Monday, August 19, 2019

Bóng Ma Biên Giới" Nhảy toán vào vùng địch (Lôi Hổ Huỳnh Ngọc CĐ 1/XK/NKT)

Bomb CBU và mặt trận Phan Rang 1975
Phan Rang và những điềm lạ 4/ 1975
Theo lệnh hành quân của Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Sở Liên Lạc, Đoàn chúng tôi sẽ cử 1 Toán vào tham gia phòng thủ tại Dinh Độc Lập cùng quân số với các Đoàn khác, một nửa quân số do Thiếu Tá Nguyễn Văn Được chỉ huy vào tham gia phòng thủ phi trường Tân Sơn Nhất, số còn lại gồm nhưng người tình nguyện gồm 4 Toán hành quân, Ban Tham Mưu dã chiến, sẽ do đích thân Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng Tống Hồ Huấn chỉ huy để sáng ngày 03-04-75 sẽ có một phi vụ đặc biệt chở toàn bộ ra Phan Rang ứng chiến, và đặt dưới quyền của Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi là Tư Lệnh Tiền Phương của Quân Đoàn 3. Ân huệ cho chúng tôi được ban ra do công điện của Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu là mỗi người sẽ được đặc cách lên một cấp, cố gắng giúp Tướng Nghi thực hiện những nhu cầu hành quân mà quân bạn không đảm trách. Ngày 21-04-75 sẽ có quân số của Đoàn khác ra thay thế.
Từ phòng họp bước ra, chúng tôi nhìn nhau không ai nói câu nào. Vì chưa bao giờ có cái ban thưởng đặc biệt như vậy trong quân đội, hành quân thì hành quân, chuyện cơm bửa của lính, sao nay lại hứa hẹn trước sẽ thăng cấp khi xuống Phan Rang. Đại Úy Đặng Bá Lộc nói với Thuần và tôi: Tau chắc kỳ nầy đi khó quay trở lại. Thiếu Tá Huấn quay lui nhăn mặt: “Ê, Lộc nói bậy gì đó, anh em khác nghe được bàn tán rồi mất khí thế!”. Đại Úy Lưu văn Thuần cười khề: giỡn chơi thôi Thiếu Tá, đi không về là chuyện thường của Lôi Hổ, Kinh Kha thời đại mà... Nhưng tôi cấm không được nói với binh sĩ, Thiếu tá Huấn quay lại quắc mắt nói, Lê Đí, Lê Hưng, Nguyễn văn Ấn cả 3 cùng cười, nói nhỏ: “Lính Lôi Hổ tinh như ma, cả lãnh thổ Quân Đòan 3 đông nghẹt lính tứ tán chạy về, ai mà không biết chuyện gì xảy ra, bảo cho thăng cấp trước hành quân là chúng nó biết ngay. Mà anh em sống chết bên nhau lâu đời làm sao giấu được”.
Mỗi người một câu chúng tôi rồi cũng chia tay, ai về lo việc người đó. Cả Phi trường Phan Rang như đang tắm trong cái nóng của vùng cát nắng, từng đợt không khí loãng bốc lên chờn vờn như bầy thú hoang ngoài hàng rào phòng thủ của phi trường. ủa, mà sao lại vắng thế nầy, lính tráng đâu không thấy, thấp thoáng trong các căn nhà Bộ Chỉ Huy Hành Quân có vài người qua lại. Đơn vị chúng tôi được 2 vị Tướng chỉ huy mặt trận tiếp đón niềm nở ra vẻ ưu tiên và cho được nằm cạnh Phòng hành quân. Thỉnh thoảng có vài tiếng nổ của đạn pháo 130 ly ngoài xa.
Trên bầu trời bây giờ xuất hiện 3 chiếc A37 đang bay về, phiá sau 1 đoàn 6 chiếc trực thăng đang từ từ hạ cánh trước Bộ Chỉ Huy Hành Quân, chúng tôi thấy những binh sĩ Nhảy Dù lần lượt rời phi cơ, có một Đ/u đang tập họp, trong đám họ có người không có ba lô, có người không có súng, tôi tiến đến xem có ai quen thì ra Đại Úy Nguyễn Văn Bé bạn cùng khóa. Tôi hỏi bạn sao lính mầy lôi thôi vậy, Bé cười buồn, bọn tao bị tụi nó cáp duồn tại Khánh Dương, đánh nhau một trận tơi bời hoa lá mới ra thân thể nầy. Bây giờ nhận lệnh Trung Tá Phát Lữ Đòan Trưởng Lử Đoàn 3 Nhảy Dù, cho tái trang bị rồi chơi tiếp.
- À, mà Biệt Kích tụi mầy ra đây chi vậy? Biên giới mới là sân chơi của tụi mầy mà!
Tôi nói, “Lính mà em, đâu có giặc thì ta cứ đi!”.
Bé chửi thề một câu rồi chép miệng, “Nóng lắm nghe mậy, tình hình bi đát lắm đó! Tụi nó có đến 3 Công Trường, chưa kể thiết giáp, pháo phòng không và cả mấy trung đoàn tăng viện” Rồi Bé nói tiếp: “Tụi tao đụng bọn sư đoàn 3 sao vàng, toàn bọn lính trẻ con non choẹt, nhưng khổ nổi chúng nó đông quá, lại được yểm trợ tụi tăng T.54 và pháo tập. Bọn tao bị phục kích đánh chia cắt cô lập, không phương tiện yểm trợ như trước, bọn mầy cũng hãy coi chừng! Thôi, mai gặp.”
Tôi bắt tay cám ơn bạn, từ ngày ra trường bây giờ mới gặp nhau, chẳng có một ly bia để uống mừng hội ngộ, không kịp hỏi han về gia đình, chiến trường mà.!. Vào họp để nghe Chỉ Huy Trưởng Chiến Đòan ban lệnh, khi ra khỏi phòng thì trời cũng đã về chiều, Ngoài xa là một đơn vị bạn đang đổi tuyến. Tôi lầm lũi về vị trí tập trung để ăn cơm chiều. Đại Úy Nguyễn Văn Dẫn cũng đang đưa toán của anh đến gần và hỏi tôi thấy có gì lạ không. Tăng lùn và Phúc mát nhe răng cười: Tụi mình lâu nay đi làm ăn riêng lẻ, từng toán xa tít mù khơi, bây giờ hoạt động chung với Dù, Bộ Binh, Địa Phương Quân, lại có cả xe tăng, máy bay lủ khủ, đông vui quá xá, sợ gì chớ!
Thật vậy, đơn vị chúng tôi bao giờ cũng làm ăn lẻ, có đâu như bây giờ đông quá! Hải Đen xen vào: “Các anh nghĩ xem, đông như đại chiến thế nầy mới là nguy đó! Tình hình sao người ta mới đưa mình ra đây, lại còn cho lên lon trước nữa chứ, tôi không ham.!,
Nghe Hải nói có lý, tôi thầm nhủ, mình ra đây là do tình nguyện, mà không tình nguyện cũng phải đi. Tất cả quân Tổng Trừ Bị đều đã bị ném ra các vùng chiến thuật hết cả rồi. Thôi thì <Lôi Hổ ! Sá Gì > Đã vào binh chủng nầy rồi thì thân mạng có sá gì ...... chúng tôi thường bảo nhau như thế.
Đến 1giờ 40 phút trưa ngày 05-04-1975, tất cả 4 Toán đã nhận đầy đủ nhiệm vụ xâm nhập là truy tìm vị trí đóng quân của bọn xâm lược vc, phát hiện và báo cáo về Bộ Chỉ Huy Tiền Phương; bắt tù binh để khai thác ý đồ tiến công; thăm dò và hướng dẫn quân bạn thất lạc tại Khánh Dương trở về và cố tìm kiếm xem vị trí phòng không cũng như các đơn vị xe tăng của đối phương
....Những thông tin nầy rất quan trọng cho việc điều quân phòng thủ căn cứ Phan Rang, đã được Tướng Nghi quan tâm đặc biệt, ông cho biết Phan Rang bây giờ như yết hầu của cả Miền Nam, với quân số ít ỏi rất khó phòng ngự, mặc dù bên ta có lực lượng phi cơ tác chiến với tinh thần rất cao, nhưng ta đã mất điểm tiếp tế xăng dầu tại Cam Ranh, tất cả điều phải nhận từ Sài Gòn. Kho xăng dự trữ tại phi trường đã bị địch pháo kích, các ngày sắp tới sẽ được tăng viện thêm 2 trung đoàn bộ binh và có thể thêm một Lữ Đoàn Nhảy Dù... các toán Lôi Hổ phải thám sát kỹ mặt Tây Quận Tân Mỹ trải xuống Bắc và Đông Bắc Quận Du Long, trước khi các đơn vị bạn được điều động đến.
Chiến Đoàn 1 chúng tôi có 4 Toán tham gia trận nầy là Toán Hải Sơn, Hải Vân, Hải Yến và Hải Điểu do 4 sĩ quan cấp Thiếu úy chỉ huy, nhưng lúc nầy bảng công tác đã ghi cấp bậc mới là Trung úy, còn nhân viên toán cũng điều được Đại Úy Lộc ghi thêm 1 cấp, nhưng điều nầy chẳng mấy ai quan tâm. Đại Úy Thuần nói để hôm về SG sẽ làm lễ khao lon một lược cho vui, (nhưng điều nầy chẳng bao giờ đến với đơn vị chúng tôi nữa), Các toán được tôi hướng dẫn qua kho quân nhu của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 6 Không Quân lãnh lương khô và trang bị hành quân.
Đến khoảng 4 giờ chiều thì các Toán trở về vị trí để trang bị. Tôi đến bắt tay mừng các Toán Trưởng như Trung Úy Trần Công Minh, Nguyễn văn Nhung, Nguyễn văn Tiếp và Đại Úy Nguyễn Văn Dẫn cùng chuyện trò với các anh em khác, Lệnh xâm nhập đã được ban hành: sáng mai lúc 9 giờ 30, Phi Đoàn 229 trực thăng sẽ bốc toán vào vùng.
Tôi đứng trước phòng họp của Bộ Chỉ Huy Tiền Phương cùng vị Chỉ Huy Trưởng Đoàn 1 và đưa mắt tiển theo các chiếc trực thăng mang đi những bạn mình vào vùng nguy hiểm, trong thâm tâm chúng tôi điều biết lần nầy may ít rủi nhiều, có cái gì rất khác những trận Quảng Trị, Hạ Lào, hay trận Lai Khê An Lộc mà tôi đã từng tham dự. Nhưng tôi không tài nào lý giải được. Nhìn cho khuất bóng những con tàu ở cuối chân mây, tôi thầm cầu nguyện Mẹ Quán Thế Âm, Mẹ Maria, xin độ cho những Kinh Kha ra đi hãy được trở về bình an!
Đến trưa, các Sĩ Quan Tiền Không Sát đã về, tin từ những toán xâm nhập báo cho biết vào vùng an toàn. tôi vào Phòng Truyền Tin để theo dõi thêm một lúc nữa, tình trạng các toán vẫn ổn. Có lẽ bọn địch chủ quan vì được tuyên truyền bên ta đã bỏ ngỏ Phan Rang, hoặc đang say men chiến thắng vì đã may mắn chiếm được Nha Trang không tốn một viên đạn, nên không chú tâm đến mối đe dọa đang rình rập: Biệt Kích Lôi Hổ đang săn lùng quân cướp chúng mầy. ...
Và những gì đến đã đến, Toán Hải Vân của Trung Úy Trần Công Minh đả tóm gọn được 2 cán binh thuộc công trường 968 đang gởi về làm quà ra mắt cho Trung Tướng Nghi, tiếp đến Toán Hải Yến cũng tóm được 1 tên cán binh quan trọng thuộc F.10 của sư đoàn 3 sao vàng. Toán của Đại Úy Dẫn và Trung Úy Tiếp cũng cho biết tọa độ đóng quân của 2 trung đoàn cs Bắc Việt thuộc sđ 325 chủ lực.
Bộ Tư Lệnh Tiền Phương bây giờ như có con mắt thần từ xa, Tướng Nghi báo về Sài Gòn xin cho ra tăng viện Lữ Đoàn 2 Dù và điều động 2 Trung Đoàn Bộ Binh 4 và 5 từ Bình Thuận ra. Còn sau đó là những gì thì tôi không được biết nhưng trưa ngày 9-4-75, thì tôi và Đại Úy Lê Đí cùng Long râu, Thắng Huế, lên một chiếc trực thăng, bên kia Đại Úy Thuần và các anh em khác như Ngyễn văn Ấn, Lê Hưng lên một chiếc khác bay ra hướng Du Long, phiá Tây Nam của Ba Ngòi và đáp xuống.
Nơi đây là một khu rừng thấp nằm trên triền một ngọn đồi, những cán binh Bắc Việt nằm ngồi ngổn ngang, có anh mắt đã lồi tròng trông rất khủng khiếp, có anh máu ra từ mũi, miệng, 2 tai, có người lưỡi thè ra gần một gang tay, người thì 2 tay cấu vào ngực, tôi thấy một người mặt còn rất trẻ, 2 tay nắm lấy khẩu CKC, tôi cúi xuống cầm khẩu súng nhưng không tài nào giựt ra được vì 2 tay anh ta nắm rất chặt.
Lê Đí báo về Bộ Chỉ Huy Hành Quân và liên lạc với Thuần đang ở mục tiêu khác thì tình hình cũng như bên nầy. Chúng tôi cố lượm vài khẫu súng K.54 và thu gom ít tài liệu từ những cái cạp-dề rồi vội vàng lên trực thăng để về báo cáo lại tình hình. Sau đó, Tướng Nghi và Tướng Sang gọi Trung Tá Tống Hồ Huấn lên để nói những lời khen thưởng anh em Lôi Hổ Nha Kỹ Thuật. Chính Trung Tá Huấn cũng không biết điều gì đã xảy ra.
Sau nầy ngồi bàn tán mới suy đoán được là nhờ sự phát hiện của Toán xâm nhập, Bộ Chỉ Huy Tiền Phương đã xin lệnh từ Sài Gòn và kết quả là 2 trái bom CBU đã được Không Lực VNCH qua sự chấp thuận của một người Mỹ mặc thường phục là sỹ quan đại diện của Tòa Đại Sứ Mỹ tại Vùng 2 hình như tên ông ta là Lewis (nói rất rành tiếng Việt đúng giọng cả 3 Miền) xin cấp trên của họ chấp thuận, nhằm mục đích ngăn chận sức tiến quân của bọn cs BV xâm lược, nhờ đó mà mặt trận Phan Rang mới cầm cự được thêm gần 1 tuần lễ và bọn cs BV mới có thể tạm thời rút quân lui về ẩn trốn tại khu vực Vườn Dừa và Ba Ngòi để chờ lệnh.
Cũng chính nhờ sức phòng thủ của tất cả các quân binh chủng bạn như các đơn vị Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, các chiến sĩ bộ chiến thuộc Sư Đoàn 2 BB VNCH, và nhất là sức chiến đấu ngoan cường của 1 Tiểu Đoàn thuộc Lữ Đoàn 3 Dù và Lữ Đoàn 2 Dù của Đại Tá Nguyễn Thu Lương mà Phan Rang đã được giữ vững suốt trong 2 tuần lễ, kể từ khi mất Nha Trang, nhờ đó mà Sàigòn có thêm cơ hội tổ chức chiến đấu để người Mỹ kịp đưa người di tản trước khi mất Miền Nam Việt Nam.
Rốt cuộc, Phan Rang mà chúng tôi nhận lệnh hành quân từ SG; không phải là bàn đạp để tái chiếm Nha Trang thân yêu, cái thành phố biển hiền hòa trong lòng người dân Việt, mà ngược lại, đây chỉ là thâm ý của giới chính trị Hoa Kỳ, biến Phan Rang thành một chốt chặn tạm thời để họ thu xếp cho cuộc di tản Sàigòn, và tất cả chiến binh tại mặt trận Phan Rang từ người lính cho đến cấp chỉ huy chung quy cũng chỉ là con chốt thí !
Tuy suy nghĩ như vậy, nhưng đã là chiến binh, chúng tôi, tất cả người lính của Miền Nam VN, trong mọi hoàn cảnh, đều luôn chấp hành triệt để quân lệnh trong nghiệt ngã gian nguy, nhằm mục đích chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc và an dân.
Sau chiến tranh, chúng tôi mỗi người một nơi, kẻ lưu lạc xứ người, kẻ bị đoạ đày trong trại tù khổ sai của bọn phỉ quyền cs, nhưng sau khi trở về đời sống dân thường vẫn giữ được khí tiết và sống đời trong sạch, không gian manh trộm cướp, nhũng loạn đồng bào.
Vị chỉ huy trực tiếp của chúng tôi là Trung Tá Tống Hồ Huấn sau khi ra tù, sang Tân Tây Lan theo sự bảo lãnh của người em vợ cũng đã trở thành vị Mục Sư Tin Lành, cho dù ông ta đã có vài lần xử ép tôi. Nhưng đó là quân đội, thi hành trước khiếu nại sau, phải không Trung Tá Mục Sư.

