Sunday, July 12, 2020

PHNOM PENH, NGÀY ẤY CÒN ĐÂU? - Kim Thanh

KIM THANH
LTS: Kính anh Kim Thanh, tôi nhận được bài này của anh từ một độc giả xa lạ gởi đến, bài viết thật hay và thật xúc động khiến tôi không thể không đăng được. Tuy nhiên, để bảo vệ trang Blog mong manh này, xin anh cho phép tôi được lược bớt vài câu mà người ta hay gọi là “nhạy cảm”. Rất mong anh không phiền trách. Cám ơn anh rất nhiều. Blog Lề Trái

Giữa tháng 7 năm 1971, tôi đang dẫn một trung đội tăng phái hành quân theo chiến dịch Phượng Hoàng tại một quận lỵ thuộc Tiểu khu Khánh Hòa thì nhận được lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu về Sài Gòn trình diện.. Đối với một sĩ quan cấp nhỏ, trung úy như tôi, đó là một tin vui lớn. Không cần biết về làm gì. Ít nhất được xa chiến trường một thời gian.

Về Sài Gòn, tôi được Bộ Tổng Tham Mưu cho biết phải đi Phnom Penh làm thông dịch viên Pháp ngữ cho Phái Đoàn Liên Lạc Quân Sự. Từ ngày VNCH đưa quân sang xứ Chùa Tháp, nhiệm vụ của Phái Đoàn, như tên gọi, rất cần thiết trong việc liên lạc giữa hai quân đội bạn. Nhận sự vụ lệnh, tôi nghĩ đến nỗi thất vọng của ba mẹ tôi luôn mong ước tôi được làm việc tại Bộ Tổng Tham Mưu, nhàn hơn, thọ hơn chăng. Cam Bốt, lúc ấy, cũng đang tơi bời khói lửa.

I. Phái Đoàn Liên Lạc Quân Sự:
Ở chơi Sài Gòn ba ngày, tôi đi Phnom Penh bằng C47, chuyến bay đặc biệt chở đồ tiếp tế cho Phái Đoàn. Hơn một giờ sau, đến phi trường Pochengton. Trời nóng không thua gì Sài Gòn. Một thiếu úy còn trẻ, kém tôi độ vài tuổi, mặt mày trắng trẻo, mang súng ru-lô xệ ngang hông như cao-bồi Texas thứ… giả, trên mép gắn hờ điếu thuốc chưa đốt kiểu James Dean, một chân gác, nhịp nhịp, trên cây cản phía đầu xe jeep trắng, mang bảng số ẩn tế. Một tốp quân nhân, trong số có một thượng sĩ già, bước xuống máy bay, lên xe. Thấy tôi còn đứng lóng ngóng, anh thiếu úy không chào, chỉ hất hàm hỏi, “ông về Phái Đoàn hả, lên luôn, mắc cỡ gì nữa”. Dĩ nhiên, tôi thấy khó chịu, nhưng tự nhủ, đừng nóng, sẽ tính sau. Một chiếc xe dân sự khác chở đầy vật dụng đem xuống từ máy bay.

Xe chạy bon bon trên những đường phố vắng, và đặc biệt rất sạch, có những hàng cây thẳng tắp hai bên đường cành lá sum suê, và những vườn hoa rực rỡ sắc màu. Vừa lái, anh thiếu úy tự giới thiệu, Nguyễn An Hòa, và sau này, tôi biết thêm anh là con của Trung tướng Nguyễn Văn Mạnh, Tham mưu trưởng Liên quân, ở trong Phái Đoàn, giữ một chức mà chính anh gọi đùa là “trưởng ban cà nhỏng”, muốn làm gì thì làm.

Sau hơn nửa giờ, đến trụ sở Phái Đoàn Liên Lạc Quân Sự, một building đồ sộ trên đường Norodom. Tôi được đưa thẳng lên lầu hai trình diện Trưởng phái đoàn, Đại tá Tô Văn Kiểm. Ông dáng gầy, tầm thước, rất ít nói, nét mặt khắc khổ, nhưng hiền lành, đôi mắt biểu lộ một tấm lòng nhân hậu. Lần đầu gặp ông, tôi thấy có cảm tình ngay và an tâm. Rồi ông dẫn tôi đến một phòng lớn, toàn là sĩ quan cấp tá đang ngồi làm việc, và giới thiệu:

-Trung úy Nguyễn Kim Quý, thông dịch viên mới của Phái Đoàn. 
Có đủ các Phòng Ban, các ngành Hải, Lục, Không quân. Tôi còn nhớ bên Hải quân có Thiếu tá trẻ tên Khôi (quên họ), Không quân có Trung tá phi công già Trịnh Hảo (Văn?) Tâm. Có Trung tá Nguyễn Kiên Hùng, TQLC, người hùng trong vụ đảo chánh cụ Diệm năm 1960, ở phòng 2 hay 4. Đặc biệt có Trung tá Nguyễn Văn Nam, trưởng phòng 5, chồng của nghệ sĩ Mộng Tuyền, dáng dấp hào hoa phong nhã. Trung  tá Nam bước đến vỗ vai tôi, bắt tay, thân mật, nói liền một câu tiếng Pháp, giọng khàn khàn:

– Bienvenu, mon frère!
Dân CTCT có khác, tôi khen thầm. Đại tá trưởng Phái Đoàn cho tôi nghỉ ba hôm, để quen nước quen cái. Ngủ trong dãy phòng sĩ quan cấp úy, gồm các phi công, sĩ quan hải quân, và bộ binh biệt phái công tác ngắn hạn, nghĩa là mới thấy đã biến đâu mất. Ăn tại “phạn xá”, dành cho sĩ quan cơ hữu, nghĩa là làm việc thường trực tại Phái Đoàn. Mỗi người góp tiền hàng tháng cho hai binh sĩ “hỏa đầu quân” đi chợ và nấu ăn chung.

Nguyễn An Hòa đưa tôi đi thăm một vòng building: phòng truyền tin, tiếp liệu, nhà bếp, nhà tắm, phòng ngủ của các hạ sĩ quan, binh sĩ. Tất cả đều chào đón tôi vui vẻ, niềm nở. Phòng Y tế có một bác sĩ và một y tá. Y sĩ trưởng là Thiếu tá Trương Kim Thành rất cởi mở, dễ mến. Sau này, khi rảnh việc, tôi hay mò đến phòng Y tế không phải để xin thuốc, vì lúc ấy còn trẻ đâu cần, nhưng để tán gẫu với anh về đủ chuyện, kể cả văn chương, nghề của tôi, và chữa bệnh hoa liễu, nghề của… chàng. 

Tôi được chia văn phòng với Thiếu tá Son Sanjivith, sĩ quan liên lạc của quân đội Cam Bốt tại Phái Đoàn VNCH, sáng đến chiều đi, luôn mặc quân phục kaki vàng ủi thẳng nếp, mang cấp bậc trên cầu vai như lon Pháp, đeo kính trắng, dáng dấp quan văn hơn quan võ. Son Sanjivith nói anh là con của cựu Thủ tướng Cam Bốt Sơn Ngọc Thành –thủ tướng năm 1945 và 1972, bị ám sát hụt, đày về Việt Nam, rồi sau 1975 bị Việt Cộng bắt và chết trong khám Chí Hòa năm 1977– và cháu của chính trị gia Sơn Ngọc Minh. Tôi cũng không hỏi thêm. Anh không nói được tiếng Việt. Buổi sáng đầu tiên tôi vào nhận việc, anh pha cà-phê mời tôi uống, nói chuyện bù khú với nhau gần một giờ xài nhiều tiếng lóng Pháp, cười thích thú, bên khung cửa sổ, nhìn xuống con đường phía sau, song song với đại lộ Norodom. Rồi ai về bàn nấy. Anh ngồi cuối phòng, còn tôi gần cửa ra vào.

Phái Đoàn Liên Lạc Quân Sự không có thông dịch viên khá lâu, vì người tiền nhiệm của tôi, mãn hạn ba tháng, chưa có ai thay, nên giấy tờ ứ đọng. Giấy tờ không có gì “mật”, cũng thường thôi, của quân đội –đôi khi của chính phủ– Cam Bốt, viết bằng tiếng Pháp, gửi Phái Đoàn, nhờ chuyển cho Bộ Tổng Tham Mưu Sài Gòn. Trước khi đến bàn thông dịch viên, văn thư đã được đọc bởi Đại tá Kiểm. Thư nào cần dịch ra tiếng Việt, và ngược lại, ông ghi “à traduire”. Thư trả lời, ông viết bằng tiếng Việt, mặc dù rất giỏi Pháp ngữ, cũng như các trưởng phòng, nhưng ông muốn có một bản dịch do một “chuyên viên” chính thức chịu trách nhiệm. Đôi khi ông gợi ý cho tôi trả lời thẳng bằng tiếng Pháp những bức thư không quan trọng. Ông rất hài lòng về những bản dịch của tôi, khen tôi trước các sĩ quan khác, và để tưởng thưởng, ông cho phép tôi, sau khi nộp bản dịch trong ngày, được đi chơi tùy thích, không phải ngồi “làm cảnh” ở văn phòng. Tôi thầm cám ơn Thượng Đế cho tôi thêm một vị chỉ huy quá tốt, giữa những vị chỉ huy quá tốt khác trong suốt đời lính.

Được phép, nhưng tôi lại không ra ngoài, thích ở văn phòng đọc sách, trừ khi Hòa đến rủ. Mà Hòa thì khoái đi lắm. Đúng hơn, khoái đi với tôi, có lẽ vì đồng trang lứa, đồng cấp úy, có lẽ vì tôi dễ tính, lôi đi đâu cũng được. Quen nhau, tôi thấy Hòa là một người bạn tốt, thẳng thắn, dễ thương, không bao giờ nói hoặc chơi xấu ai, dù bề ngoài có vẻ ngang tàng, bất cần của một công tử Con Ông Cháu Cha. Bên ly rượu, giữa hai làn khói thuốc, Hòa thường tâm sự về cuộc đời, ái tình, sự nghiệp của mình, và tôi được biết anh rất đắt đào, trong số có một ca sĩ cải lương trẻ đang lên mà anh xem như bồ ruột –đôi lúc dự tính “rước em dzìa dzinh luôn”, anh vui miệng kể.

Ra phố, Hòa và tôi diện áo quần dân sự, nhưng không quên lận lưng cây súng, juste dans le cas où… Hòa thường khoe cây mini-Colt dẹp, đẹp, nhỏ xíu, như cái hộp quẹt ga, tôi không chắc bắn có chết ai không. Ngoài những chiều Chúa Nhật dự thánh lễ tại nhà thờ Chánh tòa, nơi gặp gỡ của thành phần thượng lưu Cam Bốt cũng như ngoại quốc, nhất là Pháp, tôi xuống phố, một mình hay với Hòa, cũng chỉ để vào những tiệm ăn Tây, gần trụ sở Phái Đoàn gọi món poulet à la marengo hay civet au lapin, nhấm nháp vài ly rượu vang Bordeaux chánh hiệu. Hoặc lòng vòng quanh Chợ Trung ương (Marché Central) gần đại lộ Monivong và de Gaulle, ăn hủ tiếu Nam Vang –gọi là chính gốc Nam Vang, mà dở tệ hơn mì gói trụng nước sôi. Hoặc lượn trước cửa Lycée Preah Norodom, ngắm các tiểu thư mặc đồng phục váy màu xanh đậm, mặt hoa da phấn, ríu rít tan trường, mà lòng bồi hồi tưởng nhớ những bóng hình xưa cũ. Đôi khi Thiếu tá Son Sanjivith mời về nhà dùng cơm. Vợ anh là người Cam Bốt, xinh đẹp, quý phái, lịch sự. Đáp lễ, thỉnh thoảng tôi mời hai vợ chồng đi ăn những tiệm họ chọn. Theo lời khuyên của anh, tôi tránh vào những bars rượu, có bia ôm dĩ nhiên, vì người Miên, nhất là lính Miên hành quân trở về, súng ống đầy mình, không ưa Việt Nam... Một lần, lỡ bước vô, Hòa và tôi bị họ nhìn với cặp mắt cú vọ, khiêu khích, như chúng tôi đã nhìn lính Mỹ trong các quán bars ở Sài Gòn. Ngồi uống bia kiểu đó mất hứng và mất sướng. Ôm em trong tay mà hồi hộp không biết ăn đạn lúc nào.

