Wednesday, February 13, 2019

Phân Ưu Mũ Đỏ Thiếu Tá Trương Dưỡng - Sư Đoàn Nhảy Dù QLVNCH

Xin bấm vào link phía dưới để đọc Một Cánh Hoa Dù của ND Th/Tá Trương Dưỡng
Link Một Cánh Hoa Dù trên internet  
http://hocday.com/trng-dng-mt-cnh-hoa-d-hi-k-hi-k-mt-cnh-hoa-d.html
Một Cánh Hoa Dù
Mục Lục
Đôi lời trần tình của tác giả ---------------------------------------- 3
Cảm nghĩ của độc giả ----------------------------------------------- 3
Lời giới thiệu của tướng Lê Quang Lưỡng, TL/SĐND ------- 8
Đôi giòng giới thiệu của đại tá Nguyễn Thu Lương------------ 8
Viết về Dưỡng của Nguyễn văn Thành ------------------------- 10
Lời nói đầu --------------------------------------------------------- 11
Chương I : Vào quân trường ------------------------------------ 12
1. Xếp bút nghiên theo việc đao cung ------------------------- 12
2. Giai đoạn Tân Khóa Sinh ----------------------------------- 14
3. Chinh phục đỉnh Lâm Viên ------------------------------------ 22
4. Giai đoạn Sinh Viên Sĩ Quan -------------------------------- 23
5. Lễ mãn khóa ---------------------------------------------------- 27
Chương II : Bổ sung về Sư Đoàn Nhảy Dù ------------------- 30
1. Tập nhảy dù --------------------------------------------------- 30
2. Về Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù ----------------------------------- 33
3. Tại Trung Tâm Huấn Luyện Vạn Kiếp ------------------ 38
4. Khóa Điều Không Tuyền Tuyến -------------------------- 41
5. Khóa Tác Chiến Trong Rừng Tại Mã Lai --------------- 42
Chương III: Kể chuyện hành quân ---------------------------- 46
1. Hành quân Tân Quí ----------------------------------------- 46
2. Mặt trận thung lũng Iadrang ------------------------------- 47
3. Mặt trận Phù Cát, Sa Huỳnh ----------------------------- 49
4. Hành quân vùng Bà Hom --------------------------------- 54
5. Mặt trận vùng Phi Quân Sự -------------------------------- 55
6. Lam Sơn 60 tại Huế ----------------------------------------- 58
7. Trở lại vùng Phi Quân Sự ---------------------------------- 60
8. Trận Tết Mậu Thân ở Vùng I Chiến Thuật------------- 65
9. Trận chiến vùng Ven Đô----------------------------------- 71
10. Mặt trận Tây Ninh ----------------------------------------- 77
a). Trận đồn điền Vên Vên, Trà Võ --------------------- 78
b). Hành quân ở mật khu Bời Lời ------------------------ 79
c). Tại mật khu Dương Minh Châu ----------------------- 80
d). Giải vây trại Biệt Kích Bến Sỏi ---------------------- 83
e). Trận Bến Đá rừng Long Giang ------------------------ 87
11. Sĩ Quan Tham Mưu LĐ 3 ND---------------------------- 89
12. Đại đội trưởng Công Vụ LĐ 1 ND ---------------------- 91
13. Biệt Đội Trưởng BĐ/TCĐT ------------------------------ 94
14. Trận Hạ Lào, Lam Sơn 719 ----------------------------- 96
15. Trận An Lộc, Bình Long ---------------------------------- 102
16. Trận tái chiếm Quảng Trị -------------------------------- 105
Chương IV : Gãy gánh giữa đường ------------------------- 109
1. Tai nạn thảm khốc! -------------------------------------- 109
a). Tại bệnh viện Cộng Hòa ----------------------------- 109
b). Xuất viện về nhà --------------------------------------- 112
2. Sau ngày Quốc Hận -------------------------------------- 114
a). Tiêu tan sự nghiệp ------------------------------------- 114
b). Làm lại cuộc đời ---------------------------------------- 116
c). Phát triển kinh doanh mạnh mẽ ---------------------- 118
d). Kinh doanh thu hẹp, lo việc xuất ngoại------------ 121
Chương V : Những ngày trên đất Mỹ ---------------------- 128
1. Bước đầu tha hương ------------------------------------ 128
2. Vào Đại Học a) BCC --------------------------------- 131
3. Florida Atlantic University----------------------------
Thay lời kết ----------------------------------------------------- 313
Cám ơn anh ----------------------------------------------------- 315
Gương sáng------------------------------------------------------ 316
Tiểu sử tác giả -------------------------------------------------- 319 

Tiểu Sử Tác Giả
Trương Dưỡng sinh năm 1942 tại Phương Thạnh, Trà Vinh.

Gia Cảnh: Vợ và 3 Con Trai
Cấp bậc sau cùng: Thiếu tá
Năm 1973 bị tai nạn lật xe tại Huế gây liệt hai chân!
Giáo Dục:
Trường Trung Học Bán Công Trần Trung Tiên Vĩnh Bình
Trường Trung học Âu Lạc, đường Trần Quý Cáp, Sàigòn
Trường Pétrus Trương Vĩnh Ký (Đệ Nhất B1), Sàigòn
Đại Học Khoa học và Đại Học Luật
Tốt nghiệp Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam,Khóa 20 Đà Lạt
Khóa Điều Không Tiền Tuyến, Trường Pháo Binh Dục Mỹ
Khóa Tác chiến Trong rừng tại Mã lai năm 1966
Khóa Tham Mưu Trung Cấp tại Trường Võ khoa Thủ Đức
Khóa Tác Chiến Điện Tử tại trường Truyền Tin Vũng Tàu
Khóa Electronic Technician tại Atlantic Vocational, Florida
Electrical Engineering tại Florida Atlantic University
Chức Vụ Đảm nhận:
Liên Đội Trưởng Vũ khí Nặng, Đại Đội 90, TĐ9ND, Sàigòn
Trung Đội Trưởng Trung đội 1, Đại Đội 92 ND
Đại Đội Trưởng Đại Đội 91, Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù
Sĩ Quan Tham Mưu Lữ đoàn III Nhảy Dù
Đại Đội trưởng Chỉ Huy Công Vụ Lữ Đoàn I Nhảy Dù
Biệt Đội Trưởng Biệt Đội Tác Chiến Điện Tử SĐND
Design Engineer (RF Engineer) tại hãng Điện tử Motorola
Huy Chương Tưởng Lục:
* Bảo Quốc Huân Chương Đệ Ngũ Đẳng
* Anh Dũng Bội Tinh Nhành Dương Liễu, Sao Vàng,...
* 4 Chiến Thương Bội Tinh, Quân Phong Bội Tinh,...
* 2 Commandation With “V” Device 

Tác Giả:
Trương Dưỡng
Kỹ Sư Điện Tử Tôi viết sách nầy để:
Vinh Danh:
Các chiến hữu QLVNCH
đã chiến đấu kiên cường bảo vệ
Tự Do cho Tổ Quốc và Dân Tộc Việt Nam Hương hồn Cha
người mà tôi kính trọng nhất đời
Mẹ người đã ở góa nuôi tôi nên người
Vợ người bạn đời chung thủy đã chia sẻ
nỗi khó khăn và săn sóc tôi hơn
hai mươi lăm năm bị thương tật
Thương tặng: Các Con
đã vâng lời và chịu thiệt thòi
nhiều vì có người cha bị thương tật
Các Cháu

đã đem lại cho ông nội nhiều
niềm vui, an ủi, và những nụ cười tươi Hậu Nhân
để hiểu rằng cha, anh đã chịu nhiều
hy sinh bảo vệ Tự Do, Nhân Quyền 

 Lời Trần Tình Của Tác Giả
Sau khi phát hành lần thứ nhứt, mới gần một tháng mà nhà sách và xuất bản Tú Quỳnh của anh Thạnh đã tiêu thụ hết 200 quyển. Vân, Ân, Hòa, Bảo, Chính, Nhàn, Tờ, Hạnh, Vĩ, Minh, Mẫn, Đồng, Hiếu, Dân, Tiền, Danh, Phúc, Khoan, Chánh, Kiệt, Đức, Tiến, Thăng, Thanh, Cảng, Nguyên, Quang, Phương, Xuân, Tường, Triệu, Lộc, Thượng, Quan, Tòng, Quốc, Nhẫn, Duối, Hết, Chờ, Hiệp, Hòa, Phi, Bích, Nuôi, Hiếu, Mão, Hiệp, Chức, Huệ, Sáu, Trí, Lý, Rắt, Lâm, Tùng, Kiệt, Hùng, Hải, Thư, Sen, Tri, Tài, Ẩn, Toàn, An, Chức, Lợi, Hiệu,...