Suốt một đêm không ngủ trọn giấc, bọn cộng quân với ưu thế pháo binh do các nước quốc tế cộng sản quan thầy của chúng hỗ trợ ào ạt, còn bên phe ta QLVNCH thì kể từ năm 1972, các văn thư gởi đi từ Bộ TTM bắt phải gởi về các cấp số đạn pháo 105 ly, 106 ly không giật, cối 81 ly, gọi là đem về đổi. Nhưng đạn gởi về thì có, mà đạn đổi lại thì không,
Trời ơi, bọn xâm lược thì tha hồ bắn phá; làm mưa làm gió, còn bên ta phải rút cấp số đạn, trước xin 100 tràn, thậm chí 2,3 trăm tràng có liền, nay phải chờ quyết đinh từ Sư Đoàn, rồi năm sau chờ Quân Đoàn chấp thuận, mà lại bị giảm xuống chỉ còn 30 tràng, rồi 20, như hồi 1973 tại Trảng Lớn - Tây Ninh và năm 1974 tại Bình Long - An Lộc ...
Lý do được viết trong văn thư là các loại đạn không an toàn, yêu cầu đơn vị gởi về gấp, số phận của các loại đạn nầy đi về đâu thì tôi không biết, chỉ biết là chiến trường thiếu đạn, Xăng khan hiếm, các cơ phận quân cụ cho máy bay, xe tăng, thiết giáp, GMC,....đều không có trong bảng cấp số. Là một sĩ quan tác chiến hành quân tôi đâu biết gì hơn, nào Hiệp Định Paris , nào Liên Hiệp 4 bên ,....3 bên ...chi chì.... quá ư là rắc rối, tôi không đủ kiến thức trang bị để hiểu về chình trị. Bó tay !
Sáng hôm nay 7-4-75, tôi mượn đỡ bên Không Quân chiếc Jeep, kêu mấy ông Thuần, Đí và mấy nhân viên Toán như Hoàng Tăng (Tăng răng vàng) Trịnh Ngọc Cơ (Cơ hồi chánh) Phan Gia Thanh (Thạnh mập), T/S Nguyễn Văn Đại lên xe tìm đường ra thị xã Phan Rang tìm chút tươi mát (xin chớ hiểu chữ tươi mát nầy theo nghĩa trong nước bây giờ, ý tôi là tìm ít thức ăn như rau cải, cà mướp .....) , vì phi trường mấy lâu nay bị vây kín do áp lực của bọn du kích thổ phỉ địa phương, nên vị Chuẩn Tướng Tư Lệnh SĐ 6 /KQ ra lệnh nội bất xuất, ngoại bất nhập, còn ông Tỉnh Trưởng Phan Rang nghe đâu về SG họp, cơ số lính Điạ Phương Quân không ai điều động, nay ông mới trở về, chỉnh đốn các Tiểu Đoàn Điạ phương và an ninh Thị Xã Phan Rang được lập lại, Ông Tướng cho phép chúng tôi được ra ngoài để tìm mua thức ăn tươi.
Khi xe tôi chạy gần đến cổng số 1 thì gặp xe của Đại Úy Bé với 6 lính Nhảy Dù trang bị đầy đủ, Bé vẩy tôi lại và nói: Ê, mấy tướng Biệt Kích đi đâu vậy? Tôi nói ra ngoài phố tìm mua thức ăn tươi. Bé nói đi qua Tháp Chàm không được đâu, tụi vc đang ở trong tháp vừa dùng cối, và đạn bắn tỉa xưống đường, muốn đi thì tụi mầy với tụi tao phối hợp làm 2 mũi tấn công lên tháp, quân số của tao chia ra sợ không đủ sức yểm trợ cho nhau. Mầy tính sao ?
Tôi đang hội ý với Thuần và các anh em mình thì bị Bé chơi xỏ nói giọng khiêu khích: Mà thôi, Lôi Hổ thấy ngại thì để tụi tao xông lên làm thịt mấy thằng vixi, còn bọn mầy cứ ở đây chờ xem Lính Dù tụi tao làm...
Nghe mà phát tức, tôi nói: “Đánh lớn là sở trường tụi mầy, còn đánh gọn nhẹ là nghề của tụi tao nghe mầy, để tao lên trước cho”. Thế là chúng tôi chia nhau làm 2 tốp, vừa tiến vừa quan sát tình hình. Bé cũng dàn lính thành 2 tổ tiến lên phía Đông. Chúng tôi băng qua đường rầy xe lửa thật nhanh và nép sát theo độ dốc của ngọn đồi, Bên quân của Bé vừa tiến vừa bắn làm nghi binh trước mặt nơi con đường dẫn lên Tháp, chúng tôi lẳng lặng 2 nhóm âm thầm tiến ở mặt sau.
Khi gần đến chân ngọn tháp thì Thạnh dùng M.79 lảy liên tiếp 3 trái vào ô trống của tháp từ trên xuống dưới. Tưởng cũng phải nói Thạnh mập vốn là tay xạ thủ M.79, súng của hắn đã mài cơ bẩm, vừa bắn vừa thảy vỏ đạn 1 tay, tay kia nạp đạn là bắn liền 3 quả đạn đi mà nghe đâu như nổ cùng một lúc. Thạnh Zăngô là biệt danh của hắn.
Hướng trước có nhiều tràng đạn M16 của lính Dù, Trong tháp, bọn địch phản ứng yếu ớt, Tôi đưa điếu thuốc đang hút dở chuyền qua Trịnh Ngọc Cơ rồi tung người ném tiếp 2 trái Mini về hướng tháp, Đại cũng xả súng nhắm vào một tên rồi 2 tên đang bị áp lực của lính Dù đánh phía trước chạy nộp mạng cho chúng tôi. Hướng bên kia, Thuần và Tăng răng vàng cũng đang dùng lựu đạn thanh toán mấy tên du kích thổ phỉ, Toán của Bé vào tháp trước, hắn phất tay ra hiệu cho chúng tôi là đã thanh toán xong mục tiêu. Bây giò điếu thuốc cũng chuyền qua tay của Đại và về đến tay tôi.
Thế là xong, cái chướng ngại mà mấy anh Nghiã Quân chưa kịp ra tay đã được Nhảy Dù và Lôi Hổ phối hợp giải toả như trò đùa. Bé lấy cây cối 82 ly đưa ra nói: Ông cần cái nầy không, trong đó còn mấy khẩu B.41 nữa. Chúng tôi cười: “Lôi Hổ không cần chiến lợi phẩm, cũng không cần ai nhắc đến tên, hay công trạng gì cả, Chiến Sĩ Vô Danh mà bạn, ông cứ lấy đi. Rồi ra phố kiếm mấy con Tắc Kè Nhông làm một bưã sum họp”.
Bé tiếc rẻ từ chối vì còn phải đi dẹp mấy cái chốt nữa, “Chưa xong công việc đâu bạn, ông Tướng gọt đầu tụi tao bây giờ”! Cũng từ đó đến nay tôi không có cơ hội gặp lại bạn ấy nữa, xin chúc mọi sự bình an cho bạn ! (Đại úy Nguyễn Văn Bé, con của vị Thượng sĩ già Nhảy Dù, Cựu binh Điện Biên Phủ) Chúng tôi ra phố tìm được quán nhậu xập xệ, trước cửa treo lủng lẳng mấy con Kè Nhông.
Kêu một dĩa, hắn chém đến 500 đồng Hưng Đạo, thêm một đứa một tô cháo và uống vội vài chai 33. Xong bang ra khu chợ chồm hổm mua mấy bó hành ngò, rau cải, khoai lang và bí rợ, vì trong phi trường mấy bữa cấm cung , ông Trung Tá Không Quân cho phép chúng tôi hạ mấy con bò làm lương thực, bò ăn ngon nhưng nóng quá.
Khi đi ngang qua đám mấy người dân tụ tập chúng tôi hỏi thăm tình hình bà con, và được nghe họ kể một chuyện lạ tai: “Mấy anh biết không, mấy bữa nay không biết sâu róm ở đâu trong rừng cứ bò ra miết, từng đoàn từng đoàn như lính vậy, hết tốp nầy đến tốp khác như đi diễu binh vậy đó”. Tôi hỏi: Thưa bác vậy có biết chúng bò đi đâu không? “Thì chúng cứ nhắm hướng biển mà bò ra, rồi cùng nhào xuớng biển sóng cuốn trôi hết trơn” Thuần xen vào: “Hôm qua tôi có nghe anh lính Địa Phương Quân vào kể chuyện nầy, tôi không tin thật, nên bây giờ nhân tiện ra xem cho biết thực hư”.
Tôi nói không chừng tụi vc dùng lối tuyên truyền xám để gây hoang mang cũng nên. Chị lớn tuổi đúng kế bên bảo: “Các ông đa nghi thì thôi, tụi tôi đồng là vợ lính mình cả, không tin thì cứ ra quốc lộ thấy liền” Chúng tôi cám ơn chị rồi lên xe nhắm hướng đường chạy tiếp.
Năm phút sau thì quả thật, trên đường xác sâu róm nằm khô queo, xe của dân di tản chạy vào hướng Nam cán lên nát bấy mà chúng cũng cứ bò thản nhiên như không có chuyện gì xãy ra. Tôi muốn lần ra bờ biển xem cho biết, nhưng T/s Tiến nói thôi đừng đi, ngoài đó chưa an ninh. Chúng tôi quay vào chợ mà lòng ngổn ngang suy nghĩ vẩn vơ. câu nói sâu róm đi từng đoàn như lính nhào xuống biển...., tôi nhắc đi nhắc lại câu: “Như lính nhào xuống biển” ...
Quay lại tìm một quán cà phê, nhân tiện mua vài gói thuốc lá, thì lại nghe một câu chuyện lạ khác. Một anh lính Nghĩa Quân nói cho chúng tôi nghe là tại làng Thanh Thủy, quê hương của TT Nguyễn Văn Thiệu có Hòn Núi Dao, tự nhiên cục đá Dao trên đỉnh núi sau một cơn mưa đã lăn nhào xuống chân núi, vỡ làm 2 mảnh, mặt trong của 2 mảnh vỡ có hình ngoằn ngèo như chữ viết của người CHĂM. Ông Xã Trưởng cũng có nhờ mấy ông bô lão Chăm Pa ra tìm cách đọc, nhưng hình như không ai đọc được. Chúng tôi cũng hiếu kỳ muốn đi ra đó xem sao, nhưng trên đường xe cộ xuôi Nam quá nhiều; hơn nữa, lại còn phải đi vào phi trường, sợ ông Tướng Tư Lệnh cho đóng cổng thì bỏ mẹ.
Hồi còn nhỏ, tôi được truyền dạy ít kinh nghiệm về Phong Thủy, sau ngày vào lính nghe đâu có kỳ nhân dị sĩ là tôi vội sắm lễ vật đến yết kiến xin thọ giáo, nên tôi vận dụng những điều học được để khảo hạch, Như hồi cuối tháng 3/75, đang tuần gác doanh trại thì đêm hôm đó trên bầu trời chợt xuất hiện sao Thái Bạch (Sao Hôm và Sao Mai) di chuyển từ Đông sang Tây, nhưng lạc vào cung Hắc Đạo của vị trí Sửu - Mùi, phạm Trung cung, là Bạch Hổ nhập Trung, lại còn có tiếng khua vang len keng lập bập như đe dọa, Thiên Hổ Trướng Khưu Cơ của Đức Trần Hưng Đạo nói đó là điềm “Binh Tan Tướng Chết”, ngày mai lại nghe tin tại BTL/QĐ.3 Tướng Nguyễn Văn Hiếu bị ám sát, sau đó là cuộc rút quân cao nguyên, bây giờ lại thấy hiện tượng Sâu Róm bò ra biển, đá lăn trên Núi Dao.
Thật sự, ngọn núi Dao theo phong Thủy là ngọn Bút Kình Thiên, nghe nói mộ tổ của TT Thiệu được an táng phương Đông Nam của ngọn núi nầy, Núi ở Phương Tây Bắc thuộc cung Càn là Thiên Môn, chân mộ hướng Đông Nam là Địa Hộ, chung quanh có cồn cát trải dài làm thế Long Hổ, lấy cửa biển làm Minh Đường tụ thủy. Tôi chưa có dịp đến tham quan.
Hôm nay quả có điềm lạ xuất hiện là ứng sự không may cho quân mình, vì TT Thiệu là Nguyên Thủ Quốc Gia, nay lăng miếu bị phạm hung thì dân chúng miền Nam chắc cũng cùng chung số phận. Các bạn tôi thì vẫn tỉnh như rồi, bàn bạc về món thịt Tắc Kè Nhông của biển cát Phan Rang, hẹn nhau ngày về sẽ ghé vào xơi thêm lần nữa, nhưng đã hết cơ hội rồi bạn ơi. Lòng tôi cứ suy nghĩ miên man, về đàn sâu, về hòn núi đá ....
Ôi, Phan Rang có những điềm lạ ........
Phan Rang
(Lôi Hổ Huỳnh Ngọc CĐ 1/XK/NKT)

