm.
Năm 1950, cùng với sự ra đời của Quân đội Quốc gia, Đại đội Nhảy dù Biệt lập được thành lập ở Bắc Việt (Qua năm 1951, được nâng lên thành Tiểu đoàn 1 Dù). Ông được thăng cấp Trung úy và làm Trung đội trưởng trong đại đội này do Đại úy Nguyễn Khánh làm Đại đội trưởng. Qua năm 1951, Ông được làm Đại đội trưởng một trong 3 Đại đội thuộc Tiểu đoàn 1 Dù tân lập, vẫn do Đại úy Khánh làm Tiểu đoàn trưởng. Qua đầu tháng 7 năm 1952, ông được thăng cấp Đại úy và chuyển đi làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 19 Việt Nam (Thành lập ngày 1/1/1951 tại Bạc Liêu, đến năm 1954 giải tán để làm nòng cốt cho Tiểu đoàn 6 Dù đồn trú tại Bạc Liêu, Sóc Trăng). Đầu năm 1953, ông được cử đi học khoá Chỉ huy chiến thuật tại Trung tâm Chiến thuật Hà nội (Tiền thân của Trường Chỉ huy & Tham mưu sau này). Tháng 6 cùng năm, ông được thăng cấp Thiếu tá nhiệm chức. Đầu tháng 3 năm 1954, ông được cử làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Dù tân lập tại Chí Hoà, Sài Gòn. Sau Hiệp định Genève, cuối tháng 9 cùng năm, bàn giao Tiểu đoàn 6 lại cho Đại úy Thạch Côn. Sau đó được Thiếu tướng Nguyễn Văn Hinh Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia cử giữ chức Tư lệnh Liên đoàn Dù (Danh xưng mới của Liên đoàn Không vận số 3 Nhảy dù. Và ông cũng là sĩ quan người Việt đầu tiên "Tư lệnh" Binh chủng Nhảy dù cấp Liên đoàn).
Các sĩ quan thuộc Liên đoàn Dù vào thời kỳ này:
Tiểu đoàn 1: Đại úy Vũ Quang Tài (Sau cùng là Đại tá Lực lượng Đặc biệt)
Tiểu đoàn 3: Đại úy Phan Trọng Chinh
Tiểu đoàn 5: Đại úy Trịnh Xuân Nghiêm (Sau cùng là Đại tá Tham mưu trưởng Trường Chỉ huy & Tham mưu)
Tiểu đoàn 6: Đại úy Thạch Côn
Tiểu đoàn Trợ chiến: Đại úy Nguyễn Thọ Lập (Sau cùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 15 Bộ binh. Giải ngũ ở cấp Đại tá)
Ngày 23 tháng 2 năm 1971, ông bị tử nạn phi cơ trực thăng tại Trảng Lớn, Bắc Tây Ninh, trong khi đang bay thị sát chiến trường. Tử nạn cùng với ông là phóng viên chiến trường người Pháp Francois Sully, viết cho báo New York Time khi đang thị sát chiến trường Campuchia và một số sĩ quan và hạ sĩ quan trong ban tham mưu của Bộ Tư lệnh Quân đoàn.
(Có tin đồn cho rằng ông bị mưu sát do sự tranh giành quyền lực từ các Tướng lĩnh trong Chính quyền Sài Gòn)
Ngay sau khi tai nạn xảy ra, Tổng thống Thiệu cùng Đệ nhất phu nhân đến dự lễ tẩm liệm. Trong buổi lễ, Tổng thống thay mặt Chính phủ và Quân đội truy thăng cho ông cấp bậc Đại tướng.
Ngày 26 tháng 2, lễ an táng được cử hành trọng thể với lễ nghi quân cách. Tổng thống Thiệu đến dự lễ an táng cùng truy tặng Đệ nhất đẳng Bảo quốc Huân chương và Quân công bội tinh kèm Anh dũng bội tinh với nhành dương liễu. Linh cữu được đặt trên một chiếc thiết vận xa M.113 đưa đến nơi an nghỉ tại Nghĩa trang Quân đội Quốc gia Biên Hòa.
Ông là vị Tướng đầu tiên cùng an nghỉ với hàng chục ngàn tử sĩ chung một nghĩa trang theo nguyện vọng lúc sinh tiền: Sống sát cánh quân sĩ, Thác nằm cạnh ba quân
Trên mộ ông có khắc 2 câu thơ: Sống giữa ba quân, Thác giữa ba quân
Năm 1983, Nghĩa trang Quân đội bị phá huỷ, được thân nhân bốc mộ và hoả thiêu, di cốt được đưa vào thờ trong một ngôi chùa tại quê nhà, Biên Hoà.
Cùng tử nạn với ông còn có các Sĩ quan trong bộ Tham mưu Quân đoàn:
Trung tá Đặng Quốc Sĩ (Chỉ huy trưởng Trung tâm hành quân Quân đoàn III, được truy thăng cấp Đại tá)
Thiếu tá Trần Minh Châu (Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Truyền tin Quân đoàn III, được truy thăng cấp Trung tá)
Đại úy Nguyễn Anh Tuấn (Sĩ quan Tuỳ viên Tư lệnh QĐ III, được truy thăng cấp Thiếu tá)
Đại úy Phan Tất Đắc (truy thăng Thiếu tá)
Thiếu úy Nguyễn Cân (Sĩ quan Đồng hoá, được truy thăng cấp Trung úy)
Nguyễn Phước Bửu Giáo (Phóng viên chiến trường- Cục chiến tranh chính trị)
Ngoài các sĩ quan kể trên còn 4 Hạ sĩ quan Việt Nam cùng 2 sĩ quan Phi công Mỹ. Tất cả các vị này đều được truy thăng lên một cấp và được tổ chức lễ nghi an táng theo quy chế của Quân đội.
Cái chết của tướng Đỗ Cao Trí để lại một khoảng trống lớn trong các cấp chỉ huy chiến trường trong một thời gian dài.
Tướng Đỗ Cao Trí được đánh giá là tướng lĩnh có tầm nhìn chiến lược sắc bén, có tài cầm quân, có mưu lược, có dũng khí, có khả năng kích thích tinh thần chiến đấu binh sĩ và không có tham vọng chính trị. Tướng William Westmoreland đã nhận định: "Tướng Trí là một con cọp của chiến trường, một tướng George Patton (tướng thiết giáp lừng danh Mỹ) của Việt Nam
Xin Hết


















