Thursday, November 22, 2018

Không Quân VNCH và chiến trường An Lộc Trần Lý


Trực thăng bốc Biệt Kích Dù vào gần An Lộc ngày 16 Tháng Tư tại Lai Khê. (Hình: hung-viet.org)
Trận An Lộc đã được ghi vào Chiến Sử của Quân Lực VNCH như một chiến thắng lẫy lừng, ngăn chận được cuộc tấn công của Cộng Sản Bắc Việt trong Mùa Hè 1972.
Sách báo Việt-Mỹ đã viết khá nhiều về sự chịu đựng và khả năng của các đơn vị Nhảy Dù, Biệt Kích Dù, Bộ Binh, Thiết Giáp nhưng chưa đề cập đến vai trò của Không Quân VNCH trong trận An Lộc, ngoại trừ bằng những con số khô khan.
-Tập Quân Sử Không Quân Việt Nam Cộng Hòa (trang 176) ghi: “Tại Vùng 3, An Lộc đứng vững một phần không nhỏ nhờ công lao và sự hy sinh xương máu của các phi hành đoàn trực thăng UH-1 và CH-47 trong suốt hơn hai tháng tử thủ. Chỉ riêng tại hai chiến trường Kon Tum và An Lộc, lưc lượng trực thăng của KQVN đã bị thiệt hại tới 70%, gồm 63 chiếc UH-1 bị rớt vì phòng không địch + 391 chiếc khác bị trúng đạn hư hại nặng.”
Và các nhà Quân Sử Không Quân hình như đã “quên” không nhắc đến các hy sinh của những Phi Đoàn Khu Trục A-1, F-5 và của những Phi Đoàn Vận Tải C-123. Chưa kể đến các chiến công thầm lặng của các EC-47, của các nhân viên chất hàng để thả dù tiếp tế cho An Lộc.
-Tập sách tài liệu của Không Quân Hoa Kỳ “Air Power in Three Wars” do Tướng Không Quân William Momyer viết (trang 330-332) ghi: “Cộng Quân siết chặt vòng vây quanh An Lộc và chỉ còn một đường duy nhất để tiếp tế cho lực lượng trú phòng VNCH là dùng các phương tiện của Không Quân. Lúc đầu chúng ta thử sử dụng các trực thăng CH-47 để chuyển đồ tiếp liệu, nhưng phòng không của địch đã khiến không thể dùng trực thăng. Địch quân đã đặt súng phòng không dọc theo các hàng cây nên rất khó oanh kích: các xạ thủ Cộng Sản thiết lập các vị trí súng máy trên các cành cây cao và nhắm bắn rất chính xác vào các bãi đáp của trực thăng. Khi tình hình tiếp vận trở nên căng thẳng hơn, các phi cơ C-123 của KQVN đã bay vào và dùng phương pháp thả dù tiếp liệu bằng dù ở cao độ thấp, nhưng phòng không dày đặc đã khiến phương pháp này phải ngưng sau ba tuần. Sau khi các C-123 rút lui, việc tiếp tế đã phải giao lại cho Không Đoàn 7 Hoa Kỳ dùng các C-130s.”
“Trung bình mỗi ngày, 185 phi suất dành cho việc phòng thủ An Lộc. Các phi suất này thường phát xuất từ Biên Hòa và từ các căn cứ đặt tại Thái Lan, đa số là do các F-4. Không Quân VNCH bay mỗi ngày 41 phi suất. Hỏa tiễn SA-7 và súng phòng không Cộng Quân đã buộc các A-37 (của Không Quân Hoa Kỳ) phải thả bom ở cao độ cao hơn F-4 rất nhiều.”
-Tập Quân Sử của Không Quân Hoa Kỳ “The Vietnamese Air Force, 1951-1975, An Analysis of its Role in Combat” tóm lược cuộc chiến Mùa Hè 72 bằng các con số “khô khan” hơn:
Thống kê “Trận chiến mùa Hè” 31 Tháng Ba đến 30 Tháng Tư, 1972:
Không Quân VNCH:
+Số các phi xuất oanh kích yểm trợ bộ binh: 4,651.
+Số các phi suất ngăn chặn: 340.
+Số các phi suất thám sát: 474.
+Số các binh sĩ chuyển vận: 40,484.
+Số tiếp liệu chuyển vận: 3,388 tấn.
+Số phi cơ thiệt hại: 36 chiếc.
+Số phi cơ sử dụng: 1,366.
+Số quân nhân tham chiến: 47,000.
(Cần ghi nhận là Trận An Lộc chính thức bắt đầu vào 5 Tháng Tư và chấm dứt vào Tháng Sáu, 1972).
Trong một thống kê khác, có phần chính xác hơn đã ghi: Khi Cộng Quân mở cuộc tấn công Hè 1972, Không Quân VNCH có 1285 phi cơ, tổ chức thành 44 Phi Đoàn:
+9 Phi Đoàn Khu Trục bay các loại A-1, A-37 và F-5, tổng cộng có 119 chiếc khả dụng để oanh kích.
+2 Phi Đoàn Vận Tải Chiến Đấu AC-47 và AC-119 với 28 phi cơ trong tình trạng hoạt động được.
+17 Phi Đoàn Trực Thăng với 367 chiếc khả dụng trong số 620 chiếc.
+7 Phi Đoàn Quan Sát Tiền Tiêu bay các loại O-1 và U-17 trong đó 247 chiếc khả dụng trong tổng số 303 chiếc. 
1-Nhiệm vụ chính của Không Quân VNCH trong Trận An Lộc 
-Yểm trợ chiến trường cho quân trú phòng bằng các phi cơ khu trục, có sự điều hành, hướng dẫn của các phi cơ quan sát.
-Chuyển quân và chuyên chở các phẩm vật tiếp liệu bằng các trực thăng cơ hữu.
-Thả dù tiếp tế bằng các phi cơ vận tải (sau khi Cộng Quân đã thiết lập hệ thống phòng không ngăn chặn sự tiếp vận bằng trực thăng).
-Theo dõi các cuộc liên lạc viễn thông, điện đàm của các đơn vị cộng quân bằng các phi cơ tình báo điện tử.
2-Các đơn vị Không Quân yểm trợ cho chiến trường An Lộc 
Nhảy Dù trực thăng vận vào An Lộc từ Lai Khê. (Hình: hung-viet.org)
*Sư Đoàn 3 Không Quân VNCH, bản doanh tại Biên Hòa, là đơn vị Không Quân chính có nhiệm vụ yểm trợ cho chiến trường An Lộc. Sư đoàn trưởng là Chuẩn Tướng Huỳnh Bá Tính, sư đoàn phó là Đại Tá Nguyễn văn Tường. Một sĩ quan đại diện cho Không Đoàn 43 Trực Thăng bên cạnh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3 và chịu trách nhiệm điều hành công việc chuyển quân và tản thương. Các lực lượng chính của Sư Đoàn 3 Không Quân là:
-Không Đoàn 43 Chiến Thuật gồm 4 Phi Đoàn Trực Thăng UH-1: 221 (Lôi Vũ), 223 (Lôi Điểu), 231 (Lôi Vân), 245 (Lôi Bằng); 1 Phi Đoàn Chinook CH-47A : 237 (Lôi Thanh) và 1 phi đội trực thăng tản thương UH-1: 259E.
-Không Đoàn 23 Chiến Thuật với các Phi Đoàn Quan Sát 112 và 124; các Phi Đoàn Khu Trục A-1: 514 và 518, Phi Đoàn F-5: 522.
*Sư Đoàn 5 Không Quân tại Tân Sơn Nhất gồm:
-Không Đoàn 53 Chiến Thuật với các Phi Đoàn 413 (C-119 G), các Phi Đoàn C-123 (Phi Đoàn 421, 423 và 425).
-Không Đoàn 33 Chiến Thuật với Biệt Đội Trinh Sát Điện Tử 716 (EC-47).
Trong giai đoạn giải tỏa An Lộc, Không Quân VNCH có huy động thêm một số phi công tăng phái từ Sư Đoàn 4 Không Quân thuộc Phi Đoàn 116 để bay các phi vụ quan sát chiến trường do Phi Đoàn 112 sắp xếp. Ngoài ra một số phi vụ chuyển quân của các đơn vị Bộ Binh tăng viện từ Sư Đoàn 9BB và Sư Đoàn 21BB đã được các trực thăng thuộc các Phi Đoàn 211 và 217 thuộc Không Đoàn 84/ Sư Đoàn 4 Không Quân thực hiện.
3-Diễn tiến trận đánh An Lộc 
(Trận An Lộc đã được nhiều nhà quân sử ghi chép lại với rất nhiều chi tiết về những cuộc đụng độ của các đơn vị bộ binh và thiết giáp của VNCH và Cộng Quân, cùng các hoạt động yểm trợ của Không Quân Việt Mỹ. Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ ghi lại những hoạt động của Không Quân VNCH).
Cộng Sản Bắc Việt đã chính thức mở màn chiến dịch mùa Hè 1972 của họ tại Vùng 3 Chiến Thuật vào ngày 2 Tháng Tư; 60 giờ đồng hồ sau cuộc tấn công đầu tiên tại Vùng 1 Chiến Thuật và gần như cùng một lúc với các cuộc tấn công thăm dò tại Kon Tum (Vùng 2), khi dùng bộ binh và chiến xa tràn ngập căn cứ hỏa lực Lạc Long, gần biên giới Cambodia, cách thị xã Tây Ninh khoảng 35 km về phía Tây Bắc. Căn cứ này do Trung Đoàn 49BB/ Sư Đoàn 5 trấn giữ. Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, tư lệnh Quân Đoàn 3 VNCH, phản ứng bằng cách cho rút tất cả các đơn vị hoạt động trong vùng biên giới Việt-Miên để thiết lập một tuyến phòng thủ mới quanh tỉnh lỵ Tây Ninh (mà ông nghĩ sẽ là mục tiêu tấn công của Cộng Quân), do đó Cộng Quân đã có thể chuyển quân dễ dàng trong vùng. Tiền đồn duy nhất còn lại là căn cứ Tống Lê Chân do Trung Đoàn 92 BĐQ biên phòng trấn giữ, lý do là chỉ huy căn cứ không chịu rút vì sợ sẽ bị Cộng Quân phục kích tiêu diệt (và Tống Lê Chân vẫn còn trong tay Quân Lực VNCH cho đến khi ký Hiệp Định Đình Chiến Tháng Giêng năm 1973) .
Lực lượng BĐQ tại căn cứ Thiện Ngôn tuân theo lệnh rút quân của Tướng Minh đã bị phục kích và mất toàn bộ các quân xa và vũ khí nặng. Cộng Quân đã để tại chỗ các chiến lợi phẩm, không cần thu dọn chiên trường vì đã đạt được mục tiêu nghi binh của họ. An Lộc, thay vì Tây Ninh, sẽ là điểm tấn công để tạo một thủ đô cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (chiêu bài của Cộng Sản Bắc Việt). Các trận tấn công tạo hỏa mù tại Tây Ninh đã giúp Công Trường 9 Cộng Sản Bắc Việt di chuyển một cách bí mật về Vùng 708 tại phía Tây Bắc An Lộc. Trong khi đó Công Trường 5 Cộng Sản đã tập trung sẵn quanh Lộc Ninh và CT7 đã ở trong vùng Nam An Lộc để cắt đứt quốc lộ 13.
Trận An Lộc bắt đầu vào sáng sớm ngày 5 Tháng Tư khi Cộng Quân pháo kích vào tỉnh lỵ, đồng thời tấn cống thăm dò phi trường Quản Lợi, nằm về phía Đông Bắc An Lộc khoảng 7 cây số. Đơn vị BĐQ trú đóng tại phi trường đã buộc phải rút lui cùng với các cố vấn Hoa Kỳ. Các chiến sĩ còn trụ lại chỉ giữ được phi đạo đến hết ngày 6 Tháng Tư. Cộng Quân chiếm khu vực phi trường và cắt đứt quốc lộ 13, về phía Nam An Lộc. Công việc tiếp vận cho quân trú phòng phải tùy thuộc vào trực thăng và thả dù.