NỮ TƯỚNG NGƯỜI MỸ GỐC VIỆT ĐẦU TIÊN TRONG QUÂN ĐỘI HOA KỲ. Danielle J Ngô

Đại tá Danielle J Ngô vừa được thăng Chuẩn Tướng Lục Quân Hoa Kỳ - gia nhập Lục quân Hoa Kỳ năm 1990, và trở thành một binh sĩ thuộc Binh chủng Công binh, sau đó cô theo thụ huấn một khóa Sĩ quan và tốt nghiệp mang cấp bậc Thiếu úy vào năm 1994. Danielle J Ngô được thuyên chuyển lần lượt phục vụ tại các đơn vị Công binh như: Trung đội trưởng kiêm Đại đội phó Tiểu đoàn 62 Công binh; Sĩ quan phụ tá ban 4, Lữ đoàn 20 Công binh Nhảy dù; Sĩ quan Ban 1 kiêm Ban 3, Tiểu đoàn 37 Công binh Nhảy dù; Phân đội trưởng, Phân đội Công binh 610; Đại đội trưởng, Đại đội Chỉ huy, Tiểu đoàn 299 Công binh chiến đấu; Phó ban 4, Lữ đoàn 1, Sư đoàn 4 Bộ binh tham dự cuộc hành quân "Operation Iraqi Freedom I" tại Iraq. Là Sĩ quan thuộc Bộ tham mưu Liên quân (Joint Chiefs of Staff Intern) tại Washington D.C; Sĩ quan phụ tá phòng 5, Sư đoàn 1 Bộ binh; Phó phòng 5, Bộ tư lệnh các Lực lượng Hoa Kỳ tại A Phú Hản (OPERATION ENDURING FREEDOM Afganistan); Trưởng ban 3, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 1, Sư đoàn 1 Bộ binh; Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn 52 Công binh; Sĩ quan Phụ tá Quân sự cho Chủ tịch Ủy ban Quân sự khối NATO tại Brussels, Bỉ quốc..
Cô được thăng cấp Đại tá vào tháng 8 năm 2014 và Chuẩn Tướng vào tháng 6 năm 2019.
Hiện Chuẩn Tướng Ngô đang nắm quyền chỉ huy Lữ đoàn trưởng, Lữ đoàn 130 Công binh Lục quân.

Đại Tá Tôn Thất Tuấn Tùy Viên Quân Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam

Đại tá Lục quân Hoa Kỳ gốc Việt Tôn Thất Tuấn, một thuyền nhân tị nạn cộng sản được Bổ Nhiệm Làm Tùy viên quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Bộ quốc phòng Hoa Kỳ vừa bổ nhiệm Đại tá Lục quân Hoa Kỳ gốc Việt Tôn Thất Tuấn làm tùy viên quân sự Tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội Việt Nam thay thế cho Đại tá Lục quân Earnest Lee, Tùy viên quân sự tiền nhiệm mãn nhiệm kỳ trở về Bộ quốc phòng nhận nhiệm vụ mới. Đại tá Tôn Thất Tuấn là Tùy viên quân sự Hoa Kỳ gốc Việt thứ hai sau Đại tá Lục quân Hoa Kỳ gốc Việt Patrick D. Reardon Tùy viên quân sự nhiệm kỳ trước Đại tá Earnest Lee.
Văn phòng Tùy viên Quân sự Tòa Đại sứ Hòa Kỳ tại Việt Nam chịu trách nhiệm hỗ trợ trong việc phối hợp thực hiện chính sách quân sự của Hoa Kỳ, đồng thời là đại diện cho Bộ trưởng Quốc phòng, và Tư lệnh Quân đội Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, và các cơ quan quân sự khác của Hoa Kỳ. Do đó Đại tá Tùy viên Quân sự chịu trách nhiệm phân tích và tường trình về những diễn biến quân sự tại Việt Nam trong bối cảnh về những vấn đề an ninh đang diễn ra trong khu vực và trên toàn thế giới, nhằm thông tin trong việc đưa ra những chính sách quân sự đối với Việt Nam và các nước Đông Nam Á. Văn phòng Tùy viên Quân sự cũng phối hợp tất cả các hoạt động về an ninh giữa quân đội Hoa Kỳ và quân đội Việt Nam tại các diễn đàn song phương và đa phương, cũng như trong mọi lĩnh vực hoạt động quân sự.
Đại tá Tôn Thất Tuấn, một thuyền nhân tị nạn cộng sản định cư tại Hoa Kỳ vào năm 1977, sau khi hoàn tất Đại học Southeastern Oklahoma State University, ông theo đuổi ước mơ phục vụ trong quân đội và trở thành một binh sĩ vào năm 1986. Đơn vị đầu tiên trong đời quân ngũ của ông là Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 30, Lữ đoàn 3, Sư đoàn 3 Bộ binh. Năm 1989, ông theo thụ huấn khóa sĩ quan và trỡ thành một Sĩ quan Bộ binh, từ đó ông lần lượt thuyên chuyển phục vụ tại các đơn vị như: Sư đoàn 101 nhảy dù (101st Airborne Division), Sư đoàn 1 Thiết kỵ (1st Cavalry Division), Bộ tư lệnh Thái Bình Dương (U.S. Pacific Command), Lực lượng hỗn hợp tìm kiếm tù binh và quân nhân Hoa Kỳ mất tích/Bộ quốc phòng (Defense POW/MIA Accounting Agency) v.v…
Đại tá Tôn Thất Tuấn đã từng phục vụ và chiến đấu tại Kuwait, Iraq và Afghanistan-Pakistan border. Ông được ân thưởng nhiều huy chương cao quý như: Bronze Star Medal, 
Defense Meritorious Service Medal with 2nd Oak Leaf, Meritorious Service Medal, 
Department of State Meritorious Honor Award, Ranger Tab, 
Parachute Badge, 
Air Assault Badge, and 
Combat Infantryman Badge. 
Ông được thăng cấp Đại tá vào năm 2012.
Trần Anh.

 Đại tá Tôn Thất Tuấn
một thuyền nhân tại Hà Nội.
Giao Chỉ, San Jose
Tùy viên quốc phòng Hoa Kỳ tại Hà Nội đến thăm San Jose
Tuần qua Việt Museum đã có dịp đón tiếp riêng đại tá Tôn Thất Tuấn hiện là đương kim tùy viên quốc phòng của tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội. Vào lúc 10 giờ sáng ngày thứ tư 11 tháng 1 năm 2017. Nhân dịp này ông Tuấn trình bày đặc biệt về việc trùng tu Nghĩa Trang quân đội Biên Hòa. Đại tá Tuấn là con trai một sĩ quan ngành Quân Cụ QLVNCH. Hiện là người giữ chức vụ quan trọng trong ngành ngoại giao và quốc phòng Hoa Kỳ. Chúng tôi chỉ mời một số quan khách giới hạn, quan tâm và hiểu biết về đề tài. Đặc biệt buổi họp mặt có sự hiện diện của ông Nguyễn Đức Cường, nguyên tổng trưởng kinh tế VNCH, giáo sư âm nhạc Trần Nhật Hiền, ông Lê Thái Phúc, đại diện hội Hải quân và Liên Hội cựu chiến sĩ, giáo sư Vũ Công Hiển Hội nhiếp ảnh Trúc Viên. Trung tá Công Binh Vũ Thượng Đôn, Trung tá Đỗ Hữu Nhơn, lực lượng đặc biệt. Về phía TV và báo chí có sự tham dự của ông Huỳnh Lương Thiện và Việt Vùng vịnh từ San Francisco. Ông Vũ Nhân SBTN.     
Hậu duệ VNCH và chuyện Nghĩa trang.
Trong chuyện viếng thăm đặc biệt Viet Museum đại tá Tuấn đi cùng vợ là bà Thu Hà con gái của đại tá không quân VNCH quê miền Hậu Giang. Hai ông bà đã có các con trưởng thành. Riêng con trai cũng là đại úy lục quân Hoa Kỳ. Hoàn cảnh của đại tá Tuấn hết sức liên quan đến ý nghĩa của Viện bảo tàng Thuyền Nhân và VNCH. Ông là thuyền nhân 16 tuổi và là hậu duệ của gia đình chiến binh miền Nam. Đặc biệt trong chức vụ hiện nay ông là người quan tâm và có cơ hội góp phần trực tiếp vào việc bảo tồn Nghia Trang Biên Hòa. Trong phạm vi giới hạn vì chức vụ không cho phép nên ông chỉ có thể thông báo vắn tắt một vài con số cụ thể. Tổng số phần mộ hiện nay còn lại trên 10 ngàn so với con số 16 ngàn được ghi lại trong tác phẩm của cơ quan IRCC phát hành năm 1993. Các phần mộ trùng tu được 5700 ngôi mộ. Mỗi ngày con số này gia tăng. Ông cũng gợi ý sau này Viet Museum có cơ hội đưa tất cả tin tức vào mạng điện toán có danh tính tử sĩ nào còn tài liệu ngõ hầu các gia đình và chiến hữu có thể tham khảo. Đồng thời về việc đóng góp, ông cho biết nên liên lạc thẳng với hội VAF do ông Nguyễn Đặc Thành là cơ quan đã mở đường và còn tiếp tục lâu dài. Đại tá Tuấn cho biết điều khó khăn là bước đầu trùng tu được trên 200 phần mộ đầu tiên mấy năm trước. Mặc dù có nhiều ý kiến khác biệt nhưng chỉ trong vài năm mà đồng bào từ khắp nơi đã âm thầm đóng góp từ Mỹ. Pháp, Canada và ngay cả Úc châu đạt được nửa đường. Trùng tu được tất cả các phần mộ hiện nay và tiếp tục bảo toàn lâu dài là đạt được mục tiêu căn bản. Đặc biệt có sự hiện diện của trung tá Đỗ hữu Nhơn thông báo các tin tức về việc đóng góp trực tiếp tại San Jose trong phạm vi liên hội cựu quân nhân và gia đình ông hoàn tất trên 300 phần mộ và sẽ còn nỗ lực tiến tới con số 500 trong tương lai.   