Các niên trưởng: Xiếng, Quới, Thiệt, Hoàng, Công, Thanh, Bằng, Xuân, Cát, Tiến, Việt, Hạnh, Vinh, Khương, Thu, Hạp, Bạc, Thạt, Thứ, Thanh, Khôi, Trang, Cao, Lân, Trí.....đã giúp bán dùm khá nhiều. Đặc biệt các chị Lý, chị Quỳnh, và nhiều chị khác cũng đã đem sách đến từng bàn mời mua trong các buổi họp mặt Võ Bị.
Ngoài ra cũng thành thật cám ơn các báo cho đăng quảng cáo miễn phí. Đặc biệt anh Mai Văn Đức cho đăng liên tục 3 tháng trên báo Bút Việt. Ca sĩ Nhật Trường đã bán dùm sách và con anh là Thanh Toàn đọc nhiều lần trên đài phát thanh cùng dự định phát hành CD đọc sách nầy với nhiều nhạc đệm phù hợp với cốt truyện thật đặc sắc.
Cám ơn Đức (10 cuốn), BS Hiền (10 cuốn), BS Tường, NT Tâm, NĐ Phước, Hùng (5 cuốn) đã mua ủng hộ nhiều sách để tặng bạn bè và thân hữu. Nhà xuất bản Tú Quỳnh hối in tái bản gấp để có sách bán. Nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của bạn bè, chiến hữu trong quân đội, sách đã được tái bản nhiều lần ngoài sức tưởng tượng của tác giả. Tôi phải ngày đêm lo sửa chữa lỗi chánh tả, hình ảnh, bài vở, và layout để cho đợt tái bản kỳ nầy sẽ được hoàn mỹ hơn trước. Nhiều độc giả đã cho ý kiến khích lệ qua điện thoại hoặc thư từ, sau đây là phần trích đăng những:
Cảm Nghĩ Của Độc Giả
Tôi đã đọc xong cuốn sách Hồi Ký của anh: đó là một tấm gương soi sáng cho những ai còn muốn làm chi cho dân tộc, cho đất nước, và cho cả riêng bản thân mình nữa. Con người ta phải sống cho đáng sống để được quí trọng và kính mến. Sự can đảm và chí phấn đấu của anh có nhiều, tôi xin có lời khen ngợi với sự kính mến của tôi.
Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi
Sách đã được viết theo một lối văn giản dị xong trung thực của một thanh niên thời loạn đầy nhiệt huyết đã làm đủ bổn phận với núi sông ....Tôi rất tiếc là những sĩ quan trẻ, có học như Thiếu tá và các bạn đồng khóa đã ra Trường quá trễ, và vì vậy đã không nắm được các chức vụ then chốt của Quân Đội khi đất nước lâm nguy!!!....
Y Sĩ Đại tá Hoàng Cơ Lân
Viết mấy giòng nầy không phải để khích lệ niên trưởng đâu, vì sự phấn đấu của N.T. là tấm gương sáng cho bất cứ ai bi quan, mọi sự dửng dưng trước tập sách nầy của bất cứ ai đã một thời mang binh nghiệp nói chung và Võ Bị, Nhảy Dù nói riêng, quả thật không xứng danh là quân nhân QLVNCH. Cao mạnh Nhẫn, khóa 21 ĐL, Oklahoma
Cám ơn bạn đã viết về đời lính qua đời mình:
- Là người lính chiến, tôi cám ơn công khó của bạn đã viết và xuất bản cuốn Hồi Ký “Một Cánh Hoa Dù”.
- Là người bạn, tôi cám ơn Dưỡng đã nói lên được thiên hùng ca, thay cho các bạn khác và cho người đã nằm xuống. Phạm Ngọc Tấn, K20, Ohio
Tôi không quen cựu quân nhân và hội đoàn, nhưng vẫn bán sách dùm cho Dưỡng được 25 cuốn. Tôi gặp những người trí thức, khá giả, hoặc chủ tiệm, nói họ mua đọc và giới thiệu sách Hồi Ký nầy, vì nó nói lên gương tốt, nhất là những gia đình không êm ấm cần nên đọc sách nầy.
Đoàn Công Danh, Seattle
Tôi ít đọc sách Việt vì làm báo chí Mỹ lâu năm, bà xã tôi rất ngạc nhiên tại sao tôi lại đọc sách của Dưỡng một cách say mê và coi lại tới hai lần. Sách rất hay, lời văn nhẹ nhàng hấp dẫn, có thể đọc từ bất cứ đoạn nào mà cũng thấy thích thú.
Nguyễn Đức Thu, K16, Maryland
Sách đã lột tả được một người sĩ quan xuất thân trường VBQG Đà Lạt; cũng như là một người chiến sĩ Nhảy Dù không phải chỉ biết đánh giặc mà còn biết thưởng thức cái dịu dàng êm đẹp của tình người, tình thương yêu gia đình, xã hội, của người đàn bà Việt Nam, của một chinh phụ trong thời buổi loạn lạc. Nội dung thật súc tích, giống như bàn tiệc mà tác giả đã bày ra nhiều món ăn ngon, khiến mọi thực khách (độc giả) ăn xong đều cảm thấy hả hê mát dạ! Thỉnh thoảng chen vào vài câu chuyện nhỏ nên không bị nhàm chán; lời văn giản dị, chân thật, rất hấp dẫn, nhưng viết còn ngắn quá đọc chưa đủ.
Đặng Văn Cần, K22, Florida
Nhận sách đọc suốt đêm, hay lắm, hấp dẫn lắm. Sáng nay tao mới họp mặt Võ Bị, họ ủng hộ mầy tối đa, gởi thêm 10 cuốn.
Huỳnh Thiên Lộc K20, Michigan
Những trận chiến anh kể tự nó đã có “Lửa”, văn thật giản dị, chân tình, kể chuyện đồng quê làm nhớ Việt Nam quá. Đọc chỗ khí khái của Tướng Đống, sự lễ độ và tài ba của Tướng Trưởng, lòng can đảm bảo vệ dân của Tướng Trí, và tài mưu lược của Tướng Lưỡng làm xóa bỏ những cảm nghĩ sai lầm trước đây về các vị Tướng. Đọc thấy chị chăm sóc anh hơn 24 năm thương tật, tôi cảm thấy quí trọng vợ mình hơn nữa!
Nhạc Sĩ Châu Định An
Văn anh hiền giống con người anh. Bằng sự chơn chất nhân hậu; bằng tất cả thiết tha dành cho bộ quân phục đã chọn, bằng tấm lòng thủy chung và nhân hậu với bằng hữu, với thuộc cấp một thời, cuốn hồi ký tuy thiếu chất “Nhà nghề” của một tác phẩm văn chương, nhưng có lẽ sẽ tạo nhiều xúc động, nhất là đối với những người đã từng mặc áo hoa, mũ đỏ, từng sống và chiến đấu ở cùng một đơn vị (Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù) với cựu thiếu tá Trương Dưỡng. Một đặc điểm khác: tác phẩm chỉ kể lại theo trí nhớ những người thật, việc thật, không cường điệu, không “Lên gân”, không hào hùng phét lác, không anh dũng phường tuồng như phần đông các cuốn hồi ký khác.
Nhà văn kiêm họa sĩ Khánh Trường, ĐĐ91ND
Có nhiều sách moa đọc một trang là không muốn coi tiếp, sách của toa, moa đọc một mạch tới 2 giờ khuya, thật hấp dẫn, dễ đọc, đáng khích lệ. Kỳ họp mặt Hội Võ Bị Houston, moi đã lên micro với thiệu và các bà K20 đến từng bàn mời. Nhờ vậy bán 2 lần được hơn 50 cuốn.
Đinh Văn Nguyên ở Houston, Texas
Anh viết hay quá! Binh chủng Dù sẽ được rửa mặt, anh cần muốn biết thêm gì về SĐND thì cứ gọi, vì số quân trong Dù của tôi là 0022, đã đi lính Dù 20 năm, từ thời Pháp ở ngoài Bắc.
Thiếu úy Phạm Gia Cầu, Houston
Đọc rồi mới biết được sự gian khổ, anh dũng, và thiện chiến của binh sĩ Nhảy Dù, nhất là cảnh lúc về phép lo chở vợ mới cưới đi chơi đó đây, rồi lại can đảm dứt tình riêng tư để trở ra đơn vị, tiếp tục chiến đấu bảo vệ an ninh cho xứ sở.
Một độc giả ở St Peterbursg, Florida
Ông nhớ hay thiệt, đọc rất hấp dẫn, những hình ảnh xưa lúc tụi mình còn ở TĐ9ND như hiện ra trước mắt, sẽ gởi hình cho. Tôi mua ủng hộ ông 5 cuốn để tặng cho mấy đứa con và thân hữu.
Nguyễn Đức Tâm, K18ĐL, nguyên ĐĐT91ND
Hồi Ký “Một Cánh Hoa Dù” quả thật là một kinh cầu nguyện cho những oan hồn uổng tử, là một liều thuốc an thần, một phương thuốc trị liệu cho những người thương tật, và một liên kết cho những cuộc tình tan vỡ khắp nơi của mọi người trong mọi hoàn cảnh.
Nguyễn Cao Thượng, Bạn thiếu thời của Dưỡng
Tôi mua sách tại Tú Quỳnh, đọc thấy hay và hấp dẫn nên gọi điện thoại cho anh để khích lệ, tôi sẽ gởi E-mail giới thiệu.
Nguyên Xuân Hoàng, K16ĐL, New Jersey
Em mới qua 2 năm, cảm thấy thua kém bạn bè nên chán nản, nhưng khi đọc xong sách của Niên Trưởng, tinh thần phấn khởi rất nhiều. Thằng bạn làm chung hãng nói: “Ảnh như vậy mà còn phấn đấu vươn lên, cực khổ của tụi mình đâu có thấm gì ”
Đặng Thành Long, K29ĐL, Atlanta
Đầu thập niên 70, chúng ta đã được đọc những tác phẩm tuyệt vời và rất nóng bỏng về cuộc chiến của nhà văn quân đội Phan Nhật Nam...Những tác phẩm nói về sự chiến đấu dũng cảm, những hy sinh tuyệt đối của các chiến sĩ Nhảy Dù nói riêng và QLVNCH nói chung trong nhiệm vụ cứu nước, an dân. Mới đây ta lại được đọc cuốn Hồi Ký “Một Cánh Hoa Dù” của Trương Dưỡng. Thật sự Trương Dưỡng không phải là một nhà văn mà là một chiến sĩ thuần túy. Lần đầu tiên anh viết văn mà lại dùng thể loại Hồi Ký. Hồi Ký là để viết cái “Ta”, một loại sách khó viết và rất dễ bị người đời bỏ qua bởi vì “Cái ta là đáng ghét”. Thế nhưng với lối viết văn giản dị, trong sáng, chân chất, trung thực, mạch lạc, và rất có lửa nên đã lôi cuốn người đọc từ trang đầu đến trang cuối.
Nhà văn Nguyễn Thượng Vũ, Chicago
Phần kể về cố gắng vượt bực của Dưỡng sau ngày bị tai nạn, và chuổi ngày đen tối dưới chế độ Cộng Sản mới là phần thật sự cuốn hút mình vào những suy tư đầy thích thú. Dưỡng ơi! bạn đã có một ý chí sắt đá trong những cố gắng vượt qua định mệnh khắc khe đó (do một phần ở bản lãnh của bạn, và bạn đã may mắn có một người vợ tuyệt vời, một người bạn đời có quá nhiều thương yêu, hy sinh cho bạn và các con).
Cũng như các con của bạn đã biết suy nghĩ và làm gì để cùng cha mẹ ngoi ra khỏi vũng lầy của cuộc đời đen tối mà chúng mình (một lớp trai trẻ có lẽ sinh ra không gặp thời) và dân tộc Việt Nam phải cay đắng nhận lấy định mệnh.
Cựu Trung tá Huỳnh Bá An, Khóa 20 ĐL
Đã nhận được sách Hồi Ký của Niên Trưởng, dự định sẽ đọc vài trang mỗi ngày, nhưng rồi không thể nào xếp cuốn sách lại được cho đến khi trang cuối đã đọc xong!!!
Phạm Trung Cang, Khóa 28 ĐL
Đời người là một cuốn sách. Đối với Trương Dưỡng thì chưa đủ vì anh chưa viết hết. Anh còn sống thật lâu và làm được nhiều việc mà những người thể lực còn toàn vẹn, tứ chi còn lành lặn, sức dài vai rộng khác không làm được như anh. Ở đây tôi muốn làm nổi bật cái cá nhân phi thường và ý chí tự thắng tới mức tuyệt vời trong con người Trương Dưỡng.....
Viết Hồi Ký là viết về mình. Mình là nhân vật trong tác phẩm gắn liền với quá khứ vui buồn, thăng giáng, và thành bại.....Hồi Ký cũng là những câu chuyện của những con người phi thường, lẫy lừng tên tuổi hay những người đặc biệt như Trương Dưỡng chẳng hạn....
Có người lợi dụng viết Hồi Ký đề cao “Cái Ta”, để thỏa mãn ý đồ nham hiểm thấp hèn, bao biện cho thành kiến, đố kỵ ghen ghét, hoặc phịa ra thành chuyện để trả thù người khác. Nhưng họ đã lầm và không lường được hậu quả của nó. Họ đã lòi ra những góc cạnh đê tiện của chính cái Ta của họ, họ đã đánh lừa chính lương tâm và tự đào hố chôn mình.
“Một Cánh Hoa Dù” của Trương Dưỡng viết dưới dạng Hồi Ký nhưng chính là một bản trường ca, hay đúng hơn là một bức tâm thư viết cho bạn bè và chiến hữu....Những câu chuyện bạn bè sát cánh bên nhau, sáng còn chiều mất, sắt đá cũng nhỏ lệ, núi rừng cũng để tang!!! Những hình ảnh dũng mãnh oai hùng, hiên ngang đầy khí phách tại trận tiền mà tên tuổi bao chiến sĩ Nhảy Dù đã đi vào chiến sử như cố Đại úy Nguyễn văn Đương, cố Đại tá Nguyễn Đình Bảo .....
Trương Dưỡng quả là con người đa năng, đa hiệu và đa tình, đa cảm và đa thực nữa. Nói về tính đa năng đa hiệu luôn sôi động trong con người anh, nó là thực tế chứ không phải huyền thoại. Đây là hậu quả của ý chí rèn luyện, phấn đấu vươn lên, không phải tự nhiên có, hay do một phép lạ.
Về phương diện tình cảm, Trương Dưỡng là người rất sòng phẳng và đặt đúng chỗ như người xạ thủ nhắm bia nào thì bắn bia đó và tính chung thủy được nói lên rõ nét. Tình cảm của anh trải dài trong cuốn sách....
Trương Dưỡng có lần thú nhận anh thương lính như thương vợ, trong đầu óc anh luôn chia đều: “Nửa phần cho lính, nửa phần cho em”, nên người lính Việt gốc Miên Châu Non của đơn vị đã gọi anh bằng bốn chữ “Sắc Muội Nực Bol” (Thiếu úy nhớ vợ). Tình cảm là sự tác động hai chiều, anh thương các con dĩ nhiên anh sẽ được các con báo hiếu đáp đền công sinh thành dưỡng dục. Với bạn bè, anh đối xử chí tình, không cò kè, không đắn đo, và đặt niềm tin nơi họ. Anh là người vui tính, thẳng thắn, mộc mạc chân tình, nặng nhân nghĩa, chẳng hạn đặt tên con để nhớ bạn bè. Cuốn sách có 5 chương, chương nào cũng hầu như nhắc đến thực đơn “Quốc hồn Quốc túy” làm cho độc giả cồn cào bao tử. Đặc biệt là món rựa mận, dồi chó chấm mắm nêm, củ riềng lá mơ ở Vạn Kiếp Bà Rịa, và đuông chà là chiên, bún nước lèo, cá lóc nêm mắm bồ hóc, canh Xiêm Lo ở Vĩnh Bình, thật là tuyệt vời. Có một đại niên trưởng đọc “Một Cánh Hoa Dù”ø đã ví như cuốn băng video thật hấp dẫn vì cả đoạn đời binh nghiệp của tác giả rất hào hùng, sôi động, và đầy lý thú.
Vũ Văn Quý, K10P, Houston
Tuy đi làm về rất mệt mỏi, nhưng tôi đã đọc hết cuốn Hồi Ký của anh trong 2 đêm liền. Nhiều lúc phải ngưng lại vài phút vì nước mắt ứa ra không nhìn thấy chữ. Thật đáng tội nghiệp cho các anh em chúng mình! Gương kiên nhẫn, bất khuất của anh là tấm gương soi sáng cho mọi người. Tấm lòng đối với bạn bè của anh khiến mọi người phải khâm phục. Cho tôi gởi lời thăm hỏi bà xã kiên cường, chung thủy của anh, và cũng cho tôi gởi lời cám ơn chị ấy đã hết lòng săn sóc niên đệ của tôi,... Phạm Trọng Sách, k18, Oregon
Mặc dù mày không nhận là nhà văn, nhưng rõ ràng là tác phẩm có một giá trị văn chương do lối viết kể giản dị, trong sáng, giàu hình ảnh và nhạc tính của mày. Công nhận mày có trí nhớ siêu đẳng thật. Tuy nhiên tao có đề nghị, trong lần tái bản, nhiều phần nên được khai triển, mở rộng thêm. Những phấn đấu trong nghịch cảnh của tác giả sau khi bị thương để tồn tại, vươn lên và vượt qua, nhất là những phấn đấu để tồn tại trong xã hội Cộng Sản và cuộc tranh đấu để được sang Hoa Kỳ định cư. Gương phấn đấu đáng được nhiều người noi theo.
Mặc dù tao không có ý bốc mày quá đáng, nhưng rõ ràng mày đã làm một việc rất đúng khi viết và in quyển sách nầy. Có thể tóm lại những điều suy nghĩ của tao sau khi đọc sách :
a). Tất cả những cựu SVSQ /Võ Bị Đà Lạt cần đọc để tìm thấy một phần đời mình trong đó, cùng với niềm tự hào đã được đào tạo từ ngôi trường nổi tiếng trong vùng Đông Nam Á.
b). Tất cả các chiến sĩ Nhảy Dù cần đọc để thấy rằng mình đã chiến đấu không tồi, và tự hào là một binh chủng giỏi của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và của cả quân đội khác trên thế giới.
c). Tất cả những người Quốc Gia cần phải đọc để có cái nhìn đúng hơn nữa về quân đội mình, một quân đội dù mất nước nhưng không thiếu những anh hùng thực sự.
d). Mọi người cần phải đọc để biết thương yêu, tự hào.
Tao cám ơn mày đã viết ra được những điều bản thân tao cũng muốn viết nhưng không làm nổi.
Trần Văn Thành, Khóa 20 ĐL, Minosota
Good! Được lắm! Dưỡng nhớ nhiều quá. Lúc trước nơi nào đơn vị Dưỡng đi qua thì súng địch chất cả đống ở phía sau, nhưng giá trị nổi bật của Dưỡng chính là chí kiên cường vươn lên trong hơn 24 năm bị thương tật.
Nguyễn Văn Thành, cựu ĐĐT92, Sacramento
Tôi rất cảm kích và say mê khi đọc cuốn sách nầy. Trong buổi họp mặt dạ tiệc thường niên của Hội Võ Bị Houston, BCH đã để cho anh Nguyên K20 lên máy micro giới thiệu cuốn sách Hồi Ký. Sau đó các anh các chị K20 chia nhau đi từng bàn mời mua sách. Tôi không rõ đã bán được bao nhiêu cuốn, nhưng thấy có rất nhiều người mua ủng hộ...Để giúp anh hơn nữa, ngày Tết Âm Lịch sắp tới, Hội sẽ tổ chức rất lớn....hy vọng sẽ bán được nhiều hơn.....Có một Niên Trưởng, rất cảm kích về cuốn sách của anh, sẽ viết một bài trên bản tin của Hội.
N.T. Trần Văn Hiển, k16, HT Hội VB Houston
Tổ trác! Tổ trác!!!