Trong khi Cộng Quân cô lập hóa An Lộc, họ đã thanh toán các tiền đồn tại Lộc Ninh. Sáng 5 Tháng Tư Cộng Quân đã bao vây chia cắt quân trú phòng thành hai nhóm. Sự can thiệp của trực thăng võ trang Hoa Kỳ đã giúp kéo dài sự cầm cự. Các phi cơ phóng pháo đã thả những quả bom chùm chống bộ binh để ngăn chặn Cộng Quân. Các AC-130 võ trang cũng tạo những lưới lửa để giúp các đơn vị trú phòng chống trả các đợt tấn công của Cộng Quân có xe tăng yểm trợ.
Khi Cộng Quân tấn công Lộc Ninh, Quân Đoàn 3 VNCH đã phản ứng bằng cách gửi Chiến Đoàn 52 (Sư Đoàn 5 Bộ Binh) gồm hai Tiểu Đoàn Bộ Binh (Tiểu Đoàn 1/52 và Tiểu Đoàn 1/48) tấn công tái chiếm hai căn cứ hỏa lực đã rút bỏ trước đó gần giao điểm của các quốc lộ 13 và 17 ở giữa đường từ An Lộc đến Lộc Ninh. Ngày 6 Tháng Tư, một Tiểu Đoàn được lệnh tiếp cứu Lộc Ninh nhưng không vượt nổi chốt chặn của Cộng Quân, và sau đó cả chiến đoàn được lệnh rút về lại An Lộc, và sáng 7 Tháng Tư chiến đoàn đã bị Cộng Quân phục kích trong khi rút quân. Không Quân đã phải oanh kích phá hủy ba đại bác 105 của chiến đoàn để tránh bị Cộng Quân sử dụng. Chiến đoàn phải tự hủy mọi xe cộ và trang bị để có thể vượt thoát các chốt phục kích của Cộng Quân. Một trực thăng bị hạ và hai chiếc khác bị hư hại nặng. Sáng 8 Tháng Tư, một lực lượng Không Quân Hoa Kỳ gồm AC-130, khu trục và trực thăng võ trang đã phải can thiệp để bốc toán ba cố vấn cùng chín quân nhân VNCH thoát khỏi vòng vây.
Sau khi Lộc Ninh thất thủ, Chiến Đoàn 52 bị thiệt hại nặng, phi trường Quản Lợi bị mất, quốc lộ 13 bị cắt đứt (phía Nam). An Lộc được xem như đã bị hoàn toàn vây hãm.
4-Các phi vụ chuyển quân và tiếp tế 
Sau ngày 7 Tháng Tư, An Lộc đã hoàn toàn bị bao vây và không còn phi đạo tiếp tế. Từ 7 đến 12 Tháng Tư, tất cả các phi vụ tiếp tế đã được thực hiện bằng trực thăng và các C-123 của Không Quân VNCH và Hoa Kỳ (trong thời gian này, các trực thăng Chinook CH-47 của Phi Đoàn 237 VNCH; các UH-1 của các Phi Đoàn Trực Thăng VNCH có thêm sự trợ giúp của các trực thăng Hoa Kỳ của Phi Đoàn 229 Hoa Kỳ, đã thực hiện được 42 phi suất chở hàng tiếp vận vào An Lộc).
Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu (thứ hai, phải) đã có một 
quyết định dũng cảm, ông đi vào nơi nguy hiểm nhất để tôn vinh 
những chiến binh tử thủ An Lộc, ngày 7 Tháng Bảy, 1972. (Hình: rfa.org)
Trong khoảng thời gian từ 7 đến 19 Tháng Tư, Không Quân Hoa Kỳ và các trực thăng của Không Quân VNCH, phối hợp với các C-123 đã chở được 337 tấn tiếp liệu vào An Lộc. Các phi vụ bay vào An Lộc càng ngày càng trở nên nguy hiểm và gần như cảm tử. Hỏa lực của Cộng Quân đã gây hư hại nặng cho ba chiếc UH-1 của Không Quân Hoa Kỳ trong lúc đang bốc dỡ hàng hóa.
Các chuyến trực thăng tiếp vận đã phải chấm dứt từ ngày 12 Tháng Tư sau khi 1 CH-47 của Không Quân VNCH bị trúng đạn súng cối của Cộng Quân bốc cháy và phát nổ khi đáp xuống bãi thả hàng.
Các tài liệu của Hoa Kỳ như “The Battle of An Loc” của James Willbanks, “Airwar over South VietNam 1968-1975” của Bernard Nalty đều ghi ngày chiếc CH-47 của VNCH bị rơi là 12 Tháng Tư, nhưng các bài hồi ký của các phi công trực thăng lại ghi là 13 Tháng Tư. Sau đây là một số đoạn trích từ các bài viết của những phi công CH-47.
-Trong bài Phi Đoàn 237 CH-47A, tác giả Vũ Văn Bảo ghi lại: “Tình hình chiến sự mỗi lúc một gia tăng và mãnh liệt nhất là trận An Lộc, mùa Hè 72. Mỗi sáng, chúng tôi tất cả các trực thăng thuộc Không Đoàn 43 Chiến Thuật đều sang standby tại Lai Khê chờ lệnh, UH-1 vào trước với các binh sĩ tinh nhuệ Nhảy Dù, Chinook vào sau với các khẩu trọng pháo 105 ly ở Đồi Gió, Tàu Ô, Tân Khai, bay cao, bay thấp đều bị bắn bằng đủ loại đạn, nhưng chúng tôi vẫn thi hành các phi vụ được giao phó. Hai Chinook đã tổn thất tại Tân Khai và Tàu Ô là phi hành đoàn của Thiếu Tá Nguyễn Hữu Nhàn và Thiếu Úy Đặng Thiên Hiền, cơ phi Chuẩn Úy Kim, áp tải, xạ thủ đều hy sinh và phi hành đoàn của Đại Úy Nguyễn Văn Trọng và Thiếu Úy Thanh bị bắt và được giao trả năm 1973 nhưng cơ phi, xạ thủ và áp tải hy sinh một Chinook của Trung Úy Lê Quang Tiên và Đặng Đức Cường bị bắn cháy trên không, phải đáp khẩn cấp xuống phi trường An Lộc và được gunship bốc cứu phi cơ của Trung Úy Sơn và tôi bị trúng một viên 12.7 ly thủng bình xăng trái nhưng vô sự vì không phải đạn lửa và nhiều phi cơ khác bị đạn nhưng không đáng kể.”
-Trong các e-mail trao đổi giữa các phi công về “Những Kỷ Niệm Khó Quên” trên Diễn Đàn Cánh Thép:
+Tác giả Vũ Văn Bảo: “Nhắc đến Thứ Sáu 13, tôi lại nhớ đến Đặng Thiện Hiền. Hiền rất tin dị đoan, thường hay khai bệnh vào ngày này. Nhưng chính Hiền lại tử nạn, hy sinh vào đúng ngày Thứ Sáu 13 cùng với phi hành đoàn của Thiếu Tá Nguyễn Hữu Nhàn.”
+Tác giả Vương minh Dương: “Chiều hôm trước ngày anh Nhàn và Hiền bị rơi, tôi và anh Nhàn đang ngồi ở bậc thềm hành lang Phi Đoàn nhìn ra phi đạo 237 nói chuyện sau khi tôi đã cắt bay cho ngày hôm sau và người bay phi vụ này với Hiền chính là tôi. Anh chính có việc bận ở Sài Gòn nên anh Nhàn túc trực tại Phi Đoàn, bỗng nhiên Đại Tá Tường lái chiếc xe jeep lùn đến ngay chỗ tôi và anh Nhàn đang nói chuyện và ông hỏi phi hành đoàn nào đi Lai Khê ngày mai và không hiểu vì lý do gì ông muốn hoặc anh Chính hay anh Nhàn bay phi vụ ấy, vì anh Chính chưa về nên anh Nhàn nói với tôi: mày để tao bay chỗ của mày.”
+Tác giả Lê Quang Tiên ghi rõ hơn: “Bữa đó Thứ Sáu 13. Tôi không nhớ rõ tại sao chỉ có hai chiếc đi Lai Khê, tôi bay chiếc số 2. Sau khi ăn cơm trưa xong thì chuẩn bị đi vào Tân Khai. Sau hai phi vụ vào Tân Khai, tôi bay số 2, tiếp tế và di tản dân tị nạn, tôi vào số 2, bị pháo quá nên không bốc dân thường được, bị Thiếu Tá Nhàn la quá trời. Đến phi vụ thứ ba, sau khi Đại Bàng 1 đổ xăng xong, không biết tại sao, sàng qua câu hàng, mãi hồi lâu không câu được, thì Thiếu Tá Nhàn bảo tôi: Tiên mày qua câu đi. Tôi bay qua câu kiện hàng đó rồi đi trước và thành chiếc số 1 vào Tân Khai. Tôi đáp vào Tân Khai, bốc dân và bay ra thì cross Thiếu Tá Nhàn bay vào. Tôi mới lấy cao độ thì nghe Thiếu Tá Nhàn nói là: Tiên ơi, tao bị bắn rồi. Tôi liền vào Tân Khai trở lại, thấy Đại Bàng 1 đang bay thật thấp như thường lệ, không có gì khác biệt. Tôi liền gọi thiếu tá bị bắn có sao không? Không có tiếng trả lời. Tôi liền vòng sang phải sau Đại Bàng 1 và nói thiếu tá có sao không, đáp đi, tôi ở phía sau nè. Vẫn không có tiếng trả lời. Bay như vậy độ 1 phút và tôi tiếp tục gọi. Bỗng dưng Đại Bàng 1 go vertical, tôi chưa từng thấy, thẳng lên trời rồi loss air speed, roll và đâm vertical xuống đất bùng nổ.Tôi liền gọi Mayday và không lâu sau toán rescue của Mỹ tới.”
Các CH-47 của KQVN cũng có nhiệm vụ đưa các khẩu đại bác 105 ly vào vùng hoạt động của TĐ 6 ND.
-Tác giả Đỗ Đức Thịnh thuộc LĐ81BCND trong bài “Hai Tháng Tử Thủ An Lộc” viết: “Nhịp độ pháo của địch tăng mạnh khi các phi vụ Hỏa Long và AC-130 rời vùng. Tại Đồi Gió, nằm ở hướng Bắc của Đồi 169 cách khoảng 3 km do đơn vị Pháo Binh và TĐ 6ND đang lập tuyến phòng thủ cũng không may mắn gì hơn. Họ đang hứng chịu trận mưa pháo tập trung tới tấp khi hai chiếc trực thăng Chinook đang cố tiếp viện cho họ hai khẩu đại bác 105 mm. Tôi nhìn khẩu đại bác móc tòn ten phía dưới bụng chiếc trực thăng đang cố đáp, tụi tiền sát viên pháo của Cộng Quân đã điều chỉnh những quả đạn khá chính xác vào ngọn đồi ấy. Từng bựng lửa, bụi đỏ tung lên dưới thân tầu làm cho hai chếc trực hăng bốc lên cao hơn, pháo ngớt hai chiếc trực thăng lại từ từ hạ thấp, cứ thế trong vòng 15 phút hai chiếc trực thăng không thể nào thả hai khẩu đại bác xuống và đành phải bốc lên cao và bay về phía Lai Khê.”
Sau các cố gắng, sáu khẩu 105 mm nòng ngắn cũng đã được đưa đến cho TĐ 6 ND nhưng sau đó cả sáu khẩu này đã bị Cộng Quân pháo kích hủy diệt.
Không Quân VNCH đã buộc phải dùng các C-123 và một số ít C-119 đã tìm cách thả các kiện hàng ở cao độ thấp từ 700 đến 5,000 ft, dưới hỏa lực phòng không dầy đặc của Cộng Quân. Các phi vụ thả hàng được thực hiện vào ban ngày, đường bay vào An Lộc đều từ hướng Nam, dọc theo quốc lộ 13. Khi thả ở cao độ 5,000 ft, đa số các kiện hàng bị lạc vào vùng kiểm soát của Cộng Quân. Trong hai ngày, các phi cơ VNCH đã thả được 27 chuyến với 135 tấn tiếp liệu nhưng chỉ 34 tấn đến được tay lực lượng trú phòng. Ngày 15 Tháng Tư, một C-123 bị hạ, toàn bộ phi hành đoàn hy sinh. Và sau đó, ngày 19 Tháng Tư, một C-123 khác, chở đạn tiếp vận đã trúng đạn phòng không của Cộng Quân và nổ tung.
Các trường hợp hy sinh của hai phi hành đoàn C-123 tại An Lộc được phi công Hung Phan ghi lại như sau:
+Phi Đoàn 425, C-123 K, Tail code xH. Ngày 15 Tháng Tư, 1972:
Trung Úy Phạm Văn Công (trưởng phi cơ).
Trung Úy Hồng, hoa tiêu phó.
Thiếu Tá Sét, điều hành viên.
+Phi Đoàn 425, C-123 K, Tail code xL. Ngày 19 Tháng Tư, 1972:
Thiếu Tá Nguyễn Thế Thân (phi đoàn trưởng, trưởng phi cơ).