Trong buổi nói chuyện rất riêng tư nhưng cũng có nhiều tin tức rất lý thú về vai trò của một người lính Mỹ gốc Việt trong cấp bậc đại tá tùy viên tại Hà Nội nhưng vì còn tại chức nên không thuận tiện thu hình và tường thuật. Rất mong một thời gian sau chúng ta có thể đọc được hồi ký về một đại tá thuyền nhân trong nhiệm kỳ tuỳ viên Hoa Kỳ 3 năm tại Hà Nội.
Sau đây để quý độc giả có thể biết rõ hơn về đại tá Tôn Thất Tuấn, tôi xin gửi đến bà con các tài liệu của ông BMH đã phổ biến từ DC. Qua tài liệu này, khán giả có thể ghi nhận được người thiếu niên thuyền nhân Tôn Thất miền Trung xứng đáng là hậu duệ của QLVNCH. Trong hoàn cảnh hết sức tế nhị hiện bỏ tâm huyết lo cho nơi yên nghỉ cuối cùng của các tử sĩ miền Nam. Rất mong rằng ông hoàn tất được sứ mạng căn bản trong nhiệm kỳ hiện nay.
 
ĐẠI TÁ TÔN THẤT TUẤN
(TÙY VIÊN QUỐC PHÒNG-TÒA ĐẠI SỨ HOA KỲ TẠI VIỆT NAM)
Bài của BMH, VA.
Bộ quốc phòng Hoa Kỳ vừa bổ nhiệm Đại tá Lục quân Hoa Kỳ gốc Việt Tôn Thất Tuấn làm Tùy viên Quốc phòng Tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội Việt Nam kể từ 30/9/2015, thay thế cho Đại tá Lục quân Earnest Lee, vừa mãn nhiệm kỳ trở về Bộ Quốc Phòng nhận nhiệm vụ mới. Trước Đại tá Tôn Thất Tuấn có Đại tá Lục quân Hoa Kỳ Patrick D. Reardon, tên Việt Nam Nguyễn Đức Độ là Tùy viên Quốc phòng Hoa Kỳ gốc Việt đầu tiên tại Hà Nội từ năm 2009-2012.
Văn phòng Tùy viên Quốc phòng Tòa Đại sứ Hòa Kỳ tại Việt Nam chịu trách nhiệm hỗ trợ trong việc phối hợp thực hiện chính sách quân sự của Hoa Kỳ, đồng thời là đại diện cho Bộ trưởng Quốc phòng, và Tư lệnh Quân đội Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, và các cơ quan quân sự khác của Hoa Kỳ. Do đó, Đại tá Tùy viên Quốc phòng chịu trách nhiệm phân tích và tường trình về những diễn biến quân sự tại Việt Nam, những vấn đề an ninh đang diễn ra trong khu vực và trên toàn thế giới. Những thông tin này được sử dụng để đưa ra những chính sách quân sự đối với Việt Nam và các nước Đông Nam Á. Văn phòng Tùy viên Quốc phòng cũng phối hợp tất cả các hoạt động về an ninh giữa quân đội Hoa Kỳ và quân đội Việt Nam tại các diễn đàn song phương và đa phương, cũng như trong mọi lĩnh vực hoạt động quân sự. Đại tá Tôn Thất Tuấn, một thuyền nhân tị nạn định cư Hoa Kỳ vào năm 1977 lúc đã 16 tuổi. Sau khi hoàn tất Đại học Southeastern Oklahoma State University, ông theo đuổi ước mơ phục vụ trong quân đội và trở thành một binh sĩ vào năm 1986. Đơn vị đầu tiên trong đời quân ngũ của ông là Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 30, Lữ đoàn 3, Sư đoàn 3 Bộ binh. Năm 1989, ông theo thụ huấn khóa sĩ quan, và trở thành một sĩ quan bộ binh. Từ đó ông lần lượt thuyên chuyển phục vụ tại các đơn vị như: Sư đoàn 101 nhảy dù (101st Airborne Division), Sư đoàn 1 Thiết kỵ (1st Cavalry Division), Bộ tư lệnh Thái Bình Dương (U.S. Pacific Command), Lực lượng hỗn hợp tìm kiếm tù binh và quân nhân Hoa Kỳ mất tích/Bộ quốc phòng (Defense POW/MIA Accounting Agency) v.v... Đại tá Tôn Thất Tuấn đã từng phục vụ và chiến đấu tại Kuwait, Iraq và biên giới
Afghanistan-Pakistan. Ông được ân thưởng nhiều huy chương cao quý như: Bronze Star Medal, Defense Meritorious Service Medal with 2nd Oak Leaf, Meritorious Service Medal, Department of State Meritorious Honor Award, Ranger Tab, Parachute Badge, Air Assault Badge, and Combat Infantryman Badge.  Ông được thăng cấp Đại tá vào năm 2012.
Đại tá Tuấn cùng hai chiến binh Mỹ gốc Việt tại bộ tư lệnh Thái Bình Dương. - Army Col. Tuan Ton, Pacific Command’s desk officer, (left) prepares a box of burn cream with Army Sgt. 1st Class Kelvin Ngo, and Sgt. 1st Class Phong Le, both from Joint POW/MIA Accounting Command, July 22, 2014, at Joint Base Pearl Harbor-Hickam, Hawaii. (U.S. Air Force photo/Master Sgt. Matthew McGovern)
 
Trùng tu Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa
Được sự đồng ý của Đại tá Tôn Thất Tuấn, xin chuyển đến Quý Vị lá thư ngắn của Ông gởi cho Hội Biệt Động Quân vùng Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận, dù vắn tắt nhưng cũng nói lên sự quan tâm đặc biệt của Ông sau lần đi thăm mới nhất Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa.  Ông cũng cho biết cuộc thăm viếng Nghĩa trang mới đây của đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Ted Osius vào ngày 16/10/2015.
Đồng thời ông cũng gởi kèm tài liệu, hình ảnh mới nhất của những mộ phần của tử sĩ QLVNCH, và việc trùng tu Nghĩa Trang trong thời gian qua của Hội Vietnamese American Foundation (VAF)…
Kèm theo là phần thông báo về buổi tiếp xúc với đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam ông Ted Osius của VAF… và đặc biệt lá thư đại sứ Ted Osius gởi nhị vị dân biểu thuộc Ủy ban Ngoại Giao Hạ viện Hoa Kỳ sau khi Ông  đến thăm Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa.
Xin mời Qúy Vị theo dõi để tường và tùy nghi thẩm định..
BMH
Washington, D.C
—————————————-
From: Tonfamily
Date: November 18, 2015 at 5:58:14 AM EST
To: bietdongquandc
Subject: Kính chào Hội BĐQ DC và phụ cận
Kính thưa quý bác, cô chú và anh chị Hội Biệt Động Quân DC và phụ cận, Dạo này qúy bác, cô chú và anh chị khoẻ luôn chứ?  Bên này Thu Hà và Tuấn vẫn bình thường. Công việc của Tùy viên Quốc phòng Hoa Kỳ tại Việt Nam tuy rất bận nhưng cũng có cơ hội đi lại đây đó trong mấy tuần qua như Huế và Sài Gòn.
Tuần vừa rồi Tuấn đi cùng anh bạn thuộc VAF đến thăm NTQĐBH.  Khung cảnh ở đây thật buồn nhưng được biết là 2,447 ngôi mộ cũng đã trùng tu xong do sự đóng góp của nhiều cá nhân và hội đoàn khác nhau [trong đó có Hội BĐQ DC&PC].  Khí hậu bên này ẩm lắm cho nên sau khi quét vôi trắng lên trên mộ được 5-6 tháng thì lại bắt đầu thấy rong rêu.  Thật là khổ ải trong việc bảo tồn nghĩa trang cho đúng lòng tôn kính của chúng ta!
Cũng xin báo qúy bác, cô chú và anh chị rõ là ông Đại sứ Ted Osius cũng đã đến thăm NTQĐBH vào ngày 16/10.  Ông nói với Tuấn ông đến thăm nghĩa trang trước là để tỏ lòng tôn kính đến sự hy sinh của những anh linh chiến sĩ VNCH nơi đây và cũng để chính ông có thể tự nhận định được tình trạng hiện tại của nghĩa trang. Gởi quý bác, cô chú và anh chị xem hình ông Osius đến thăm nghĩa trang và bản tổng kết trùng tu do VAF tóm lược.
Tuấn thiết nghĩ cộng đồng mình cần hợp lại công sức nhiều hơn nữa mới có thể làm xong việc trùng tu này.  Tuấn được may mắn đang làm việc với một ông Đại sứ có tầm nhìn rất xa và thiết tha với nguyện vọng của những người Mỹ gốc Việt.
Vài hàng thăm sức khoẻ qúy bác, cô chú và anh chị và cho Tuấn Hà gởi lời thăm đến Tổng Hội Biệt Động Quân.
Rất kính mến,
Đại tá Tôn Thất Tuấn, Lục quân Hoa Kỳ
Tùy viên Quốc phòng Hoa Kỳ
Đại Sứ Quán Hoa Kỳ – Hà Nội, Việt Nam
 