Chưa mua đừng mua, mua rồi đừng đọc, mà nếu đọc rồi thì đừng đưa cho vợ con đọc!!!
Kính gửi quý Niên Trưởng, Niên Đệ, Thân hữu, và các cháu có ý định mua cuốn Hồi Ký “Một Cánh Hoa Dù” của niên trưởng Trương Dưỡng. Tôi đã đọc từ A tới Z cuốn sách nầy, trong đó đề cập đến tấm gương hy sinh sáng chói của người đàn bà có một không hai trên cỏi đời nầy là chị Trương Dưỡng. Tôi muốn lấy tấm gương nầy để nhắc khéo bà xã nên đưa cuốn sách cho bả đọc. Ý của tôi là muốn bả đọc cái phần nào cần đọc mà thôi, rồi áp dụng đúng như vậy cho tôi nhờ.
Ai ngờ bả cũng như tôi, đã đọc từ A đến Z. Nhưng cái phần người đàn bà hy sinh cho chồng con bả phớt tỉnh ăng lê, thay vào đó bả chú ý đến cái phần người đàn ông tàn phế đầy nghị lực, đầy tinh thần chiến đấu, cả một cuộc đời đấu tranh không ngừng nghỉ. Bả đem cuộc đời người đàn ông nầy ra so sánh với cuộc đời tôi!!!
Ôi thôi còn gì bất hạnh cho bằng, nào là người ta ngồi xe lăn mà còn học được, còn làm việc được, còn anh thì ngồi .......... xa-lông uống bia, xem TV. Người ta lớn hơn anh nhiều mà có tư tưởng phấn đấu, còn anh cứ như là ông cụ non, ăn rồi chỉ biết nói phét, bàn chuyện đại sự mà xem ra rổng tuếch chẳng có chút kết quả nào cả. Người ta lo phụ giúp vợ con, làm công việc nhà còn anh vừa ăn xong ra ngồi xa-lông mở TV coi football, xem hoa hậu áo cụt, quần ngắn, la hét um sùm v.v. ....
Quý vị có thấy tôi bị tổ trác khi đưa sách cho bà xã coi không?
Thấy bả so sánh hơi nhiều nên tôi bèn an ủi bả, lấy tâm lý học ra phân tách cho bả nghe: “Em có biết không, mỗi người có mỗi ý thích thì công việc trong nhà mới suôn sẻ được, hai người mà làm việc cùng một lúc sẽ bị conflict (va chạm). Chẳng hạn như sau khi ăn xong, em thích rửa chén còn anh thích nghe nhạc. Rửa chén xong em thích hút bụi còn anh thì thích coi TV, mỗi người làm một việc. Làm theo khả năng hưởng theo nhu cầu, ai làm việc nấy thì chắc chắn sẽ có ngày nhà mình là một gương sáng cho xã hội chủ nghĩa noi theo !”
Chưa hết đâu, thua vợ tôi bèn nghĩ đến con. Cái bài học ngồi xe lăn đến trường, châm chỉ làm homework, tôi nghĩ là có thể áp dụng cho mấy đứa con tôi được. Tôi bèn đem cuốn sách dụ khị bọn nó đừng có lười biếng học. Nhưng sau khi nhìn cái hình ông sĩ quan trẻ, đẹp trai ở trang đầu, với cái hình ông già ngồi xe lăn lãnh bằng ở trang cuối, bọn nó đồng thanh tuyên bố: “Không phải đâu ba ơi, cái hình nầy giả đó, con không biết đọc tiếng Việt nên ba muốn nói gì cũng được. Làm sao ba biết hai cái hình đó là một người? Với lại nếu ông bị thương tật sao không chịu ăn tiền trợ cấp mà lại đi học chi cho nó mệt vậy??”
Phạm Bốn, K27 ĐL, Colorado 