Thiếu Úy Quách Thanh Hải, hoa tiêu phó.
Thượng Sĩ Mã Hoàng, cơ phi.
Đại Úy Ngân, Đại Úy Trọng, điều hành viên.
Thượng Sĩ Thượng, áp tải.
Phi công Hung Phan cũng ghi lại: “Khi đụng đến An Lộc, không có chuyện bay thấp bay cao gì nữa, bay cỡ nào cũng đụng phòng không mà lại phòng không hạng nặng, vừa nặng vừa nhiều! Chúng tôi đã chất đầy những kiện hàng tiếp tế từ sáng sớm, để ngồi đó, để stand by dưới sức nóng của hot cargo, nơi đầu phi đạo 25RH, nhìn những con chim sắt khổng lồ C-130 của USAF hốt hoảng, tả tơi bay về đáp dưới hai hàng xe cứu hỏa chạy theo, có chiếc bị bắn bể bánh mà không biết, có chiếc đầu cánh đã văng đâu mất tiêu, chúng tôi nhìn nhau ngao ngán. Mẹ! nó bay nhanh hơn mình, nó thả cao hơn mình. Thú thật tôi đã thở dài và rất thoải mái khi được lệnh hủy bỏ phi vụ.”
Ngày 15 Tháng Tư, 1972, phi vụ của Phạm Văn Công không bị hủy bỏ, đem tàu qua hot cargo từ 5 giờ sáng, năm chiếc C-123K của Không Đoàn 53 Chiến Thuật đã chất đầy hàng và sửa soạn cất cánh thì được lệnh stand by vì B-52 sắp trải thảm, rồi đến C-130 của US được ưu tiên.
Nhảy Dù lên trực thăng vận vào gần An Lộc từ Lai Khê hai ngày 14 
và 15 Tháng Tư, 1972. (Hình: hung-viet.org)
Và Trung Úy Châu Đức Tánh kể lại: “Có thể nói là Công lùn chết trước mũi của tôi, từ sáng đến trưa, hàng lọat C-130 của USAF từ An Lộc về, đều đáp trong tình trạng khẩn cấp. Đến 3 giờ chiều thì chúng tôi được lịnh cất cánh. Tôi mang danh hiệu Bookie 03, Công là Bookie 04. Chiếc số 2 thả xong, tôi bắt đầu xuống. Từ lâu đã đọc qua sách báo, mãi đến bây giờ tôi mới biết thế nào là đạn ‘bắn lên như đan lưới.’ Trên tần số, Công la um sùm: ‘ĐM, nó bắn mày đó Tánh!’ Tôi vừa run vừa cắn răng lo điều khiển phi cơ vào đúng toạ độ thả. ‘Mày im đi, tao biết rồi, nó bắn từ khi mình bắt đầu xuống lận.’ Sau khi thả xong hàng, tôi kéo phi cơ lên gần như là triệt nâng, vừa quẹo phải để tránh vùng oanh kích của B52, có lẽ tôi là người được nghe giọng nói cuối cùng của Công: ‘Tao vô đây Tánh, Bookie 04 in.’ Khi tôi vừa chuyển sang tần số emergency thì nghe: ‘Chết! Chết rồi! Bookie 04 cắm đầu xuống luôn rồi.’”
Các C-123 là các phi cơ vận tải tốt nhất mà Không Quân VNCH đang có (năm 1972) đã không thể vượt nổi lưới đạn phòng không khủng khiếp tại An Lộc, nên sau đó các phi vụ tiếp tế đành phải thả dù ở cao độ cao hơn và thực hiện vào ban đêm.
Ngày 27 Tháng Tư, dùng radar dưới đất hướng dẫn, các C-123 VNCH vào được An Lộc, thực hiện phi vụ thả dù nhưng lực lượng trú phòng chỉ nhận được 5% số kiện hàng thả xuống. Mãi đến Tháng Sáu, 1972, các phi hành đoàn Không Quân VNCH mới bắt đầu được huấn luyện về phương pháp thả dù do radar hướng dẫn. Chương trình chỉ hoàn tất vào Tháng Chín (sau khi An Lộc đã được giải tỏa).
Kể từ 15 Tháng Tư, Không Quân Hoa Kỳ bắt đầu trợ giúp cho công việc tiếp tế bằng cách dùng các C-130 để thả dù cho An Lộc, trong phi vụ đầu tiên họ dùng hai chiếc C-130 dự trù sẽ thả các kiện hàng ở cao độ 600 ft. Chiếc thứ nhất khi bay vào điểm thả đã bị súng phòng không Cộng Quân bắn hỏng phần đuôi lái, phi công đành thả các kiện hàng mang theo. Chiếc C-130 thứ nhì khi bay vào đã bị phòng không bắn gây tử thương cho một nhân viên phi hành và gây cho hai người khác bị thương. Phi cơ đành phóng thả các kiện hàng để bay về đáp khẩn cấp tại Tân Sơn Nhất. 26 tấn hàng do hai phi cơ mang theo đã không đến tay quân trú phòng! Ngày 16 Tháng Tư, Không Quân Hoa Kỳ dùng hai C-130 để thả tiếp 26 tấn khác nhưng do trục trặc tính toán nên số hàng này lại rơi vào vùng Cộng Quân kiểm soát. Ngày 18, một C-130 khác bị hư hại nặng khi dự định thả dù vào sân banh An Lộc, phi cơ lết về được vùng Bắc Pleiku nhưng phải đáp khẩn cấp xuống ruộng. Ngày 19, sau khi một C-123 của Không Quân VNCH bị bắn hạ, Không Quân Hoa Kỳ hoàn toàn đảm nhận việc tiếp tế cho An Lộc.
Ngày 14 Tháng Tư, 1972, các C-123 của KQVN đã thực hiện một phi vụ đặc biệt tại vùng trời phía Đông Bắc An Lộc, trên cao độ ngoài tầm các loại súng phòng không của Cộng Quân: thả dù những kiện hàng toàn nước đá, để khi chạm đất, chỉ còn những cánh dù và hàng tan thành nước, biến mất. Đây là một trong những phi vụ “bí mật” nhất trong chiến tranh Việt Nam. Trước đó, ngày 13, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH trong một cuộc họp báo công khai tại Sài Gòn đã cho biết sẽ thả dù một lực lượng Biệt Kích Dù vào vùng chì cách An Lộc 5 km để “bắt sống” chính phủ Mặt Trận Giải Phóng đang ở trong khu vực. Tin tức này đã khiến Cộng Quân cấp tốc cho di chuyển Trung Đoàn 141 (CT 7 CS) đang bố trí ở Ấp Srok-Gòn về vùng cần bảo vệ cho Cục R. Việc di chuyển này đã khiến Cộng Quân bỏ trống một vùng gần 4 km vuông trong vùng Đông Nam An Lộc, giúp việc đổ quân tiếp viện bằng trực thăng của VNCH được an toàn: Lực lượng Nhảy Dù (Lữ Đoàn 1) vào các ngày 14 và 15; và Biệt Kích Dù (Liên Đoàn 81) vào ngày 16 Tháng Tư, 1972, được an toàn. Lực lượng tiếp viện này lên đến gần 4,000 binh sĩ thiện chiến.
Ngoài các Chinook CH-47, các UH-1 của các Phi Đoàn Trực Thăng 221, 223 cũng đã đóng góp rất nhiều vào các cuộc chuyển quân, chuyên chở quân-vật dụng tiếp liệu và tản thương.
Trong cuộc đổ quân của Liên Đoàn 81 Biệt Kích Dù, các chiến sĩ đã được tập trung tại phi trường Trảng Lớn, sau đó được các Chinook CH-47 của KQVN đưa đến Lai Khê từng toán 40 người và từ Lai Khê được các trực thăng UH-1 cũng của KQVN chuyển tiếp đến một vùng ở phía Đông của Đồi Gió và Đồi 169.
Các phi vụ trực thăng UH-1 bay vào An Lộc được xem như bay vào “cõi chết”: Tác giả Đào Vũ Anh Hùng đã viết trong bài “Đêm Chờ Ngưng Bắn, Nhớ An Lộc”:
+“Đạn bắn như mưa. Bắn cùng mọi phía. Bắn bằng đủ loại phòng không dữ tợn, hỏa tiễn tầm nhiệt, đại bác phòng không, súng cá nhân, 12 ly 7 phòng không chụm lại, trực xạ, đại bác nổ chụp, súng cối rót vào bãi đáp.”
+“Hợp đoàn bốn phi cơ nối đuôi nhau bay hối hả vòng qua Minh Thạnh vào bãi đáp B15 từ hướng Tây Nam An Lộc năm phút sau trận mưa bom B52 cuối cùng vừa dứt. Đoàn trực thăng bay thấp, lướt trên ngọn cây rừng theo lệnh ‘C and C’ hướng dẫn: -Hợp đoàn quẹo phải 10 độ. Đi thẳng! Chiếc số 3 bay nhanh một chút. OK đi thẳng. Bãi đáp 12 giờ, 3 trăm thước. Giảm air speed, coi chừng! Coi chừng nó bắn phòng không bên trái!”
Tôi nín thỏ. Hợp đoàn đã đến gần bãi đáp. Nhưng trước cả tiếng la coi chừng hốt hoảng của chiếc phi cơ chỉ huy, tôi thấy điểm sáng dưới lòng một hố bom loang loáng lóe lên cao như chớp kính. Ố Quẹo phải! Hợp đoàn quẹo phải! Chiếc số 2 rớt rồi. Số 3 nhanh lên! Lead quẹo phải 90 độ. Bay ra! Bay ra, đừng đáp.
Tôi kinh khủng. Chiếc số 2 đang bay, đột ngột cắm đầu lao thẳng xuống triền đồi, lăn long lóc như một cục đá. Một vầng bụi đỏ mù mịt bốc lên và lửa cháy bùng. Chiếc phi cơ bất hạnh của Tuân. Cả một phi hành đoàn và 11 người lính bộ binh vào An Lộc tiếp hơi cho đoàn người tử thủ đã rơi chết ngon lành khi vừa tới thềm địa ngục.
+“Phi cơ trúng đạn, đồng đội bị chết, bị thương, vẫn phải bình tĩnh bay khỏi vùng kinh khiếp, tìm trảng cỏ giữa rừng đáp khẩn cấp, bỏ tàu, may mắn lắm sẽ được phi cơ bạn nhào xuyên lưới lửa đón về, hay bỏ tàu mà chạy, vượt qua rừng qua bụi trốn tránh kẻ thù tìm vế đất sống. Những người anh em đã rơi vào tay giặc hay ra đi vĩnh viễn cùng với xác tàu vỡ vụn trên cánh rừng cao su tơi tả dày đặc hố bom. Đi không còn ai nghe tiếng nói. Xác rữa, xương khô trắng đến ngày An Lộc giải tỏa, bạn bè ngậm ngùi đem về những mảng xương khô.”
Các chuyến đổ quân của các trực thăng UH-1 của KQVN, trong giai đoạn tiếp cứu An Lộc gặp rất nhiều khó khăn từ khi Cộng Quân di chuyển các lực lượng phòng không của chúng chặn kín các đường bay vào An Lộc.
Tác giả Hoài Duy trong “Chia Nửa Vầng Trăng: Hồi Ký Trận An Lộc” ghi lại (trong cuộc tăng viện của Sư Đoàn 9 Bộ Binh VNCH):
+ “Chúng tôi, Trung Đoàn 15, Sư Đoàn 9 Bộ Binh từ Tân Khai đánh lên. Kế hoạch thay đổi sau hai lần máy bay đổ TĐ 3/15 vào thẳng An Lộc. Đến địa điểm nhưng trực thăng không thể hạ xuống: lý do đổ xuống nhưng sẽ không kịp cất lên trước rừng pháo phòng không chào đón! Đại đội tôi, quân số tham chiến 94 người sẽ xuống trước, kế tiếp ĐĐ2. Bốc lên đồng loạt đi vào mục tiêu, máy bay hạ thấp dưới ngọn cây, bay xà nhanh theo quốc lộ 13 để tránh tầm pháo. Chúng tôi chuẩn bị nhảy khi thấy mái ngói nhà. Đạn phòng không nổ chập chùng ở dưới. Đoàn phi cơ tự dưng bẻ quặt một đường và cất lên caọ đổi hướng. Tôi biết có điều không ổn. Máy liên lạc. Không xuống được. Các anh xuống được nhưng trực thăng không thể cất lên kịp được. Chỉ làm mồi cho pháo.”
Lần thứ hai, máy bay Mỹ, phi hành đoàn Mỹ. Lập lại, cũng thế thôi! Không Quân làm nhiệm vụ của họ.