Lời phát biểu của Trung Tá Tôn Thất Tuấn, Lục Quân Hoa Kỳ - Đêm Hội Ngộ Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Vùng Hoa Thịnh Đốn và Phụ Cận
Monday, September 13, 2010
Đêm Hội Ngộ Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Vùng Hoa Thịnh Đốn và Phụ Cận - Lời phát biểu của Trung tá Tôn Thất Tuấn, Lục Quân Hoa Kỳ. Ngày 12 Tháng 9 Năm 2010 - Falls Church, VirginiaKính thưa quý niên trưởng Kính thưa quý Đại Diện Cộng Đồng Việt Nam Kính thưa Ban Tổ Chức (BTC) Kính thưa quý Cựu Chiến Binh (CCB) cùng toàn thể quý vị thân mến. Tôi xin phép được tự xưng là “tôi” trong vài phút tới đây để cùng thưa chuyện trong một khung cảnh tuy long trọng nhưng không kém tình huynh đệ chi binh. Thật là một vinh dự cho gia đình chúng tôi được đến dự đêm hội ngộ CCB hôm nay và tôi cũng rất hânh hạnh được chia sẽ với quý vị vài quan điểm và nhận định riêng của mình trên phương diện là một người lính, con của lính, rể của lính, anh của lính, và bây giờ cũng là cha của một người lính. Chân thành cám ơn BTC đã có lời giới thiệu về cá nhân tôi. Phải nói rằng tôi cảm thấy có một phần hơi hổ thẹn vì đã nhận lời để phát biểu mà thường được dành cho khách danh dự, bởi vì đối với tôi, trong đêm nay có rất nhiều bậc lão thành, có rất nhiều vị anh hùng, và có không biết bao nhiêu người đã không quản ngại đường xá xa xôi để đến tham dự tối hôm nay. Thật vậy, CCB là những vị anh hùng đã chiến đấu cho niềm tin chân chính, phục vụ cho lý tưởng của quốc gia, và hy sinh cả một đời người cho tổ quốc.Tôi rời Việt Nam lúc đó gần 16 tuổi nên cũng đã chứng kiến được nhiều cảnh hào hùng và anh dũng của người CCB – cương quyết, gian nan, và nhiều người cũng đã chịu đựng nhiều đau thương do hậu quả cuả chiến tranh, mà có thể nói rằng, khả năng chịu đựng đó ngoài sức tưởng tượng cuả chính bản thân tôi.Tôi được biết, CCB là những người có lòng quyết tâm và sự dũng cảm, đã chiến đấu hăng say cho tổ quốc và cho dân tộc cho đến những giây phút cuối cùng – tay cầm súng tay bồng con, tay cầm súng lưng cỏng mẹ, mà vẫn cầm súng với đồng đội cho đến khi không còn cầm được nữa.Tôi cũng đã được chứng kiến, CCB là những người có sức chịu đựng dẽo dai, kiên trì, có một sức sống thật mảnh liệt, để còn phải dìu dắt gia đình của họ qua những chặng đường nguy hiểm, chông gai, và đầy thử thách sau biến cố năm 1975.Tôi cũng rất kính phục, CCB là những người có sức nhẩn nại phi thường nhằm tạo ra mọi điều kiện thuận lợi và cơ hội tốt cho con cháu họ trưởng thành trên mảnh đất xa lạ nhưng đầy hứa hẹn từ thuở ban đầu, như cha mẹ của chúng tôi đã tạo cơ hội cho vợ chồng tôi và ngay cả cho các con của chúng tôi.Ngay trong giây phút này, tôi xin quý vị hãy cùng tôi tạm ngưng lại những gì vừa gợi nhớ trong trí óc của chúng ta, để cùng chụp lại những hình ảnh kiêu hùng trong quá khứ cuả người lính Việt Nam Cộng Hòa. Tấm hình đó chính là món quà cuả tôi xin trao tặng đến tất cả quý vị CCB trong đêm nay để đánh dấu sự hy sinh cao cả của một người lính, người anh, người chị, người vợ, người chồng, người cha hay một người mẹ.Tôi vừa mới về lại đây tối hôm qua sau một tuần lễ đi công tác ở Việt Nam. Chuyến đi này cũng như 18 lần đi công tác trước đây, đều tốn ít nhất là một ngày đường mệt mỏi mới tới Việt Nam. Nhưng riêng lần này tôi có mang theo một cái ví tiền nhỏ màu nâu, trong đó có những tấm hình của những người mà tôi chưa bao giờ gặp, để hoàn lại cho thân nhân hoặc gia đình của họ còn ở Việt Nam. Bởi vì trong một trận cận chiến tại tỉnh Gia Định vào ngày 11 tháng 2 năm 1968, một người lính Mỹ đã chính tay anh giết chết kẻ địch của mình là một Cộng quân, rồi anh ta đã lấy đi cái ví tiền màu mâu này đem về Hoa Kỳ để làm kỷ vật chiến trường. Nhưng mãi cho đến 2 tuần trước đây, người lính Mỹ này đã nhận định rằng, cái ví tiền mà anh cất giữ bấy lâu nay, đã kéo dài một thảm kịch tinh thần cho chính anh trong suốt bao nhiêu năm qua. Cuối cùng anh đã nhờ tôi đem trả kỷ vật này về lại cho Việt Nam. Ngồi trên máy bay, tôi thầm nghĩ, chẳng lẻ phải cần tới 42 năm trong cuộc đời để người cựu chiến binh Mỹ này có thể xóa đi những hận thù trong cuộc chiến, và để có thể tìm lại sự bình an cho chính anh hay sao!
Tôi nhận thấy quá khứ đã để lại nhiều bài học, thành công cũng như thất bại. Con người không thể thay đổi được quá khứ, nhưng nếu quá khứ được nhận định một cách chính xác, thì chắc chắn con đường dẩn đến tương lai sẽ được rõ ràng và tốt đẹp hơn. Cũng vì chuyện cái ví tiền này làm tôi gợi nhớ một câu chuyện khác đã xảy ra cánh đây không lâu. Tôi không biết đầu đuôi câu chuyện này đã xảy ra như thế nào trong một cửa tiệm ở khu Eden, nhưng lúc đó có một người đàn ông vừa bước ra khỏi tiệm thì ông ta nói ngay với một giọng nói rất là bực tức: “Qua đây tị nạn mà cứ đòi hỏi được như Mỹ, không biết cái thân phận gì hết.” Tôi đã không đoán được ngụ ý của ông ta là như thế nào, nhưng vì lúc đó tôi đang đợi vợ tôi ở bên vỉa hè và cũng vì hơi tò mò, nên tôi đã mạnh dạn bước đến vài bước để trao đổi vài câu tâm sự với ông ta. Kính thưa quí vị, trong mỗi người chúng ta ở đây cũng đã có rất nhiều hoàn cảnh khác nhau khi đến Hoa Kỳ. Thật vậy, một số người trong chúng ta một thời đã làm người tị nạn, nhưng hôm nay chúng ta không còn là những người tị nạn nữa. Chúng ta vượt qua mọi gian nan và nguy hiểm để đi tìm tự do và đã tìm được tự do trên đất nước thân yêu và đầy hy vọng này. Đối với tôi, chúng ta cũng không phải là người Việt Nam hải ngoại hay là Việt kiều, bởi vì những danh từ đó có một tính cách chính trị, biểu hiệu cho một người công dân mang quốc tịch Việt Nam đang tạm trú, đi học, hoặc đi làm ở nước ngoài. Chúng ta ở đây là những người Mỹ gốc Việt với niềm tự hào, vì ít hay nhiều, trong mỗi người chúng ta cũng đã, đang, và sẽ tiếp tục đóng góp cho sự phồn thịnh và an ninh của nước Mỹ mình.Từ chiến tranh vùng Vịnh cho đến chiến trường bảo vệ tự do hôm nay ở Iraq và Afghanistan, đã không một lần vắng bóng hay thiếu sự đóng góp với nhiều khả năng khác nhau của những người lính Mỹ gốc Việt; và trong đó có 12 người lính Mỹ gốc Việt đã anh dũng hy sinh tại Iraq và Afghanistan. Anh em thế hệ chúng tôi vẫn tiếp tục bước trên con đường hào hùng, anh dũng, nối tiếp theo những nét vàng son trong hình ảnh kiêu hùng của qúy CCB đã ghi lại, và thi hành bổn phận của người công dân xứng đáng như mọi người công dân Mỹ khác ở đây. Kính thưa quý vị, khi chúng ta chấp nhận đứng vào trong vị trí xứng đáng là công dân của nước Mỹ, thì chúng ta sẽ có được một tiếng nói rõ ràng hơn, không những hợp thức hơn, mà còn gây được nhiều ảnh hưởng thiết thực hơn, để dìu dắt cho thế hệ sau được hưởng một tương lai đầy hứa hẹn. Đối với tôi, quý CCB luôn luôn là những vị anh hùng!
Chân thành cảm tạ toàn thể quý vị và xin kính chào.
Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393

Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng - Đinh Thế 405

Tướng Lê Quang Lưỡng sinh năm 1932 tại tỉnh Bình Dương. Thời niên thiếu, học hết bậc Tiểu học tại tỉnh nhà ông lên Sài Gòn theo học tại Trường Trung Học Petrus Ký. Sau khi lấy bằng Thành Chung ông gia nhập vào quân đội và xuất thân Khóa 4 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, cùng khóa với Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Chuẩn Tướng Hồ Trung Hậu, Đại Tá Lê Văn Phát…
Ngay khi vừa mãn khóa vào ngày 1 tháng 06 năm 1954 ông tình nguyện sang Binh Chủng Nhảy Dù (ND) và được gởi ngay ra Bắc bổ sung cho Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù với chức vụ Trung Đội Trưởng của Đại Ðội 52 ND. Từ đó ông đã trải qua các chức vụ chỉ huy từ cấp Trung Đội Trưởng (Thăng cấp Trung Úy tháng 6/1956), Đại Đội Trưởng (Thăng cấp Đại Úy tháng 11/1963), Ban 3 Tiểu Đoàn rồi Tiểu Đoàn Phó.
Năm 1965, Ông được đi du học về “Tác Chiến Trong Rừng Núi Sình Lầy” tại Mã Lai Á. Tại quân trường, ông đã trình bày chiến thuật tấn công và tác chiến theo quan điểm của riêng ông được tất cả các huấn luyện viên đều chú ý và thán phục. Đến tháng 9/1965, về nước với bằng tốt nghiệp Thủ Khoa, ông được Tướng Dư Quốc Đống chỉ định nhiệm vụ thành lập và giữ chức Tiểu Đoàn Trưởng TĐ2ND tại Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Vạn Kiếp ở Bà Rịa.
Trong buổi lễ xuất quân của TĐ2ND vào tháng 1/1966, Đại Tá Lý Thái Như Chỉ Huy Trưởng TTHL/QG Vạn Kiếp đã Chủ Tọa và trao gắn cấp bậc Thiếu Tá cho Ông.
Sau buổi lễ xuất quân, Tiểu Ðoàn 2 ND về trấn giữ vòng đai Biệt-Khu-Thủ-Ðô vừa chỉnh trang đơn vị, vừa tái huấn luyện tại chỗ. Chính ông đã đứng ra hướng dẫn tất cả Sĩ quan cũng như binh sĩ về chiến thuật và kỹ thuật tác chiến của Nhảy Dù và ngay sau đó TĐ2ND đã tham chiến tại khu phi chiến, tại đồi 1416 trên đỉnh Ngok Wank quân khu II, tại khắp các mặt trận ở các quân khu và đã từng gây kinh hoàng khiếp vía cho bọn giặc cộng xâm lược không thua bất cứ một đơn vị Nhảy Dù kỳ cựu nào khác.
Cuối năm 1967, ông sang Okinawa du khảo và học hỏi về Chiến thuật phản tình báo và chống chiến tranh du kích. Ngày 25/1/1968, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Lữ Ðoàn Trưởng Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù thay thế Trung Tá Hồ Trung Hậu, đánh đuổi quân Cộng Sản ra khỏi Huế và Quảng Trị trong trận chiến “Tổng Công Kích năm Mậu Thân” của CS.
Sau trận nầy ông được thăng cấp Trung Tá tại mặt trận vào tháng 4/1968. Và cũng trong chức vụ LĐT/LĐ1ND ông được thăng cấp Ðại Tá tại mặt trận vào tháng 9/1969 sau các cuộc hành quân tại Tây Ninh để tiêu diệt các đơn vị CS lẩn khuất trong khu vực Chiến Khu C và đưa chiến trường ra khỏi lảnh thổ Quân Khu III qua bên kia biên giới.
Kể từ đây, ông đã tham gia hầu hết các cuộc hành quân làm nên lịch sử của SĐND, như là Chiến dịch Bình Tây Kampuchea 1970, Hành Quân Lam Sơn 719 trên đất Lào vào tháng 02 năm 1971, giải vây An Lộc tháng 4/1972, Hành Quân Lam Sơn 72 trong chiến dịch Lôi Phong tái chiếm Quảng Trị vào tháng 06 năm 1972, và cuộc hành quân tái chiếm Thường Đức vào tháng 08 năm 1974. Trong ba cuộc hành quân đầu, Tướng Lưỡng đã tham dự với tư cách Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, trong các cuộc hành quân về sau Tướng Lưỡng đã điều quân với tư cách là Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù.
Trong trận chiến giải vây An Lộc năm 1972, tài điều binh của ông đã được đưa vào chương trình nghiên huấn của Trường Quân Sự Command and General Staff College (Đại Học Chỉ Huy & Tham Mưu) ở Fort Leavenworth, tiểu bang Kansas, Hoa Kỳ sau hai danh tướng Tôn Tử, một thiên tài quân sự nổi tiếng của Trung Hoa thời Xuân Thu Chiến Quốc (722 – 480 TCN) và Erwin Rommel (1891 – 1944 có biệt danh là "the Desert Fox") một tướng lãnh lừng danh của Đức Quốc Xã vào đệ nhị thế chiến.
Trong trận chiến nầy ông đã phối hợp chiến thuật phân tán mỏng các đơn vị Nhảy Dù để bao vây, dùng các Tổ Khinh Binh đột kích vào các chốt của bọn cộng phỉ rồi dùng Phi Pháo và Pháo Binh tiêu diệt địch để phá vỡ chiến thuật Chốt Kiềng của bọn cộng phỉ tại suối Tàu Ô cũng như tại cửa ngõ Sóc Gòn của An Lộc.
Đại Tá Lê Quang Lưỡng đã áp dụng yếu tố bất ngờ một cách táo bạo và thành công khi đổ quân Nhảy Dù xuống Sóc Ton Cui cạnh Đồi Gió để làm đầu cầu, rồi tiến vào An Lộc. Ông cũng đã nghi binh đánh lạc hướng địch quân khi liên lạc bằng hệ thống âm thoại báo cho Tướng Hưng rằng ông sẽ không vào An Lộc mà ngày mai Quân Đoàn sẽ đưa một đại đơn vị nhảy xuống phía Bắc An Lộc tấn công vào Đồi Đồng Long vào giải cứu các đơn vị bị bao vây. Ông được Tướng Minh Tư Lịnh Quân Khu III đặt trọn niềm tin và giao cho Ông trọn quyền quyết định sách lược.
Với kinh nghiệm lão luyên trên chiến trường của một “Quân Đội con nhà nghèo” với sự yểm trợ tích cực của người bạn đồng minh, ông đã sử dụng tài tình và hiệu quả lối đánh thần tốc của các Chiến Binh Nhảy Dù với hỏa lực vô tiền khoáng hậu của phi pháo và các pháo đài bay B52 để tiêu diệt các đơn vị cộng phỉ, để giải vây cho các đơn vị thuộc quyền, để mở rộng vòng đai và rồi hoàn toàn giải tỏa An Lộc.
Tháng 6 năm 1972, Đại Tá Lê Quang Lưỡng được đề cử chức vụ Phụ Tá Hành Quân cho Tư Lệnh Sư Ðoàn Nhảy Dù là Trung Tướng Dư Quốc Đống trong chiến dịch Lôi Phong tái chiếm Quảng Tri. Cuối tháng 8 năm 1972, ông được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thăng cấp Chuẩn Tướng, và sau đó ông được bổ nhiệm giữ chức Tư Lệnh Phó, xử lý thường vụ chức vụ Tư Lệnh SĐND. Lúc bấy giờ, Bộ Tư Lệnh Hành Quân Sư Đoàn Nhảy Dù đặt tại căn cứ Hiệp Khánh, cách Huế 17 km về phía Bắc.
Tháng 11 năm 1972, Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng chính thức được chỉ định làm Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù cũng là vào lúc VNCH đang đi vào một giai đoạn cực kỳ khó khăn nhất trong lịch sử. Sư Đoàn Nhảy Dù do ông chỉ huy đã phải đương đầu với bao nhiêu thử thách từ phía bọn cộng phỉ cũng như từ phía Đồng Minh và nội bộ của VNCH. Nhưng ông luôn giữ đúng phong cách của một vị chỉ huy, thi hành trách nhiệm được giao phó một cách hoàn hảo và suốt đời tận tụy hy sinh cho Tổ Quốc đến những ngày cuối tháng 4/1975.
Trận đánh để đời sau cùng của ông là trận Thường Đức từ tháng 8/1974 đến tháng 11/1974 ông đã áp dụng chiến thuật Xa Luân Chiến để 3 Lữ Đoàn Nhảy Dù luân phiên giao tranh và gây thiệt hại nặng nề cho hai SĐ 324B, SĐ 304 và một Trung Đoàn của SĐ 2 của bọn cộng sản bắc việt cùng các lực lượng địa phương.
Năm 1975 vào những ngày tháng lịch sử của VNCH, lệnh từ trung ương bỏ Quân Đoàn I và rút Sư Đoàn Nhảy Dù về Sài Gòn. Một tin chấn động cho toàn quân, toàn dân và sự kinh hoàng tột độ ấy đã mở đầu cho sự tan rã ồ ạt sau đó.
Hơn thế nữa, kể từ ngày SĐND được bốc khỏi Vùng I, quyền chỉ huy chiến thuật binh chủng Nhảy Dù, quyền sử dụng các chiến binh Nhảy Dù cũng vượt ra khỏi tầm tay của vị Tư Lệnh. Các đơn vị Nhảy Dù đã bị xé ra từng mảnh. Mỗi đơn vị một nơi rồi lần lượt bị tan hàng.
Ngày 29 tháng 4 năm 1975 Tướng Lưỡng di tản sang Hoa Kỳ, với nỗi ngậm ngùi: “Sầu hận của tim ta ai biết được. Người tươi vui ta mãi mãi căm hờn”.
Và sau đó ông định cư tại thành phố Hampton, tiểu bang Virginia. Đến năm 1979, ông cùng gia đình di chuyển về thành phố Bakerfield, tiểu bang California cho đến cuối đời.
Trong khoảng thời gian từ 1976 đến những năm 1982 ông có tham dự vào một số sinh hoạt trong nỗ lực trở lại VN tổ chức lực lượng kháng chiến nhưng tiếc rằng Trời đã không chiều lòng người. Sau này ông lui dần vào im lặng và ít khi lên tiếng. Ông cũng thường sinh hoạt và gần gũi với Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam từ năm 1980.
Năm 1990 ông cùng Tướng James B.Vaught Hoa Kỳ dẫn đầu đoàn diễn hành của Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam trên đại lộ Constitution, Washington D.C cùng với các đơn vị Nhảy Dù của 32 quốc gia bạn, nhân ngày kỷ niệm 50 năm thành lập binh chủng Nhảy Dù Hoa Kỳ. Nhảy Dù là đơn vị của QLVNCH đầu tiên và duy nhất từ trước cho đến thời điểm nầy, được mời chính thức rước ngọn cờ Vàng Ba Sọc Đỏ giữa lòng thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Hai bên đường dân chúng Hoa Kỳ và đồng bào Việt Nam tỵ nạn cộng sản, đón tiếp và cổ võ nồng nhiệt.
Ngày 21/9/2005 Tướng Lê Quang Luỡng đã qua đời tại Bakerfield California vì chứng bệnh Gan, thọ 73 tuổi, để lại nhiều luyến thương sâu xa cho đoàn quân Mũ Đỏ.
Tại San José California, một Cựu Chiến Binh Nhảy Dù - Định Thế 405 - đã thương khóc ông:
“Người đi…
Cây cỏ buốt đau thương!!!
Anh hùng Lê Quang Lưỡng.
Bàng hoàng…Nghĩ chừng vô tưởng.
Vị Tướng lãnh hào hùng,
Dẫn đầu quân binh Mũ Đỏ.
Đã bỏ trần gian,
Vội vàng không giã biệt.
Âm âm lạnh, lòng nhói đau da diết,
Thương hơn thương, tử biệt cõi sinh phù.
Hỡi Thiên Thần máu đỏ thắm thiên thu,
Tim bất khuất, đời Hoa Dù vay trả.
Nghiệp cả trả chưa xong
Đục trong trời phiêu lãng.
Ba mươi năm,
Những buổi chiều bàng bạc.
Cánh hạc thẫn thờ bay,
Cuộc đời nầy đen trắng
Cả quá khứ đầy hận thù cay đắng
Quê hương ơi chất nặng nghiệp linh hồn.
Vó ngựa chân bon…
Những bồn chồn từng thu qua chết lặng,
Vệt nắng vàng hoang vắng gió heo may.
Việt Nam ơi, cả dân tộc đang quay,
Trận bão lốc hay cơn say nghiệt ngã.
Ba mươi năm,
Khắp địa cầu xa lạ.
Đoàn Thiên Thần nghiêng ngả dắt dìu nhau.
Gượng cười thôi tim quằn quại thương đau.
Mỗi một bước vạn cơn sầu gậm nhấm.
Ba mươi năm,
Vàng đỏ đen tím xậm,
Nét kiêu hùng vẫn ẩn chứa trong tim.
Chưa bao giờ ta thật sự đứng im.
Dù một phút, nghĩ, chìm trong dĩ vãng.
Nhưng hôm nay bầu không gian ảm đạm,
Quân kỳ buồn, rủ xuống tiễn anh linh.
Quốc kỳ bay, tung ngao nghễ không thinh,
Lệnh kỳ bó, vành khăn tang đơn lạnh.
Hoàng Hoa Thám, mùa Trung Thu hiu quạnh.
Vì toàn quân mất vị Tướng anh hùng.
Quê hương ta mất dũng sĩ tận trung,
Và Tổ Quốc mất người hùng Mũ Đỏ.
Ba mươi năm,
Chiến trường ta còn đó,
Tư Lệnh ơi…Ông bỏ chúng tôi rồi ! ! !
Thế là xong…Thật ngắn ngủi kiếp đời,
Thoáng đấy, mới đây, gió trời mưa đất.
Vùng trắc ẩn rồi ai còn ai mất,
Nghĩa tử ly, oan khuất mủi thương mình.
Định thế nào, là thảm bại quang vinh,
Thua hay thắng, thường tình trong dĩ nghiệp.
Mỗi Mũ Đỏ là lương tri thông điệp,
Để toàn dân phải ngưỡng mộ tri ân.
Họ đã tặng đời tim óc, xác thân,
Trong biển lửa, giữa gian trần bạc bẽo.
Cánh Dù rơi… nơi xứ người lạnh lẽo,
Thiên Thần buồn réo khúc nhạc bi ai.
Cánh dù bung từng ôm cả chí trai,
Gom hoài bão miệt mài trang dũng kiệt.
Kính ông Tướng…Trời tạm dung đơn độc,
Ngưỡng mộ anh hồn bay bổng sao băng.
Nơi mù xa vùng sinh tử trầm thăng,
Ông thanh thoát đất vĩnh hằng vô tận”
Vĩnh biệt Tư Lệnh.
Vĩnh biệt Đích Thân!!!
Đinh Thế - 405