Lời Giới Thiệu Của Tướng Lê Quang Lưỡng, Tư Lệnh SĐND
Trương Dưỡng là một sĩ quan Nhảy Dù năng động, mặc dù thân thể bất toàn mà cũng cố gắng sưu tầm tham khảo các nhân chứng trong những cuộc hành quân của các đơn vị Nhảy Dù mà Dưỡng đã trực tiếp hoặc gián tiếp tham dự, nhằm nói lên quân sử oai hùng của Binh Chủng.

Sách “Một Cánh Hoa Dù” đã kể gần hai chục trận chiến, tuy tổng quát và vắn tắt, nhưng nhờ lối viết trung thực, không dùng từ hoa mỹ, khiến cho người đọc hình dung được sự anh dũng chiến đấu không nề gian lao, khổ cực, và nguy hiểm của các anh em binh sĩ Nhảy Dù. Mong rằng các anh em khác viết lại các điều mình ghi nhớ để nói lên cho quần chúng biết sự chiến đấu anh dũng về binh chủng thân yêu của chúng ta.
Ngoài ra tôi cũng rất khâm phục chí phấn đấu vươn lên của Trương Dưỡng, nhất là 9 năm ở lại Việt Nam, sống dưới chế độ hà khắc Cộng Sản, hai vợ chồng đã đồng lòng hợp sức chịu nhiều vất vả để nuôi nấng ba con còn nhỏ dại.
Những năm tha hương, mặc dù xa lạ về ngôn ngữ, mặc dù chịu đựng sự dày dò về các biến chứng do bệnh tật gây ra, Trương Dưỡng vẫn tiếp tục đến trường, để làm gương và hướng dẫn các con học hành nên người.
Sách nầy có giá trị ở phần chân chất, viết sự thật, có thể làm tài liệu quân sử, đóng góp không nhỏ vào công cuộc tìm hiểu những sự thật của cuộc chiến tranh Việt Nam.
California, ngày 15/7/97
Lê Quang Lưỡng 

 Thay Lời Kết
12 năm trong quân ngũ với nhiều vất vã gian nan, nhất là những lúc trèo đèo vượt suối. Ngoài ra những lần chạm địch, đạn thù không kiên nể một ai, lúc đó người chiến sĩ đem sinh mạng ra thử thách với tử thần! Người chinh phụ ở hậu phương lúc nào cũng phập phòng lo sợ.

9 năm còn kẹt lại ở Việt Nam, sống dưới chế độ phe đảng, công an, và cảnh sát. Bọn cầm quyền độc tài chuyên chế, lúc nào cũng muốn áp bức người dân, nhất là dân Miền Nam. Chúng muốn đưa gia đình của những người liên hệ chế độ cũ đến đường cùng. Một chế độ kiểm soát bằng lý lịch, những người cựu quân, cán, chính lành mạnh mà còn phải “Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi!”.
Còn gia đình tác giả thì chồng bịnh tật, vợ ốm yếu, ba đứa con còn quá dại khờ (1, 3, và 5 tuổi). Tiền mặt sau khi đổi chỉ còn hai trăm đồng, không của cải quý giá (Honda, chiếc nhẫn truyền thống Đà Lạt bằng vàng 18,...đều bán sạch), vậy mà gia đình đã cố gắng ngoi từ đáy parapole để lên gần tới đỉnh.
13 năm sống tha hương, lúc mới qua Mỹ, trong nhà có hai lao động: trưởng nam mới vừa 16 tuổi, và mẹ đi làm nhà hàng, dành dụm tiền mua sách vở. Tối đi làm tới gần nửa đêm, sáng sớm cả nhà năm người đều cấp sách đến trường để rồi 9 năm sau, 4 cha con đều tốt nghiệp Kỹ Sư (1 cháu đổ bằng Master).
24 năm ngồi trên xe lăn, với nhiều biến chứng do bịnh tê liệt gây ra, khiến tác giả ngày đêm phấn đấu với những cơn đau nhức, khó chịu, nhất là ở vùng ranh giới thắt lưng, nơi đốt xương sống bị gãy. Đầu óc lúc nào cũng lo lắng trăm bề, nhiều khi cầm quyển sách mà trong óc nghĩ chuyện đâu đâu, tinh thần kém minh mẫn, chậm chạm, khó hấp thụ như tuổi thanh xuân. Vì vậy cần phải cố gắng gấp bội, mới có thể theo kịp bạn học, còn muốn điểm cao để đem lại vinh dự cho gia đình, cho sinh viên Việt Nam, thì khỏi nói quí vị cũng hiểu tác giả đã phải phấn đấu đến bực nào? Không được than van mệt mỏi, không được nghĩ đến những cơn đau do bịnh trạng gây ra. Phải tranh thủ từng giờ từng phút, kể cả những lúc các cháu ẵm lên bàn nằm nghỉ trưa tại phòng học, vừa cầm khúc bánh mì ăn, vừa đọc sách, ôn bài.
Đoạn trường ai có qua cầu mới hay! Mỗi lần tác giả nghĩ đến giai đoạn dài đã trải qua mà thấy rùn mình ớn sợ ! Không ngờ mình có thể chịu được cảnh đó trong suốt 24 năm! Cộng thêm mười năm ở quân trường và đơn vị tác chiến! Thì tuổi xuân nầy chẳng hưởng thụ được bao nhiêu, cán cân giữa vui và buồn, sướng và khổ, quả thật là quá chênh lệch!
Hôm nay ngồi đây viết lại hồi ký nầy để mong quí vị nào có phần số tốt hơn, đừng bao giờ buông xuôi, chán nản, mỗi khi gặp bất cứ trở ngại nào cũng cần phấn đấu ngoi lên.
Florida ngày 1/8/1997
Trương Dưỡng
HẾT
Cám Ơn Các Anh
--- 0 ---

(Mến tặng anh Quách Vĩnh Trường và Trương Dưỡng)
Tôi vẫn gọi các anh là “Người Mẫu”
Lời nôm na mà ý rất tự hào
Để dạy thằng con Phải Sống Làm Sao ?
Mang thương tật, cháu thẩn thờ sống gượng!
Cảm ơn anh Quách vĩnh Trường và Trương Dưỡng
Hai tấm gương Tự Thắng tuyệt vời !
Hai tấm gương làm hãnh diện với đời
Trai Võ Bị rạng ngời lòng Tự Thắng*
Thương các anh trải trăm cay, nghìn đắng
Vẫn vươn lên với thân thể tật nguyền.
Cụt tay chân rồi mộng ước ngả nghiên!
Lại nước mất, cả đất trời như sụp đổ!
Thân tàn phế xứ người bao bỡ ngỡ
Khi lòng trai đã lắm nỗi dập vùi !!!
Thế mà các anh, bạn cùng khóa của chồng tôi,
Giờ gặp lại là Kỹ sư, Họa sĩ
Tôi hãnh diện cùng gia đình Võ Bị,
Có gương anh rọi con cháu ngày ngày
Cảm ơn các anh cho con cháu hậu lai
Hai cuộc sống sáng ngời gương Tự Thắng*.
Bửu Hiền Thê
(Florida tháng 4/1997)
** Tự Thắng Để Chỉ Huy
Gương Sáng

