Monday, February 15, 2021

Tiểu đoàn 43/LĐ4 BĐQ & Vị Tiểu đoàn Trưởng sau cùng - Một Thời Để Nhớ - Hưng Việt

Tôi gởi bài nầy có đoạn nhắc về người bạn đồng môn với tôi thời trung học hiện sống ở Texas để nhớ lại tinh thần yêu nước  dũng cãm, hy sinh của chiến sĩ VNCH đã đi vào lịch sữ. Xin đươc tri ân và hảnh diện vì các Anh.
 
Hơn 36 năm trước, lúc 8 giờ 30 sáng ngày 29-4-1975, tại văn phòng của Liên đoàn trưởng Liên đoàn 4/BĐQ trong căn cứ Long Bình, Biên Hòa, có mặt ba anh Tiểu đoàn trưởng (Khang 42, Xẻn 43, và Quang 44)
Trung tá Sáu, Liên đoàn trưởng nói:
- Lý do mời ba anh lên đây, vì sáng sớm hôm nay Bộ Chỉ Huy BĐQ/Sàigòn có công điện cho Liên đoàn, phải cắt ra một Tiểu đoàn tăng cường ngay cho Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung (Hốc Môn). Ai trong các anh tình nguyện đi?
Một phút im lặng, không nghe ai trả lời. Trung tá Sáu tiếp:
- Vậy đề nghị cho các anh bốc thăm?
Vừa nghe bốc thăm, tôi phản ứng:
- Thưa Trung tá, nếu anh Khang, anh Quang không đi, tôi, Tiểu đoàn 43 tình nguyện đi.
Liên đoàn trưởng liền quyết định:
- Nếu vậy, anh Xẻn về chuẩn bị Tiểu đoàn ngay. Đến 10:30 sẽ có đoàn quân xa đến trình diện anh. Xuất phát càng sớm càng tốt. Khi rời đây và tới nơi, anh phải báo về Liên đoàn.
Tôi đáp nhận và chào Liên đoàn trưởng. Anh Khang và anh Quang chúc tôi may mắn.
Dù Tiểu đoàn trong tình trạng ứng chiến, nhưng với thời gian chuẩn bị cấp bách như vậy nên việc gom quân có ít nhiều khó khăn. Với quân số gần 300, tôi phân lên 25 xe GMC, lệnh ra Xa Lộ Biên Hòa trực chỉ hướng Saigon - Quang Trung. Bấy giờ hơn 11 giờ trưa ngày 29-4-1975.
Khi đoàn xe chạy đến ngã tư Thủ Đức và Trường Bộ Binh, tiểu đoàn bị một chốt Quân Cảnh chận lại bảo không thể vào Sàigon bằng lối Xa Lộ này vì đang đang có trận đánh nhau giữa hãng Xi Măng Hà Tiên và Cầu Tân Cảng. Đoàn xe buộc phải quẹo phải đi qua chợ Thủ Đức, nhưng đến gần Cầu Bình Lợi thì lại gặp một đơn vị Nhảy Dù kéo kẽm gai không cho qua. Tôi phải lên đầu đoàn nói chuyện với anh Đại đội trưởng ở đó và được phép qua cầu.
Có một điều khá may mắn cho tôi, nếu chọn Xa Lộ Đại Hàn đi Quang Trung ngay từ đầu hay khi gặp đơn vị Dù tôi quẹo phải hướng Lái Thiêu rồi quẹo trái qua Quang Trung, có thể chúng tôi đã bị VC phục kích hoặc tao ngộ chiến với họ và nhiệm vụ đi Quang Trung đã không đơn giản.
Sau khi qua Cầu Bình Lợi, qua Ngã Tư Xóm Gà, ra Đường Chi Lăng, vượt Ngã Tư Phú Nhuận, qua Bộ Tổng Tham Mưu tới Ngã Tư Bảy Hiền, quẹo phải 400 mét hướng Quang Trung, tôi ra lệnh cho đoàn xe ép sát lề phải dừng lại. Một cảnh tượng bất thường hiện ra, mới hơn 1 giờ chiều mà đường vắng tanh, không một bóng người qua lại, không một xe cộ lưu thông. Tôi bảo tài xế lái vào gần sát một xe bán thuốc lá lẻ bên đường và hỏi cô bán thuốc:
- Cô ơi, cho tôi hỏi thăm, tình trạng không bình thường thế này xảy ra từ lúc nào vậy cô?
Được cô trả lời:
- Thưa ông, lúc 10 giờ sáng mọi sinh hoạt đều bình thường, nhưng đến gần 12 giờ trưa thưa dần, thưa dần và vắng luôn như hiện nay.
- Cám ơn cô. Cô có nghe ai nói từ đây đến Vina Texco, đến ngã tư An Sương có Việt cộng không?
- Dạ, không nghe.