Tài liệu tham khảo:
-Phỏng vấn các Chiến Hữu trong Sư Đoàn Nhảy Dù.
-Những tin tức do Anh Lê Quang Đức, con của Tướng Lưỡng cung cấp.
-Thiên Thần Mũ Đỏ Ai còn "Ai mất" của Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng
-Bài Văn Tế Tướng L ê Quang Lưỡng của Định Thế 405 – Giám Đốc Võ Thuật SĐND, Đại Đội Trưởng 90.
-Bài Điếu Văn của Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức đọc trong Lễ Truy Niệm tại Bakerfield 11/2005 
(Sài Gòn trong tôi - Võ Trung Tín/ Nguyễn Hữu Viên)

Nhân cách đầy tình người, cao cả của một người lính VNCH

Ông Trịnh Hòa , là 1 cựu quân nhân VNCH sang Mỹ theo diện HO .
Ngày nay nói đến Mark Walhberg thì ai cũng biết, đó là một ngôi sao màn bạc sáng chói, tài tử nổi tiếng, 1 ca sĩ và nhạc sĩ đa tài, đồng thời cũng là 1 chủ thương nghiệp giàu có thành đạt. Nhưng ít ai biết rằng Mark đã có 1 tuổi thơ dữ dội đầy tội ác và từng bị kết án tù vì tội ngộ sát. Càng ít ai biết rằng người đã giúp cho anh ta thay đổi toàn bộ cuộc đời của mình, là 1 cựu quân nhân VNCH!
Mark Walhberg sinh ra trong 1 gia đình nghèo khó, đông anh em. Cha mẹ ly dị sớm nên không có ai chăm sóc, dạy dỗ, Mark cùng 2 người anh và 1 người chị của mình từ tuổi vị thành niên đã phạm đủ loại tội danh, từ ăn cắp ăn trộm đến đánh người và lừa đảo.
Năm 16 tuổi, Mark mang trong lòng sự hận thù và căm ghét người da màu ... Mark cho rằng mình là người Mỹ da trắng thì phải có cuộc sống tốt đẹp hơn người di dân hay người tỵ nạn da màu. Với suy nghĩ này, Mark Walhberg thường xuyên gây sự đánh nhau với người da đen. Một ngày kia, Mark đã chặn đường đón đánh và cướp 2 người đàn ông Việt Nam, dùng gậy đánh vào đầu và mặt họ, khiến cho ông Johny Trịnh Hòa bị thương nặng, suýt chết và hỏng mù 1 con mắt! 
Mark Walhberg sau đó bị bắt và truy tố tội ngộ sát, nhưng vì tuổi vị thành niên nên cuối cùng được giảm thành tội hành hung và kết án 2 năm. Trong nhà tù , Mark chợt hiểu ra rằng anh đã hận thù sai đối tượng, và nếu không thay đổi cách sống thì 1 sẽ bị đánh chết, 2 là rục xương trong tù! 
Khi được tự do, Mark tìm đến 1 nhà thờ Công giáo nhờ các Cha giúp đỡ làm lại cuộc đời. Vị Cha xứ ở đây cho biết ông sẵn sàng giúp Mark, nhưng với 1 tội danh hình sự nghiêm trọng như vậy, thì Mark sẽ tiêu cuộc đời, rất khó mà tiến thân được ở Mỹ. Hầu như tuyệt vọng! “nhưng còn nước còn tát”. Với sự hướng dẫn của Cha xứ, Mark viết 1 lá đơn đến Tòa án Tối cao Pháp viện, trình bày ý nguyện hoàn lương của mình và xin được tha thứ, xin Tòa xóa đi các hồ sơ phạm tội cũ.
Chánh án Tòa án Tối cao cho biết, Tòa không có quyền tha thứ và xóa hồ sơ, trừ khi nạn nhân bị đánh mù một mắt của Mark đồng ý tha thứ cho anh!
Với sự giúp đỡ tìm kiếm của truyền thông, Mark Walhberg tìm đến ông Trịnh Hòa, là 1 cựu quân nhân VNCH sang Mỹ theo diện HO. Sau khi nghe trình bày, ông Hòa ôm Mark, ôn tồn cho biết ông không hề thù hận gì Mark cả!  Chưa kể thương Mark như đứa con lạc lối mà thôi!
Ông còn hiểu rõ, lúc đó Mark chỉ là 1 thiếu niên bồng bột và thiếu tình thương, thiếu sự giáo dục của gia đình, ông còn khéo nêu ra lý do, con mắt của ông đã bị thương tật từ khi ông chiến đấu chống CS ở VN (!) nên ông sẵn sàng tha thứ hết cho Mark!
Sau đó, chính ông Trịnh Hòa đi khắp nơi vận động và đã viết thư, năn nỉ Chánh án Tòa án Tối cao xóa bỏ mọi tội danh cho Mark, để anh có thể có cơ hội làm lại cuộc đời.
Khi đã thành đạt, nhớ ơn “cứu sống” của ông Trịnh Hòa, Mark nhiều lần đề cập đến việc đền bù và đền ơn cho ông, người cứu vớt cuộc đời Mark ra khỏi vũng bùn, nhưng ông Hòa đều từ chối, không nhận bất cứ một ơn huệ nào. Ông còn vui mừng khi thấy Mark ngày nay thành công và nổi tiếng khắp thế giới như vậy, lại còn có tâm nhân từ, biết làm từ thiện, giúp đỡ người khác, thì là đã trả ơn bội hậu cho ông gấp nhiều lần rồi, ông không cần gì thêm nữa cả!
Đó chính là nhân cách lớn thầm lặng, đáng khâm phục của 1 người lính VNCH, nhờ được hấp thụ mấy mươi năm giáo dục nhân bản quý báu “thương người như thể thương thân!” và  biết “lấy tình thương xóa bỏ hận thù” như chính sách chiêu hồi của chế độ VNCH ở miền Nam - Điều mà người cộng sản không thể nào có được! Với chủ trương “còn đảng còn mình” Cộng sản giết cả đồng chí, người dân, đem cha của mình ra đấu tố. Hai chế độ khác nhau ở diểm chinh này!