Kế hoạch hành quân thay đổi. Đơn vị xuống phía Nam An Lộc 13 km và tiến quân cả ngày lẫn đêm, chạm lớn, chạm nhỏ.
Cuộc tiến quân của TĐ 3/15 bị ngưng chặn trước ngưỡng cửa An Lộc, cách TĐ8 ND chừng 700 m. Cộng Quân chen vào giữa chận đứng. Hai TĐ chưa bắt tay được nhau trong suốt 20 ngày.
Tác giả Hoài Duy ghi tiếp: “Một ngày ở Tháng Sáu. Hành quân bung rộng tuyến phòng thủ, ở một phía rừng bên kia đồi. Một vận tải cơ của Mỹ rớt nằm trơ đó. Một trực thăng Việt Nam tìm thấy hôm sau cũng gần khu vực trên. Tôi nghĩ có lẽ cả hai chiếc rơi trong những ngày đầu cuộc chiến. Riêng chiếc trực thăng, đầu máy bay hơi chúi về phía trước, hai càng trong thế vững vàng trên mặt đất. Đầu hai người phi công gục xuống, tay buông thõng, xác khô rũ. Phụ xạ thủ và mấy người ngồi trong cũng chung số phận. Chết đã lâu, không còn mùi. Tôi nhận diện đơn vị mấy người ngồi trong lòng máy bay qua phù hiệu của Sư Đoàn Bộ Binh. Trong đó có một xác người còn máy ảnh trên vai, một máy quay phim rớt trên sàn và mấy thước phim. Chiều hôm đó, tôi được biết một trong hai phi công là thiếu úy, con của một bộ trưởng Phủ Tổng Thống. Lệnh từ Sài Gòn yêu cầu Trung Đoàn giúp đỡ đưa xác nạn nhân ra. Và người mang máy ảnh, trên miệng túi áo tên Bình. Sau này tôi mới biết là Nguyễn Ngọc Bình, phóng viên điện ảnh. (Chiếc trực thăng này bị hạ ngày 1 Tháng Năm, 1972, khi bay thấp để tránh đạn phòng không nhưng đã nổ vì trúng B-40 của Cộng Quân bắn từ các xạ thủ bị cột người trên ngọn cây).
Từ ngày 11 Tháng Tư, Cộng Quân bắt đầu sử dụng hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7 tại chiến trường An Lộc. Hỏa tiễn đầu tiên đạ nhắm bắn vào các phi cơ quan sát FAC của Hoa Kỳ nhưng không trúng mục tiêu.
5-Các phi vụ yểm trợ cho quân trú phòng
Trong trận An Lộc, Không Quân VNCH đã sử dụng các phi cơ A-1 và F-5 để oanh kích, yểm trợ cho các đơn vị trú phòng chống trả các đợt tấn công của Cộng Quân và hủy diệt nhiều xe tăng, thiết giáp của Cộng Quân. Một số Skyraider đã bị hạ vì trúng đạn phòng không vả hỏa tiễn SA-7 của Cộng Quân.
Liên Đoàn 81 Biệt Kích Nhảy Dù trên đường vào mặt trận An Lộc. 
(Hình: nhayduwdc.org)
Một báo cáo mật được nhiều cố vấn Mỹ ghi lại trong những bản tổng kết về chiến trường An Lộc: Passed following info to T30 Arcraft downed in the An lộc area (TRAC log of 6 June):
-VNAF UH-1, 1 km South of An Loc.
-XT 778888 US C-130: 3 May.
-XT 732912 US A-37: 11 May.
-XT 764875 2 US FAC: 11 May.
-XT 775875 AH-1 G: 11 May.
-XT 748868 VNAF A-1E: 13 May.
-XT 810075 VNAF UH-1: 13 May.
Trường hợp hy sinh của Đại Úy Nguyễn Cao Hùng, thuộc Phi Đoàn 518 được tác giả Đào Vũ Anh Hùng ghi lại như sau:
-“Hôm 20 Tháng Năm, tôi bay quần quần phía Đông Tân Khai chờ bốn phi tuần khu trục săn hạ hai chiếc xe tăng Việt Cộng trốn dưới gầm cầu xe lửa và khóa họng những ổ phòng không, dọn đường cho tôi dẫn hợp đoàn vào đáp. Tôi bay trên 5,000 bộ, theo dõi từng chiếc Skyraider nhanh nhẹn luân phiên đâm bổ xuống mục tiêu. Bỗng một chiếc AD6 vừa thả xong hai trái napalm, vút ngược lên cao. Tôi thấy một tia khói cuộn lên từ bụi cây bên bờ con suối cạn. Chiếc phi cơ bỗng phát nổ.”
Quan sát viên phi hành Lê Văn Sùng, trong bài “Một Thời Ốp Xẹc” đã ghi lại trường hợp hy sinh của phi công Nguyễn Cao Hùng như sau:
-Thuở ấy, mặt trận Bình Long càng ngày càng khốc liệt. Phi Đoàn 116 của chúng tôi ở Cần Thơ cũng được tăng cường cho Phi Đoàn 112 Biên Hòa ba phi hành đoàn để hằng ngày thi hành một số phi vụ do Phi Đoàn 112 sắp xếp, hầu hết là được giao cho những phi vụ bay cho mặt trận Bình Long.”
Phi vụ của quan sát viên Sùng, danh hiệu Sơn Ca 23, do phi công Thành bay hoạt động tại vùng phía Nam An Lộc. Sau khi đã hướng dẫn bốn phi tuần khu trục và bắn hết sáu rocket khói đánh dấu mục tiêu, trên đường bay trở về Cần Thơ. Khi bay qua Tân Khai đã tình cờ phát giác được hai chiến xa Cộng Quân đang chui nấp dưới gầm cầu xe lửa, anh đã gọi Trung Tâm Hành Quân Không Trợ 3 và xin phi tuần khu trực. Trong lúc đó trong vùng có sẵn một phi tuần hai phi cơ A-1 tuy đang được điều động, nhưng FAC Mỹ gần hết xăng, không chỉ định mục tiêu đánh được và đang tìm mục tiêu giải tỏa bom đạn. Hai A-1 này do các phi công Nguyễn Cao Hùng (bay số 2) và Nguyễn Thế Quy bay số 1.
-“Số 2 vừa kéo lên break trái, một làn khói trắng dài bay phụt lên, đầu làn khói trắng ấy là một chấm đen, đang quẹo vòng lại đuổi theo phi cơ số 2. Tôi thét lớn SA-7! Số 2 nhảy dù! Số 2 nhảy dù mau. Không kịp rồi, làn khói đã tới phi cơ, tôi nghe đùng một tiếng thất lớn giữa không trung. Phi cơ anh đã bốc cháy, nhưng còn đang bay lên, tôi thấy một vật đen bay ra khỏi phi cơ, may quá ! Anh đã nhảy dù ra được rồi.”
Nhưng dù không kịp mở, và xác phi công Hùng đã được đơn vị Bộ Binh hoạt động trong vùng tìm thấy.
Phi công Qui, sau này, cho biết thêm: “Hôm đó là ngày 20 Tháng Năm, 1972. Phi tuần Phenix 51 do Qui bay số 1 và Thống (66A) bay số 2 đang túc trực chờ bay. Hùng tuy đang nghỉ phép nhưng vào chơi và muốn bay cho đỡ buốn. Qui định thêm A-1 để Hùng bay số 3 nhưng sau đó Hùng đã bay thay Thống.”
Một phi vụ rất đặc biệt đã được một số tác giả như Tướng Mạch Văn Trường, Trung Tá Nguyễn Ngọc Ánh viết lại trong tập “Chiến Thắng An Lộc 1972”
Cách trực thăng bốc quân, khoảng 10 binh sĩ cho mỗi chiếc, chia đều ra 
với khoảng đáp an toàn. Một binh sĩ mặc áo màu chói đứng đánh dấu cho 
trực thăng đáp và kiểm soát an oàn, ra dấu hiệu cần thiết cho phi công 
và binh sĩ lên tàu, sau đó ra lệnh cho cất cánh. Khi có pháo đến thì 
dĩ nhiên sẽ có nhiều hoảng loạn hơn. Trực thăng Mỹ không có sơn trắng 
bên dưới lườn, toàn xanh. (Hình: hung-viet.org)
phổ biến trên website là phi vụ phá Hầm và Chốt Xa Cam. Chốt này cách An Lộc khoảng 6 km về phía Nam do Trung Đoàn 165 Công Trường 7 Cộng Sản Bắc Việt chiếm giữ, cầm chân các Chiến Đoàn 15 và Trung Đoàn 33 Bộ Binh VNCH, cắt đứt việc giải tỏa An Lộc. Tuy toán mật mã của VNCH đã bắt được tần số liên lạc và xác định được vị trí của hai đơn vị Cộng Sản Bắc việt và Bộ Chỉ Huy của CT7 và yêu cầu Hoa Kỳ dùng B-52 để đánh vào mục tiêu, vào những ngày 20 và 22 Tháng Ba nhưng bị từ chối (?). Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3 VNCH đã yêu cầu KQVN dùng các CBU 55 để tấn công vào mục tiêu. Cuộc họp để quyết định dùng CBU có sự tham dự của Tướng Minh – tư lệnh Không Quân, Tướng Tính – tư lệnh Sư Đoàn 3 Không Quân, Đại Tá Tường – tư lệnh phó Sư Đoàn 3. Tướng Huỳnh Bá Tính, sau khi bàn thảo với Đại Tá Tường, đã đề nghị dùng Skyraider của Sư Đoàn 3 Không Quân thả một số CBU trừ bị, còn lại trong kho võ khí của KQVN sau 6 giờ chiều (là giờ các phi cơ Hoa Kỳ bay trở về hạm đội ?). Và phi vụ này sẽ được KQVN “âm thầm” hành động theo kế hoạch riêng, không thông báo cho Hoa Kỳ.
Các tác giả ghi lại: “Tại phi trường Biên Hòa, hai phi tuần khu trục A-37 yểm trợ cho bốn khu trục cơ AĐ6 mang bốn quả bom CBU được lệnh cất cánh vào lúc 6 giờ 15 chiều ngày 7 Tháng Sáu, 1972, trực chỉ Xa Cam. 6 giờ 30 chiều ngày 7 Tháng Sáu, 1972, hai phi tuần A-37 bay trước oanh kích dọn đường cho bốn Skyraider AD.6 tiếp nối theo sau thả liền bốn trái CBU ngay trên địa điểm Hầm Chốt Xa Cam gây ra bốn tiếng nổ lớn, san bằng, tiêu diệt một vùng gần 1 cây số đường bán kính xung quanh” (ngay sau đợt thả CBU, TĐ 6 Dù đã khởi phát cuộc tấn công nhổ chốt).
6-Các hoạt động khác của Không Quân VNCH
Một số đơn vị khác của Không Quân VNCH cũng đã đóng góp vào chiến thắng An Lộc một cách “lặng lẽ” nhưng không kém phần quan trọng:
-Phi Đoàn 716 với các phi tuần EC-47 trắc giác vô tuyến (Airborne Radio Direction Finding=ARDF) giúp phát giác các cuộc chuyển quân của Cộng Sản Bắc Việt và xác định những vị trí của các đơn vị Cộng Quân.
-Các đơn vị bốc rỡ và chất hàng lên các phi cơ vận tải (Riggers). Các chuyên viên này (Việt Nam, Mỹ và Đài loan) đã phải làm việc liên tục những “ca” kéo dài trên 20 giờ, tại một khu vực trống trải ở cạnh phía Đông của phi đạo Tân Sơn Nhất (trong thời gian cao điểm thả dù tiếp tế cho An Lộc, Không Quân Hoa Kỳ đã phải đưa đến Sài Gòn 76 chuyên viên gắn dù thuộc ĐĐ 549th Quartermaster, ở Okinawa và sau đó còn tăng cường thêm một số chuyên viên từ Đài Loan).
Chiến thắng An Lộc đã phải trả bằng “máu và nước mắt” của những đơn vị Bộ Binh, Nhảy Dù, Biệt Kích Dù, Thiết Giáp, địa phương quân Quân Lực VNCH, quả cảm, quyết sống chết để tử thủ, giữ vững được An Lộc, nhưng chiến thắng này đã cần phải có sự đóng góp tối quan trọng của Không Quân Hoa Kỳ và Việt Nam qua những phi vụ yểm trợ chiến trường như B-52, Gunships các khu trục, trực thăng tiếp tế và tản thương, các phi cơ vận tải. (Trần Lý)