Kinh nghiệm nghề nghiệp cho tôi biết như vậy là đoạn đường từ đây đến Quang Trung không còn an ninh, đã có địch rồi. Tôi gọi ngay các Đại đội trưởng lên đầu máy gặp tôi và tôi ban một Lệnh hành quân ngắn gọn:
- “Sau khi nghe lệnh tôi, các anh cho lính để hết ba lô xuống sàn xe, súng đạn nón sắt mang vào người sẵn sàng tác chiến, đứng dọc hai bên thành xe, súng quay ra 2 phía. Khi di chuyển mỗi xe cách nhau tối thiểu 30 mét với tốc độ trung bình. Đang di chuyển nếu bị địch bắn, chúng ta vừa bắn trả lại vừa đi. Khi bị địch bắn, xe nào bị trúng đạn hư, lính tự động xuống xe tìm vị trí chiến đấu; đoàn xe trước chạy lên một đoạn, dừng lại, xuống xe, bố trí chờ lệnh; đoàn xe sau dừng ngay tại chỗ, xuống xe, bố trí chờ lệnh. Chuẩn bị xong các Đại đội báo cáo Tiểu đoàn và Đại đội đi đầu cho xe lăn bánh”
Sau đó đoàn xe lần lượt qua Hãng dệt Vina Texco, tại đây thấy có một đơn vị Nhảy Dù đang bố trí, rồi tới ngã tư An Sương, qua hậu cứ Biệt Kích 81. Binh sĩ trong đó giơ tay chào chúng tôi và họ đang ở các tháp canh, giao thông hào tư thế sẵn sàng chiến đấu. Đến ngã tư Trung Chánh đoàn xe quẹo phải vào cổng số 1 của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, nhưng bị kẽm gai và lính gác chận lại, phải trình Sự vụ lệnh và Công điện tăng cường họ mới mở cổng cho vào. Bấy giờ khoảng 2 giờ chiều 29-4-1975. Khi đoàn xe vừa đậu tại Vườn Tao Ngộ (chỗ tiếp tân của anh em quân dịch) thì bên ngoài Trung Tâm một đoàn xe Việt Cộng dẫn đầu bằng mấy chiếc T54 trên Quốc Lộ I, từ Hốc Môn xuống, cũng đến ngang Trung Tâm, bắn nhau đì đùng với các chốt của Quân Trường bên kia đường. Sau một chập bắn nhau, tiếng súng ngưng. Hai xe T54 đã vào chiếm Trường Dạy Lái Xe, sát Quốc lộ I.
Sau khi lệnh cho Tiểu Đoàn xuống xe bố trí chung quanh Vườn Tao Ngộ, tôi đến Trung Tâm Hành Quân của Quân Trường để gặp cấp chỉ huy. Tại đó tôi gặp được Đại Tá Huấn, Chỉ huy phó (nghe đâu Chỉ huy trưởng đã đi đâu rồi). Khi tôi chào trình diện và báo Tiểu đoàn BĐQ tăng cường đã tới nơi, Đại tá Huấn hỏi:
- Tiểu đoàn anh hiện giờ đang ở đâu?
- Thưa Đại tá, đang bố trí tạm tại Vườn Tiếp Tân.
- Anh có nghe súng nổ ngoài đường không? Xe tăng đã vào Trường dạy lái xe. Anh cho Tiểu đoàn ra đánh ngay mấy cái xe đó cho tôi.
- Thưa Đại tá, đánh là nghề của chúng tôi. Nhưng trước khi thi hành nhiệm vụ nầy, xin Đại tá cho tôi biết một số điều căn bản cần thiết “cách phòng thủ bố trí của Quân Trường, Lực lượng Địch Bạn chung quanh gần nhất, phương tiện tiếp vận yểm trợ…”
- Được, anh theo ông Trung tá này xuống hầm Trung Tâm Hành Quân.
Tại phòng này tôi được xem hệ thống phòng thủ của Quân trường, nghe thuyết trình lực lượng địch bạn trong vùng, vị trí xe tăng VC đang đậu. Nhìn lên bản đồ phối trí lực lượng, thấy chi chít ô chữ nhật màu đỏ (màu cuả địch), tôi hỏi ông Trung tá về lực lượng bạn. Trung tá đó trả lời:
- Chi Khu Trảng Bàng, Tiểu Khu Hậu Nghĩa đã mất mấy ngày nay, Chi Khu Hốc Môn vừa mất đêm qua.
Tôi hỏi tiếp:
- Thưa Trung tá, Sư đoàn 25 thấy có ký hiệu trên vùng đó, nay còn đó không?
Tôi được trả lời:
- Tất cả đã phân tán về hướng Lái Thiêu – Bình Dương. Coi như mình đã bỏ ngỏ mặt trận phía Trảng Bàng, Gò Dầu. Tiền quân của VC nay đã có mặt tại chợ Trung Chánh và một số điểm chung quanh trường. Quân Trường chúng ta bây giờ trở thành tuyến đầu.
Tôi hỏi ông thêm một vài vấn đề nữa:
- Bây giờ phương tiện yểm trợ gồm có những gì?
- Chỉ còn 2 khẩu 105 ly duy nhất tại Quận Gò Vấp và một số súng cối cơ hữu của Quân Trường.
- Không quân thì sao?
- Chắc chắn không có, không liên lạc được với Biên Hòa, hay ngay cả Tân Sơn Nhất.
- Tản thương có trực thăng không?
- Không có, sẽ dùng Ambulance của trường chở đi Bệnh Viện Cộng Hòa.
- Nếu cần thêm súng đạn, quân số thì sao?
- Không trở ngại, chúng tôi có 10.000 tân binh đang huấn luyện tại đây, sẵn sàng giao cho anh.
- Rất cám ơn Trung tá. Xin Trung tá cho người hướng dẫn tôi ra xem 2 cái xe tăng T54 đang ở đâu trên thực tế.