ST

Saturday, August 17, 2019

NGƯỜI HẠ SĨ NHỨT - Nguyễn Ẩn Danh

Mọi chuyện dường như là có sự sắp đặt. Trong cuộc đời tui, bao nhiêu lần vào sanh ra tử, cứ tưởng là sắp đi thăm ông bà ông vải, nhưng lại chưa. Bà xã, thỉnh thoảng vẫn chọc quê, "Nghèo mà ham; anh tưởng muốn đi là đi hả? Tui chưa cho anh đi thì hổng được đi đó. Nghe chưa?". Chuyện tình duyên thì cũng rụp, rụp, rụp - ý tui muốn nói là suôn sẻ đó. Còn chuyện người anh kết nghĩa thì như trên trời rớt xuống. Đúng là người tính hổng bằng Trời tính mà. Tía hay nói như dzậy.
Nói xa nói gần hổng bằng nói thiệt tui là con một trong gia đình nông dân nghèo. Nghe Má kể lại thì lúc được 1 tuổi rưỡi, tui bị bịnh ban gì đó, mà hai thầy thuốc Nam trong miệt cồn Dừa (tỉnh Phong Dinh) này đều bó tay. Tía bằng lòng bán miếng ruộng duy nhất của gia đình để có tiền đưa tui lên Sài Gòn chữa bịnh, nhưng đường đi quá cực khổ, và có thể tui sẽ chết trên đường trước khi tới nhà thương, thành ra lại phải trở về khi đi chưa được một phần năm đường. Hổng lẽ ngồi khoanh tay nhìn con mình chết, Tía nghe người ta mách hái mấy lá gì đó trộn với xả nấu cho tôi uống. Uống xong, nghe Má kể lại, tôi giựt giựt mấy cái rồi nằm xụi lơ, rồi ngủ luôn 2 ngày. Khi tui thức dậy, Má khóc quá trời vì quá mừng. Qua được cơn bịnh này thì tui hơi chậm lớn và cũng hơi chậm nói - nghe Má nói như dậy. Giờ ngồi nghĩ lại thấy thương ổng bả quá trời.
Khi được 5 hay 6 tuổi tui hay theo Tía ra đồng coi dùm Tía mấy cái cần câu trong lúc ổng làm ruộng. Ngồi hổng có gì làm, tui thường lượm gạch hay sỏi để chọi chim, rắn hay chuột đồng. Nhiều hôm tui chọi trúng được vài con chuột hay chim đem về cho Má nướng. Còn cá trê Tía câu Má kho tiêu ngon lắm. Thỉnh thoảng Tía uống rượu đế với mồi cá kho tiêu, và khi uống rượu Tía nói nhiều hơn mọi ngày. Phải nói là cuộc sống khá êm đềm.
Tới 8 tuổi tui mới đi học, nhưng tui học dở lắm, chắc là tại quá ham chơi. Khi rảnh tui làm ná bắn chim (thay vì chọi đá như hồi nhỏ). Tui cũng hay chơi bắn bi với tụi nhỏ hàng xóm. Phải nói là tui dùng ná rất giỏi vì ngày nào tui cũng đem chim, vịt trời hay chuột về cho Má làm đồ ăn. Khi bắn bi cũng vậy, tụi bạn thua tui dài dài, thành ra có tiền mua bánh tráng, xôi với cà lem ăn. Chỉ có học là tui dở thôi. Học đó rồi quên đó. Phải học lớp Năm đến 2 hay 3 lần mới được lên lớp Tư.
Có lần tan học, trên đường về, tui theo bạn bè vào vườn mía đỏ bỏ hoang (thân mía màu ưng đỏ hồng, mềm và ngọt khỏi chê luôn). Muốn được mía lớn tui phải đi tuốt vô trong sâu. Đang kéo chiến lợi phẩm ra, thì tui thấy đau điếng dưới chưn. Nhìn xuống thì trời ơi, một con trăn bự đang cắn chặt vô cái bắp chuối. Tui cố kéo chưn ra nhưng hổng xong vì con trăn mạnh quá. Thân nó trườn tới và quấn luôn chưn kia. Biết là hổng xong nếu tiếp tục cá đà này, tui la cầu cứu nhưng vì ở tuốt trong sâu, hổng ai nghe. Hai chưn bị trăn cột xiết rồi, tui ngã xóng xoài - chuyện đi thăm ông bà là cầm chắc trong tay. Hai chưn đã tê cứng. Chợt nghĩ tới Tía và Má, tui như bừng tỉnh và quơ đại cái cặp táp. Đang dùng cái cặp táp da đập vô đầu con trăn, cây viết văng ra. Tui dùng cây viết đâm túi bụi vào mắt con trăn. Đâm hết mắt này rồi đâm qua mắt kia. Chắc là bị tui đâm khá sâu vào mắt, con trăn tự nhiên nhả chưn ra, lăn lộn, hổng xiết nữa, và bò đi nơi khác. Hôm đó Má khóc nhiều lắm. Má cứ lẩm bẩm cám ơn ông bà che chở. Má nói là cái số tui chưa rụng. Tía tới vườn mía hoang và bắt được con trăn mù cổ bà chảng. Đem ra chợ bán thịt được gần hai chục đồng. Lúc đó 1 lượng vàng chỉ có 65 đồng. Tía nói sẽ dùng tiền này cho tui khi đi học xa, hay lúc cưới vợ. Tía cấm hổng được đi vô rừng mía đó nữa. Nói cho cùng, sau cái vụ trăn quấn thì có cho tiền tui cũng hổng dám vô.
Tui học ạch đụi tới năm 15 tuổi mới học xong lớp Nhứt. Thấy tôi học chậm, Tía cho tui ở nhà phụ làm rẫy. Mùa hè năm sau nhóm trẻ tụi tui đá banh thắng nhóm bên cồn Cát 3-2. Tui đá vô gôn luôn 2 trái trong vài phút chót vì tui chạy lẹ lắm. Được 80 đồng phần thưởng, tui dẫn "đội banh nhà" ra chợ ăn gỏi đu đủ và uống nước mía. Thắm, cô bán nước mía, nhận ra tui, nhưng tui hổng nhận ra cổ. Hỏi ra mới hay là tui học cùng lớp với Thắm 6 năm trước. Cổ khác hẳn con nhỏ ốm nhom, đen thui hồi đó. Thắm giờ có da có thịt, da bánh mật, nói chuyện có duyên, và biết buôn bán. Sau lần đó, tụi tui kết nhau. Đưa Thắm về nhà, Tía và Má mừng lắm. Má nói là Má luôn muốn tui có người anh để giúp đở bảo bọc vì tui chậm chạp và thật thà. Nay có người bạn đời giỏi như Thắm đến với tui, Má vui lắm. Tám tháng sau, tụi tui lập gia đình. Khoảng 1 năm sau khi cưới vợ thì tui phải nhập ngũ.
Chỉ sau vài tháng trong Quân Trường Quang Trung, vì được nhiều sự chú ý của các huấn luyện viên cao cấp bởi tui chạy đua rất mau (chắc vì muốn thắng đá banh để có tiền mua nước mía), và tui bắn súng hết xẩy (hay là vì chọi đá bắt chuột, dùng ná bắn chim, bắn bi kiếm tiền mua đồ ăn ... hồi nhỏ), tui được huấn luyện đặc biêt để trở thành xạ thủ. Khi mãn khóa ở Quang Trung, tui được chuyển đi Kontum với cấp bực binh nhì trong đội Biệt Kích. Nhiệm vụ của tui là trốn trên những đồi cao có nhiều cây, quan sát, truyền tin và bắn tẻ khi được lịnh. Có khi tui đi chung nhóm 3 hay 5 người, và có khi chỉ có mình ên. Thường được thả trên rặng Trường Sơn vào những đêm sương mù dầy đặc. Những lúc đi xa, tui nhớ Thắm, nhớ Má và Tía lắm. Cái sướng của công việc này là tui dùng sở trường của mình (chạy mau và bắn giỏi) để phục vụ đất nước. Tui cũng khoái vụ trốn trên núi cao vì hồi nhỏ thích chơi Năm Mười. Xếp tui dặn là bất cứ ai hỏi thì tui phải nói tui là lính kiểng gác kho gạo trên Đà Lạt. Mà cũng hay, vì sau khi núp trên núi vài tháng nên da trắng và tóc dài, tui dòm cũng giống lính kiểng lắm chớ bộ. Sau mỗi lần đi công tác vài tháng tui được nghỉ phép cả tháng với rất nhiều tiền (hình như là tiền tử) khi về thăm gia đình. Tiền bạc dồi dào, tui mua đồ cho mọi người mút chỉ. Vì vậy bạn bè, hàng xóm thương, che chở và giúp đỡ tui.
Lần đó sau khi về thăm nhà chưa được 2 tuần lễ, tui bị gọi về gấp vì có chuyện lớn. Đi lẹ ra Ô Môn, vô sân bay Trà Nóc, bay thẳng về KonTum để nhận lịnh. Trước khi được điều động lên một địa điểm bí mật trên rặng Trường Sơn để thăm dò như các lần trước, tui được dặn là phải cố gắng nhiều vì 2 đồng nghiệp Biệt Kích (BK) đã mất tích trong vùng đó. Điều may mắn lần này là tui tìm được 2 người BK kia không xa nơi đáp xuống. Một người đang bị bịnh. Máy truyền tin bị hư, và đạn dược thiếu thốn tại một số lớn quân nhu bị rớt mất khi thả dù. Tụi tui núp trong 1 hang núi có nhiều cây rậm rạp. Điều không may mắn lần này là tụi Việt Cộng biết được sự có mặt của nhóm BK vì họ tìm ra số quân nhu và dụng cụ bị rớt. Họ lùng kiếm ráo riết. Để được an toàn, tụi tui im hơi lặng tiếng và chỉ bắn khi thiệt cần. Sau cùng cũng phải bắn trả vì tụi nó tới quá gần, nhưng tụi tui bắn thật ít vì thiếu thốn đạn dược. Tụi Việt Cộng dù đông hơn, nhiều đạn hơn, nhưng hổng dám mạnh dạn tiến lên vì họ ở vị trí dưới thấp, trong khi nhóm tụi tui phía trên cao bắn xuống phát nào trúng phát nấy. Cầm cự được hơn 6 tiếng đồng hồ, thì nhóm tui gần như hết đạn. Chỉ còn vài trái lựu đạn để tử thủ. Tui không nghĩ là mình qua được con trăng này. Nghĩ tới Thắm, Tía và Má, tui chạnh lòng. Trong cơn nguy hiểm như chỉ mành treo chuông, bỗng nhiên máy bay trực thăng tiếp cứu tới. Máy bay phải đánh đông phạt tây (điệu hổ ly sơn) và dùng hỏa mù để cứu nhóm tui. Trong phi vụ này, tui bị thương vì té gẫy tay và được đưa về Chẩn Y Viện Cộng Hòa điều trị. Sau thời gian dưỡng thương, tại tay hổng còn khỏe và chính xác như ngày trước, tui được chuyển về 1 quận lỵ nhỏ gần Suối Dây, tỉnh Tây Ninh với cấp bực Hạ Sĩ Nhứt và giã từ cuộc sống BK Đặc Biệt từ đó.
Khoảng 4 tháng sau thì Thiếu Úy Đức (TUĐ) người Bắc tới làm Phó quận trưởng. Tui được lựa làm gạc đờ co (bảo vệ) cho ông Phó. Vài lần đang lái xe jeep chở ông Phó đi quan sát ngoài biên giới quận thì tụi Việt Cộng bên kia rừng Tràm bắn lén. Vừa nghe tiếng nổ là tui phản xạ đẩy TUĐ nằm xuống, che cho ông, và cùng lúc tui nhả hàng loạt đạn về phía tiếng nổ. Sau vài lần như vậy, tui được tin cẩn hơn và trở thành cánh tay trái của ổng. Tui luôn khuyên ổng phải cẩn thận, vì đây là vùng xôi đậu không biết ai là địch, ai là thù. TUĐ là thượng cấp, nhưng ổng cũng xem tui như người nhà. Một lần đưa ổng đi xem nhà cửa của dân làng do nhóm lính sửa chữa, TUĐ gặp cô Hân (con gái bà chủ căn nhà ở cuối quận, kế bên con sông nhỏ ngăn cách khu rừng Tràm âm u bên kia). Theo như tui thấy thì hình như lúc gặp cô Hân, TUĐ bị tiếng sét ái tình hay sao đó vì ổng đứng như trời trồng và nói năng lắp bắp. Thấy kỳ quá, thêm nữa khu này nguy hiểm khi trời sâm sẩm tối, tui nói thay cho ổng:
- Trễ rồi, Thiếu Úy. Mình phải đi dzề. Chào cô.
Cô Hân đẹp, ăn nói khéo léo, ... chắc là người bên kia, gài lại đây. Tía của cô vắng mặt. Hay là ông ta đã tập kết ra Bắc? Thêm nữa, tên Ba Thọt (ở đối diện nhà cô) - một người có tiểu sử và hành động rất khả nghi - thường qua lại nhà cô thăm viếng.
Mỗi sáng khi cô Hân đi làm ngang văn phòng quận, tui thấy cô cố tình đi chậm lại. Hay là cô đang nghe ngóng tin tức? hay là xem cá có cắn câu chưa? hay là đang dò sét tình hình trong văn phòng quận để tường trình cho phe bên kia?... Hàng trăm câu hỏi, nhưng hổng có câu trả lời. Thôi, tốt nhứt là đề phòng thì vẫn hơn.