Saturday, April 28, 2018

Đời Viễn Xứ - Chiến Sĩ Vô Danh

Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
Chinh phu tử sĩ mấy người
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn?

Theo hồi ức của người cựu chiến binh, ĐĐP/ĐĐ2/TĐ1, những ngày cuối tháng Tư 1975 Bộ chỉ huy Tiểu Đoàn 1 nằm tại đầu dốc 47  (QL 15 Biên Hòa-Vũng Tàu). Chiều 26/4/1975, Huấn khu Long Thành thất thủ (HKLT gồm trường SQ Bộ Binh Long Thành, trường Thiết Giáp, trung tâm huấn luyện Yên Thế / Biệt Kích).
Con đường từ ngã ba Thái Lan (TL) đến HKLT dài khoảng 4 km. ĐĐ 2/TĐ1 được lệnh  trấn thủ trên đường này, bên phải, cách ngã ba TL cỡ 2 km.  ĐĐ3 bên trái, cách con đường khoảng 100 thước, bung một Trung đội tiền đồn gần đường. 

ĐĐ4 phía sau ĐĐ2 và chếch về phải…
8 g tối 26/4/1975,  ĐĐP/ĐĐ2 dẫn một Trung đội cùng hai chiến xa tiến lên trên khoảng 1 km thì phát giác VC đang chuyển quân (rất đông). Bắt đầu chạm súng. TĐP chỉ huy trên máy, nằm cầm cự đến sáng. ĐĐT/ĐĐ2 cho lệnh ĐĐP phối hợp với CX và 1 toán Nhảy Dù án ngữ tại chỗ. 