Trong khi ngồi đợi người tới, tôi mượn điện thoại báo cáo về BCH/BĐQ. Sẵn dịp tò mò, tôi gọi Tổng tham Mưu để dò hỏi tình hình, được anh trực máy trả lời:
- Tôi là Hạ sĩ quan trực máy, giờ nầy Sĩ quan từ cấp Đại Úy trở lên đi hết rồi, không ai có thẩm quyền trả lời ông.
Tôi hỏi lại, họ đi đâu và được trả lời ngắn gọn:
- Dạ, không biết.
Tò mò thêm, tôi gọi Biệt Khu Thủ Đô và nhận được câu trả lời giống hệt như vậy. Buông máy xuống, trong đầu tôi tự hỏi “Bỏ chạy hết rồi sao?” và kết luận “Rắn đã mất đầu”. Với cương vị Tiểu đoàn trưởng hiện tại tôi biết tôi nên làm những gì.
Mười phút sau có một anh Thiếu Úy đến trình diện tôi. Tôi mời anh ta ra xe ngồi ghế trưởng xa. Tôi lái, anh ta chỉ đường. Gặp tay gà mờ không biết rõ vị trí xe tăng địch, anh ta đã chỉ tôi lái tới quá gần chúng nó, đang đậu bên kia hàng rào núp sau mấy bụi tre gai. Thấy chúng tôi, chúng nổ một tràng AK chận lại. Thắng dừng xe, nhảy qua trái đứng sau một gốc cây bên lề quan sát kỹ, tôi thấy chúng có hai thằng ngồi trên nóc xe tăng đang ăn cái gì đó. Tài xế của tôi phải bò lên lùi xe lại thật xa, phần tôi theo hàng cây đi lui từng gốc. Trở lại gặp Đai tá Huấn, Chỉ huy phó, tôi nói:
- Thưa Đại Tá, tôi đã thấy rõ 2 cái xe VC rồi. Nó ở bên kia hàng rào. Cách chúng nó chừng 50 mét, lính mình bố trí dưới giao thông hào rất đông. Với địa hình nầy, nếu đánh tôi phải đưa Tiểu đoàn tôi ra bên ngoài Quân Trường. Chuyện đó tôi sẽ làm, bây giờ tôi đề nghị với Đại tá như thế này: Đại tá ra lệnh cho đơn vị nào ở gần xe tăng nhất, nhảy lên bắt sống chúng nó cho tôi.
- Anh nói đùa, chúng nó là tân binh.
- Thưa, tôi nói thật, giờ này không còn phân biệt tân binh hay cựu binh, vì khoảng cách giữa ta và địch quá gần, chỉ đánh nhau bằng lựu đạn, bằng tay và bắt sống chúng nó thôi. Tôi biết cấp chỉ huy tân binh ở đây là những sĩ quan ưu tú có nhiều kinh nghiệm chiến đấu từ các chiến trường đưa về. Nếu không thành công, tôi sẽ vào đánh ngay thay thế họ (Trả lời như vậy là một trường hợp rất đặc biệt trong đời binh nghiệp của tôi. Lẽ dĩ nhiên tôi có nhiều lý do, nhưng thiết nghĩ không cần phải viết ra đây).
Thấy tôi quả quyết, Đại tá Huấn nhường:
- Thôi đươc, Tiểu đoàn anh làm trừ bị và đợi lệnh tôi.
Tôi trở về vị trí đóng quân tạm ngồi chờ. Đến 7 giờ tối không nghe thêm lệnh gì, tôi lên gặp lại ông Huấn hỏi nhiệm vụ tiếp trong đêm, ông nói:
- Đêm nay anh vẫn trừ bị, nếu Quân trường bị tấn công, thủng chỗ nào anh lấp vào chỗ đó và quan trọng nhất là bảo vệ Trung Tâm Hành Quân của tôi.
Tôi trở lại Tiểu đoàn, họp các Đại Đội Trưởng phân công nhiệm vụ phòng thủ đêm và vào hệ thống truyền tin của Quân Trường để theo dõi diễn biến đêm đó bên trong cũng như bên ngoài Quân trường. Các tiền đồn báo cáo từ 10 giờ đêm đến sáng hôm sau, có tất cả 4 đoàn xe VC chạy ngang Quân Trường hướng về Sài Gòn, và tiền quân của chúng đã vào đến Ngã tư Bảy Hiền, tiến sát Bộ Tổng Tham Mưu vào khoảng 5-6 giờ sáng ngày 30-4.
Đến 8 giờ sáng, từ hàng rào phía Quốc lộ I, VC phát loa vào trường kêu gọi đầu hàng. Chúng nói đêm qua chúng không tấn công vì biết đây là một trường dạy lính. Nếu không cử người ra đầu hàng, 8:30 chúng sẽ tấn công. Tôi báo động Tiểu đoàn và chuẩn bị sẵn sàng phản công. Chúng tôi đợi, đợi, và đợi… Đến gần 10 giờ thì một anh Thượng Sĩ, phụ tá Ban 3 của tôi, hớt ha hớt hải chạy tới:
- Thiếu tá ơi, Tổng Thống Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng rồi!
- Ai bảo anh? Tôi hỏi.
- Đây nè, trong Radio nè. Anh mở chiếc Radio anh đang có trong tay cho tôi nghe.