Vài tháng sau, Kontum, Ban Mê Thuột và nhiều vùng cao nguyên thất thủ. Rồi Bảo Lộc-Madagui vào tay bọn qủy đỏ, ... Một buổi chiều tháng tư, tụi Việt Cộng đem xe tăng, súng lớn tới tấn công quận. Đại Úy Long quận trưởng mất tích. TUĐ và các anh em quân đội tụi tui liều chết bắn chặn quân địch. Trước hỏa lực quá mạnh của địch, lực lượng tiểu đoàn phòng thủ quận tan rã. Kẻ chết, người bị thương, người chạy trốn. Tui và TUĐ đều bị thương nhẹ. Cùng đường, hai thầy trò chạy về phía cuối quận. Đinh ninh là Ba Thọt hay cô Hân sẽ chờ để bắt sống hay thanh toán tụi tui ở đó, tui cầm chắc khẩu tiểu liên sẳn sàng mạng đổi mạng. Khi chạy tới gần con sông cuối quận (gần nhà cô Hân), TUĐ ngã quỵ vì kiệt sức. Đang đỡ TUĐ lên, thì cô Hân chạy ra mở cửa rào ra dấu cho tụi tui vào nhà gấp. Khi vào trong, cô băng bó cánh tay của TUĐ. Cô đưa cho tụi tôi 2 nắm cơm và ít nước lạnh để ăn cầm hơi. Trong lúc tui và TUĐ ăn, cô lấy 2 ruột xe đạp, bơm lên, và đưa cho tụi tui. Cô ta chỉ tay vào con sông sau nhà:
- Hai anh thả nổi chừng 8 hay 9 cây số tới nhà thờ Suối Dây. Nhớ tìm người linh mục gốc Nam Định xin giúp đỡ. Chừng nào khỏe lại thì đi. Nếu tình hình lộn xộn quá, thi trốn qua Kampuchia. Hai anh đi cho lẹ trước khi họ tới đây.
Lúc đó tui mới biết là mình sai. Cô Hân là người ơn, chứ không phải là vẹm như tui nghĩ. Món nợ cứu mạng này lớn lắm.
Khi tụi tôi xuống sông thì trời đã tối. Nương theo dòng nước hai thầy trò tới nhà thờ Suối Dây khoảng 2 giờ sáng. Người Linh Mục dấu tụi tui ở đó gần 3 tuần lễ dưỡng thương. Khi gần như hồi phục hoàn toàn, TUĐ và tui chia tay. Hôm đó cả hai đều khóc. TUĐ nghẹn ngào:
- Hạ Sĩ Nhất Sơn. Tôi bao giờ cũng xem chú ... như người nhà. Cám ơn chú ... đã làm việc với tôi trong 2 năm qua, và ... đã giúp đỡ tôi trong cơn hoạn nạn này. Nếu còn duyên thì anh em mình sẽ gặp lại.
Sau khi từ giã TUĐ và người Linh Mục, tui về Cần Thơ đoàn tụ với gia đình. Mất mấy ngày mới về tới Sài Gòn. Thành phố giờ có tên mới -cái tên của kẻ sát nhơn. Tui hổng quen dùng cái tên mới đó. Phải mất thêm cả tuần nữa mới quá giang về đến cồn Dừa vì xe cộ bị đình trệ sau ngày đổi đời - cái ngày mà hàng vạn người vui, nhưng hàng triệu người buồn. Khi bước vô nhà, Má bật khóc vì quá mừng. Thắm thấy tui tiều tụy quá cũng khóc. Tía thì nhờ người hàng xóm đi mua ít đồ ăn mừng ngày đoàn tụ.
Hai hôm sau, 3 người Công An tới nhà chỉa súng bắt tui đi lên xã. Xã trưởng là 1 tên Bắc Kỳ răng hô mã tấu với khuôn mặt khắc khổ nhăn nheo như cái mền rách. Hắn đập bàn đánh phủ đầu với giọng Bắc đặc sệt:
- Mày có biết tội phản động làm việc cho CIA cũa Mỹ Ngụy nặng như thế nào không? Tội ác của mày lớn lắm. Mày có nợ máu với nhân dân.
- Thưa đồng chí xã trưởng ...
- Ai là đồng chí với bọn phản động như mày.
- Dạ thưa xã trưởng. Tui chỉ là lính kiểng gác kho ở Đà Lạt. Tui có bắn giết ai đâu?
- Tao có hồ sơ của mày. Đừng chối cãi nữa. Nhận tội đi. May ra được Đảng khoan hồng.
- Thưa Xã Trưởng, chắc là có người trùng tên, chứ tui đâu có làm gì như dậy.
- Giam thằng này lại. Đồ ngoan cố, mất dạy. Tuần tới đưa nó lên phòng Công An tỉnh để giải quyết.
Tui bị nhốt 8 ngày trước khi bị chuyển lên ty Công An tỉnh Cần Thơ. Khi vào gặp Trưởng phòng Công An, tui không dè đó là thằng Huân trong đội đá banh ngày nào. Nó ăn gỏi đu đủ bò khô và uống nước mía với tui sau các trận đá banh vài lần. Thêm nữa mỗi lần tui về thăm nhà, tui đều có mua đồ cho thằng Huân và cho dì Tám má nó. Tui cũng nói là làm lính kiểng trên Đà Lạt, khi nó hỏi.
Thằng Huân nhận ra tui ngay. Tui chỉ trả lời bằng những gì mà Xếp cũ của tui dặn nói. Tui đổ thừa là có người trùng tên. Nhờ thằng Huân dễ dãi, tui thoát nạn.
Tui đi cải tạo mấy ngày dành cho Hạ Sĩ Quan. Sau đó được "khoan hồng" về làm rẫy với gia đình ở Cồn Dừa.
Xã hội dưới tay đảng CSVN xuống dốc như xe hổng thắng. Ai cũng nghèo, đói, và khổ cực. Gia đình tui làm rẫy, cũng bữa đói, bữa no, nhưng đỡ hơn nhiều người. Tui lại bắn chim sẻ, vịt trời như hồi nhỏ. Tiếp tục bắt chuột đồng, bắt cá lóc hay cá trê dưới ruộng làm khô lén để dành cho những ngày mưa gió. Hai năm sau Thắm cho gia đình tui 1 tin vui là thằng con trai đầu tiên. Rồi năm sau nữa thì thằng thứ hai. Khi miếng ruộng duy nhất của gia đình bị sung công, Tía rầu rĩ sanh bệnh và ra đi năm sau đó. Mất đất trồng trọt, gia đình dọn về Ô Môn năm 1979. Vợ chồng tui làm công làm mướn bất cứ thứ gì ở chợ Ô Môn để kiếm tiền.
Đã 8 năm từ ngày rời Suối Dây, tui hổng có tin tức gì về Thiếu Úy Đức (TUĐ). Tình cờ năm 1983 khi đi mua bán đồ ở chợ Cái Răng, tui gặp Đại Úy Long (ĐUL) Quận Trưởng năm nào. ĐUL mới được thả về từ trại cải tạo trước đó 6 tháng, và còn đang bị quản chế. Đi đâu cũng phải xin phép và trình diện mỗi tuần. Thấy tình trạng ĐUL thảm quá, tui cho ổng 1 con khô mực và nửa ký gạo dấu trong sách tay. ĐUL nói là có gặp TUĐ trong tại cải tạo mùa thu năm 1977. Khoảng 2 năm sau, nghe nói là TUĐ vượt ngục rồi bị bắn chết ở gần biên giới Lào làm gương cho kẻ khác. ĐUL cũng cho biết là khi được thả, trên đường về ổng nghỉ 1 đêm tại quận lỵ ngày xưa vì không còn xe về Sài Gòn. Quận tiêu điều lắm. Tui hỏi về mấy người ở cuối quận kế bên con sông nhỏ. ĐUL nói là 2 căn nhà đó đã bỏ hoang, xiêu vẹo, không người ở. Nghe làng xóm nói là bà già (má cô Hân) đã chết và chôn trong ngôi mộ nhỏ sau nhà. Đứa con gái (cô Hân) thì biệt tăm. Hình như đã chết trôi vì người ta tìm thấy dép của cổ và cục xà bông ở bờ sông sau nhà. Tui nghe xong cảm thấy choáng váng như bị trúng gió. Hôm đó tui về nhà khóc. Vợ tui hỏi. Tui kể lại sự tình. Tội nghiệp vợ tui. Thắm làm 1 bàn thờ cho TUĐ trên nóc tủ kế bên bàn thờ của Tía và Má, và tối đó cúng 1 chén cháo trắng.
Làm ăn ở chợ Ô Môn khó khăn, gia đình tui mướn 1 miếng đất cách Ô Môn 20 cây số để trồng khoai mì và khoai lang. Tui dậy 2 đứa nhỏ làm bẫy bắt chuột đồng, làm ná bắn chim, ... Vợ chồng tui thì quen cảnh nghèo rồi. Chỉ tội 2 đứa nhỏ thiếu ăn và tương lai mù mịt. Nhiều đêm nóng nực hổng ngủ được, tui cứ nhớ lại những ngày tui ở Suối Dây. Nhớ TUĐ và nhớ cả người đã cứu hai thầy trò. Chỉ biết chắc lưỡi thở dài cho người vắn số.
Sau nhiều kế hoạch kinh tế đảng CS đưa ra đều thất bại, chính quyền thả lỏng và có ý muốn đi theo kinh tế thị trường tự do. Cuộc sống dân nghèo trở nên dễ thở hơn một chút. Gia đình tui bắt đầu nuôi heo để thanh toán số khoai lang ung thúi khi bán hổng hết.
Làm sao tui quên được buồi chiều hôm ấy. Đó là một buổi chiều đầu tháng Tư năm 1995, khi tui đang làm rẫy, ngăn nước không cho vào đất trồng trọt quá nhiều, thì Thắm ra rẫy gọi về nhà có khách. Khi về nhà thì thấy 2 người ăn mặc sang trọng có vẻ đàng hoàng. Tui không nhận ra người đàn bà, nhưng người đàn ông thì nhìn quen lắm. Sau vài giây ngỡ ngàng, người đàn ông nhìn tui và nói một cách ngậm ngùi trong nước mắt:
- Chú Sơn có nhận ra tôi không? ... anh Đức đây?
- "Hả, ... ôi trời, Thiếu Úy Đức, ... ông Phó!..."; Tui trả lời khi nước mắt bắt đầu ứa ra vì quá mừng.
- Đừng gọi như vậy. Gọi là anh hay anh Đức vì chú là em của tôi mà.
- Dạ, dạ ... ông Phó, à quên, ... anh Đức. Tưởng là anh đã ... Gia đình tui làm bàn thờ cho anh mười mấy năm nay.
- Thắm ơi, đây là anh Đức. Thằng Tân, thằng Hoàng, ra chào Bác Đức.
- Còn đây là bà xã của anh.
- "Dạ, chào chị. Dạ, chị tên gì?"; Tui hỏi.
- "Chú nhìn kỹ xem ai ? Cô Hân ở Suối Dây đó"; TUĐ trả lời.
Tui lặng cả người và đứng chết trân. Người ơn của tui bằng xương bằng thịt ngay trước mặt. Thời gian như dừng lại. Nước mắt bắt đầu chảy tràn trên mặt, và giọng nói lạc đi:
- Tui hổng có dè có ngày này... 20 năm rồi. Cám ơn anh chị ... đã nhớ đến tui... Tui mừng quá. Sao ... tới bây giờ anh chị mới tới ? Tui có nằm mơ hông ?
TUĐ lau nước mắt, rồi chậm rãi nói:
- Chuyện dài lắm. Sẽ kể sau. Bây giờ anh chị mời cả nhà đi ăn mừng. Tốn cả tuần đi kiếm cô chú đó.
* * *
Nghe anh kể lại chuyện trốn khỏi trại tù năm 1979, và bao nhiêu lần vượt biên hụt, tui nể quá. Chuyện chị giả chết trôi để trốn khỏi Suối Dây và những lần vượt biên bị bắt thì cũng ly kỳ quá trời. Rồi đến khúc hai người gặp lại nhau bên Mỹ, tui mừng như là chuyện của mình. Tui hãnh diện có được ông anh và bà chị dâu giỏi như vậy.
Mấy bữa sau, vợ chồng anh mướn xe đưa gia đình tui đi thăm Suối Dây. Trên đường về, có ghé Vũng Tàu tắm biển. Thấy thương bà xã và 2 đứa con tui quá. Lần đầu tiên vợ con tui được đi xe hơi, được đi ra khỏi Cần Thơ, được lên Sài Gòn, được đi Suối Dây, được ra tắm biển Vũng Tàu, được đi ăn nhà hàng, được uống nước ngọt cô ca cô la.
Trước khi về Mỹ, tui hổng dè vợ chồng anh lại giúp một số tiền lớn để mua một cửa hàng gần chợ Ô Môn buôn bán nông phẩm cho gia đình tui đỡ cực. Anh chị nói sẽ về thăm thường xuyên hơn.
Tối hôm đó tui thắp nhang cho Tía và Má. Tui thì thầm "Má ơi, Má luôn muốn là con có người anh để che chở cho con. Má ơi, điều Má muốn đã xẩy ra. Con cám ơn Tía và Má"
Như tui đã nói, cuôc đời tui như có sự an bài hay sắp xếp. Vào sanh ra tử bao lần, mà hổng sao. Duyên phận củng thẳng tắp. Khúc sau cuộc đời, cực thiệt, nhưng lại có thêm người anh nuôi và chị dâu hổ trợ. Bây giờ tui hổng có kỳ vọng nào hơn là sẽ có một ngày cái nhóm mắc dịch, khốn nạn, vô thần, vô đạo đức này tan rã cho tui nhờ và cho người dân bớt khổ.

Nguyễn Ẩn Danh