Suốt ngày 27/4 chỉ toàn chịu pháo của địch chứ không đánh.
Chiều tối 27/4,  Thiết giáp và Dù tự động rút đi. ĐĐP được lệnh trở về tuyến ĐĐ2.
5 giờ sáng 28/4/1975: Sau đợt pháo kích, VC ào ạt tấn công vào ĐĐ2.  ĐĐP cùng 2 Trung đội 1 và 3 nằm trên, phía sau là ĐĐT và Trung đội 4. Cộng quân rất đông, xung phong nhiều lần. 

6 giờ sáng 28/4/1975, Trung đối 1 vỡ tuyến bị VC tràn ngập, hai bên chỉ cách nhau vài mét. Th/U Sinh tử thương tại hố chiến đấu,  Th/u Thành bị thương rất nặng, âm thoại viên cũng tử trận.  ĐĐT và Trung đội 4 rút về phía sau . Số còn lại của Trung dội 1 và 3 co cụm tiếp tục chiến đấu trong tuyệt vọng, cố gắng kéo anh em những người bị thương ra phía sau nhưng không được. Chỉ cứu được vài người, trong số đó có vợ của một quân nhân bị thương nặng.
Rút ra ngã ba TL, gom quân lại còn khoảng 50 người (Trung đội 2 của Th/U Nghĩa còn nguyên vẹn vì nằm tiền đồn, chệch hướng tiến của VC không trực diện). ĐĐT cho lệnh phản công. ĐĐP cùng Th/U Nghĩa  và khoảng 30 anh em cố gắng tiến chiếm lại phòng tuyến cũ nhưng hoả lực địch quá mạnh, không lên được. Th/U Nghĩa bị thương. Tất cả nằm im tại chỗ.

Khuya 28/4, rạng 29/4/1975  khoảng 1 giờ đêm, VC tiến quân, thẳng lưng  đi hàng bốn hàng năm trên đường lộ, bị quân ta đánh ngay khúc giữa bỏ chạy. Khoảng 5, 6 g sáng 29/4/1975, địch tăng cường quân số rất đông đảo, có chiến xa yểm trợ nổ súng phản công. Hỏa lực địch quá mạnh, quân ta bị vỡ tuyến.

Ra tới ngã ba TL, quân số ĐĐ2 kiểm lại còn chưa được 20 người.
Gió mưa sấm sét đùng đùng,
Dãi thây trăm họ nên công một người.
Khi thất thế tên rơi đạn lạc,
Bãi sa trường thịt nát máu rơi,
Mênh mông góc bể chân trời,
Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào?
Khoảng hơn 50 chiến binh TĐ1, đã vĩnh viễn nằm xuống trong các hố chiến đấu dã chiến,
đào vội trong rừng cao su tại Long Thành.

36 năm sau, những khu rừng cao su xưa nay đã nhường chỗ cho nhà cửa, quán xá mọc lên chi chít.
 
 
Những người lính TĐ1 năm xưa, nay đà  "Phận trai già cõi chiến trường …"
trở về với tấm thân thương tật, sống cuộc đời lầm than trong xã hội đã đảo điên vì vận nước,
 nhưng không bao giờ quên anh em đồng đội xưa, những người lính..
 
Sống đã chịu một bề thảm thiết,
Ruột héo khô dạ rét căm căm,
Dãi dầu trong mấy mươi năm,
Thở than dưới đất ăn nằm trên sương…
Hương lửa đã không nơi nương tựa,
Hồn mồ côi lần lữa bấy niên… 
 
..nên hàng năm , cứ vào dịp cuối tháng Tư lại tìm về thăm lại chốn chiến trường xưa, 
thắp nén hương lòng tưởng nhớ anh linh những người đã nằm xuống vào giờ khắc cuối cùng của quê hương.
 