Tôi như từ trời cao rơi xuống, không tin lỗ tai tôi vừa nghe một sự thật. Tôi phải cố nghe lại một lần nữa, rồi tự hỏi “Thế là thế nào? Cuộc đời, sự nghiệp và lý tưởng chiến đấu bảo vệ Miền Nam của mình đến đây phải chấm dứt hay sao?” Tôi bảo anh Ban 3 mang Radio đi chỗ khác. Tôi và Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn kéo lại Tượng Đài Quang Trung Nguyễn Huệ. Tôi bước lên hai bậc tam cấp ngồi xuống phía trước dưới chân Ngài. Thân Tâm dường như tự động chia tay, tôi ngồi đó như xác không hồn. Tình trạng nầy kéo dài gần 20 phút. Tôi tỉnh lại. Việc đầu tiên, nghe mấy cái loa truyền tin của tôi VC đã vào lải nhải kêu gọi đầu hàng, tôi bảo mấy anh mang máy tắt hết các máy truyền tin. Trước mắt tôi cảnh 10.000 tân binh quân dịch rã ngũ, súng đạn vứt lung tung, xe gắn máy đủ loại chen lấn ngược xuôi. Phải nói là Tiểu đoàn 43 của tôi rất kỷ luật, nằm yên tại chỗ, án binh bất động, không một Đại Đội Trưởng nào gọi hỏi tôi bây giờ phải tính sao, phải làm gì. Tôi giữ Tiểu đoàn trong tình trạng như vậy đến quá 12 giờ trưa và sau đó tôi vào Trung Tâm Hành Quân tìm Đại Tá Huấn xem ông ta đang làm gì.
Khi bước chân vào cửa phòng Chỉ huy phó, tôi thấy ông ngồi tại ghế của ông quân phục chỉnh tề, sau lưng cả chục người đứng hàng ngang, tôi đoán họ là sĩ quan trong Ban Tham Mưu của ông, tôi đưa tay lên chào và hỏi:
- Thưa Đại tá, bây giờ Đại tá tính sao?
Ông ta trả lời:
- Anh là đơn vị tăng phái, anh muốn làm gì làm. Chúng tôi sẽ có những lệnh thích hợp cho đơn vị sau.
Bực mình khi nghe ông nói, tôi đưa tay chào và nói,
- Đây là lần cuối tôi chào Đại tá, tôi sẽ không gặp lại Đại tá nữa.
Bước ra ngoài tôi gọi Đại Úy Nghĩa, Ban 3 của tôi, thuật lại lời nói của Đại tá Huấn vừa rồi, và hỏi anh có ý kiến gì không. Anh nói:
- Anh, Tiểu đoàn trưởng, anh làm gì thì làm tôi không có ý kiến.
- Thế thì anh nghe tôi quyết định đây. Vì danh dự, vì trách nhiệm với 300 sinh mạng của thuộc cấp, vì an ninh của tôi và của anh, tôi quyết định cho đơn vị rã ngũ.
Tôi bảo truyền tin gọi tất cả các Đại đội trưởng lên máy gặp tôi ngay. Từ Trung Tâm Hành Quân cách vị trí bố trí quân khá xa tôi ra lệnh họ:
- “Tất cả những gì của quân đội các anh cho lên đoàn xe hôm qua, những gì riêng tư cá nhân các anh mang theo và tìm đủ mọi cách tự túc về nhà. Tôi cho đơn vị tan hàng. Tôi chịu trách nhiệm. Chào tất cả các anh ”.
Cảnh rã ngũ của Tiểu đoàn diễn ra rất nhanh. Từ xa tôi thấy vẫn còn một số anh em binh sĩ chưa chịu đi, cứ lẩn quẩn quanh đoàn xe. Tôi nghĩ, nếu từ chỗ đứng tôi bỏ đi, sau nầy có dịp gặp lại họ, làm sao tôi chứng minh để họ tin giờ đó tôi vẫn còn có mặt với họ. Nhưng tôi tới gặp họ lúc nầy rất nguy hiểm. Biết đâu trong số họ có VC cài trong đơn vị chờ tôi tới “thịt” tôi để lập công. Do dự, ngại ngùng, nhưng tôi quyết định phải gặp họ một lần cho rõ mặt. Đề phòng tối đa, tôi bảo tài xế lái thật chậm, ngồi bên phải với khẩu M16 đạn lên nòng, mở khóa an toàn và sẵn sàng tự vệ. Cách họ 5-7 mét thấy họ không lộ vẻ gì nghi ngờ, tôi ra hiệu dừng xe. Để súng lại xe, tôi bước xuống đi tới họ, lên tiếng trước:
- Sao giờ nầy các anh chưa chịu đi khỏi đây?
Một số chửi thề, đáp trống không:
- Đ.M. nhục quá, chưa đánh đã đầu hàng, chết mẹ nó cho rồi.
Tôi nhắc lại, tôi khuyên các anh nên rời khỏi đây ngay.
- Ông đi đi, mặc kệ chúng tôi.
Tôi tiến đến gần 2 anh hung hăng nhất, bá vai họ và nói chậm rãi:
- Nếu giờ nầy các anh còn coi tôi như một đàn anh, tôi khuyên các anh nên tìm cách về nhà, ở đó cha mẹ và vợ con các anh đang chờ các anh.