Thỉnh thoảng, Trung tá Nguyễn Văn Nam cũng rủ tôi đi chơi riêng với ông. Khi thì ông gặp một người Miên lai môi giới hỏi mua chiếc xe Mustang rẻ, đem về Việt Nam miễn thuế, bắt tôi ngồi bên để ông lái thử xem máy chạy có tốt không. Khi thì đến ăn tối tại nhà một chị Việt Kiều quen ông. Khi thì đi thăm Chùa Prasat Prak, còn gọi là Chùa Bạc Chùa Vàng (sàn lót bằng hàng ngàn mảnh bạc và có một tượng Phật khổng lồ đúc vàng), hay vào hoàng cung lộng lẫy son vàng, mái lầu cong vút, bất ngờ nhìn thấy công chúa Bopha Devi, con vua Sihanouk, nguyên trưởng đoàn múa ballet hoàng gia, năm ấy 28 tuổi, ba đời chồng, đẹp mê hồn, bị giam lỏng cùng với gia đình và nhiều mỹ nữ.

Ngoài lương căn bản trong quân đội, do đơn vị gốc giữ hộ, các sĩ quan Phái Đoàn được lãnh thêm tiền phụ cấp công tác hàng tháng bằng đô la xanh. Tôi cấp nhỏ, độc thân, lãnh khoảng $180, đổi ra tiền riel, vật giá lại rẻ, cũng đủ xài hết tháng, một cách đế vương, có khi còn dư chút đỉnh. 

Ban đêm, Phái Đoàn tự lo an ninh. Tất cả sĩ quan luân phiên trực trại, tuần tra bên trong tường building cùng với hai binh sĩ trang bị M16 và lựu đạn. Buổi sáng, nếu không có chuyện gì, ghi vào sổ “rien à signaler”, vô sự. Một vài đêm cuối tuần, không biết làm gì để giết thời gian, các sĩ quan, chờ cho Đại tá Kiểm đi ngủ, gầy sòng phé đánh giải trí. Tôi và Hòa được rủ tham gia. Ai không chơi, ngồi ngoài chầu rìa, tình nguyện đóng vai “thầy bàn”. Tôi mang danh “thầy cúng”, vì thua triền miên. Trung tá Nam đánh rất bạo, mới nước thứ hai đã tố xả láng, tapis (Mỹ gọi là “all in”) liền, thua hết tiền, đứng dậy, tỉnh queo, nhưng thường thường ông thắng, vì đa số nhát, không dám bắt dù đoán ông tháu cáy. Một đêm, đang sát phạt, Đại tá Kiểm bất thần xuất hiện. Ông ghét cay ghét đắng cờ bạc, nên la mắng tận tình, từ cấp trung tá trở xuống, ai nấy ngồi yên, chịu trận. Nhưng qua hôm sau, ông vui vẻ trở lại, coi như không có chuyện gì xảy ra. Những trận phé chui, vì thế, vẫn tiếp diễn trong hồi hộp.

Nói lại công việc dịch. Thực ra, lúc đầu, tôi cũng vất vả với những danh từ quân sự và khuôn mẫu xã giao, cả Việt lẫn Pháp, mặc dù nội dung không có gì khó khăn, gây cấn. Vài lá thư thường xuyên than phiền về việc làm của một, hai đơn vị QLVNCH trong làng xã gần biên giới. Vài thư chia sẻ tin tức quân sự, báo cáo, tổng kết công tác phối hợp. Một số ít thư qua lại mang tính cách ngoại giao như mừng Ngày Quân Lực VNCH, chia buồn vụ Tướng Đỗ Cao Trí tử nạn, hoặc, ngược lại, những lễ lớn của quân đội Cam Bốt. Son Sanjivith cho tôi một quyển cẩm nang về cách viết công văn bằng tiếng Pháp với những câu xã giao có sẵn. Cứ thế mà ráp vào. Sau hai tuần, tôi quen, và bất kỳ văn thư dài ngắn, tôi chỉ đăm chiêu suy nghĩ một hồi, gõ máy chữ (lúc ấy chưa có computer) hai mươi phút là xong. Rồi thay đồ dân sự. Tự do như gió.

Đôi khi tôi đến sân tennis, gần phi trường Pochengton, múa vài đường banh cho giãn gân cốt, kiểu trưởng giả học làm sang, chứ không mong ăn cái giải gì. Nhờ vậy, một ngày đẹp trời, nhân đi xem một trận đấu quốc tế tôi được gặp tại đó một bạn JECU (Thanh Sinh Công Đại Học) cũ, xinh đẹp, vô cùng dễ thương, Yvette Trương Tấn Trung, cựu sinh viên Dược Sài Gòn. Tha hương ngộ cố tri là một trong tứ… vui. Cả hai hết sức ngạc nhiên, ôm chào nhau mà miệng cùng lúc hỏi nhau một câu giống y chang: “Mais qu’est-ce que tu fais ici?” (Nhưng mà toa làm gì ở đây?)... Yvette lấy chồng người Cam Bốt, bạn học trường Dược ở Paris, về Phnom Penh mở một tiệm thuốc Tây, cũng gần đó. Hỏi thăm nhau nhiều chuyện mới, ôn lại nhiều kỷ niệm cũ. Yvette ghi địa chỉ và số điện thoại mời “toa hôm nào đến nhà tụi này chơi.” Tôi hứa, rồi lại quên, cho đến ngày trở về Việt Nam, lên phi trường Pochengton, mới sực nhớ, nhưng trễ quá, không làm được gì nữa. Sau 1975, thỉnh thoảng tôi tự hỏi không biết Yvette và chồng con có thoát được nạn Khmer Đỏ. Năm 1988, tôi ở Paris, tìm trong niên giám điện thoại tên Yvette Trương. May quá, gọi được. Tôi nói, xin lỗi đã không đến thăm ở Phnom Penh và mừng vì Yvette và gia đình trở lại Pháp trước 1975. Lúc ấy, tại Paris, Yvette làm trong một hãng bào chế thuốc.

Một hôm, bà Mộng Tuyền qua Phnom Penh thăm chồng. Thực sự, tôi chỉ nghe tên bà, chứ chưa hề diện kiến dung nhan và cũng chẳng biết bà hát tân nhạc hay cổ nhạc nữa. Quả thật, danh bất hư truyền. Bà rất đẹp, nước da trắng như trứng gà bóc, lại lịch thiệp, gọi tôi bằng “chú” (em). Nhân dịp, Trung tá Nguyễn Văn Nam rủ tôi cùng đi với ông bà, và vài sĩ quan khác, thăm trại Việt Kiều Phnom Penh, gần bến tàu, dưới quyền kiểm soát của chính phủ Miên. Năm 1970, sau khi Lon Nol, với sự trợ giúp của hoàng tử Sirik Matak lật đổ vua Sihanouk (Sirik Matak thuộc dòng chính, đáng lẽ lên ngôi vua, nhưng Pháp chọn Sihanouk, nên rất hận ông này), những người Việt Nam, dù sinh trưởng tại Cam Bốt đã lâu đời, đều bị bắt giết dã man trong thảm nạn “cáp duồng”. VNCH phản ứng chậm, và hàng ngàn người đã chết, như báo chí Việt Nam thời ấy tường thuật. Một số được hồi hương. Một số đang chờ tàu hải quân chở về Việt Nam, như trại tập trung Việt Kiều mà chúng tôi đến thăm. Xem như đi công tác CTCT và sợ bị “cáp duồng” bất tử, chúng tôi được lệnh mặc quân phục và mang theo hai cây M16.

Trại nằm trong khuôn viên một ngôi chùa lớn, trên một sân rộng, có hàng dây kẽm gai vây quanh và rải rác cả trăm lều vải. Hầu hết là những gia đình, đầy trẻ em nheo nhóc, làm ruộng hoặc đánh cá, không nói hoặc nói ít tiếng Việt. Da ngăm đen, trông không khác người Miên, tay chân khẳng khiu vì thiếu dinh dưỡng. Cảnh sống quá thảm thương. Tôi bước theo ông bà Trung tá Nam và Thiếu tá Khôi Hải quân, thăm hỏi một số đồng bào. Một cô trẻ đẹp, khoảng mười tám, da trắng, môi thắm tự nhiên, ngồi một mình buồn bã ở một góc lều. Chúng tôi dừng lại. Thấy tôi, cô nghẹn ngào khóc:

– Anh cứu em với.
– ?
– Cả gia đình em ở Kompong Thom bị giết chết hết. Em chạy trốn được xuống đây. Em chưa có chồng, anh lấy em đi, em mới thoát được chỗ này.
Tôi biết cô nói thật, và có thể với nhiều người khác, vì quá tuyệt vọng. Trung tá Nam nhìn tôi, rồi nhìn cô, an ủi:
– Tàu Hải quân sắp lên đón đồng bào về Việt Nam. Cô đừng lo.
Còn tôi móc bóp, tặng cô một trăm riel, tương đương năm đô. Cô lắc đầu, không lấy, khóc nức nở thành tiếng. Tôi đặt số tiền dưới chân cô, chào và đi thẳng. Viết đến đây, tôi thầm hỏi, cô giờ này ở đâu, còn sống hay đã chết, hỡi cô gái tỵ nạn không biết tên, nạn nhân của chiến tranh ngu ngốc và độc ác của loài người –một Barbara trong thơ của Prévert? 

II. Soriya :
“Sweet Helen, make me immortal with a kiss”
(Christopher Marlowe, XVIth c., Faust) 
“You gods […] ought to be ashamed of yourselves! You are always jealous…”
(lời Calypso nói với thần Hermès, trong The Odyssey của Homère, quyển V)

Tòa đại sứ VNCH gần Phái Đoàn Liên Lạc Quân Sự, trên đường Norodom, nếu tôi nhớ không lầm. Tôi chỉ đến hai lần. Lần đầu vào đầu tháng tám, 1971, khi ông Đại sứ Trần Văn Phước mở một tối tiếp tân, tôi không nhớ nhân dịp lễ nào. Cả Phái Đoàn được mời tham dự. Đèn hoa treo rực rỡ, sáng trưng. Có một số đại diện đồng minh, như Mỹ, hay Lào, Nhật, Thái Lan, Miến Điện… Ăn theo kiểu self-service, rượu vang và champagne uống thả giàn. Một cô Cam Bốt, tay cầm ly rượu, tay cầm đĩa thức ăn, đến bàn tôi, xin ngồi cùng. Và tự giới thiệu, Soriya, thư ký đả tự của Tòa đại sứ Việt Nam. Cô nói tiếng Pháp lưu loát, giọng trong vắt. Trong câu chuyện, cô hỏi tôi có phải là Trung úy thông dịch viên, nghe danh Trung úy lâu rồi, hôm nay mới được làm quen, v.v… Cô dáng cao gầy, nước da bánh mật, có chiếc răng khểnh xinh xinh, nhưng lúc ấy rượu vào, lại được ngồi cạnh người đẹp, tôi thấy cô quyến rũ khác thường, còn hơn cả tiên nữ giáng trần. Lòng lâng lâng yêu đời, tôi bắt đầu trổ tài tán dóc, nghĩa là nói nhiều, nói dai, nói giễu hơn thường lệ. Cô kể, em quê ở Battambang, học tới Bac II, rồi đi làm, hôm nào mời anh đi về quê em chơi… C’est promis? –C’est promis. Tôi hứa đại.