Tài liệu sử dụng:
-The Battle of An Loc (James H Willbanks).
-America’s Last VietNam Battle: Halting Hanoi’s Easter Offensive (Dale Amdradé).
-Chiến trận mùa Hè 1972 (Trần Phan Anh).
-Chiến thắng An Lộc 1972 (Một số tác giả).
-Mùa Hè Đỏ Lửa (Phan Nhật Nam).
-Các bài viết về An Lộc trên các diễn đàn điện tử như Cánh Thép, Lịch sử Việt Nam.
-Các bài viết về An Lộc trên các tạp chí KBC, Lý Tưởng, Lý Tưởng Úc Châu.
-An Loc Personal Account của các cố vấn Hoa Kỳ tham dự trận An Lộc như Đại Tá Ed. Benedict, Đại Tá Ed Stein, Đại Tá Bob Murphy, Đại Úy Harold Moffett.
-The Battle of Loc Ninh- Rattlers Helicopter Web page.
-The Battle of An Loc (James H Willbanks).
-America’s Last VietNam Battle: Halting Hanoi’s Easter Offensive (Dale Amdradé).
-Chiến trận mùa Hè 1972 (Trần Phan Anh).
-Chiến thắng An Lộc 1972 (Một số tác giả).
-Mùa Hè Đỏ Lửa (Phan Nhật Nam).
-Các bài viết về An Lộc trên các diễn đàn điện tử như Cánh Thép, Lịch sử Việt Nam.
-Các bài viết về An Lộc trên các tạp chí KBC, Lý Tưởng, Lý Tưởng Úc Châu.
-An Loc Personal Account của các cố vấn Hoa Kỳ tham dự trận An Lộc như Đại Tá Ed. Benedict, Đại Tá Ed Stein, Đại Tá Bob Murphy, Đại Úy Harold Moffett.
-The Battle of Loc Ninh- Rattlers Helicopter Web page.