- Thôi ông đi đi, nhục quá, sống sao nổi. Sống làm “đếch” gì.
- Này các anh, nếu hôm nay chúng ta thấy nhục, chúng ta cần phải sống hơn ai hết, vì nếu chúng ta tự sát chết, rồi nay mai có cơ hội rửa nhục thì lấy ai làm thay cho chúng ta. Các anh nghe lời tôi, về với cha mẹ vợ con đi, vì giờ này họ đang đợi các anh đấy.
Họ vẫn tiếp tục nói:
- Ông cứ đi đi, để mặc chúng tôi.
- Không, các anh phải đi trước rồi tôi mới đi, hay chúng ta cùng đi, tôi khuyên các anh.
Lần nầy có vẻ họ nghe lời, giọng dịu lại, nhưng họ đòi đốt đoàn xe trước khi chia tay. Tôi bảo để đó tôi lo và họ phân tán hai hướng gục đầu mà đi!
Còn lại 6 thầy trò chúng tôi là những người cuối cùng rời khỏi vườn Tao Ngộ. Đến cách cổng số 2 hướng Đài Phát Tuyến vài trăm thước chúng tôi phân tán chia tay nhau. Tôi và Đại Úy Nghĩa, Ban 3, đi chung. Đi bộ một đoạn đường dài chúng tôi chứng kiến nhiều cảnh tượng thật đau lòng. Không ngờ có ngày chúng tôi phải nhục như vậy. Đến 7 giờ tối hôm đó chúng tôi mới về tới Cư Xá Thanh Đa, nhà của tôi. Nghĩa ngủ lại với tôi một đêm. Sáng hôm sau (1-5) tôi đưa Nghĩa ra Bến Xe Miền Tây về Sóc Trăng, quê hương của anh.
Ba mươi sáu năm nay chúng tôi chưa gặp lại. Hiện giờ Nghĩa và gia đình đang định cư tại Atlanta, Georgia. Chắc Nghĩa chưa quên một ngày dài lịch sử nhiều tủi nhục ấy.
Qua những tình tiết vừa viết lại, tôi rút ra được vài điều:
- Nếu vì một lý do gì đó, sự di chuyển của Tiểu đoàn chậm lại 30 phút, chúng tôi và Việt cộng đã có cuộc tao ngộ không đẹp tại ngã tư Trung Chánh (Hốc Môn). GMC đụng đầu với T54. Không biết ai sẽ thắng ai, nhưng chắc chắn máu BĐQ đã phải đổ nhiều, anh em BĐQ đã phải hy sinh thêm vào giờ thứ 23 và số phận của Tiểu đoàn 43 cũng không phải như thế nầy.
- Tài lãnh đạo chỉ huy của tôi chỉ đáng được ngồi dưới chân Quang Trung Đại Đế thôi (và tôi đã làm như kể ở đoạn trên).
- Giờ phút cuối cùng, thuộc cấp tôi chửi thề, nói trổng với tôi, rồi gọi tôi bằng ông, tôi cho còn khá may mắn. Đây là cái giá phải trả cho một cấp chỉ huy không hoàn thành nhiệm vụ.
- Một số anh em Hạ sĩ quan ở lại quyết tự sát mà không thành vì sự xuất hiện can thiệp của tôi. Trong 36 năm qua nếu họ sống thuận lợi, hạnh phúc, chắc họ đã thầm cám ơn tôi vì nhờ tôi mà họ còn sống, ngược lại họ đã trách tôi một cách thậm tệ.
Nhưng với tôi duy nhất chỉ có một điều, nếu có một ngày nào đó trong những ngày còn lại của đời tôi may mắn được gặp lại họ, tôi vẫn hãnh diện là một đàn anh, một cấp chỉ huy không đến nỗi tồi, không đào ngũ, bỏ anh em.
 Giang Văn Xẻn

Sunday, February 14, 2021

Valentine Trong Di Sản Chiến Tranh

Quả thực Hiệp Chủng Quốc là đất nước phú quý sinh lễ nghĩa. Tháng Hai hàng năm là tháng của Tình yêu, bày tỏ tấm lòng của con người với con người. Tháng Hai, nhà văn gọi là tháng Tình yêu thăng hoa, tháng làm đẹp lại lòng thương yêu đã tàn lụi, làm mới lại mối tơ duyên đã phai màu.
Bây giờ nhập gia tùy tục, người Việt Nam tại Mỹ cũng Happy Valentine, và nhà viết bình luận cũng phải có đề tài về ngày tháng của tình yêu.Tại sao lại có Valentine vào tháng Hai mỗi năm. Nhiều câu chuyện lịch sử rất mơ hồ truyền tụng từ cả ngàn năm pha trộn giữa nguồn gốc tôn giáo và xã hội. Sau cùng hầu hết các nước Tây phương và Mỹ châu đều mừng lễ hội Valentine. Mời nhau bữa tiệc. Tặng hoa, trao thiệp viết lời yêu thương và giá trị nhất là những lá thư, những lời bày tỏ bằng chữ viết gởi cho nhau.