N gày 12-12-92, trường Đại Học Florida Atlantic University đã long trọng tổ chức lễ mãn khóa cho 1068 Sinh viên tốt nghiệp các chuyên khoa trong đó có một cựu SVSQ Khóa 20 TVBQGVN và trưởng nam, hiện cư ngụ tại Broward, Florida tốt nghiệp Kỹ Sư Điện.
Ra trường Khóa 20 TVBQGVN năm 1965, anh Trương Dưỡng đã đầu quân vào đơn vị lẩy lừng chiến tích nhứt của QLVNCH trong suốt cuộc chiến chống Cộng. Sư Đoàn Nhảy Dù, một đơn vị đã từng nổi tiếng gây khiếp đảm cho quân thù trên khắp các chiến trường và thu phục được sự cảm mến của mọi từng lớp đồng bào hậu phương. Anh đã có mặt trên hầu hết các chiến trường Bồng Sơn, Tam Quan (Bình Định), Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), Cửa Việt (Quảng Trị) và Hạ Lào năm 1971, Gio Linh, Làng Vây (Quảng Trị), đường Trường Sơn, Phong Điền (Thừa Thiên) năm 1967; Cổ Thành Quảng Trị, Thành Nội Huế và mặt trận Ven Đô Thành Sàigòn Tết Mậu Thân năm 1968.
Cùng với các chiến tích kể trên của đơn vị, anh hùng Mũ Đỏ họ Trương đã được tưởng thưởng nhiều huy chương đủ loại kể cả huy chương cao quý nhất của Quân Lực VNCH và Hoa Kỳ. Anh cũng đã chứng minh hùng hồn nhứt về lòng yêu nước của mình bằng 4 lần bị thương trên chiến trường mà hiện nay một số đạn thù vẫn còn nằm lại trong thân thể anh.
Một tai nạn xe oan nghiệt và cuộc cưỡng chiếm Miền Nam Việt Nam của tập đoàn Cộng Sản Bắc Việt 30/4/1975 đã chấm dứt cuộc đời binh nghiệp của anh và mang lại cho anh một thân thể bất toàn. Hai biến cố nầy đã đưa anh đến một tình thế khó khăn tuyệt đỉnh. Nhưng người sĩ quan quả cảm nầy đã vươn lên không ngừng để sống còn trong suốt gần mười năm trên quê hương điêu tàn, rách nát. Anh cùng vợ và các con đã phải làm đủ thứ nghề để sống qua ngày và mong chờ một tia sáng ở cuối đường hầm.
Niềm hy vọng nhỏ nhoi đó đã trở thành sự thật khi anh được người bà con họ bảo lãnh và cả gia đình anh đã đến được vùng đất Tự do nầy vào năm 1984.
Đến nay anh vừa tròn 50 tuổi, cái tuổi mà đáng lẽ đang chuẩn bị để “Vui thú điền viên” nhưng anh đã luôn luôn nêu cao khẩu hiệu “Tự thắng để chỉ huy” và cái “Đa năng đa hiệu” của người trai Võ Bị gần 30 năm trước.
Người chiến binh quả cảm đó không ngừng hăng say xông xáo trên chiến trường lửa đạn mà còn tung hoành ngang dọc không kém trên mặt trận văn hóa. Anh lúc nào cũng an lạc yêu đời, vẫn hằng ngày ngồi xe lăn đến trường để “Dồi mài kinh sử” cùng 3 con trai:
- Trương vũ Tâm 25 tuổi
- Trương Vũ Thành 22 tuổi
- Trương Vũ Thiện 20 tuổi
Theo lời phát ngôn viên của Viện Đại Học thì đây là lần đầu tiên một gia đình gồm 4 cha con học cùng ngành và cùng trường mà lần nầy hai cha con cùng tốt nghiệp với số điểm trung bình :
- Trương Dưỡng 3.64
- Trương Vũ Tâm 3.3
Hai em Thành và Thiện hiện đang noi bước cha anh và cũng sẽ tốt nghiệp năm 1993. Đằng sau cái gương hiếu học và những nổ lực không ngừng của anh Dưỡng và các cháu, tôi không thể không nêu lên tấm gương của một phụ nữ mà từ gần 10 năm ròng rã sống trên xứ lạ quê người, nơi đầy dẫy những cám dỗ xa hoa vật chất, vẫn một lòng một dạ yêu thương chồng con, hằng ngày vui vẻ cặm cụi đi làm để nuôi chồng con an tâm đèn sách: Chị Dưỡng.
Chị không những là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy chồng con mau đến thành công trên đường học vấn mà còn là một gương sáng chói về tiết hạnh đảm đang của người phụ nữ Việt Nam truyền thống.
Tóm lại gia đình Người Hùng Mủ Đỏ Trương Dưỡng vô cùng xứng đáng là một gia đình Việt Nam mẫu mực để cho tất cả người Việt chúng ta noi theo, đặc biệt những ai đang sống trên quê hương nầy vậy.
Lê Chí Thiện, K14 ĐL Florida, 1992

Sunday, January 27, 2019

QLVNCH: Quân sử Không Quân – Các Giám Đốc Trường (Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang) –


Các Giám Đốc Trường (Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang) –
Trong biến cố mất nước tháng 4 năm 1975, tôi và gia đình may mắn thoát nạn được,như tôi đã có kể lại trong bài viết Ngày Ra Đi. Chúng tôi hiện đang sống tại xứ Hoa Ky từ đó đến nay trên 26 năm, mỗi lúc chuyện trò với bạn bè, nhắc lại chuyện ra đi, tôi không khỏi bồi hồi xúc động khi nhớ tới các vị Giám Đốc Trường thuộc Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang, không những là bạn bè mà còn là những sĩ quan cao cấp cùng phục vụ sát cánh và lâu dài với tôi trong một đơn vị cho tới ngày mất nước.Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân là một trong chín đại đơn vị của Không Quân, có 8 trường chính:
– Trường Chỉ Huy & Tham Mưu Trung Cấp
– Trường Phi Hành T-37
– Trường Phi Hành T-41
– Trường Kỷ Thuật
– Trường Truyền Tin & Điện Tử
– Trường Mưu Sinh & Thoát Hiểm
– Trường Quân Sự
– Trường Anh Ngữ

Theo tổ chức, TTHLKQ trên là Chỉ Huy Trưởng, dưới có Trưởng Khối Huấn Luyện, vị này có nhiệm vụ phối hợp giữa các trường, nhưng chính các Giám Đốc Trường là những vị điều hành trực tiếp các quân trường kể trên. Nếu so sánh theo bản cấp số thì các vị Giám Đốc Trường này ngang hàng với các vị Không Đoàn Trưởng của dơn vị tác chiến của các Sư Đoàn Không Quân.
Hầu hết quân nhân Không Quân không ai không khỏi phải qua Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân một đôi lần để học quân sự hay chuyên môn nhứt là giai đoạn sau năm 1970, có chương trình Việt Nam Hóa Chiến Tranh, các quân trường ở đây đã tổ chức những khóa học dây chuyền mới có thể đạt được chỉ tiêu do Bộ Tư Lệnh Không Quân đề ra, có lúc số khóa sinh lên trên năm ngàn(5,000) quân nhân. Trách vụ của các vị Giám Đốc Trường này cũng nặng nề không kém trách vụ của các vị chỉ huy đơn vị tác chiến. Nhưng ngày mất nước ra đi, có đến 7 trong 8 vị Giám Đốc Trường đã kẹt lại, chịu biết bao đọa đày của hỏa ngục trần gian. Cho dầu so sánh với các cấp chỉ huy cao cấp của các đại đơn vị Không Quân khác, như Sư Đoàn 6 Không Quân, thì đây là một trường hợp quá đau thương. Nay số phận của các vị Giám Đốc Trường này ra sao?
Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân có lệnh di tản, rời nơi đóng quân muôn thuở là thành phố Nha Trang ngày 1 tháng 4 năm 1975, về đồn trú trong Căn Cứ Không Quân Tân Sơn Nhứt. Thời gian tạm trú ở đây đúng một tháng thì mất nước.