Monday, November 19, 2018

Cái nón sắt và người lính - Nguyễn Thị Thanh Dương

Cái nón sắt cùng anh vào đời lính,  
Như hai người bạn luôn ở bên nhau,
Người lính đóng quân hay đi nơi đâu,
Cái nón sắt  chở che anh mưa nắng.

Giữa bom đạn khi anh vào cuộc chiến,
Bảo vệ anh từng giây phút tử sinh,
Tầm đạn xa hay có lúc thật gần,
Mong anh được mọi  bình yên may mắn.

Ðường dài hành quân nếu anh thấm mệt,
Cái nón sắt sẽ là chiếc ghế ngồi,
Chia sẻ cùng anh lúc được nghỉ ngơi,
Có tình nào mà thân thương đến thế?

Bên anh đời thường, đời lính gian khổ,
Cái nón sắt múc nước để anh dùng,
Qua suối qua sông rửa sạch bụi đường,
Cái nón sắt nấu cơm canh dã chiến.

Chung vui với anh niềm vui trận mạc,
Mừng chiến thắng đoàn quân đã trở về,
Người lính trên đầu nón sắt cài hoa,
Cánh hoa rừng vươn lên từ khói lửa.

Góp công với anh, như người chiến sĩ
Cái nón sắt là đồng đội âm thầm,
Ðỡ đạn cho anh khó bị sát thương,
Nón sắt hứng chịu tên bay đạn réo.

Lìa xa nhau không một lời trăn trối,
Người lính hy sinh tay súng buông xuôi,
Cây súng đau khi thất lạc tay người,
Cái nón sắt ngậm ngùi thương tri kỷ.

Nón treo đầu súng tiễn hồn tử sĩ,
Vật dụng của người lính chiến còn đây,
Xông pha với anh ngày lại từng ngày,
Cái nón sắt giờ đây không có chủ.
 Nguyễn Thị Thanh Dương

Bị lừa mất $140,000 vì ‘quà tặng của quân nhân Mỹ’ - (N.L) Người Việt

 Dù đã có nhiều lời cảnh báo, nhưng một số người vẫn trở thành nạn nhân của những trò lừa đảo qua mạng để mất đi những số tiền rất lớn. (Hình minh họa: Getty Images)

TRÀ VINH, Việt Nam (NV) – Với lời hứa hẹn sẽ nhận được một thùng quà trị giá hơn hàng triệu USD nhưng phải đưa tiền đóng lệ phí trước, hai người đàn ông ở Trà Vinh đã bị lừa mất khoảng $140,000, theo báo Người Lao Động.
Theo Người Lao Động, cuối năm 2017, anh Dương T.N, 38 tuổi, ở Trà Vinh, kết bạn qua mạng xã hội với một phụ nữ tên Cristina Francis, là “quân nhân Mỹ,” đang làm việc tại Baghdah.
Theo lời cô này, trong một lần tìm kiếm tại tòa nhà bị đánh bom sụp đổ, cô ta và đồng nghiệp nhìn thấy ba chiếc hộp, bên trong có chứa nhiều tiền và vàng.
“Nữ quân nhân Mỹ” này nói với anh N. rằng nếu để lại đó thì nhà nước sẽ thu hồi, còn gửi về Mỹ thì không hợp pháp nên cô ấy muốn gửi về Việt Nam cho anh N. giữ giùm và anh N. đồng ý, theo tường thuật của Người Lao Động.
Để tạo tin tưởng, người có tên Cristina Francis còn chụp hình một thùng hàng nói có giá trị hơn $4.5 USD có dán một phiếu ghi thông tin của anh N., với lời hứa sẽ đến nhận lại và cho anh N. 50% giá trị thùng hàng.
Cũng theo lời kể của anh N., một tuần sau anh N. nhận được cuộc gọi xưng là “nhân viên hải quan ở Nội Bài” yêu cầu anh đóng lệ phí hải quan $1,000 cho thùng hàng sẽ nhận và tiền phải chuyển vào tài khoản của người mang tên Huỳnh Thị Ngọc Diễm.
Anh N. làm theo yêu cầu. Tuy nhiên, sau hai ngày không nhận được thùng hàng, anh N. liên lạc với số điện thoại đã gọi mình thì người này nói thùng hàng có giá trị lớn nên phải đóng thêm $3,000 nữa mới lấy ra được nên anh N. đã chuyển thêm $3,000 vào tài khoản cho người tên Diễm nói trên.
Qua ngày hôm sau, người tự xưng là “nhân viên hải quan” lại gọi anh N. yêu cầu anh phải đóng thêm $6,000 nữa mới lấy được thùng hàng.
Sinh nghi, nên anh N. không chuyển mà nói với người tên Cristina Francis trả lại cho mình $4,000 đã chuyển nhưng người này lại kêu anh N. liên lạc với một ông tên Domingo Ahmed qua số điện thoại +22170493542 để nhận $50,000.
Anh N. liên lạc với số này thì người xưng Domingo Ahmed yêu cầu anh N. phải đóng $353 mới nhận được $50,000.
Lần này, anh N. không đóng mà viết đơn trình báo công an.
Tương tự, ông L.K.H, 62 tuổi, cũng ở Trà Vinh, cũng bị lừa với thủ đoạn như trên.
Theo lời ông H kể với Người Lao Động, qua Facebook, ông kết bạn với một người tên Michalle Wika, tự xưng là “quân nhân Mỹ,” đang làm việc tại Afghanistan cùng với cha của mình. Cha của người này là “trung tướng Mỹ” nhưng không may đã mất trong trận chiến, hiện người đó đang giữ gia tài của cha mình là $1.5 USD.
Người tên Michalle này nói sẽ gửi số tiền trên cho ông H. giữ hộ vì người này sắp ra quân, không mang theo được số tiền này về Mỹ.
“Quân nhân Mỹ” này hứa sẽ cho ông H. 30% số tiền trên, đồng thời nhờ ông H. giữ dùm số tiền còn lại đến khi người này xuất ngũ sẽ lấy số tiền đó để làm ăn sinh sống.
“Quân nhân Michalle Wika cũng gửi hình thùng hàng và đề nghị ông H. trước khi nhận hàng thì phải thanh toán lệ phí.
Tổng cộng ông H. đã phải trả đến 26 lần các khoản lệ phí với tổng số tiền lên tới 2.75 tỉ đồng (gần $135,000) nhưng vẫn chưa nhận được thùng hàng.
Nghĩ mình bị lừa, cuối cùng ông H. trình báo công an.
Công anh Trà Vinh đang tiến hành điều tra vụ việc này. (N.L)