Trong nhiều chuyện Valentine từ thuở xa xưa, người ta có ghi lại một huyền thoại cảm động. Có chàng trai trẻ ở tù đã đem lòng yêu thương cô con gái của viên chúa ngục. Anh chàng tên là Valentine đã tự viết ra một tấm thiệp đầu tiên cho chính mình và ghi hàng chữ FROM YOUR VALENTINE. Thành ngữ này vẫn còn dùng trên các thiệp in bán ra hàng triệu tấm mỗi năm. Trong tấm thiệp còn có bức thư gởi người yêu thầm kín mà người tử tù để lại sau khi chết.Đó là năm 269 trước khi Thiên Chúa ra đời. Từ đó lá thư tình bất diệt của người tù Valentine mở đường cho lời bầy tỏ tình yêu vĩnh cửu tháng Hai, của mùa lễ hội Valentine.
Đối với quý vị, câu chuyện đã gợi ra được những kỷ niệm gì?Trong thế giới về cuộc sống của chúng ta, mỗi người một cảnh, mỗi người mang một mảnh đời khác biệt. Những cánh thiệp hồng, những lá thư tình thời học sinh, những bài ca tình thơ của lính. Bài Phượng Hồng tuyệt tác thi sĩ đã viết về cậu học trò có lá thư Valentine ngập ngừng đem tới lại đem về. Rồi những cậu bé lớn lên giữa thời binh lửa. Thư chiến trường đầy vơi nước mắt kéo dài 20 năm với những ngày hạnh phúc quấn khăn tang. Sau cùng, oan nghiệt nhất là thư từ trại tù cải tạo tràn đầy cay đắng trong những kỷ niệm vừa đau thương vừa huy hoàng của một thời đã qua.
Đó là câu chuyện Valentine trong di sản chiến tranh.Về câu chuyện những cánh thư Valentine của chiến trường Việt Nam thì Asia đã có cảm hứng làm ra một tác phẩm DVD phát hành năm trước.Tuy nhiên, những câu chuyện mà chúng tôi kể ra sau đây sẽ không bao giờ còn có dịp giới thiệu với bà con Việt Nam.

Cách đây 9 năm vào ngày 6 tháng Hai năm 2005, một cô gái Sài Gòn tên là Hoàng Hoa từ Việt Nam phổ biến cho người Việt hải ngoại qua diễn đàn Thủ Đức một tài liệu làm người đọc vô cùng xúc động. Đó là lá thư tình cảm 20 trang viết tay của chuẩn úy Trần Văn Quý.Lá thư của anh sĩ quan trẻ tuổi từ chiến trường Kontum chưa hề có nửa mối tình đầu viết cho cha mẹ và cho người chị gái tại Sài Gòn. Thư chưa bao giờ được gởi đi vì người ta chỉ tìm được trong túi quân phục của tử sĩ chết đúng vào ngày 6 tháng Hai năm 1974.Cô em gái nhỏ của gia đình đã cất giữ kỷ vật suốt 31 năm để phổ biến vào tháng Hai đầy tình cảm.
Tuy nhiên phải là người trong quân ngũ mới thực sự rung động vì những lời ghi lại trong lá thư hồi ký chiến trường của một chàng trai trẻ đi trả nợ binh đao.Chuẩn úy Quý ra trường Thủ Đức vào tháng 10 năm 1973, đã chọn về tiểu khu Kontum. Ngày 11 tháng 11 năm 1973, được giao chức vụ trung đội trưởng trung đội 3 đại đội 2 thuộc tiểu đoàn Địa Phương Quân Kontum, đóng bên bờ sông Đap La.
Chỉ vừa nhận đơn vị 3 giờ đồng hồ thì đơn vị giải tán, quân số chuyển qua đơn vị khác và anh chàng chuẩn úy Thủ Đức còn ngơ ngác với đầu tóc học trò đã trở thành sĩ quan thặng số đi theo tiểu đoàn hành quân, nhưng không có một người lính trong tay. Và cuộc đời binh nghiệp bắt đầu với những diễn tiến đau thương cười ra nước mắt. Tuy là sĩ quan nhưng vẫn còn lãnh lương trung sĩ theo quy chế sinh viên. Được chia gạo nhưng không có thực phẩm. Chuẩn úy Quý hết sức nhẫn nại, lóc chóc vác súng theo đơn vị như một tân binh thặng số. Từ quan đến lính, chẳng ai quan tâm. Chưa hề có kinh nghiệm nên cũng không chuẩn bị quân trang đi tác chiến trong rừng. Những lời anh viết trong thư rất chừng mực và bình thản. Anh kể chuyện xảy ra hàng ngày không hề có một lời than van. Anh không viết một chữ tuyên truyền ồn ào giữa ta và địch. Hết sức từ tốn và đơn giản, anh sĩ quan trẻ viết về những ngày tháng đầu đời quân ngũ để gởi cho chính mình, gởi cho cha mẹ và anh chị. Tác giả không bao giờ nghĩ rằng câu chuyện kể ra sẽ được chúng ta đọc lại hơn 40 năm sau. Tập bút ký dưới hình thức thư nhà tràn đầy yêu thương mà ngày nay chúng ta có thể gọi là Valentine của tình người.
Định mệnh đã đưa những người trai xa lạ đến sống bên nhau và cùng chết bên nhau trong một đơn vị rất tầm thường ở miền núi rừng xa thẳm gọi là Tân Cảnh, Kontum. Họ không phải là thiên thần Mũ Đỏ hay cọp biển Mũ Xanh. Tuyệt đối không có một chút gì là lãng mạn oai hùng.