Từ ngày 22 tháng 4 năm 1975, Bộ Tư Lệnh Không Quân đã cho di tản gia đình quân nhân ra khỏi nước, ưu tiên là gia đình của các vị Tướng, các Tham Mưu Phó, các sĩ quan cao cấp thuộc Bộ Tư Lệnh Không Quân, thứ đến là gia đình của các hoa tiêu khu trục, rồi mới đến gia đình các sĩ quan các đơn vị; ưu tiên theo cấp bậc và chức vụ. Tính đến ngày 28 tháng 4 năm 1975, một số lớn gia đình sĩ quan cấp úy của các đơn vị khác đã được cấp cho phi cơ rời Việt Nam, riêng Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân chỉ có gia đình duy nhất của Chuẩn Tướng Chỉ Huy Trưởng được chính thức đi mà thôi, ngoài ra không có một gia đình nào khác trong đó có cả gia đình của vị Chỉ Huy Phó. Nên nhớ, việc sắp xếp chỗ cho đi do Đại Tá Đỗ Văn Ri, Chánh Văn Phòng Tư Lệnh điều khiển, chứ không phải do Phòng Chuyển Vận thuộc Tham Mưu Phó Tiếp Vận trách nhiệm như thường tình. Không biết Văn Phòng Tư Lệnh này đã căn cứ vào ưu tiên nào; giả dụ rằng Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân, ưu tiên kém hơn các đơn vị tác chiến như các Sư Đoàn Không Quân, thì mọi người cũng có thể chấp nhận được, nhưng những gia đình của các vị Giám Đốc này không thể di tản sau các dân sự, đa số là những người Trung Hoa Chợ Lớn. Chuyện này tôi đã nói ra ở bài “Ngày Ra Đi”.
Một điều hết sức khôi hài là Văn Phòng Tư Lệnh nắm quyền cấp phát cho máy bay di tản từ đầu cho đến ngày 28 tháng 4 năm 1975, lúc đó tình hình quá hỗn loạn, khi căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhứt bị thả bom, mới trao trả sự điều hành chuyển vận này lại cho Phòng Chuyển Vận thuộc Tham Mưu Phó Tiếp Vận cùng bản danh sách hành khách ứ đọng với chỉ thị rằng “hãy tìm cách đưa hết số gia đình này đi”. Còn gì mỉa mai cho bằng. Đêm đó, rạng ngày 29 tháng 4 năm 1975, lúc 4 giờ sáng, Căn Cứ Không Quân Tân Sơn Nhứt lại bị Việt Cộng pháo kích. Sáng ra Bộ Tư Lệnh Không Quân tan hàng, mạnh ai tự thoát thân, chỉ có mấy vị Tướng Không Quân được D.A.O. chấp nhận cho di tản bằng trực thăng ra Hạm Đội 7 Hoa Kỳ mà thôi. Một số sĩ quan thân tín trong đó có cả các vị Chánh Văn Phòng của mấy ông Tướng đi theo, đều bị chận lại ở cổng D.A.O.Và tới giờ phút nguy nan này mới thấy tình đời và quyền hạn. Dầu một vị Tướng quyền hành tột đỉnh cũng không thể bảo vệ được người Chánh Văn Phòng thân tín nhất, là cánh tay mặt của mình. Thật là quá nhục nhã. Có người nhanh chân chạy thoát được, cũng có những kẻ bị kẹt bị tù đày trên mười năm. Nhóm người này có ăn có chịu, chỉ tội nghiệp cho những sĩ quan cao cấp khác, ngày ngày chỉ trông ngóng tin từ trên đưa xuống để có thể đưa gia đình di tản, nhưng chẳng bao giờ tin lành đến với họ nên đành kẹt lại, trong số này có các vị Giám Đốc Trường sau đây:
– Đại Tá Đặng Văn Hậu, Giám Đốc Trường Chỉ Huy & Tham Mưu Trung Cấp Không Quân, bị 13 năm tù. Đến Mỹ vào năm 1992 cùng với gia đình và hiện cư ngụ tại tiểu bang Virginia, vùng quanh Washington D.C.
– Trung Tá Đàm Thiện Nguơn, Giám Đốc Trường Phi Hành T-37 ở Phan Rang, bị tù trên mười năm, sang Mỹ vào năm 1991, cư trú tại Quận Cam, California, được ít năm thì từ trần vì bệnh phổi.
– Trung Tá Lê Bá Định, Giám Đốc Trường Phi Hành T-41, nếu có bị tù là ngoài ý muốn, vì anh ta không có ý định rời Việt Nam. Vì những ngày cuối tháng 4 năm 1975, tình hình nước nhà hết sức khẩn trương, ai cũng biết được, sắp mất nước đến nơi, nhưng anh Định đã bày tỏ ý kiến trong những buổi họp hằng ngày là, nếu có mất nước, anh ở lại vào bưng, tổ chức kháng chiến chống lại Việt Cộng. Bởi vậy, anh tỉnh bơ, trong lúc đa số các sĩ quan khác chạy đôn chạy đáo cố tìm cách cho gia đình di tản, nhưng đành bó tay. Tinh thần anh Định cao lắm làm mọi người thán phục và ngưỡng mộ. Không ai biết chắc chắn anh Định hiện thời ở đâu…Nhưng mọi người khen anh Định giỏi ngoại ngữ, nhất là Anh văn, đã từng làm thông dịch cho những buổi họp giữa các chính khách ngoại quốc và Việt Cộng nên đời sống anh được bảo đảm, khỏi bị chính quyền địa phương hăm dọa. Và nhờ dạy Anh văn nên anh có đời sống vật chất sung túc và giàu có nữa, nên càng không muốn rời Việt Nam. Nhưng cũng có nguồn tin cho rằng anh Định bị chính quyền Việt Cộng bắt buộc phải rời Việt Nam vì là thành phần tay sai cho gián điệp C.I.A. Cũng có thể đúng, vì đây là “chính sách vắt chanh bỏ vỏ” muôn thuở của người Cộng Sản. Trước đây, năm 1975, khi Việt Cộng mới chiếm miền Nam, rất ít người giỏi tiếng Anh nên mới dùng anh Định, nay sau hai mươi mấy năm, họ có người của họ nên không cần anh ta nữa, không có gì lạ.
– Trung Tá Nguyễn Văn Kiên, Giám Đốc Trường Kỷ Thuật, bị kẹt lại không chịu trình diện để đi tù, nên đã dấu tông tích, cải trang làm nghề bán củi độ thân. Sau đó cùng con trai vượt biên và bị mất tích. Hiện gia đình chị Kiên đang sống ở San Diego, California.
– Trung Tá Tạ Minh Đức, Giám Đốc Trường Truyền Tin & Điện Tử, bị tù trong một thời gian ngắn, nên không đủ tiêu chuẩn để sang Mỹ theo diện H.O (Humanitarian Operations). Ra tù, anh mưu sinh bằng nghề đóng guốc Dakao, hiện nay anh làm việc cho một tiệm thuốc Bắc. Nhìn trông anh, thấy hình dung anh khắc khổ lắm. Anh cho biết anh bị đau bao tử mấy năm nay, còn chị Đức thì đau chân, đi đứng rất khó khăn.
– Trung Tá Nguyễn Minh Công, Giám Đốc Trường Mưu Sinh & Thoát Hiểm, bị tù gần 10 năm. Khi ra tù, anh Công bị đau nặng chỉ trong mấy năm thì qua đời. Tôi và anh Công là anh em kết nghĩa, khi nghe tin anh Công ở quê nhà bị khốn khổ, tôi hết sức đau buồn và lo lắng, nhưng cũng không giúp được gì thiết thực, ngoài những lời an ủi và món quà khiêm tốn mà thôi. Sau đó, nghe chị Công cùng các con cái đến được Mỹ, tôi rất vui mừng, nhưng không biết rõ hiện giờ gia đình chị Công ở đâu.
– Trung Tá Nguyễn Văn Qui, Giám Đốc Trường Quân Sự, bị tù mười năm. Qua Mỹ giữa thập niên 90. Chúng tôi có liên lạc với nhau bằng điện thoại khi anh chị còn ở California. Sau đó anh rời đi sang Úc vì có con cái vượt biên và cư ngụ bên đó. Một điểm lạ là anh Qui đau bao tử kinh niên. Hồi trước anh chỉ ăn gạo lức và muối mè. Thế mà khi ở tù một thời gian dài dưới chế độ hà khắc cộng sản mà anh chịu đựng được, đúng là phép lạ.
Vị giám đốc độc nhất thoát nạn tù đày cộng sản là Trung Tá Lê Bá Toàn, Trường Anh Ngữ, nhờ anh có người con đầu lòng là công dân Mỹ chính cống, sanh đẻ tại Mỹ khi chị Toàn cùng theo chồng sang Mỹ thời gian anh Toàn làm Sĩ Quan Liên Lạc từ giữa thập niên 50. Nhờ vậy mà Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam đã lo lắng cho gia đình anh chị Toàn sang Mỹ một cách thuận lợi. Gia đình anh chị Toàn hiện ở Houston, Texas.
Nay nếu có ai bắt gặp tại Mỹ những gia đình sĩ quan thuộc TTHLKQ trước kia là chính họ vào phút chót đã tự động xoay xở lấy bằng đủ mọi phương tiện để thoát nạn, chứ gia đình họ không được BTLKQ cắp chỗ phi cơ cho đi như những gia đình của các sĩ quan khác.
Biến cố nào cũng có sự mất mát và thiệt hại về nhân mạng và tài vật. Biến cố ngày 11 tháng 9 năm 2001 xảy ra tại New York thật thảm khốc và đau buồn, chết trên năm ngàn nhân mạng, thiệt hại hằng trăm tỷ đô la, đối với một nước giàu mạnh nhất thế giới với dân số trên 280 triệu người. Nhưng nếu so sánh về bách phân, thì sự thiệt hại của TTHLKQ quá to lớn, đến 7/8, trong biến cố mất nước tháng 4 năm 1975. Bảy trong số tám sĩ quan cao cấp, Giám Đốc Trường kẹt lại, bị tù đày trong hỏa ngục cộng sản. Ba trong bảy người này đã ra người thiên cổ. Bốn người còn tại thế ở ba lục địa khác nhau: Á, Mỹ, Úc với thân thể bệnh hoạn tiều tụy, và nhất là con cái học hành dở dang và lập gia đình muộn. Đáng buồn thay!
Ngày 24 tháng 10 năm 2001

Wednesday, January 23, 2019

Vụ án Trần Quang Trân ở trại tù Tiên Lãnh (Trích đoạn hồi ký của Bác Sĩ Phùng Văn Hạnh)