Lần thứ hai tôi đến Tòa đại sứ, mười ngày sau. Tìm gặp Soriya, một buổi trưa, không hẹn trước. Cô đang đánh máy, thấy tôi, vội vàng chạy ra cửa, ôm hôn theo kiểu Đầm, mỗi má hai chiếc. Tôi mời cô tối ra phố ăn cơm. Trong tiệm, một lúc nào đó, tôi nói:

– Tên em đẹp quá. Soriya có nghĩa gì vậy?
– Mặt trời. Mặt trời sưởi ấm những trái tim lẻ loi. Anh có tin là em cô đơn?
Tôi siết nhẹ tay cô:
– Có. Bien sûr. Người ta không nói dối khi nói mình cô đơn. On ne ment pas quand on dit qu’on est seul. Hình như câu đó của James Jones trong Tant qu’il y aura des hommes.
Rồi bỗng cô ngập ngừng, hỏi:
– Sao anh lại chọn nghề này, em muốn nói, nghề lính, bắn giết nhau, hay ho gì?
Tôi nhìn sâu vào mắt cô, để tìm xem có ẩn ý nào không, rồi chậm rãi trả lời:
– Trong lúc đất nước chiến tranh, tôi không có sự chọn lựa. Đi lính càng không phải là một chọn lựa. Có lẽ tại số. Trước khi biệt phái sang đây, tôi là lính chiến, đã bắn và bị bắn trả. Huề. Có một điều bí mật tôi muốn chia sẻ với em mà em chưa được học từ bài học philo hay littérature nào... Đó là loài người chúng ta thường bị ganh tị bởi những vị thần linh bất tử…
Cô im lặng, chưa hiểu. Sau một hớp rượu, tôi tiếp:
– Tôi đọc ở đâu đó, trong L’Iliade hay L’Odyssée của Homère, tôi không nhớ chắc, rằng các vị thần linh trong thần thoại vì là bất tử nên thường hay ganh tị với loài người, ils nous envient, tu sais, bởi chúng ta ai cũng phải chết một ngày, sớm hay chậm hơn, mười năm, ba mươi năm, bốn mươi năm. Cho nên, mỗi một ngày trần thế của chúng ta, của em, của tôi trở thành đẹp vô ngần, quý giá hơn cả ngọc ngà, châu báu. Cũng trong L’Iliade, có đoạn viết rằng các vị thần đứng đầu là Zeus, tức Jupiter, chia làm hai phe trong cuộc chiến giữa thành Troie và Hy Lạp. Họ thèm được đánh nhau như loài ngưòi. Tôi suy diễn, thèm được chết như loài người. Vois-tu, Soriya, les dieux qui sont immortels et ceux qui se croient immortels n’ont pas le lugubre plaisir, ou plutôt l’agréable malheur, d’être condamnés à mourir, à attendre la mort à chaque instant… comme nous tous, comme moi, comme toi, d’ailleurs. Thần linh bất tử không có cái diễm phúc bi thảm, nỗi đau thương dịu dàng được chết, được chờ đợi cái chết đến, từng phút, từng giây, không có thảm kịch bị án phải chết bất cứ lúc nào, như kiếp người mong manh. Như những người lính xông pha ngoài chiến địa… Không bao giờ tôi thấy đời đẹp, và em đẹp hơn là lúc này, khi biết đâu ngày mai ta không còn thấy nhau nữa. Em hiểu tôi chứ?
Soriya suy nghĩ, trầm ngâm, hồi lâu, rồi nói:
– Em hiểu và biết thêm nhiều điều lạ... Merci, mon cher ami.
Trước khi chia tay, cô lại nhắc chuyện đi thăm Battambang. Promis? –Promis. Tôi lại hứa. 

Mãn hạn ba tháng, tôi xin Đại tá Tô Văn Kiểm cho về Việt Nam, mặc dù ông –và cả Nguyễn An Hòa và Trung tá Nguyễn Văn Nam– cố thuyết phục tôi tiếp tục làm việc tại Phái Đoàn, thậm chí đề nghị cho nghỉ phép một tháng với gia đình, rồi trở lại cũng được. Mặc dù rất nhiều người thích qua Phnom Penh, thay chỗ của tôi. Tôi cũng không hiểu tại sao muốn về Việt Nam, trong khi không có vợ con, người yêu để mà vướng bận. Có lẽ vì chán khung cảnh thành phố hàng ngày đơn điệu, trống rỗng, và thấy nhớ núi rừng và mùi hương cau, hương bưởi của những ngày hành quân qua các thôn nghèo và cánh đồng cằn cỗi, những trẻ em và phụ nữ bị thương vì mìn Việt Cộng. Không còn ước mơ được làm việc tại Bộ Tổng Tham Mưu Sài Gòn nữa.

Tôi không từ giã Soriya. Lời hứa đi thăm quê nàng bay theo mây khói. Mười ba năm sau, 1984, tại trại tỵ nạn Bataan, Philippines, chợt nhớ Soriya quay quắt, và ân hận vô vàn, tôi đến khu người Cam Bốt, tìm nàng và hỏi thăm tin tức. Soriya. Không ai biết. Không chừng, năm 1975, Soriya đã bị giết bởi bọn Khmer Đỏ, một người bảo tôi, vì là nhân viên của Tòa đại sứ VNCH. Battambang “quê em” mỗi ngày một xa lắc lơ, biết bao giờ đến được? Tôi bỗng nhớ lời tôi đã nói với nàng trong tiệm ăn năm xưa: “Những vị thần bất tử thường hay ganh tị chúng ta…”

Soriya có lẽ đã bị giết như hai triệu người Cam Bốt đồng hương. Như, có lẽ, Thiếu tá Son Sanjivith. Như, chắc chắn, Sirik Matak, cựu thủ tướng của họ.

III. Sirik Matak: 
“My soul, do not seek immortal life, but exhaust the realm of the possible”
(Pindar, 518-438BC, Pythian Odes, III, 109) 

Một hôm, Đại tá Kiểm bảo tôi ăn mặc chỉnh tề, lên chiếc xe Limousine hay Mercedes, tôi không nhớ, của Phái Đoàn, đi với ông đến dinh Hoàng thân Sirik Matak, quyền Thủ tướng trong thời gian Lon Nol chữa bệnh ở Hawaii. Để họp, ông giải thích, cùng với những nhân vật quan trọng khác. Tôi biết Đại tá Kiểm không cần sự thông dịch của tôi, mà không hiểu sao vẫn dẫn tôi theo, có lẽ vì lòng thương mến dành cho tôi, tôi chủ quan nghĩ như vậy. Trong khi các vị họp hành, bàn luận, tôi tìm chỗ ngồi phía dưới cùng, lắng nghe, quan sát.

Sirik Matak có nét mặt xương xương, người gầy, dong dỏng, vẻ thông minh, nhã nhặn, nói tiếng Pháp sành sỏi. Qua bài diễn văn ngắn của ông (tôi không nhớ chính xác câu nào, mà chỉ những allusions, liên tưởng xa xôi, bóng gió bằng ngôn ngữ ngoại giao, với những động từ chia ở mode conditionnel hay subjonctif, như nous ne croirions pas que…, tout nous aurait indiqué que…, quoi qu’on puisse en dire, nous aurions de bonnes raisons pour…) tôi đánh hơi cảm nhận nơi ông một sự hoài nghi về những lời cam kết và lòng trung thành của người Mỹ đối với Cam Bốt và sự dị ứng cá nhân đối với người Việt Nam, dù Quốc gia hay Cộng sản. Nhưng ông nói rõ, ông cần sự hỗ trợ của Mỹ và Nam Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống Bắc Việt, đang được đỡ đầu bởi Trung Cộng (lúc ấy có tòa đại sứ, hay lãnh sự, tại Phnom Penh). Đó là lần duy nhất tôi thấy ông. Từ đó, tôi không bao giờ nhớ đến Sirik Matak nữa.

Cho đến những năm gần đây, tên ông bỗng trở về trong ký ức. Quả vậy, cứ mỗi dịp tưởng niệm ngày 30/4, đồng hương lại đem đăng tải và dịch trên báo lá thư từ chối đi Mỹ của ông gửi đại sứ John Gunther Dean. Để tôn vinh ông như một anh hùng. Trong bức thư quá nổi tiếng ấy –mà nhà báo và bình luận gia chính trị Gabriel Schoenfeld xem như một trong những tài liệu quan trọng nhất của cả thời kỳ chiến tranh Việt Nam– có một cụm chữ mà không ai dịch đúng, từ dịch giả Phạm Kim Vinh (trong Tháng 4 đen, Vietnam xuất bản, 1988) đến những bản dịch trên mạng, trong câu: “But mark it well that, if I shall die here on the spot and in my country that I love, it is too bad [tôi nhấn mạnh] because we are all born and must die one day”. Tiếng Pháp: “Mais, notez-le bien, si je meurs ici, dans mon pays que j’aime, tant pis, car nous sommes tous nés et nous devons mourir un jour” (Olivier Todd, Cruel Avril, nxb Robert Laffont, 1987, tr. 274)...

Phạm Kim Vinh dịch cụm từ too bad và tant pis thành: “cũng chẳng sao” (sđd, tr. 225). Chết cho quê hương mình yêu dấu đâu phải là chuyện nhỏ, mà “cũng chẳng sao” ư? Còn trên mạng thì được dịch: “đó là điều tệ hại”, hoặc tương tự. Chết cho đất nước như thế, tại sao lại là “điều tệ hại”? Chứng tỏ người ta không hiểu rõ tâm tư của tác giả, Sirik Matak, và lý do khiến ông, mặc dù nói cứng như vậy, vào phút chót đã chạy vào lãnh sự quán Pháp để rồi bị đẩy ra nộp giao cho bọn Khmer Đỏ và sau đó bị giết.

Quả vậy, too bad và tant pis, theo nghĩa thông thường và cảnh huống (contexte) của bức thư phải được dịch là “mặc kệ tôi”: “… Nếu tôi phải chết ngay tại đây, trên đất nước của tôi mà tôi yêu mến, thì cũng mặc kệ tôi, bởi vì tất cả chúng ta được sinh ra và phải chết một ngày…” “Mặc kệ tôi” hàm chứa một sự bất cần, và nhất là, ở đây, một sự uẩn ức, đối với đối tượng của bức thư, tức là chính phủ Mỹ –đã quyết định bỏ rơi Cam Bốt. Nghĩa là, tôi có chết thì cũng mặc kệ tôi, các người đừng thương tiếc làm gì, đừng nhỏ giọt nước mắt cá sấu, v.v… Điều này rất “người” (humain), nghĩa là hợp với tâm trạng chán chường, bất lực và ngôn từ bực bội của một nhà lãnh đạo một nước yếu đang thấy mình bị phản bội bởi một đồng minh mạnh hơn. Giận người đã đành, mà còn giận chính mình đã cả tin vào người Mỹ: “I have only committed the mistake of believing in you, the Americans”. Câu đó làm tôi nhớ bài diễn văn năm xưa của ông đã được nghe trong buổi họp. Ông đã đúng khi nghi ngờ người Mỹ. Người Mỹ đã phản bội ông, quốc gia của ông thật sự. Rõ ràng, trắng trợn. Cũng như đã phản bội kháng chiến quân Cuba năm 1961 trong vụ Bay of Pigs, Tổng thống Ngô Đình Diệm năm 1963, Việt Nam Cộng Hòa năm 1975, quốc vương Shah của Iran năm 1979, và Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak, đồng minh lâu đời, tháng 2/2011… Ví dụ còn nhiều. Cũng vì vậy mà Sirik Matak mới từ chối đề nghị giúp đỡ ra đi bởi chính phủ Mỹ trong một lá thư riêng gửi cho nhân dân Mỹ qua ông đại sứ Mỹ. Vấn đề chỉ là cá nhân giữa ông và Mỹ. Như thế, không có nghĩa, và không có đoạn nào ám chỉ, ông sẽ từ chối mọi sự giúp đỡ, nếu có, nếu cần, của những tòa đại sứ khác, chẳng hạn. Thế thôi. Có như vậy người ta mới hiểu tại sao ông đã xin tỵ nạn trong lãnh sự quán Pháp.