Thursday, November 15, 2018

Ra mắt sách "Biệt Đội Thiên Nga" của Biệt Đội Trưởng Nguyễn Thanh Thủy

GARDEN GROVE - Vào lúc 2 giờ chiều thứ Bảy, ngày 7 tháng 7, 2018 hàng trăm đồng hương bất chấp thời tiết đang ở 100 độ F vẫn kéo đến Thư Viện Việt Nam, Garden Grove để tham dự buổi ra mắt cuốn sách được trông đợi từ lâu “Biệt Đội Thiên Nga” do chính Biệt Đội Trưởng Nguyễn Thanh Thủy, người nữ sĩ quan Cảnh Sát Quốc Gia VNCH đã bị đày ải trong lao tù Việt Cộng 13 năm viết. 
 
Chiến hữu Nhữ Đình Toán (hàng đầu bên phải) cùng đông đảo chiến hữu, thân hữu ngồi chật kín Thư Viện VN. (Thanh Phong/Viễn Đông)
 
Biệt Đội Thiên Nga là gì? Ngay cả phần lớn những chiến hữu trong Lực Lượng CSQG cũng chỉ biết một cách mơ hồ, đó là một mạng lưới tình báo của Cảnh Sát. Còn Biệt Đội Thiên Nga làm gì, tạo nên những thành tích gì đều được giấu kín, mãi đến hôm nay, người Biệt Đội Trưởng mới trả lời những câu hỏi trên qua cuốn sách mang tên “Biệt Đội Thiên Nga.”
Chiến hữu CSQG Nhữ Đình Toán phụ trách điều hợp chương trình. Sau nghi thức chào cờ và mặc niệm, thay mặt tác giả và ban tổ chức, ông ngỏ lời cám ơn quý niên trưởng, chiến hữu, thân hữu, đồng hương và các cơ quan truyền thông đã đến tham dự buổi ra mắt cuốn Biệt Đội Thiên Nga của Thiếu Tá CSQG Nguyễn Thanh Thủy; ông cũng nói sơ lược về nội dung cuốn sách sau đó ông mời Đại Tá Trần Minh Công, Viện Trưởng Học Viện CSQG lên phát biểu.
 
Đại tá Trần Minh Công, Viện Trưởng Học Viện CSQG, diễn giả chính trong buổi ra mắt sách. (Thanh Phong/Viễn Đông)