Tôi muốn nói lên những đau khổ chất ngất của anh em tù chính trị và quân đội trong ngục tù Tiên Lãnh. Làm y tế trại, tôi được gọi lên phòng kiên giam để xác nhận cái chết của Nguyễn Công Vĩnh. Trước kia anh to con, nhưng bây giờ xác anh teo tóp, co rúm, da bọc xương, gò má lồi cao, hai mắt mở trừng trừng. Anh ta chết vì đói. Bọn cai tù có lệnh không cho anh ăn uống. Bọn trật tự kể lại là những ngày cuối, trong mê sảng, anh bốc những con dòi bò trong đường cống lên ăn, chắc anh tưởng là hạt cơm. Ðường cống là một cái rãnh dọc theo bờ tường phòng kiên giam, dùng cho tù phạm tiêu, tiểu tiện vào đấy. Chắc có nhiều hồi ký trại giam Cộng Sản đã tả cái dã man, tinh vi của cái cùm sắt dài xuyên từ bờ tường này đến bờ tường kia. Cảnh cô độc, đói khát, mơ tưởng những món ăn thời tự do, những tiểu xảo để giết thì giờ thiên thu và để kéo dài chịu đựng, nói lên cái tàn bạo chưa từng có của kiên giam. Chuồng cọp Côn Ðảo là thiên đường sánh với kiên giam.
Vụ án Trần Quang Trân là một biến cố đặc biệt của trại Tiên Lãnh, nói lên tinh thần bất khuất của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Ðây là một tổ chức có mục đích, hệ thống. Một hoạt động dũng cảm, nhiệt tình, có tính cách quy mô rộng lớn, bao gồm trên 100 sĩ quan và tù chính trị. Bởi thế, khi vỡ lở, công an điều tra mất vài tháng trước khi đưa nội vụ ra tòa với hai lần xử: phúc thẩm và chung thẩm. Bản án chung thẩm là: Tuyên truyền chống phá cách mạng, tổ chức cướp súng, cướp trại, âm mưu lật đổ chính quyền.
Sau đây là tên họ những người lãnh án phạt và thời gian ở tù thật sự:
-Thiếu Úy Trần Quang Trân, án tử hình. Xử tử ngày 19.06.1982.
-Thiếu Úy Trần Lân, án chung thân, ở tù 20 năm.
-Trung Úy Ngô Văn Thạnh, án 20 năm, ở tù 19 năm.
-Ðại Úy Nguyễn Văn Hưng, án 18 năm, ở tù 19 năm.
-Ðại Úy Ðỗ Ngọc Nuôi, án 12 năm, ở tù 16 năm.
-Xã trưởng Võ Kinh, án 13 năm, ở tù 15 năm.
-Trung Úy Ðỗ Văn Sĩ, án 13 năm, ở tù 16 năm.
-Ðại Úy Ðinh Văn An, án 10 năm (chết trong tù Hàm Tân năm 1990).
-Trung sĩ Lê Cao Phúc, án 10 năm, ở tù 14 năm.
-Bác sĩ Tôn Thất Sang, án 10 năm, ở tù 15 năm.
-Lê Phò, án 10 năm, ở tù 10 năm.
-Ðại Úy Nguyễn Minh, án 5 năm, ở tù 12 năm.
-Thiếu Úy Huỳnh Tiến, án 3 năm, ở tù 11 năm.
Ngoài ra có một số bị kiên giam, song không bị án. Trong số những người kiên cường này, phải kể Nguyễn Văn Ngật, Nguyễn Văn Ðiểu, Lê Quang, Lê Xuân Mai, Phạm Lộc, Trần Thao, Châu Văn Mầu, Nguyễn Ngọc Trai, Trương Quang Ðông… Tóm lại có chừng 75 người xử theo biện pháp hành chánh, nghĩa là tập trung cải tạo vô thời hạn, không biết ngày nào về, trung bình ở tù 10 năm. Trừ hai người ra đi vĩnh viễn là anh Trân và An, số còn lại lãnh 9 thế kỷ tù tội. Chín thế kỷ đau thương triền miên ray rứt. Ðiểm đặc biệt của vụ án là lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ. Những người có án nặng là thiếu úy và trung úy.
Người được anh em mến phục nhất là anh Trần Quang Trân và Ðinh Văn An. Trân, người thon nhỏ, mặt trắng thư sinh. Tính tình bặt thiệp, ưa đùa cợt, làm thơ hay. Rất tiếc là thơ anh không ai ghi chép lại, vì thơ làm trong kiên giam không giấy bút. Song anh hơn Nguyễn Chí Thiện ở chỗ là anh đọc thơ cho bọn Cộng Sản giam giữ anh nghe. Làm thơ xong, anh đọc sang sảng, rất to, cốt cho trại viên nghe, song cán bộ vội xua đuổi trại viên đi, không cho nghe những lời ca yêu nước, hạch tội bọn Cộng Sản vong bản, nô dịch chủ thuyết ngoại lai, gieo rắc khổ đau cho nhân dân Việt Nam.
Trong đêm giao thừa đầu năm 1982, trong kiên giam lạnh lẽo, chờ ngày xử chung thẩm, anh ngâm nga:
Ðón giao thừa giữa bốn bức tường vôi
Xuân lạnh lùng quá mẹ Việt Nam ơi!
Bao giờ dẹp tan loài quỷ đỏ
Mẹ con mình no ấm, rộn niềm vui.