Phải công nhận bức thư của Sirik Matak, dù được viết trong bối cảnh nào, quả là tuyệt vời. Bức thư với giọng nhẹ nhàng, lịch sự mà vô cùng cay đắng, kiêu hãnh của một nhà lãnh đạo anh hùng, có khí phách, có trách nhiệm, không đào ngũ trước khi tai họa giáng xuống. Một bản cáo trạng hùng hồn về sự phản bội, qua những câu bình dị, nhưng làm nhức nhối tâm can.

Bức thư tuyệt vời, so với bài diễn văn của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu. Chúng ta, những người lớn tuổi, còn nhớ buổi tối 21/4/1975, trong giờ tổ quốc lâm nguy, ông đã lên tivi, lúc thì đanh thép lúc thì nghẹn ngào, để tố cáo Mỹ như thế nào về việc cúp viện trợ cho Việt Nam, nghĩa là bỏ rơi Miền Nam, nào là “Hoa kỳ nuốt lời hứa. Bây giờ còn ai tin lời của người Mỹ?”, nào là “chúng ta không thương lượng với Mỹ để có vài triệu đô la giống như chúng ta đi trả giá ngoài chợ cá”, v.v… (xem các báo cũ Việt Nam và Mỹ như The New York Times, Los Angeles Times, v.v…). Đặc biệt, câu cuối cùng: “Tôi từ chức, nhưng tôi không đào ngũ. Tôi sẽ trở về với quân đội, chiến đấu sát cánh với các chiến hữu.” Năm ngày sau, ông rời khỏi Sài Gòn trong một chiếc Mercedes bịt kín, do một đoàn xe CIA hộ tống dưới quyền chỉ huy của Frank Snepp (cf George J. Church, “Saigon: The final 10 days”, Time Magazine, 4/24/1995), ra phi trường, có đại sứ Martin đứng chờ, để đi Taiwan trên chiếc máy bay C-130 sơn đen, với 15 tấn hành lý, và nếu ta tin lời Gabriel Kolko (The Guardian, Oct 2, 2001) “có hai va-li lớn đầy vàng”, hoặc David Lamb của tờ Los Angeles Times, “với số vàng trị giá 15 triệu dollars” (and USD 15 million in gold)...???????????

Một số phận, hai nhân vật. Bức thư của Thủ tướng Sirik Matak tuyệt vời, trên cả tuyệt vời. Cho nên đã được Henry Kissinger đọc cho Quốc Hội Mỹ, để họ nghe thấm thía thêm nỗi nhục nhã và hối hận, biết đâu! Cho nên được lưu trữ tại Thư Viện Quốc Hội Mỹ như một tài liệu quan trọng, trong khi ở đó không có bức ảnh nào của ngũ tướng tuẫn tiết VNCH (tại sao, mặc dù vì niềm tự hào truyền thống không ai trong chúng ta đòi hỏi phải có?). Cho nên đã được người Việt tỵ nạn hàng năm đem ra đăng lại để tô rạng ngời thêm tấm gương dũng liệt của một lãnh tụ ngoại quốc, một đồng nạn nhân của sự tráo trở, phản trắc.

Nhưng, tiếp theo bức thư tuyệt mệnh ấy, vào ngày 17/4/1975, ông hoàng, cựu Thủ tướng Sirik Matak đã chạy vào lãnh sự quán Pháp, cùng với hai cận vệ –điều mà ít ai biết, chú ý hay còn nhớ– và những viên chức cao cấp của chế độ: Ung Boun Hor, chủ tịch Quốc Hội Cam Bốt, Long Boret, thủ tướng đương nhiệm, công chúa Mam Manivane, gốc Lào, vợ thứ sáu của Sihanouk, con gái, con rể, và hai cháu ngoại của bà, và nhiều người khác, không dưới 100. Dù không được mời. Dù bị xua đuổi thẳng thừng, thô bạo, và giao nộp cho Khmer Đỏ ba hôm sau, để tất cả bị giết sạch, kể cả đàn bà con nít, bởi loài thú hung hãn mang hình người.

Tấn thảm kịch này được kể lại, kèm theo hình ảnh, bởi nhiều nhân chứng, tác giả Pháp, Mỹ, Miên, từ Olivier Todd, François Bizet (Le Portail, La Table Ronde, 2000), đến Henry Kamm (Cambodia: Report from a Strickenland, Arcade Publishing, 1998), v.v…, và những ký giả quốc tế. Kể lại bởi những phiên tòa quốc tế xét xử bọn Khmer Đỏ. Và nhất là bởi vụ kiện được thụ lý từ tháng 4/2008 tại tòa án Créteil, Paris, do bà góa phụ Billon Ung Boun Hor, tác giả quyển Rouge barbare (Ed. Respublica, 2009), khởi tố chính phủ Pháp đã ra lệnh nộp chồng bà cho Khmer Đỏ –vụ án mà tất cả báo chí Pháp tường thuật, đang làm thức tỉnh và hổ thẹn lương tâm người Pháp, cũng như bức thư của Sirik Matak, từ 36 năm trước, đã làm thức tỉnh và hổ thẹn lương tâm người Mỹ. 

Hoàng thân Ung Boun Hor, Chủ tịch Quốc Hội Cam Bốt, bị nhân viên Sứ quán Pháp đẩy ra cửa giao nộp cho Khmer Đỏ, ngày 20/4/1975. Hình trong báo Newsweek, số ngày 19/5/1975, được luật sư của bà Billon Ung Boun Hor trưng ra trước tòa, để phản bác lập luận của chính phủ Pháp cho rằng những chính khách Cam Bốt tự nguyện rời khỏi Lãnh sự quán. Trích lại từ báo Thế Giới Ngày Nay (Kansas, chủ nhiệm Lê Hồng Long) số 207, tháng 7&8, 2010, trang 36.

Chính phủ Pháp không xấu, nhưng trong vấn đề chính trị, thường phá bĩnh, chọc gậy bánh xe, ganh đua với người Mỹ, vì mặc cảm hay hội chứng de Gaulle –chịu ơn Mỹ, nhưng vẫn ghét Mỹ. Tại Việt Nam, người ta chưa quên hành động lăng xăng của ông Jean-Marie Mérillon và Tòa đại sứ Pháp ở Sài Gòn giữa Dương Văn Minh và MT Giải phóng Miền Nam và Bắc Việt trong những ngày cận kề 30/4, tự nguyện làm trung gian cho một chính phủ trung lập, để rồi bị Bắc Việt sau khi chiến thắng đuổi chạy có cờ. Thật ngây thơ, như muôn đời họ vẫn. Và riêng ở Phnom Penh, tháng 4, 1975, con cháu của những anh hùng Charlemagne, Jeanne d’Arc, và Napoléon đã quá hèn nhát, một cách độc ác, tồi tệ.
Nhưng thôi, có ai học được chữ ngờ? Tôi xin ngưng ở đây. Việc này hãy để công lý, lịch sử và thời gian xét xử, và không là chủ đích bài viết của tôi.

Điều tôi muốn bàn tiếp là tôi lấy làm tiếc, rất tiếc cho Sirik Matak –một người tôi đã thấy, đã nghe, đã đọc. Giá ông vẫn ngồi đó, tại bàn làm việc, và nhận phát đạn của Khmer Đỏ hay của chính mình! Bề nào thì cũng chết cho quê hương mà ông yêu dấu, như ông đã viết trong thư. Giá ông đừng chạy vào lãnh sự quán của Jean Dyrac! Để làm gì, nếu không mong bảo toàn sinh mạng và được cấp một trong 300 tờ hộ chiếu mà luật sư Patrick Baudoin của bà Billon Ung Boun Hor nói Jean Dyrac đã mang về Pháp còn trắng trơn? Như vậy, xin nhắc lại, việc Sirik Matak từ chối lời mời của John Dean chỉ là vấn đề cá nhân giữa ông và nước Mỹ. Từ chối lời mời của một đồng minh đầy quyền lực nhưng hai mặt, và gõ cửa một người bạn mình tưởng tử tế, nhưng quá hèn mạt, xua đuổi mình trong lúc hoạn nạn, hành động nào đúng hơn? Và trước khi bị giết, ông cựu thủ tướng có nghĩ rằng ông đã phạm một lỗi lầm nữa, đó là tin vào người Pháp, cũng như trước kia ông đã tin vào người Mỹ (chỉ cần đổi chữ the Americans thành les Français trong câu: “je n’ai commis qu’une erreur, ce fut de vous croire et de croire les Français”)?

Tôi không có ý phê phán Sirik Matak, vì tôi không là cái gì cả để dám xét đoán một vĩ nhân. Một lần nữa, tôi chỉ tiếc cho ông. Bức thư tuyệt diệu kia đã đưa ông lên ngôi vị anh hùng, héros, trong lòng tôi và dưới mắt hàng triệu người. Việc ông chạy lánh nạn tại lãnh sự quán Pháp đã đem ông xuống hàng mà tôi tạm gọi là “bán anh hùng”, demi-héros. “Bán anh hùng”, tức một nửa anh hùng, nhưng vẫn hơn người phàm tục, như tôi, như biết bao kẻ khác, gấp bội. Vẫn hơn những “đồng nghiệp” của ông bên kia dòng sông Mê Kông như Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu và một số lỉnh (dấu hỏi) tướng Việt Nam… Vẫn hơn “đồng hương” Lon Nol lúc ấy còn tắm nắng trên bãi biển Hawaii, và Sihanouk đang mở yến tiệc linh đình tại Bắc Kinh.

Tuy nhiên, cựu thủ tướng Sirik Matak có lẽ chưa biết gương tuẫn tiết của những anh hùng trong lịch sử Việt Nam cận đại: Võ Tánh, Ngô Tòng Châu, Phan Thanh Giản, Hoàng Diệu, đã không tìm đường thoát thân dù bị vây khốn, và quyết chết theo thành. Của Tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ cố vấn Ngô Đình Nhu, dù nếu có phạm khuyết điểm gì đi nữa, đã tỏ ra là một nhà lãnh đạo cao cả, can trường, bằng cách khước từ lời Cabot Lodge mời đến một nơi an toàn (cf Thomas Boettcher, Vietnam, The Valor and the Sorrow, sđd) và cũng không chạy vào bất cứ tòa đại sứ nào, trên bước đường cùng, để rồi bị sát hại dã man mặc dầu đã đầu hàng (hai ông bị trói và xác bị đâm nát) bởi bọn phản tướng. Của năm vị tướng Tư lệnh của Quân Lực VNCH, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú, đã tử tiết trong khi có đủ phương tiện ra đi. Của nhiều vị sĩ quan và quân dân cán chính vô danh khác đã âm thầm tự kết liễu đời mình. Hay, ít ra, của cựu Tổng thống Trần Văn Hương, qua bài viết mới đây bởi sử gia Trần Gia Phụng (cf “Lịch sử phán xét”, Toronto, 29/1/2011, trên website):
“Trước khi Sài Gòn sụp đổ, ngày 28-4-1975, đại sứ Pháp cho người mời tổng thống Hương di tản. Tổng thống Hương trả lời: ‘Nếu trời hại, nước tôi mất, tôi xin thề là sẽ ở lại đây và mất theo nước mình.’