Đại Tá Trần Minh Công đã được đọc cuốn sách và ông đưa ra lời nhận định như sau, “Trước đây tôi đã từng đọc quyển hồi ký Đóa Hồng Gai của chị Nguyễn Thanh Nga, một cựu tù CS bất khuất và hôm nay tôi lại được đọc cuốn hồi ký Biệt Đội Thiên Nga của Nữ Thiếu Tá CSQG Nguyễn Thanh Thủy, cũng là một cựu tù nhân bất khuất với 13 năm giam giữ khổ sai bởi CSVN. 
“Mười-ba năm đọa đầy đã làm biến dạng một nữ sĩ quan xinh đẹp một thời là sinh viên Đại Hoc Chính Trị Kinh Doanh Dalat trước khi tham gia Lực Lượng CSQG. Tôi tiếc thương cho cuộc đời của một thiếu nữ vì yêu nước mà đã bị Cộng Sản đày đọa tàn phá dung nhan. Nhưng tôi không khỏi không cảm phục những con cháu Bà Trưng, Bà Triệu như nữ Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy, đã vì yêu nước mà chấp nhận mọi vất vả gian nguy để theo đuổi lý tưởng của mình.
“Chị Thủy tốt nghiệp Khóa 1 Sĩ Quan tại Học Viện CSQG. Học Viện CSQG là một quân trường sĩ quan của Lực Lượng Cảnh Sát, vào thời 1965 tọa lạc trong vòng thành Biệt Khu Thủ Đô Saigon. Lúc đó tôi là Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn Sinh Viên, trông coi và hướng dẫn tất cả các Sinh Viên Sĩ Quan khóa 1 trong đó có gần 400 nam SVSQ và chừng 50 nữ SVSQ. Nhìn những nữ SVSQ xinh đẹp đang là sinh viên của các trường Đại Học thời bấy giờ, tôi tự hỏi không biết rồi sau này khi ra trường họ sẽ được Lực Lượng CSQG giao phó nhiệm vụ gì. Họ rồi có gánh vác được những áp lực nặng nề và đôi khi nguy hiểm của một lực lượng bán quân sự như Lực Lượng CSQG hay không. 
“Tôi thật không ngờ một nữ sĩ quan yểu điệu như chị Thủy lại được giao phó một trọng trách lớn trong ngành điệp báo, thành lập và đứng đầu một toán nữ điệp viên với danh xưng là Biệt Đội Thiên Nga. Trong thời gian sôi động của những năm sau Tết Mậu Thân, từ 1968 đến ngày Miền Nam rơi vào tay Cộng Sản năm 1975, biệt đội này đã cài nhân viên vào các tổ chức Việt Cộng nằm vùng và ngay cả gài một điệp viên vào mật khu của Việt Cộng để thâu lượm tin tức tình báo. 
“Chính nhờ những tin tức tình báo thu thập được mà Lực Lượng CSQG đã kịp thời chuẩn bị và vô hiệu hóa nhiều hoạt động phá hoại của Việt Cộng tại các tỉnh, thị Nam VN trước 1975. Cũng chính vì sự hữu hiệu này của Biệt Đội Thiên Nga do nữ Thiếu Tá Thanh Thủy chỉ huy mà Việt Cộng đã trả thù, đày đọa và hủy hoại nhan sắc của chị trong suốt 13 năm tù đày sau 1975.
“Đọc cuốn hồi ký Biệt Đội Thiên Nga dày 200 trang, gồm 9 Chương, của nữ Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy chúng ta nghe chị kể lại trong hoàn cảnh nào đang là một nữ sinh viên đại học Đàlạt chị đã chọn lý tưởng phục vụ quốc gia qua Lực Lượng Cảnh Sát. Tốt nghiệp Khóa 1 Sĩ Quan Cảnh Sát, chị Thủy được điều động về phục vụ tại Khối Cảnh Sát Đặc Biệt. Chị được gửi đi học các khóa về tình báo trong đó có khóa tình báo tác chiến và chống nổi dậy (insurgency prevention) tại Mã Lai. 
“Khi Biệt Đội Thiên Nga được thành lập vào cuối năm Mậu Thân chị phục vụ trong Biệt Đội này và chỉ một thời gian ngắn sau đó trở thành Biêt Đội Trưởng Biệt Đội Thiên Nga. Các chương 2 và 3 của cuốn hồi ký nói về sự thành lập và huấn luyện tình báo cho các Thiên Nga CSQG. Từ chương 4 cho đến chương 9 chị kể lại một số hoạt động của Biệt Đội Thiên Nga, như việc các điệp viên Thiên Nga xâm nhập và theo dõi các cá nhân và tổ chức nằm vùng của Việt Cộng hoặc các tổ chức do Việt Cộng giật giây. 
“Điển hình là Phong Trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống, Hội Quả Phụ Tử Sĩ VN, Hội Nữ Phật Tử Long Hoa, Nghiệp Đoàn Bạn Hàng Các Chợ, Đoàn Thanh Sinh Công, Nhóm Công Giáo Thân Cộng của các LM Nguyễn Ngọc Lan và Chân Tín, Nhóm Phật Tử Ấn Quang, Phong Trào Sinh Viên tại các đại học Saigon và nhiều hội đoàn khác nữa. Điệp viên của Thiên Nga đã xâm nhập nhiều tổ chức mà danh xưng nghe rất hiền hòa nhưng lại là nơi trú ẩn và hoạt động của cán bộ Việt Cộng như Phong Trào Phụ Nữ VN, Phong Trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống của Ni Sư Huỳnh Liên, luật sư Ngô Bá Thành trong đó có một nữ dược sĩ vợ một BS Quân Y, QL/ VNCH mà sau này Biệt Đội Thiên Nga phát giác ra là một Đại Uý Việt Cộng. 
“Các Tổng Hội Sinh Viên Saigon và Vạn Hạnh của nhóm sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi, Võ Như Lanh... đều là những mục tiêu xâm nhập của các điệp viên Thiên Nga dưới lốt nữ sinh viên. Các tổng hội sinh viên này có cán bộ Thành Đoàn Việt Cộng đứng đằng sau yểm trợ và giật giây. Một tổ chức nghe như vô thưởng vô phạt là Hội Bạn Hàng Các Chợ lại do một phụ nữ có chồng là một Đại Tá Việt Cộng điều khiển. Người ta còn nhớ từ 1963-1975 sinh viên các trường Đại Học Saigon thường xuyên bị Việt Cộng lợi dụng xúi bẩy xuống đường gây xáo trộn hậu phương. 
“Thiên Nga đã phải tuyển mộ nhiều nữ sinh viên các trường đại học Văn Khoa, Luật Khoa, Sư Phạm... làm tình báo viên hầu giúp phát hiện các sinh viên thiên cộng hoặc các cán bộ Thành Đoàn của VC giả dạng sinh viên gây xáo trộn. Các tổ chức có tính cách tôn giáo như chùa Ấn Quang, trường Công Giáo Chân Phước Liêm cũng là những nơi Việt Cộng len lỏi vào và Thiên Nga phải xâm nhập để theo dõi. Tịnh xá Ngọc Phương ở Gò Vấp của ni sư Huỳnh Liên cũng là nơi điệp viên Thiên Nga có mặt và đã phát hiện là nơi giao liên của VC. Một điệp viên Thiên Nga đã được nhóm ni sư Huỳnh Liên và vài nhân vật trong chùa Ấn Quang móc nối để đưa vào mật khu VC huấn luyện. Điệp viên này sau đó đã hoạt động với VC cho tới 1975 mới bị Việt Cộng phát giác. 
“Biệt Đội Thiên Nga cũng đã móc nối một số hồi chánh viên hoạt động như gián điệp nhị trùng để cung cấp cho ta những âm mưu đánh phá của VC. Chuyện kể như trong các phim tình báo giả tưởng nhưng lại là có thật: một nữ điệp viên của Thiên Nga bí danh Tư Hương được cài vào hoạt động trong mật khu VC. Chị Tư Hương được trang bị một máy phát tuyến gắn trong đôi guốc có thể phát tín hiệu để máy bay của ta theo dõi mỗi bước chân của chị. Chính nhờ vậy mà cơ quan an ninh của ta đã biết được nơi hội họp của các cán bộ VC đầu não đang nghiên cứu kế hoạch chuyển quân quanh mật khu Đồng Dù chuẩn bị tấn công một vài đơn vị quân đội VNCH. 
“Chuyện xâm nhập để theo dõi và thu thập tin tức tình báo của biệt đội Thiên Nga thì còn nhiều và xin để quý độc giả tuần tự khám phá ra khi đọc cuốn hồi ký Biệt Đội Thiên Nga của Nữ Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy. Cuốn hồi ký cũng sẽ mang lại cho quý vị nhiều bất ngờ như vụ sinh viên Việt Cộng Huỳnh Tấn Mẫm lại được chính Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ và Đại Tướng Dương Văn Minh che chở. Chuyện nữ kịch sĩ Kim Cương thực ra là nữ Thượng Tá Kim Cương, nữ nghệ sĩ Thanh Nga lại là Thượng Úy Việt Cộng có nhiệm vụ móc nối Đại Úy VNCH Nguyễn Minh Mẫn người trông coi khu thương cảng của Hoa Kỳ thời đó. 
“Thanh Nga đã được Kim Cương móc nối lấy ông Luật sư Phạm Duy Lân nguyên là Đổng Lý Văn Phòng Bộ Thông Tin VNCH. Ông đã tham dự Hội Nghị ký kết Hiệp Định Paris năm 1973 đã đưa Thanh Nga cùng đi, dĩ nhiên Thượng Úy Thanh Nga đi theo để làm gì thì bây giờ chúng ta đã biết. 
“Tất cả những tin tức này đều do các nữ điệp viên Thiên Nga xâm nhập và trở thành người thân tín của Kim Cương cung cấp.. Chuyện nữ kịch sĩ Kim Cương đã dàn xếp để minh tinh Thẩm Thúy Hằng trở thành vợ của Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Oánh như thế nào, lại phải mời quý vị độc giả từ từ khám phá ra khi đọc hồi ký của nữ Thiếu Tá CSQG Nguyễn Thanh Thủy, Biệt Đội Trưởng Biệt Đội Thiên Nga VNCH.
“Hai-trăm trang giấy của cuốn hồi ký này không phải chỉ là những chuyện kể lại nghe cho vui nhưng sẽ là những mảng sử liệu ghi lại một số hoạt động tình báo của CSQG Việt Nam, do các nữ sĩ quan và nhân viên của một đơn vị tình báo đặc biệt. Các chuyện kể là có thật tuy không phải là tất cả. Tôi tin rằng còn nhiều chuyện mà Thiếu Tá Thanh Thủy vì những lý do đặc biệt nghề nghiệp chưa tiện tiết lộ. 
“Nghề tình báo là sống để bụng, chết mang đi. Chỉ có thể tiết lộ những gì không còn cần giữ bí mật. Nhiều đối tượng có thể bắt được nhưng không bắt vì đầu mối còn phải được nuôi dưỡng để phanh ra những đối tượng quan trọng hơn. Những chiến công tình báo không được phô trương rầm rộ, chỉ âm thầm chia sẻ với nhau. Đó là những thiệt thòi của nghề tình báo. Đó là những thiệt thòi của các thành viên Biệt Đội Thiên Nga. Không ai biết nhưng tổ quốc biết và ghi công. 
“Hôm nay trong tư cách là một huynh trưởng CSQG của chị, tôi muốn nói lên lời cám ơn Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy, cám ơn các nữ Sĩ Quan và nhân viên Biệt Đội Thiên Nga còn sống hay đã hy sinh vì nhiệm vụ. Quý chị là những anh thư của Việt Nam mà ít người biết đến. Nhưng phục vụ Tổ quốc thì xá gì người đời biết đến hay không.. Tổ quốc biết đến và ghi công là đủ. Tôi xin bày tỏ sự ngưỡng mộ của tôi đối với Biệt Đội Thiên Nga và xin trân trọng giới thiệu cuốn hồi ký này đến toàn thể quý vị.”
Tiếp theo, ban tổ chức mời cô Glassey Trang Đài-Trần Nguyễn rồi đến chiến hữu Nhữ Đình Toán và nhà thơ Trạch Gầm lên phát biểu. Chiến hữu Nhữ Đình Toán và tác giả đều tốt nghiệp Khóa I Sinh Viên Sĩ Quan Học Viện CSQG. Ông cho biết, để được tuyển vào Khóa 1 các nữ SVSQ Thẩm Sát Viên hay Biên Tập Viên đều là những thiếu nữ xinh đẹp, vì đó là một trong những tiêu chuẩn về nhân dáng để được tuyển chọn, chị Thanh Thủy là một trong số các nữ SVSQ Biên Tập Viên đó, và sau khi đảm nhiệm vai trò Biệt Đội Trưởng Biệt Đội Thiên Nga với những thành tích lẫy lừng, chị đã được ân thưởng Đệ Tam Đẳng Cảnh Sát Chiến Công Bội Tinh, Đệ Nhị Đẳng Danh Dự Bội Tinh.
Chị Nguyễn Thanh Thủy lên ngỏ lời cảm tạ Thượng Đế đã cho chị đủ nghị lực vượt qua những thử thách của cuộc đời. Tri ân cha mẹ đã sinh thành, dưỡng dục để chị trở thành người con dân đất Việt có lý tưởng quốc gia, cám ơn người bạn đời là ông Lê Thành Long (Sĩ quan Nghi Lễ của Trường Võ Bị Quốc Gia VN) và các con chị đã đồng cam cộng khổ trong suốt những năm tháng anh chị bị giam trong ngục tù CS, cám ơn người em út là Minh Nguyệt đã chăm sóc các cháu khi anh chị ở trong tù VC. 
Chị cũng không quên cám ơn các Thầy, Cô đã giúp chị mở mang kiến thức, cám ơn các Thiên Nga đã cùng chị cống hiến đời mình cho đất nước và phải bị giam cầm nhiều năm trong chốn lao tù CS. Cuối cùng, chị cám ơn các chiến hữu CSQG, thân hữu đã góp tay giúp chị hoàn tất cuốn “Biệt Đội Thiên Nga.” 
Hiện nay chị Nguyễn Thanh Thủy đang kế nhiệm Hội Trưởng Hội H.O. Cứu Trợ TPB/QP/VNCH. Chị đã mời các Thiên Nga lên sân khấu và trao tặng mỗi chị một vòng hoa, và cám ơn Biệt Đội Văn Nghệ do anh Vũ Long Sơn Hải chỉ huy đã giúp phần văn nghệ cho buổi ra mắt sách.
Tiến sĩ Orchid Thanh Lê, người được đọc bản thảo cuốn sách đã viết thay lời mở đầu: “Tôi tin rằng cuốn sách Biệt Đội Thiên Nga sẽ mang một mẫu số chung đến với độc giả từ khắp mọi nơi, mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp, đó là, sự tìm về bối cảnh của một thể chế VNCH trong đó các Thiên Nga nước Việt chung vai gánh vác sơn hà không thua gì nam giới, để chúng ta cùng xúc động với lời kể đơn sơ mà thấm đẫm tự hào dân tộc của Thiên Nga đầu đàn, Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy. Và còn nhiều, nhiều nữa.”