Từ tháng 10 năm 1973, mặt trận Kontum đã được giải tỏa. Khói lửa trận mùa Hè đỏ lửa 72 đã tạm thời lắng dịu. Các đơn vị tổng trừ bị đã rút về. Chỉ còn lại địa phương quân cấp chi khu ngày đêm chống lại quân du kích và địa phương Cộng sản.Sau một thời gian đeo lon chuẩn úy mà sống như binh nhì, anh sỹ quan Thủ Đức nhận được lính để đóng vai trung đội trưởng. Trung đội của anh sau cùng có được 8 lính, trong đó có 2 lính thượng và 6 lính lao công đào binh vừa được thả từ quân lao Gò Vấp. Có một ông trung sĩ già làm trung đội phó. Đó là hoàn cảnh của anh thiếu úy Sài gòn 20 tuổi chưa hề ra trận, sẽ cầm trung đội 10 người để chiến đấu ở tuyến đầu Kontum, chặn đường Nam tiến của binh đoàn cộng sản.
Chuẩn úy Quý tả cảnh phải chiến đấu với núi rừng, đèo cao dốc thẳm và đói khát giá lạnh. Từ đỉnh đồi 945 thước cao, anh lính học trò chỉ huy lính đào binh ngó về thành phố Kontum mà nhớ Sài gòn. Nơi chân trời xa thẳm có cha mẹ, bạn bè và các cô gái hậu phương anh chưa hề tỏ tình.Xin đọc một đoạn trong lá thư của chuẩn úy Trần văn Quý:
“… trên đỉnh đồi 949m nhìn về thành phố Kontum con thấy nhớ nhà làm sao ấy. Ở đây mỗi ngày chỉ viết một trang vừa làm nhật ký vừa làm thư, và cũng là lúc đang suy tư về gia đình. Bây giờ chỉ có cách chờ ngày về dưỡng quân mới bỏ thư được. Chắc sau gần một tháng trời bặt tin ở nhà cũng trông thư con lắm. Nhưng vì chiến cuộc con cũng chẳng biết làm sao hơn, nếu thư liên lạc thường xuyên không được, thì sau ngày hành quân con sẽ gởi về nhà một lá thư dài thế này để bù lại những ngày gởi thư lẻ tẻ”…
Cho đến cuối năm 1973, trung đội 10 người của chuẩn úy Quý chạm súng lần đầu tiên lại là một trận đánh ngắn ngủi và đau thương hết sức. Đại đội cho lệnh chia trung đội làm hai, một nửa tung quân ra tiền thám và một nửa giữ vị trí. Giữa rừng già cây cối núi đồi chằng chịt, ông trung sĩ phó nằm cố thủ với 3 anh lính ba gai. Cậu chuẩn úy với 5 anh lính du côn và lính thượng đi mở đường. Bỗng nhiên có tiếng súng ầm ì phía trước, một anh lính của trung đội trúng đạn bị thương. Chuẩn úy Quý đứng sững như mơ ngủ. Anh lính thượng đeo máy lao vào bụi rậm. Tay lính xuất thân từ quân lao Gò Vấp la lên, thiếu úy nằm xuống. Rồi chợt nghe xa xa có tiếng của trung sĩ trung đội phó “ Chết rồi, bắn nhầm lính của ta rồi”
Chuẩn úy Quý dẫn lính đi một vòng rồi lại về chỗ cũ nên quân ta tưởng chạm địch rồi bắn nhầm. Bút ký kể lại chân thật không hề che dấu và cường điệu. Đây là những tài liệu chính xác nhất của chiến trường.Cho đến trận sau cùng, theo lời thuật của cô em gái ghi lại như sau:
“Name: Hoang Hoa. City: Saigon, Vietnam / Sent: Sun February 06/2005/21:02 Anh tôi là cựu sinh viên trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Anh đã hy sinh tại Kontum ngày 6 tháng 2 năm 1974. Kỷ vật còn lại tấm thẻ bài, vài tấm hình và một bức thư dài chưa kịp gởi, vì suốt thời gian hành quân không thể gửi thư về nhà được, kể cả kỳ tiếp tế vì máy bay có đáp xuống được đâu mà chuyển thư.Bức thư đó đã được tìm thấy trong túi áo của anh. Chiến hữu cùng đơn vị kể rằng quanh xác anh nằm vương vãi nhiều đôi dép râu. Tay anh còn nắm chốt lựu đạn. Một viên đạn xuyên đùi, nhưng viên xuyên sọ đã cướp đi mạng sống của anh khi tuổi đời chưa đầy 21. Suối Non Nước và đồi Tân Cảnh đã ghi lại dấu chân sau cùng của cố Thiếu Úy Trần Văn Quý.


Anh tôi đã hy sinh cho non sông, xứng đáng là trai nước Việt hào hùng, đem mồ hôi pha máu hồng viết thành sử xanh. Xin cho tôi gởi hình ảnh và bức thư lên trang web Thủ Đức hải ngoại để linh hồn anh được ấm áp bên bạn bè chiến hữu.”