Sau đó, ngày 29-4-1975, đích thân đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin, cùng một viên tham vụ sứ quán nói tiếng Pháp, đến gặp và mời Trần Văn Hương ra đi. Hai bên nói chuyện bằng tiếng Pháp. Ông Hương trả lời: ‘Thưa Ngài Đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông Đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cảm ơn ông Đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ kỹ và dứt khoát ở lại với nước tôi. (…..)

Tôi là người lãnh đạo hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia sẻ với họ một phần nào niềm đau khổ tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước. Cảm ơn ông Đại sứ đã đến viếng tôi.’ Sau khi nghe Trần Văn Hương trả lời, trong đó có câu ‘Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó’ (Les États Unis ont aussi leur part de responsabilité…), đại sứ Martin nhìn trân trân vào ông Hương, rồi ra đi mà chẳng bắt tay nhau.” (Trần Đông Phong, Việt Nam Cộng Hòa 10 ngày cuối cùng, California: Nxb. Nam Việt, 2006, tt. 352-355). 

Những câu trên đầy khí tiết, quả cảm, kiêu hãnh, mặc dù chỉ qua lời người thứ ba kể lại, của cựu Tổng thống Trần Văn Hương cũng tuyệt vời, đâu thua gì bức thư của Hoàng tử Sirik Matak, cựu thủ tướng Cam Bốt? 

Bởi vì, nếu biết, có thể Sirik Matak đã phải suy nghĩ rất nhiều trước khi chạy vào lãnh sự quán Pháp. Hoặc có thể ông không chạy đi đâu cả. Để qua đó, mãi mãi, hàng năm, cứ mỗi 30/4, khi đọc lại bức thư khẳng khái của ông, tôi và đồng hương và những thế hệ con cháu được hãnh diện trọn vẹn về ông.
Để qua đó, chúng tôi hy vọng thấy ông trong những miếu thờ tại một nơi nào trên đất Cam Bốt, cũng như các bậc đại anh hùng của tổ quốc chúng tôi trong những miếu thờ ở Việt Nam. 

Các bậc đại anh hùng mang hình hài của nhân thế, khác với những vị thần linh Hy Lạp cổ xưa, dù đã trở thành bất tử sẽ không bao giờ ganh tị chúng ta, vì đã đạt đến diễm phúc bi thảm đợi chờ cái chết đến mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút –đặc ân mà chỉ loài người khả tử chúng ta mới được nhận lãnh.
Điều đó, tôi cũng sẽ nói thêm cho Soriya nghe, tiếp nối câu chuyện về thần linh năm nào dở dang, nếu một mai được gặp lại nàng ở kiếp này. Hay kiếp khác.

Portland, cho Tháng Tư Đen
KIM THANH

Friday, July 10, 2020

Từ Ba Rài-Cẩm sơn đến Chiến đỉnh Sông ngòi Trần Lý

Bản đồ hành quân Trận Rạch Ba Rài ngày 15 tháng 9 năm 1967 từ sách The Vietnam Experience.

Trong Chiến tranh Việt Nam, có hàng ngàn cuộc Hành quân cùng các trận đánh lớn nhỏ  liên hệ đến nhiều lực lượng tham chiến VNCH và Đồng minh (Mỹ, Úc, Nam Hàn..). Mỗi trận đụng độ đều có những nét đặc thù riêng của từng Quân, Binh chủng tham dự : Lục quân, Hải quân, Không quân..
Các nhà Quân sử Việt-Mỹ đã chọn ra một số Trận đánh tiêu biểu mà họ cho là có thể có ảnh hưởng quan trọng cho toàn bộ Chiến tranh VN về cường độ thiệt hại, về chiến lược hay chiến thuật hành quân..
  • Trong “VietNam the Decisive Battles “. Tác giả John Pimlott chọn 17 Trận từ Điện Biên Phủ đến Trận cuối cùng Chấm dứt VNCH, trong số các Trận Ông ghi lại có Khe Sanh, Tết 68, Lam Sơn 719.. và có một trận có vẻ lạ là Trận Rạch Ba Rài (September 15, 1967)..
  • ‘Battles and Campaigns in Việt Nam 1954-1984’  của Tom Carhart cũng chọn Trận Ba Rài như một trận tiêu biểu (?) ( trang 84)
  • Tác giả Nguyễn Đức Phương trong “Chiến tranh Việt Nam Toàn tập” trang 354 đã chọn Trận Ba Rài như tiêu biểu cho hoạt động của Giang lực Mỹ-Việt , khi ông dành nhiều đoạn trong bài viết về đặc tính các Giang đỉnh và về..chiến thuật hành quân, hơn là diễn biến trận đánh..
Bài viết xin tổng hợp các tài liệu Việt-Mỹ (kể cả của CSBV) về Ba Rài để Quý vị có thể ‘đánh giá’ tầm mức quan trọng của ‘địa danh’ và trận đánh này..
Theo Quân sử Việt-Mỹ thật sự có nhiều trận đánh đã diễn ra tại Rạch Ba Rài trong khu vực Cẩm Sơn, thuộc Quận Cai Lậy Tỉnh Định Tường trong những năm 1963-1971
  • Vị trí Ba rài- Cẩm sơn
Trong Hải Sử Tuyển tập, trang 392, Tác giả Phan Lạc Tiếp viết về vị trí Ba Rài như sau:
“Con rạch Ba Rài , bắt nguồn từ Quận lỵ Cái Bè, Chảy ra sông Cửa Tiểu theo hướng Bắc -Nam; lòng rạch hẹp, nơi rộng nhất ở ngã ba Ba Rài-Cửa Tiểu: hai bên bờ không quá 100m. Con rạch cắt một góc chéo 25 độ rồi uốn khúc, tạo thành một doi đất, bề ngang doi đất không quá 600m : vì thế từ cửa rạch không nhìn thấy phía trong. Hai bên bờ cây rậm rạp, những hàng dừa đứng chen nhau như thành
Báo Tiền Giang (CSVN ) ghi ngắn hơn
“Sông Ba rài nằm trên vùng đất Cai Lậy, sông khởi thủy là một rạch, dài 25km. sâu 9m, có lưu vực lớn, bắt nguồn từ vùng lòng chảo Đồng tháp mười, chảy ra sông Tiền”
Sách Where we were in VietNam ghi :
  • CamSon Secret Zone : Cách Đồng Tâm 15km về phía Tây và Tây-Tây/Bắc
  • Rach Ba Rai : 24 miles Đông-Bắc Cai Be.
  • Trận Ba Rài của HQ VNCH : 29 tháng 9 năm 1965
Cuộc hành quân của SĐ7BB phối hợp với TQLC vào vùng Ba Rài từ 28 tháng 9 đã không vào được khu vực này, còn bị cẩm chân không thể rút ra được, Yểm trợ của KQVNCH và Pháo binh không hữu hiệu vì rừng dừa dày đặc và khoảng cách giữa hai bên quá gần.. HQ được yêu cầu tiếp trợ : Hai Giang đoàn Xung Phong 21 và 27 nhận nhiệm vụ. Kế hoạch hành quân là HQ tiến vào Rạch, hỗ trợ cho BB rút khỏi Xã Xuân Sơn, phía Đông rạch qua bờ bên kia dành khu vực cho KQ oanh kích.. CQ không phản ứng trong khi BB dùng tàu HQ rút băng qua bờ.. Nhưng khi nước xuống (2 giờ chiều), HQ cũng rút ra thì CQ (TĐ 261 VC trang bị các súng nặng như DKZ 57, đại liên 12.7 và AK-47) đã dàn trận phục kích nơi doi đất cửa Rạch.Trận đánh diễn ra rất dữ dội trong suốt 4 tiếng..CQ nhiều lần xung phong định bám sát để cướp chiến đỉnh nhưng đều bị đẩy lui.. Đoàn tàu chống trả và rút được khỏi khu vực phục kích..
Kết quả trận đánh : Số tổn thất nhân mạng của CQ không xác định được, nhưng bỏ lại 57 súng đủ loại (Quân sử CS sau đó ghi lại họ chết 18 quân, bị thương 32)i;  HQVNCH có 20 thương vong (2 SQ và 1 cố vấn) và 1 chiến đinh monitor (HQ 6007) chìm (sau đó trưc lên và kéo về sửa chữa lại), 1 Command Monitor bị hư hại nặng nhưng tự lui được về căn cứ..

TRUNG SI NGUYEN PHUOC DUC
Trung sĩ Nguyễn Phước Đức (Ảnh của Lược Sử HQVNCH-Vũ Hữu San).