(chưa chắc đã đúng trong nguyên tác, chỉ vì nghe từ đàng xa, và lại thời gian xoi mòn trí nhớ).
Anh Trân thông minh hiếu học. Nếu đến được bến bờ tự do, anh sẽ là một chuyên viên điện tử có hạng. Trong tù, anh không ngừng trau dồi kiến thức, học thêm ngoại ngữ. Ở Kỳ Sơn, anh được điều động lên cơ quan của tổng trại 2 để sửa chữa máy truyền tin và lắp ráp điện đài. Anh đã sửa chữa một máy dò tìm vàng nhãn hiệu Trung Cộng, mà nhiều kỹ sư đào tạo ở miền Bắc bó tay. Anh là một chuyên viên điện tử tu nghiệp ở Nhật do tài trợ của hãng Panasonic. Với phương tiện nghèo nàn, anh tái tạo các linh kiện điện tử trong công việc sửa chữa hàng ngày cho cơ quan, và lắp ráp những đài thu thanh nhỏ cầm tay, phân phát cho các trại.
Ðể che mắt bọn cán bộ, linh kiện được lắp vào các máy đo điện đã hư. Muốn máy phát động, chỉ cần lắp vào một dây dẫn điện ngắn, và có thể nghe nhiều đài phát thanh ngoại quốc như VOA, BBC v… v… Nhờ thế, tin tức về cuộc tấn công của Trung Quốc vào miền Bắc, chiến tranh lạnh giữa Nga và Mỹ đều được phổ biến bí mật cho trại viên để nuôi dưỡng ý chí quật cường.
Trại Kỳ Sơn, với quy chế tù binh, chế độ ăn uống, lao động không khắc nghiệt như trại Tiên Lãnh. Tôi nghĩ rằng quân đội miền Bắc XHCN cũng tự hào về thành tích của họ, song không biết họ có thấy xấu hổ khi đem đồng loại khác chính kiến ra hành hạ, đem bắn lén nhiều sĩ quan như vụ bắn Ðại Tá Võ Vàng, bề hội đồng Thiếu Úy Huỳnh Tiết, một sĩ quan trẻ miền Nam giỏi võ. Hận thù giai cấp đã làm họ tối mắt, không biết gì đến tinh thần thượng võ và tình thương đồng loại. Chiến thắng lẫy lừng, cuối cùng là để nhốt đồng loại vào trại tập trung hành hạ, còn Mỹ thì cao chạy xa bay rồi.
Cuối năm 1978, sĩ quan trại Kỳ Sơn chuyển qua Tiên Lãnh. Công an là chuyên viên cai quản tù trong XHCN. Những phương thức đàn áp như lao động cưỡng bách, hạn chế dinh dưỡng, nội quy sắt máu, trừng trị tàn bạo, tối đa là truyền thống quy củ trong quần đảo Goulag, nhà tù Trung Cộng, và một loạt nhà tù miền Bắc mà nghe tên ai cũng giật mình. Tất cả những phương thức ấy đều được áp dụng ở trại Tiên Lãnh. Vài tháng sau nhập trại, toàn thể sĩ quan trở nên rách rưới, ốm đói, phờ phạc, hãi hùng. Vài người quá tuyệt vọng đã tự tử chết.
Trung Tá Bình, Ðại Úy Quy trốn trại không thoát. Ðã có lệnh từ trên là bắn chết một người để làm khiếp hãi trại viên. Trên đường áp giải hai người trốn trại, bọn công an đã bắn lén từ phía sau, giết Trung Tá Bình và tri hô lên là vì tù nhân chạy trốn. Tôi có khám tử thi, và thấy vết thương có lỗ vào phía sau lưng, đen thuốc súng, chứng tỏ nạn nhân bị bắn rất gần. Thật là một thời kỳ u ám. Nhiều sĩ quan cấp tá bị kiên giam rồi chuyển đi trại Ðồng Mộ. Số người sợ hãi bị chiêu dụ làm ăng-ten tăng lên đáng kể. Soát phòng liên miên. Trại đông người lại có nhiều trại lẻ ở xa, ban giám thị cần một hệ thống liên lạc hữu hiệu, nên anh Trân lại được kêu ra để thiết lập một tổng đài điện thoại, đài liên lạc vô tuyến với Ty Công an. Anh và Trần Lân được ở một căn nhà nhỏ riêng biệt dùng làm xưởng sửa chữa máy móc điện tử. Các cán bộ trong trại cũng nhờ sửa những máy thu thanh cá nhân. Vì là việc làm không công, họ thường bồi dưỡng anh thịt, trứng… Nhưng anh Trân không vì những ưu đãi ấy mà quên anh em. Anh lặp lại việc đã làm tại trại Kỳ Sơn là lắp một máy thu thanh để nghe lén các đài ngoại quốc. Anh đã thành công ở Kỳ Sơn vì không bị phát hiện, nhưng lần nầy không may. Trong vụ án xử anh và bạn hữu, chỉ có độc nhất một tang chứng là cái máy đo điện trở, trong đó anh có lắp linh kiện điện tử để nghe đài phát thanh. Các người bị kêu án là những người có ký vào bản nhận tội khi công an tra tấn hoặc đe dọa. Có nhiều người giữ nhiệm vụ quan trọng, song một mực chối hết, nên chỉ bị trừng trị bằng biện pháp hành chánh. Có bằng cớ gì đâu, chẳng qua là nói miệng với nhau, chứ đâu có hội họp biên bản gì. Song cuối cùng biện pháp hành chánh cũng giam giữ rất lâu, ít nhất là trên mười năm. Nhiều khi hơn nữa. Xử án chỉ là bày trò hình thức.
Phân tích vụ án ta thấy hai phần rõ rệt: Phần loan truyền tin tức ngoại quốc đem lại hưng phấn cho trại viên, ví dụ như cuộc nổi dậy của nhóm Fulro, cuộc bao vây kinh tế Việt Nam của Tổng Thống Mỹ Reagan. Vì oán hận lối đối xử dã man tàn bạo của bọn Cộng Sản, ai cũng vui mừng khi nghe những tin bất lợi cho chúng. Chẳng thấy viễn ảnh ngày về, những tin ấy mang lại chút hy vọng mong manh.
Ví dụ trường hợp Bác Sĩ Tôn Thất Sang làm y tế cho trại Na sơn. Sang vào tù vì tội vượt biên. Anh có nói một câu đơn giản mà bị án 10 năm. Nhân Lê Phò, từ trại Na Sơn về trại chính, anh nhắn với Trân là có tin tức gì hay nói cho “mệ” biết với (con cháu vua thường tự xưng là mệ). Sang không có tham gia gì vào tổ chức. Chỉ nghe câu ấy mà không báo cáo với cán bộ, Phò cũng lãnh án 10 năm. Thật là một chuyện không thể tưởng tượng nổi, mà các nhà luật học khi nghe phải sững sờ. Những thiệt hại mà anh Sang phải chịu trong tù đày, cùng những hậu quả dai dẳng trong cuộc sống định cư ở Mỹ, ai sẽ chịu trách nhiệm đây? Các nhà luật học phải có biện pháp đưa bọn Cộng Sản Việt Nam ra tòa án quốc tế để trả lời những tội ác đối với hàng triệu người vô tội.
Phần thứ hai của vụ án là tổ chức cướp súng, cướp trại, đánh quận Tiên Phước, liên lạc với cuộc nổi dậy Fulro lập chiến khu… là những tiết lộ của Ðại Úy Nguyễn Văn Hưng. Anh nói: “Hệ thống nầy suốt trong thời gian ở tù và sau này khi còn ở Việt Nam, tôi không hề tiết lộ cho ai. Nhưng nay (anh đã định cư tại Mỹ) theo yêu cầu của một số anh em, chúng tôi xin ghi lại chi tiết”. Anh cho biết anh điều khiển tổ chức trong nhiệm vụ là tổng thư ký. Trân chỉ là trưởng ban liên lạc ngoại vụ. Trần Lân lo liên lạc với Fulro. Ðinh Văn An (chết trong tù) đại đội trưởng đội xung kích, lo chiếm kho súng của trại. Thiếu Tá Lê Quang là trung đoàn trưởng trung đoàn giải phóng Quảng Nam-Ðà Nẵng. Anh còn tiết lộ nhiều ủy viên khác. Nói chung, anh em đã có ý chí quật cường, có can đảm chấp nhận hiểm nguy. Tiếp xúc với Fulro là có thật; nhân đi lao động ở Trà Nóc, lúc còn ở trại Kỳ Sơn. Nghiên cứu về khả năng cướp súng là có thật. Ngoài ra những điều khác chỉ nằm trong mơ ước.
Phiên tòa dựng lên gọi là “tòa án nhân dân tối cao,” có cán bộ ở Hà Nội vào dự, chỉ là xử cái ước mơ đó, chứ không có một hành động phá hoại nào cụ thể. Trị từ trong tư tưởng. Cái dã man, phi lý và luật rừng là ở đó.
Phiên tòa đúng là một trò hề. Xử trong trại vì sợ dư luận dân chúng. Không có luật sư biện hộ. Chánh án, phụ thẩm… ăn bận lôi thôi. Bà phụ thẩm có tên là Chát, mặc áo cụt, ăn trầu, ngồi chồm hổm trên ghế, ăn nói thiếu văn hóa. Chỉ có lính công an là mặc đại lễ. Bị can cũng bị bịt mắt dẫn vào, vành móng ngựa là một hàng ghế dài. Trại viên được nghỉ lao động để dự phiên tòa, một biện pháp răn đe. Nói là cho bị can tự biện hộ, song ai nói ra lời nào thì bị chận lại ngay. Phiên tòa chỉ có chánh án, phụ thẩm nói. Phán quyết thì đem ra hỏi trại viên:
-Tên A có phải là phản động không? (Trại viên đuợc các ăng-tên mớm lời)
-Phải.
-Có đáng tử hình không?
-Rất đáng.
Ðúng là một tòa án nhân dân trong cải cách ruộng đất. Phần lớn trại viên trả lời lí nhí. Một số khác im lặng.
Phải nói anh Trân là một người trẻ tuổi nhưng rất chững chạc, đầy lòng vị tha và suy nghĩ. Anh thấy ý định của bọn Cộng sản là phải có một án tử hình trong vụ nầy, anh đứng ra lãnh cái chết cho anh em. Anh chịu nhận tội, và thay mặt anh em, tỏ ra cái khí phách của một sĩ quan có lý tưởng quốc gia. Trước phiên tòa, anh không nói “thưa quan tòa” như ấn định. Anh gọi họ là “các ông” làm chánh án tức giận đập bàn nhắc lại. Song anh không đổi cách xưng hô. Khi chánh án hỏi anh:
-Các anh đã được chính phủ khoan hồng cho vào đây để học tập cải tạo. Các anh không thành tâm hối lỗi, mà tổ chức chống đối. Ðộng cơ nào thúc đẩy các anh làm việc ấy?
-Các ông không có quyền xử tôi, vì các ông không có tổ quốc, mà chỉ là tay sai đế quốc Cộng Sản. Các ông không xứng đáng để tôi đối đáp. Lịch sử, dân tộc Việt Nam sẽ xử các ông. Chế độ các ông là một chế độ phi nhân, tàn khốc. Nhà tù mọc lên khắp nơi. Dân chúng đói khổ lầm than, còn các ông sống phè phỡn. Nhà tù của các ông là địa ngục sống trên trần gian.
Chánh án lại đập bàn bảo anh im, song anh cứ nói cho hết ý. Một công an phải chồm tới, bịt miệng anh lại. Thật là hài hước, chốn công đường mà không có tự do ngôn luận.
Khi tòa tuyên bố bản án tử hình và cho anh nói lời cuối cùng.
-Tôi biết chắc là chế độ phi nhân, tàn ác chưa từng có trong lịch sử loài người của các ông gần đến ngày cáo chung. Chỉ tiếc là tôi không còn sống để phục vụ đất nước.
(Nội dung những lời đối đáp trên đây rất trung thực. Tuy nhiên đây không phải là những lời ghi chép tại chỗ, người nghe chỉ ghi lại theo trí nhớ).
Thái độ hiên ngang bình tĩnh, giọng nói chắc nịch không chút run rẩy của anh làm cho cả hội trường bàng hoàng. Bọn công an, tổ xứ án sạm mặt trước khí thế hùng dũng của anh.
Sau khi xử án, chúng cho anh một thời gian suy nghĩ lại và xin ân xá. Song anh không viết đơn xin ân xá, vì anh biết đó chỉ là một đòn tâm lý để làm giảm nhuệ khí của anh. Thế nào bọn chúng cũng đem anh ra bắn. Xin xỏ chỉ thêm nhục. Bởi thế, trong thời gian chờ đợi, anh làm thơ và đọc to lên, mạt sát chế độ tàn ác của Cộng Sản. Sợ gương anh ảnh hưởng đến trại viên khác và làm mất mặt chế độ, chúng đem anh ra bắn trước thời gian dự định.
Ngày 19 Tháng Sáu, 1982, lúc 12 giờ, chúng bịt mắt anh đẩy anh lên xe đưa ra pháp trường. Toàn thể trại viên bị lùa vào phòng, đóng cửa nhốt lại. Ra đến cổng trại, anh Trân la to:
-Xin vĩnh biệt anh em. Bọn Cộng sản đưa tôi đi bắn đây. “Ðả đảo Hồ Chí Minh!” “Ðả đảo Cộng sản!” “Dân tộc Việt Nam sẽ chiến thắng Cộng Sản!”
Anh còn muốn hô nhiều khẩu hiệu nữa, song bọn công an đè anh xuống, nhét chanh vào miệng. Sang bên cơ quan, anh ký tên vào bản án, chấp nhận tử hình. Chúng dọn ra trước mặt anh một mâm cơm thịnh soạn. Anh từ chối không ăn và dặn mang vào phòng giam cho bạn bè đang đói. Ra pháp trường anh không chịu trói và bịt mắt. Anh té nghiêng xuống sau loạt súng đầu. Một tên công an đến bắn phát ân huệ vào thái dương.
Trong tù tôi có lần nói chuyện với Trân. Anh ta cho rằng chừng cuối thế kỷ, chế độ Cộng Sản sẽ cáo chung. Anh chết đi và không ngờ là thành trì của XHCN Liên Xô và Ðông Âu tiêu tan 10 năm trước lời tiên đoán. Song chế độ Hà Nội vẫn còn tồn tại mặc dầu biến chất đi nhiều. Lạc quan nay ở trong trận tuyến của ta. Ta chỉ đi lên, bọn chúng chỉ đi xuống. Trang sử đau buồn, đầy phản phúc, nham hiểm, tàn bạo từ 1945 đến nay sắp cáo chung. Cơ hội cho những người muốn đóng góp để xây dựng cho một nước Việt Nam thật sự tiến bộ và dân chủ, một xã hội công bằng và thịnh vượng sắp thành hình. Chỉ tiếc là thiếu mặt anh Trân, như lời nói cuối cùng của anh trước tòa án.
Anh Trân là người anh hùng bất đắc dĩ. Hoàn cảnh đã xô đẩy anh đứng trước một chọn lựa. Anh đã có chọn lựa đầy suy nghĩ và trách nhiệm. Việc phải làm, không đùn lại cho ai, tự mình gánh lấy. Anh chết đi để lại người vợ trẻ và hai con gái. Anh là người có thiện tâm, người tốt nhất trong chúng ta như lời Tổng Thống Kennedy: “Những người tốt nhất trong chúng ta đã chết.”
“Dù chỉ là một sĩ quan cấp Thiếu Úy, anh Trân đích thật là người anh hùng nêu gương Can Trường Trong Chiến Bại trước họng súng của quân thù.”