Th/U Thành (K28VB-TrĐTr/TrĐ3), Th/U Sinh (K29VB- TrĐTr/TrĐ4) của ĐĐ2/TĐ1
đã nằm xuống cùng anh em thuộc quyền tại nơi này (ngôi nhà đóng cửa phía sau hàng cây bạch đàn) 
 
Th/U Nghĩa (K27VB- TrĐTr/TrĐ2) bị thương (về Lê Hữu Sanh ) và anh em thuộc quyền nằm lại tại căn nhà này.
Hai địa điểm cách nhau  khoảng 50 mét và ở giữa là con đường nhựa chạy từ ngã 3 Thái Lan vào Huấn Khu Long Thành.

 

 Nơi gốc cây gần vách căn nhà tường gạch đỏ có 6 anh em đã bỏ thây.

Căn nhà có trụ thu phát sóng cũng đã có 6 anh em nằm lại.


*
 43 năm đã qua ... đã biết bao vật đổi sao dời ... không thể để cho linh hồn anh em cứ mãi vật vờ trong cảnh..
 ...
Bãi tha ma kẻ dọc người ngang
Cô hồn nhờ gửi tha phương
Gió trăng hiu hắt lửa huơng lạnh lùng ... 
..nên mùa Vu lan vừa qua, tháng 7 anh em đã cầu siêu rước vong linh tất cả những đồng đội TĐ1 Quái Điểu
hy sinh vào ngày cuối cuộc chiến trong những cánh rừng cao su Long Thành
về nương nhờ cửa Phật, với ước nguyện...

Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ
Phóng hào quang cứu khổ độ u
Rắp hòa tứ hải quần chu
Não phiền trút sạch oán thù rửa không
để anh em được siêu thoát về cõi Vĩnh Hằng










Trời sẽ tối, tiếc thương rồi sẽ hết.
Mong các anh yên nghỉ, siêu thoát và xin hãy tha lỗi cho sự chậm trễ của chúng tôi, 
những người còn sống!
 
Họ là những anh hùng không tên tuổi
Sống âm thầm trong bóng tối mông mênh.
Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh
Nhưng can đảm và tận tình giúp nước.
Họ là kẻ từ nghìn muôn thuở trước
Đã phá rừng, xẻ núi, lấp đồng sâu.
Và làm cho những đất cát hoang vu
Biến thành một giải san hà gấm vóc.
 
Họ là kẻ không nài đường hiểm hóc
Không ngại xa, hăng hái vượt trùng sơn.
Đã âm thầm chuẩn bị giữa cô đơn
Cuộc Nam Tiến mở giang sơn lớn rộng.
 
Họ là kẻ khi quê hương chuyển động
Dưới gót giày của những kẻ xâm lăng.
Đã xông vào khói lửa, quyết liều thân
Để bảo vệ Tự Do cho Tổ Quốc.
 
Trong chiến đấu không nài muôn khó nhọc,
Cười hiểm nguy, bất chấp nỗi gian nan.
Người thất cơ đành thịt nát, xương tan
Nhưng kẻ sống, lòng son không biến chuyển.
Và đến lúc nước nhà vui thoát hiểm,
Quyết khước từ lợi lộc với vinh hoa
Họ buông gươm quay lại chốn quê nhà
Để sống lại cuộc đời trong bóng tối.
 
Họ là kẻ anh hùng không tên tuổi.
Trong loạn ly, như giữa lúc thanh bình
Bền một lòng dũng cảm, chí hy sinh
Dâng đất nước cả cuộc đời trong sạch.
 
Tuy công nghiệp không ghi trong sử sách,
Tuy bảng vàng, bia đá chẳng đề tên,
Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên
Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật.
Nhưng máu họ đã len vào mạch đất
Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông.
Và anh hồn cùng với tấm tinh trung
Đã hoà hợp làm linh hồn giống Việt.