Trung sĩ Nguyễn Phước Đức hy sinh trong trận và tên Anh được đặt cho Tuần Duyên đỉnh (WPB) đầu tiên của HQVN : HQ.700
HQHK ghi lại :Trung Úy Raymond Ellis, HQHK=USN, tử trận ngày 30 tháng 9, 1965 khi đang làm Cố vấn cho Giang đoàn 27 Xung Phong trong một trận đánh tại Định Tường.. Bản tuyên dương công trạng ghi rõ ông chiến đấu anh dũng và hy sinh khi thay thế xạ thủ VN bị trúng đạn trước đó. Ông được truy thưởng Silver Star.
PHONG DO HANH QUAN CAM SON NGAY 15 THANG 5 1967
Bản đồ hành quân Cẩm Sơn ngày 15 tháng 5 năm 1967 của 9th Infantry Division Papers The Ultimate Game by Gene.
  • Chiến dịch Cẩm Sơn (15 tháng 5 năm 1967)
Tin tình báo VNCH ghi nhận sự có mặt của các TĐ 263 và 516 VC tại Mật khu Cẩm Sơn, tập trung tại một khu vực giữa Rạch Ba rài và Rạch Trà tân. Lữ đoàn 2 /SĐ9HK tổ chức cuộc Hành quân Cẩm Sơn để lùng và diệt quân CS ; Cuộc hành quân sử dụng 2 TĐ BB dược 22 chiến đỉnh ATC, 2 Monitors và 1 CCB của River Flotilla One yểm trợ. Bộ Chỉ huy Lữ đoàn và một chiến đỉnh pháo binh được đưa trước vào vùng. 8 giờ 15 sáng 15-5 ; TĐ3 /47 đổ bộ tại cửa Rạch Ba rài; 30 phút sau đó ,các đại đội B và C của TĐ4/47 đổ lên vùng Tây Rạch Trà tân. Các đơn vị bộ binh tiến vào khu vực còn các chiến đỉnh chặn trên rạch. 12 giờ trưa : ĐĐ A của 4/47 được trực thăng vận từ Căn cứ Đồng Tâm vào một vị trí 5km phía Bắc Sông Mỹ tho và Tây rạch Trà Tân. 4 giờ chiều : Hai cánh quân đổ bộ, vào đến một cánh đồng và đụng độ với một lực lượng quan trọng của CQ dàn sẵn chờ phục kích, và bị cầm chân tại chỗ; lực lượng HK rút ra  để trục thăng vũ trang bay vào xạ kích, các phi tuần phản lực và pháo binh oanh kích vào các điểm tập trung của CQ.. ĐĐ A được lệnh tiến xuống phía Nam..Khoảng 4 giờ 30 chiều, CQ , không chịu nổi hỏa lực phi pháo, định rút chạy về hướng Đông-Bắc..Các mũi tiến quân của HK.. tìm cách bao vây CQ nhưng họ phân tán và tháo chạy..
Hơn 90 CQ bị hạ trong trận đánh, không kể số chết và bị thương được kéo đi..Bên HK có một tử trận và 30 bị thương vì mảnh đạn.. Bên HK học được bài học chiến thuật là khó ngăn chặn địch quân rút lui khi nước xuống và khi họ không chịu.. cố thủ ! Bên CQ học được là các mật khu trước đây, quân VNCH không thể tiến vào, kể cả các khu đầm lầy không còn là bất khả xâm phạm..
  • Hành quân Coronado V : Trận Ba Rài..12 tháng 9-1967
Sau cuộc Hành quân Cẩm sơn, Quân lực HK cải thiện Lực lượng Hành quân Lưu động Sông (Mobile Riverine Force=MRF) , cải biến và chế tạo thêm các chiến đỉnh cho thích hợp hơn với hệ thống sông rạch miền Nam..thử nghiệm trên các sông rạch Rừng Sát, Long An (như Cẩn Giuộc)..Mỹ Tho và Bến Tre..
Các tài liệu tịch thu được sau các cuộc hành quân của Quân lực Việt Mỹ vào Khu vực Ban Long-Đồng tâm trước đó, cùng tin tình báo VNCH ghi nhận một số điểm tập trung và sự hiện diện của các TĐ 263 và 514  Địa phương VC trong mật khu Cẩm sơn.
Bộ Chỉ huy TrĐ 60/SĐ9 BB Hoa Kỳ quyết định mở cuộc Hành quân Coronado V tấn  công vào khu Trung tâm Cẩm Sơn  (cách cửa rạch khoảng 12km) lùng và diệt các lực lượng CQ..
Khu vực được nghi là nơi CQ trú quân là một gò đất nổi : Từ cửa Rạch nơi đổ ra s8ng Tiền về phía Bắc khoảng 10km, con rạch tẻ ngang về hướng Tây chảy thêm 2km, rồi uốn khúc về về Đông thêm 2 lần nữa và trở lại chạy theo hướng Bắc -Nam  Cách chảy quanh quẹo của dòng rạch tạo ra một khu vực đất trống khá lớn sát cạnh con rạch.. Khu này QĐHK cho là.. Khu hành quân AO ..(CSBV gọi đây là Vùng Giải phóng 20 tháng 7)
Để tạo bất ngờ cho cuộc vây hãm CQ; Từ vài ngày trước, phi cơ (và trực thăng) trinh sát được lệnh ngừng bay qua khu vực AO.
Kế hoạch hành quân dự trù sử dụng 3 mũi tấn công:
  • Mũi chính là TĐ 3/60, do chiến đỉnh vận chuyển, sau khi vượt khỏi ‘mục tiêu HQ ‘AO’ sẽ đổ bộ tại hai khu vực xa hơn về phía Bắc bên bờ của một nhánh con rạch quanh về hướng Tây (ký hiệu các  đổ bộ là Bãi trắng số 1 và 2  = WB1-2
  • Mũi thứ nhì do TĐ 3/47, cũng do chiến đỉnh vận chuyển, sẽ tiến sau chờ cho Mũi 1 đổ quân xong,  và đổ quân tại phía Nam AO, 2 điểm đổ bộ là Bãi đỏ 1 và 2 = RB 1-2
  • Hai mũi này sẽ tấn công vào AO từ hai hướng Bắc ( từ trên đánh xuống) và Nam ( từ dưới đánh lên). Các chiến đỉnh sau khi đổ quân sẽ làm nút chặn trên rạch, và dùng làm hỏa lực yểm trợ bằng các đại bác 20 và 40 cơ hữu, cối 81 trực xạ gắn trên chiến đỉnh.
Chiến đoàn Hành quân lưu động Sông (Mobile Riverine Force) TF-117 của HQHK đảm nhận hai công việc chuyển quân trên.
  • TĐ 5/60 di chuyển trên bộ có M-113 yểm trợ sẽ vào vùng AO từ hướng Đông
Kế hoạch bao vây 3 mặt này.. nếu thành công trên lý thuyết sẽ diệt được trọn CQ !
Chắc ăn hơn.. TĐ 44 BĐQ VNCH còn được rải quân ngoài xa  bên phía Tây vùng AO.
Nhưng thực tế chiến trường lại.. khác, không diễn ra theo phía Hoa Kỳ.. Kế hoạch hành quân mất yếu tố bất ngờ.. CQ đã phục kích sẵn trên khúc rạch ‘ quẹo-uốn khúc’ và nổ súng..không chờ cho  đoàn chiến đĩnh vượt qua để đến ‘Bãi trắng’ ! CQ nấp kỹ tại các vị trí chọn sẵn, có nơi thật gần mực nước rạch đến mức súng gắn trên tàu không hạ thấp được để bắn trả..Hai chiến đỉnh LCM-6 (T-91-1) và (T-91-4)  đi đầu làm tàu rà mìn, đếu trúng mìn và bị B-40 bắn tới tấp, quay ngang gây kẹt trên khúc rạch hẹp .Tất cả các chiến đỉnh, lúc này, được lệnh nổ súng bắn trả.. Sau đó Monitor 111-2 trúng B-40..nhưng không hư hại nặng. Chỉ một chiến đỉnh chở quân vượt được khỏi ổ phục kích và 1 trung đội BB đổ lên Bãi WB-1.. chờ các toán quân đi sau ! Nhưng các chiến đỉnh phía sau..bị kẹt..Toán quân đã trên Bãi WB-1 được lệnh rút ra , lên lại chiến đĩnh để trở lại.. may mắn là lúc rút về qua khu vực bị phục kích trước đó lại an toàn..
Các chiến đỉnh cũng quay lui..để vài chiếc tiếp tục ở tại chỗ để..phản kích. Các quân nhân bị thương được di tản, xạ thủ HQ trên các chiến đỉnh trúng đạn được thay thế..
Trực thăng vũ trang SeaWolf  HQ oanh kích tiếp trợ, bắn phá khu vực CQ ẩn núp.
Sau khi tái tổ chức tại bãi Đỏ (RB-1), dùng phương pháp cũ , cũng 2 LCM-6 trống đi đầu và cũng bị CQ nổ súng ngăn chặn nhưng lần này khác hơn là các chiến đỉnh theo sau vừa di chuyển vừa bắn phá hai bên bờ.. Và một số chiến đỉnh chở quân (ATC) vượt đến được Bãi trắng và cuộc đổ bộ được thực hiện..Quân Mỹ lên bờ nhưng bị súng nhỏ CQ bắn chặn.. không tiến sâu được..3/60 tiến chậm xuống
Phi cơ A-37 và F-4 phản lực vào vùng liên tục bắn  phá các vị trí CQ
TĐ2/60 được trực thăng vận vào khu vực phía Đông của AO..
Cuộc tấn công bao vây của quân Mỹ tiếp tục..phi pháo suốt chiều tối. Quân HK lo thiết lập chu vi phòng thủ đêm, chờ sáng.. nhưng CQ phân tán và  rút lui qua các con rạch nhỏ khi đêm xuống, về Xã Long Trung..
Khi kiểm soát trận địa phục kích của CQ trên một tuyến dài 1.5km : BB Mỹ tìm được 250 hầm hố kiên cố , 79 xác VC  chết kẹt trong các hầm hố.
Tổng kết tổn thất :
  • Phía BB Mỹ : 7 tử trận, 123 bị thương ; HQ có 3 chết, 66 bị thương
Không chiến đỉnh nào bị chìm, tuy bị hư hại
  • Phía CQ  (TĐ 263 VC) : 213 bị hạ (bỏ xác tại chỗ, kể cả số chết trong hầm hố )
4 bị bắt..
CSBV ghi lại chiến công ‘tưởng tượng’ này : ‘bắn chìm 16 tàu các loại; bắn cháy và hư 10 chiếc khác.. bắn chết và bị thương hơn 500 tên địch, bắn cháy 9 xe M113 chở trên tàu chiến của địch “ Đặc biệt nhất là ..không ghi thiệt hại của quân GP (bảo toàn lực lượng)
  • Trở lại Cẩm Sơn : (Coronado IX 11-1967 đến 1-1968)
Các cuộc hành quân tại Giáo Đức trong tỉnh Định Tường của Quân lực Việt Mỹ trong tháng 10-1967, tịch thu được các tài liệu ghi nhận TĐ 514 VC, bổ xung quân qua ngã Đồng Tháp tiếp tục quậy phá quanh vùng Mật Khu Cẩm Sơn :
  • Ngày 5 và 6 tháng 11 : Hai TĐ BB HK tảo thanh Cẩm Sơn.. Các xà lan chở đại bác 105 được đưa vào neo đậu tại một bãi bồi bên sông Mỹ Tho, dủng yểm trợ hành quân.. Kết quả phá hủy được 34 hầm hố, tịch thu 360 kg gạo, 55kg muối. Hạ được 5 du kích.. CQ né tránh đụng độ..
  • TĐ 5 TQLC VNCH (do Th tá Nam chỉ huy) được đưa đến phối hợp hành quân cùng Quân HK..
  • Ngày 9 tháng 11 Liên quân Việt Mỹ tiến vào Cẩm Sơn tấn công các TĐ 263 và 514 VC đang trú ẩn tại đây: TĐ 5 TQLC đổ bộ cùng TĐ3/47 HK. TĐ 4/47 HK trực tha7ng vận vào vùng từ Đồng Tâm. Ngày 10 , quân HK tách ra hành quân về hướng Ban Long-Ấp Bắc; TQLCVN ở lại Cẩn Sơn, đụng nhỏ, hạ 7 CQ
  • Cả hai TĐ CQ đểu rút về Căn cứ 470 tránh đưng độ..
  • TQLCVN tiếp tục các cuộc Hành quân phối hợp với HK qua các vùng ranh Kiến Phong-Định Tường :  Trận Rạch Ruộng (12km Đông Mỹ Tho) là chiến thắng đặc biệt của TĐ5 TQLC hạ 266 VC của TĐ502VC ; TQLC có 40 hy sinh)
  • Ngày 14 tháng 12: Lực lượng Hành quân Lưu động Sông ngòi HK lại đột nhập Cẩm Sơn, dùng chiến đỉnh tiến đánh khu vực Nam mật khu.. chỉ hạ được 9 CQ  bắt sống được 4 VC, phá hủy 73 hầm hố, 42 hầm bẫy, 3 chiến hào và thu 2 xuồng. Phía Mỹ-Việt có 24 quân nhân bị thương do mìn bẫy..
CTF-117 trong lần Hành quân này đã thử nghiệm một chiến thuật “mới” : lập một Toán chiến đỉnh ‘bọc thép’ trinh sát (Riverine armored reconnaissance Element) = RARE gồm 2 monitor, 2 ASPB và 2 ATC chở theo M113 gắn súng phun lửa RARE lãnh nhiệm vụ mở đường cho đoàn chiến đỉnh theo sau..
  • Vẫn Rạch Ba rài : 13 tháng 7 năm 1968
Khu vực Cẩm Sơn-Ba Rài trong suốt năm 1968 vẫn là trọng điểm tảo thanh của liên quân Việt-Mỹ.. Các cuộc đụng độ ‘nhỏ’ thường xuyên xảy ra và CQ luôn luôn tránh né ..
  • Ngày 18 tháng 3 ; trong cuộc Hành quân Coronado XII , Lực lượng hành quân  tấn công vào Cẩm Sơn : hạ 31 CQ, bắt sống 10 nhưng RAD -92 bị mất Tr úy David H Wyrich vì pháo kích, 6 binh sĩ HK khác (2 HQ và 4 BB) bị thương.( River Assault Squadron Nine -Chronology of Events -1966-1969)
  • Ngày 13 tháng 7 : Các chiến đỉnh của CTG 117.2 đổ quân của TĐ 4/39  vào hai bên bờ rạch Ba Rài, đoạn đổ ra sông Tiền..Sau khi trực thăng và pháo binh dọn bãi : các đại đội C (đổ bộ lúc 9 giờ 45) và đđ A đều bị súng nhỏ bắn ra từ bờ rạch.. ĐĐ B đổ bộ lúc 10 giờ 45..Chiến đỉnh T-131-8 lúc đang ủi bãi bị trúng mìn (11 giờ 30); T-131-13 cũng trúng mìn ngầm  lúc 12 giờ 50, gây một lỗ hổng 45cm Tuy không thiệt hại nhân mạng nhưng 2 chiến đỉnh phải được trục vớt.. Các chiến đĩnh tạo chu vi phòng thủ quanh khu vực..
9 nhân viên HQ và 7 BB phải tải thương bằng trực thăng.
BB  kiểm soát khu vực đổ bộ tìm được 2 xác VC cùng nhiều vũng máu trong các hầm hố phục kích. Dấu vết cho thấy,  mìn được điều khiển gây nổ từ xa..
Cuộc hành quân không gặp CQ (?) (Snoopy’s Nose After action Report 13 July-1968 cùa BuNavRec)
Sau khi HQHK rút khỏi Việt Nam, và chuyển giao các chiến đỉnh cho HQVN, Hải sử VNCH không ghi lại các trận chiến trong khu vực Cẩm Sơn-Ba Rài..
  • Các Chiến đỉnh Việt-Mỹ trong Chiến tranh sông ngòi :
Trong Chiến tranh Sông ngòi  tại Nam Việt Nam, Lực lượng Việt-Mỹ đã sử dụng một số loại Chiến đỉnh :
1- Hải quân VNCH :
HQ Quốc gia VN khi còn trong Liên Hiệp Pháp chỉ có một lực lượng lượng khiêm nhượng : Giang lực mới chỉ có 2 Hải đoàn Xung Phong , do Pháp chỉ huy và trang bị theo các Dinassault  (Divisions Navales d’assault)
  • Dinassault Cần Thơ (10 tháng 4 năm 1953) sau thành  HĐXP 25
  • Dinassault Vĩnh Long ( tháng 6-1953)(HĐXP 23)
Sau đó Tháng 3-1954 HQVN nhận HĐ 21 XP và Tháng 8-1954 nhận HĐ 24 XP
  • Các giang đỉnh do  Pháp chuyển nhượng :
Khi trở lại Đông Dương vào năm 1945, Quân đội Pháp hầu như phải tổ chức lại toàn bộ, Lực lượng Hành quân Sông của Pháp phải thu nhặt các giang đỉnh còn lại kể cả các tàu thuyền của Nhật, tàu cũ của quân Anh-Ấn (đến để giải giới Nhật), xin các tàu đổ bộ phế thải của Hoa Kỳ..sửa chữa và cải biến ngay tại Xưởng Ba-Son (Thị Nghè)  Pháp có một số chiến đỉnh như :
  • Commandement (LCM Command Boat)
LCM cải biến dùng làm giang đỉnh chỉ huy. Dài 20m, vận tốc 8 knots, trang bị 2 đại bác 20 ly, hai đại liên .30 và 2 đại liên .50 , có thể thêm 1 cối 81 đặt dưới lòng tàu
(Sau này HQVN cải biến thêm, có phòng ngủ sĩ quan, gắn một ụ súng quay được, hệ thống truyền tin )
Thủy thủ đoàn : 10 người
GIANG SOAI DINH COMMANDAMENT GIANG DOAN XUNG PHONG TUAN TIEU TREN SONG LONG TAU
Soái đĩnh Commandement của một Giang đoàn xung phong HQVNCH (Ảnh của Naval History and Heritage Command).
  • Monitor
LCM biến cải tại Xưởng SaiGon bọc thép;  Cửa độ bộ gỡ bỏ; gắn pháo tháp lấy từ chiến xa Coventry (Anh cũ), trang bị hai đại bác 20 ly (một tại pháo tháp phía mũi và một tại phía sau ); 2 đại liên 12 ly 7..
(HQ HK cải biến các Monitors thành nhiều ‘phiên bản’ . Xem dưới)
  • STCAN/FOM (Vedette FOM)
STCAN= Services Techniques des Construction et Armes Navales
FOM =  France Outre Mer
Chiến đỉnh có 2 loại dài 8m hay 11m; ngang 3m; độ chìm 0.8m khung sườn hình chữ V, chống được mìn ngầm, nên cũng dùng làm giang đỉnh phá mìn . Vận tốc chậm : 8  knots. Dùng máy tàu Renault 70 mã lực Bọc thép và trang bị một đại liên 12.7, 3 đại liên Reibel 7.5 . Thủy thủ đoàn 8 người.
Loại FOM 11 mạnh hơn gắn 2 máy Renault, vận tốc có thể đến 10 knots.
Đây là loại chiến đỉnh được HQ Pháp sử dụng nhiều nhất tại Đông Dương.
Trong Hải sử tuyển tập trang 387, tác giả Phan Lạc Tiếp, mô tả tàu FOM như sau “.. một loại tàu được đóng để HQ Pháp hoạt động ngoài nước, đặc biệt cho Đông Dương, chiến đỉnh này dài 36 bộ, rộng độ 7 bộ, mũi nhọn, đáy tàu cũng nhọn, chạy nhanh xé nước tạo thành vùng trũng khiến toàn thân tàu gần như thấp hơn mặt nước, tránh được các loại súng lớn từ bờ muốn bắn vào phần thân tàu. Cũng vì mũi nhọn và đáy nhọn, khi bị thủy lôi, sức công phá của thủy lôi tạt qua một bên..đáy tàu không bị phá.. “
TRUY KICH DINH FOM, GIANG DOAN XUNG PHONG HQVNCJ
Tiểu giáp đỉnh FOM HQ5041 tuần tiểu trên sông (Ảnh của LIFE).


FOM của HQVNCH được trang bị : (HSTT) “.. một đại liên 12 ly 7 tại mũi, với dàn pháo tháp bằng thép bao quanh, đại liên này có tầm hoạt động mạnh, xa đến 5 cây số và vòng hoạt động 220 độ về phía trước và hai bên. Trên nóc tàu có 2 đại liên 30, sau lái 1 đại liên 30 nữa, chưa kể các loại súng nhỏ…”
HQVNCH còn gọi FOM là Tiểu giáp đỉnh
  • LCU  Landing Craft-Utility ) = Giang vận hạm
Tàu đổ bộ thời Thế chiến do Mỹ chế tạo. Trọng tải 180 tấn; 3 máy dầu với 3 chân vịt nên vận tốc đạt 10 knots; trang bị 2 đại bác 20.
  • LCVP bọc thép (Pháp chế biến gọi là Engin d’Assault= EA)
Chiến đỉnh đổ bộ nhỏ thời Thế chiến 2, đáy bằng ; cải biến bằng bọc thép hai bên thành tàu, gắn thêm 1 đại bác 20 ly và 3 đại liên .30 (hai bên hông và một trên mui, yại phòng lái.; Thủy thủ đoàn 4 người Chở được 36 quân hay 3.3 tấn hàng..HQVN gọi là Tiểu vận đỉnh .GĐXP VN  biến cải một số chiến đỉnh : cửa đổ bộ hàn kín, không còn chở quân nhưng tạm dùng làm tàu rà mìn
  • RPC = River Patrol Craft  (Tuần giang đỉnh) ( HSTT trang 421 gọi là Truy kích đỉnh ?)
Dài 11m , có 2 máy dầu. Vận tốc 14 knots, trang bị 2 dàn đôi  đại liên .50  và 1 đại liên .30 (đơn)  (Dự án Hải sử ghi là Vedettes ?)
HQ Pháp tại Đông Dương ghi loại chiến đỉnh này là Vedette de Port , tuy dùng ven biển nhưng HQ Pháp dùng trên sông : 21.9m x 4.65m x 1.8m ; vận tốc 12 knots; Thủy thủ đoàn 1 SQ+7 thủy thủ; Trang bị 2 Oerlikon 20ly; 2 đại liên 12.7
  • LCM bọc thép= LCM blindé
Tàu đổ bộ LCM-6, cho đến 1950 đây là loại giang đỉnh chính của các Dinassault  dùng chở quân (4 chiếc có thể chở được 1 Tiểu đoàn BB), chở chiến xa M8, xe vận tải hay 30 tấn hàng hóa. Vũ khí (Pháp) gồm 2 đại bác oerlikon 20 ly; 2 đại liên 12.7

Trung van dinh LCM-6
Trung vận đỉnh tác chiên LCM-8 của một Giang Đoàn xung phong HQVNCH (Ảnh của The Brown Water Navy (Victor Croizat).


(Chiến đỉnh chính của các Giang đoàn HQVNCH), cải biến thêm bằng bọc thép hai bên hông, trang bị 3 đại bác 20 ly và 2 đại liên .50. Chở được 120 quân, hay 32 tấn hàng. HQVNCH gọi là  Quân vận đỉnh hay Trung vận đỉnh
(Quân đội Pháp tại Đông Dương nhận các LCM từ quân cụ thặng dư của Mỹ vào năm 1951 và dùng làm tàu chuyển vận trong đó có LCM-3, LCM Mk1 (Anh) Họ còn chuyển biến một số xe lội nước M-29 Weasel (Crab), LVT (Landing Vehicle Craft = US Buffaloes), LVT(A) [A=Armored], gắn thêm đại liên các loại thành giang đỉnh đề hành quân..)
Các giang đoàn Việt Nam lúc còn thuộc Pháp = Groupe Autonome d’Escadrilles Fluviales = GAEF có sử dụng một loại giang đỉnh riêng, có tên là Vedette Vietnamienne
vỏ gỗ biến cải từ các LCP(L), gắn các súng như 12.7 , Oerlikon.. Các tàu này phế thải vào 1952-53.. (?)
2- Lục quân Hoa Kỳ tại Việt Nam :
Quân đội Mỹ đặt chân đến vùng châu thổ sông Mekong vào năm 1957 khi các Cố vấn Mỹ thay thế cho quân Pháp. Năm 1965 TĐ 13  Máy bay chiến đấu của Lục Quân Mỹ đã giúp Quân đội VNCH trong các cuộc hành quân. Năm 1966, kế hoạch hành quân trên sông được Lục quân HK phác họa dựa theo kinh nghiệm của Pháp để lại.. Tháng 7 năm 1966 , SĐ 9 BB HK  đến tham chiến tại Vùng đồng bằng Sông Cửu Long.. Các kế hoạch ‘Hành quân Lưu động trên Sông ngòi (Mobile Riverine Campaign) được áp dụng phối hợp giữa Lục quân và Hải quân. HQ chịu trách nhiệm vận chuyển và đổ bộ cùng yểm trợ..Lưc quân lo các trực thăng và phi cơ trinh sát..Lục quân Hoa Kỳ có một số LCM và LCU dùng trong chuyển vận đường sông tại VN.
Trong khi chờ trang bị và các chiến đỉnh.. HQHK tạm mượn các chiến đỉnh của HQVN để.. tập dượt .
3 – Hải quân Hoa Kỳ  :
Lực lượng Hành quân lưu động Sông của Hải Quân Hoa Kỳ từ những ngày đầu đã ‘mượn’ các Giang đỉnh của HQVNCH để sử dụng trong các cuộc hành quân.
Khi kiện toàn tổ chức : Riverine Assault Force (Giang lực Thủy-Bộ) hay TF-117 = Lực lượng Đặc Nhiệm 117 Hải Quân Hoa Kỳ có quân số  3717 người, số chiến đỉnh lên đến 161 giang đỉnh gồm 103 ATC, 31 ASPB, 6 CCB, 17 Monitors và 4 giang đỉnh chở dầu , với sự yểm trợ của một số tàu Tiếp vận riêng..Số chiến đỉnh sau đó do nhu cầu được tăng thành 182..
Hải quân HK đã cải biến các Giang đỉnh đồng thời cũng thiết kế và thử nghiệm vài loại Giang đỉnh mới để đáp ứng cho nhu cầu chiến thuật khi hành quân :
  • Monitors : Tiền phong đỉnh
Đây là loại Giang đỉnh được biến cải quan trọng nhất . HQHK tái tổ chức ‘Lực lượng Chiến đấu Hành quân trên sông ngòi vào 18 tháng 12, 1965 khi QĐHK trực tiếp tham chiến tại Việt Nam. Các monitor đầu tiên được River Assault Flotilla One sử dụng là các chiến đỉnh ‘mượn tạm’ của các Hài đoàn Xung Phong VNCH..
Các monitor sau đó được BuShips đóng mới  (dựa theo kiểu cũ ) và biến cải, lắp đặt thêm các hệ thống vũ khí khác nhau.. Việc cải biến các Vietnam Monitor chia thành 2 chương trình chính.
Cả hai đều dùng các LCM-6 ( kiểu Thế chiến 2), dài 56ft (17m) , cải thiện thành 60ft (18m), ngang 17ft (5.2m), độ chìm 3.5ft (1.1m), sức đẩy 220 mã lực do 2 động cơ Gray Marine 64HN9; vận tốc 8.5 knots (15.7 km/h). Thủy thủ đoàn 11 người
Tien phong dinh Monitor..
Tiền phong đĩnh Monitor của HQVNCH tuần tiểu trên sông (Ành của Jim Mesko).
  • Chương trình biến cải số 4 (Program 4) (Monitor 40 ly)
Chương trình này dùng các monitor thế hệ 1 , khác nhau do vũ khí trang bị
-Monitor ‘thế hệ 1′ : 1 đại bác 40 ly ; 1 đại bác 20 ly ; 2 đại liên 0.50 ; 4 đại liên 7.62 ; 1 cối 81 ly ; 2 giàn phóng lựu Mk18..
–     Chương trình biến cải số 5 (Program 5) (Monitor F và H)
Dùng các Monitor thế hệ 2 , gồm 2 loại F và H
-Monitor F (Flamethrower) : Monitor phun lửa  : 2 đại bác 20 ly; 2 đại liên 0.50 ; hệ thống phun lửa tầm xa 2200m
-Monitor H (Howitzer) : Monitor chở đại bác 105 : 1 đại bác 105 ly howitzer; 2 đại bác 20 ly ; 2 đại liên 0.50 và 1 đại liên 7.62
HQVNCH nhận 22 Monitors (program 4) và 42 Monitors (program 5)
  • ATC (Armored Troop Carrier) Chiến đỉnh Tango , Quân vận đỉnh
Khi HQHK tham chiến tại VN, họ phải mượn tạm các LCM bọc thép của HĐXP 22 để thực tập và dùng thử trong các cuộc Hành quân Thủy bộ,,.
ATC hay Tango là một LCM-6 biến cải và HQHK thay đổi thêm cấu trúc , thiết trí các loại vũ khí mới hầu đáp ứng cho nhu cầu chiến trường..

CAC QUAN VAN DINH TANGO CỦA TF-117 HQ HOA KY UI BAI HANH QUAN THUY BO
Một phân đội quân vận đỉnh Tango (ATC) của Lực lượng đặc nhiệm TF-117 HQHK ủi bãi trong một cuộc hành quân thủy bộ (ảnh của militaryimages.net).


Chiến đỉnh Tango dài 56ft (18m), ngang 17.5ft (5.3m), tầm nước 0.8 m ; trọng tải 60 tấn ; vận tốc 9.2 knots (15 km/h) , tuy nhiên do bọc thép cứng loại XAR-30 hai bên hông và gắn súng nặng nên vận tốc thực tế chỉ 6 knots (11km/h). động cơ đôi Gray Marine 225 mã lực;. Dạng tàu đổ bộ giữ nguyên, mở bửng để đổ quân. Các ATC đầu tiên có mui bằng vải bạt (rag tops), và sau đó thay bằng mái cứng có thể chịu nổi một trực thăng UH-1 đáp xuống.
Thủy thủ đoàn 7 người
Vũ khí trang bị  căn bản gồm 1 đại bác 20 ly, 2 đại liên 0.50 và 4 đại liên .30; 2 giàn phóng lựu MK -18
ATC có thể chở 1 Trung đội 40 binh sĩ , một xe M-113 hoặc 1 đại bác 105
ATC có thêm các dạng biến cải :
  • ATC (H) = (Helicopter) có sàn làm bãi đáp cho trực thăng. Chiến đỉnh loại này có thể dùng làm Trạm cứu thương dã chiến cấp Tiểu đoàn, có phòng mổ và tủ lạnh tồn trữ máu cần khi cấp cứu.
  • ATC ‘Douche boat’ = Water Cannon boat
Loại chiến đỉnh này được gắn động cơ mạnh hơn GM 12V71 V-12; trang bị hệ thống bắn nước áp suất cao, hai vòi phun tia nước mạnh đến 3000psi  phá hủy các hầm hố mà đạn 105 ly..không hữu hiệu.
–    ATC ‘tiếp nhiên liệu’ (refueler) : Chiến đỉnh trang bị các túi đựng nhiên liệu
cho các chiến đỉnh (mogas=combat gasoline) và cho trực thăng (avgas)
Dạng biến cải đặc biệt nhất là ATC ‘Zippo’ .
*  Chiến đỉnh ‘phun lửa’ Zippo
Trong giai đoạn đầu khi có nhu cầu ‘phun lửa’, HQHK dùng một LCM-6 chở theo một Thiết vận xa ‘M-113 phun lửa để phóng hỏa đốt các hầm trú ẩn CQ dọc ven sông rạch và đặt tên chiến đỉnh là Zippo.
Sau đó một chiếc ATC (T-111-7) được biến đổi hẳn thành tàu phun lửa bằng gắn 2 pháo tháp súng phun lửa M10-8 cùng các thiết bị ép hơi và dẫn xăng..
Một Monitor (M-92-2) được cải biến bằng gắn hệ thống phun lửa sau pháo tháp của đại bác 40, nơi cối 81. Chương trình ‘5′ cũng chuyển nhiều Monitors khác thành Chiến đỉnh Zippo.
HQVNCH nhận 6 Zippo , Phóng hỏa đỉnh, mang số HQ 6525; 6534 và  6535; 6541 và 6542 ; 6545.
  • Command Control Boat (CCB) = Tiền phong đỉnh chỉ huy (Soái đỉnh)
Các CCB và các Monitor đầu tiên có thiết kế gần tương tự : điểm khác biệt là CCB có một ‘phòng’ trang bị hệ thống liên lạc viễn thông thay vì sàn cối 81; và gắn pháo tháp cho đại bác 20 nơi mũi (thay vì 40)
HQVNCH nhận được 9 Chiến đỉnh . mang số HQ 6100 đến HQ 6108
  • Assault Support Patrol Boat (ASPB); Chiến đỉnh Alpha – Trợ chiến đỉnh
https://bencublog.files.wordpress.com/2020/07/cac-tro-chien-dinh-alpha-cua-tf-117-hq-hoa-ky-van-chuyen-tren-song-rach.jpg
Các trợ chiến đỉnh Alpha (ASPB) của Lực lượng đặc nhiệm TF-117 HQHK vận chuyển trên sông rạch (Ảnh của bluejacket).


Đây là loại Chiến đỉnh duy nhất mà HQHK đã thiết kế từ đầu để sử dụng tại chiến trường sông rạch VN. ASPB có thể dùng để phá mìn; nhẹ và nhanh hơn các Monitor nên trang bị vũ khí và bọc thép’ giới hạn’ hơn. ASPB có hệ thống thoát hơi dưới nước nên hoạt động ‘êm’ hơn.. Tại VN , ASPB dùng làm giang đỉnh phục kích, tuần tiễu, trinh sát và hộ tống..
Chiến đỉnh dài 50ft, ngang 15ft, có 2 động cơ dầu cặn 12V71 , 2 chân vịt. Thân tàu bọc thép. Vận tốc 14 knots. Thủy thủ đoàn 5 người.
Trang bị 1 cối 81 trực xạ hay 2 đại liên 7.62 hay đại liên 0.50. Pháo tháp, nơi mũi tàu, được thiết kế để có thể lắp đặt các loại đại bác 20 ly, súng 0.50, súng 7.62 và hệ thống phóng lựu 40 ly tự hành.
Các ASPB được cải thiện và biến cải nhiều chi tiết về bọc thép và vũ khí  trong suốt 1967-1971
Cuối 1969, nhiều chiếc ASPB được lắp 4 giàn đôi (4X2) phóng rocket Mk47 , rocket 40 ly, loại đầu nổ công phá HEAT hay WP (White phosphorus). Giàn phóng rocket được gắn chung trên pháo tháp Mk 48 Mod 2 với dàn đại bác đôi 20 ly.
Cải biến đáng chú ý nhất từ ASPB là MSR (Minesweeper, River) . Chiến đỉnh này dùng làm tàu Chỉ huy và Điều khiển loại MSD (Minesweeping Drone) không người lái : MSD dài 23ft điều khiển từ xa, vỏ không từ tính. MSR trang bị hệ thống phá mìn và các hệ thống điện tử; pháo tháp gắn 2 đại liên 7.62 (thay cho đại bác 20 ly). Các MSD không chuyển cho HQVNCH.
84 chiến đỉnh ASPB đươc chuyển giao cho HQVNCH trong khoảng 1969-70. mang số từ HQ 5100 trở lên.. và 8 chiếc MSR.
Các tài liệu sử dụng :
Để viết bài ngắn này chúng tôi đã dùng các tài liệu từ :
–  VietNam Studies : Riverine Operations 1966-1969 (MG William Fulton)
–  The Mobile Riverine Force in the Mekong Delta 1966-1969 (Regan Grau)
–  Seven Firefights in VietNam : Fire along the Rach Ba rai (John Albright)
– VietNam :The Decisive Battles (John Pimlott)
– Battles and Campaigns in VietNam 1954-1984 (Tom Carhart)
– The Brown Water Navy (Victor Croizat)
– From the Rivers to the Sea : The US Navy in VietNam (R.L Schreadley)
– The Brown Water Navy in VietNam (Robert Stoner)
– Tạp chí quân sự Mỹ như VietNam, Modern Warfare, Jane’s Defense
Các chi tiết về Chiến đỉnh, chương trình cải biến của BuShips trong :
–  US Small Combatants (Norman Friedman) có các kế hoạch Viện trợ và các số
liệu về các Giang đỉnh chế tạo và bàn giao cho HQVNCH..
–  The Boats :French Riverine Craft (Pháp văn trong France/Indochine)
Các tài liệu Việt ngữ :
  • Hải sử Tuyển tập (Tổng Hội Hải Quân & Hàng hải)
  • Dự án Hải sử (Vũ Hữu San)
  • Chiến tranh Việt Nam Toàn tập (Nguyễn Đức Phương)
  • Các bài viết về HQ của nhiều tác giả do Anh TVQ chuyển..
Trần Lý 6-2020