Như vậy chuẩn úy Trần Văn Quý sau khi chết đã được truy thăng cố thiếu úy. Gia đình được lãnh lương chuẩn úy suốt 4 tháng từ khi ra trường đến khi tử trận. và thêm tiền tử tuất bằng 12 tháng lương cấp thiếu úy. Từ khi rời bỏ gia đình Saigon và quân trường Thủ Đức ra đi, anh Quý cứ mong ước và hứa hẹn nhưng chưa hề gởi được 1 đồng bạc tiền lương cho cha mẹ mua quà như đã viết trong thư.Và lá thư Valentine của tình thương gia đình chỉ được trao về cho thân nhân vào tháng 2 năm 1974 cùng với di hài tử sĩ khi anh đã chết sau hai lần nổ súng. Trận đầu tiên đánh nhầm quân ta. Trận thứ hai mới thực sự chạm địch tại chiến trường. Đó là trận cuối cùng gói trọn tình thương trong tấm thiệp Valentine thứ nhất. Lá thư Valentine bi thảm từ chiến trường.  Cũng như ngàn năm xưa, tác giả lá thư Valentine đã chết….                                                                                 

Bây giờ đến chuyện những lá thư Valentine có hậu Happy Ending.


Từ hơn 20 năm nay chúng ta vẫn nghe nói về chuyện tù cải tạo nhận thư nhà và gởi thư đi từ những miền thượng du Bắc việt. Những lá thư Valentine hết sức cay đắng đó bây giờ ở đâu. Ai là người nhận và ai là người gởi.
Thêm vào đó, khi tù được giải lao từ nơi này đến nơi khác, mỗi khi chuyển trại các anh ném những lá thư xuống bên đường, rơi vào đám dân và hy vọng có người nhặt được gởi về cho gia đình. Khi chuyển trại từ Bắc vào Nam đi ngang qua vùng Saigon, tù cải tạo đã ném xuống cho dân những lá thư hy vọng. Ai là người nhặt được. Ai người tìm đến nhà trao lại. Ngày nay ai còn lưu giữ được những lá thư như thế.Cuối năm 2008 tôi đã có may mắn gặp được một người con của cựu tù cải tạo đem đến món quà vô giá dành cho Viện bảo tàng. Những lá thư từ trại tù miền Bắc gởi về cho gia đình trong Nam, những lá thư từ Sài gòn gởi vào trại tù Yên Bái. Và một lá thư ném xuống đường để nhờ người dân miền Nam vô danh đã đem đến nhà và bây giờ còn lưu lại. Đó là những di vật Valentine huyền diệu nhất của cuộc đời và không thể có kỷ vật nào so sánh được.
Ông bạn chiến binh cựu tù cải tạo đã gấp và xếp những lá thư hết sức cẩn thận dành cho chúng tôi giữ làm di sản tình yêu trong chiến tranh. Những hàng chữ rất nhỏ trên tờ giấy xám như bầu trời của chế độ tù đày.Lời lẽ thương yêu của chồng của cha gởi về nhắn nhủ vợ con. Viết sao cho gia đình hiểu được những ẩn ý dưới hàng chữ thân yêu.Thư con trai 16 tuổi lớn lên trong chế độ cộng sản mang lý lịch ngụy quân đã hứa với người cha tù tội sẽ thay cha lo cho tương lai gia đình.Thư rơi bỏ trên đường được sản xuất rất nhiều với ghi chú rõ ràng dành cho tấm lòng vô danh nhặt được sẽ đem giao tại nhà. Một trong những thông điệp tình yêu huyền diệu đến tay người nhận.Tất cả những kỷ vật chúng tôi nhận được do trung tá tù cải tạo gửi đến gồm có chiếc áo tù rách vá nhiều chỗ gấp lại hết sức cẩn thận. Chiếc áo đã sống với người tù Vương Đình Viên Hồng trên 30 năm. Kèm theo là 7 lá thư trao đổi trong gia đình có cả lá thư do ân nhân nhặt được trao về địa chỉ tại Sài Gòn. Có lá thư đứa con trai của ông, 16 tuổi, Vương Bá Quốc Hùng viết cho cha từ Phú Nhuận ngày 6 tháng 3 năm 1981 với gói quà đầu tiên. Thư gửi cho K 9 HT:AH.118-NT.Cháu báo tin một vài thân nhân ở nhà ta đã di chuyển về Hà Nội, đến nơi bình yên, con cũng muốn đi nhưng chưa có điều kiện. Đọc thư biết ngay là báo cáo vượt biên thành công. Đặc biệt lại có 2 sợi dây dù Việt Cộng đã dùng để trói anh bạn tù Lê Đức Thịnh khi xử bắn tại Long Giao 1976. Hai sợi giây này đã được ông Viên Hồng đem theo suốt những năm cải tạo từ Nam ra Bắc và trở về. Tài liệu này sẽ được lưu giữ dưới tiêu đề Valentine từ Yên Bái đến Sài Gòn.
Những con người Việt Nam trong chiến tranh đã gởi thông điệp Valentine yêu thương cho nhau bằng cả mạng sống, bằng cả cuộc đời tù tội. Cách gởi đã nhiệm màu mà lời thương yêu chân thành còn mầu nhiệm hơn biết bao nhiêu. Đó là chuyện những lá thư tình Valentine của quá khứ.
Còn chúng ta ở đây, bây giờ, trong mùa Valentine ở xứ sở của thiên đường Mỹ quốc đang thời kỳ khó khăn. Xin hãy viết cho nhau những thông điệp đẹp đẽ một lần. Để khỏi phụ lòng con người sáng tạo mở đường viết thiệp tình thương như anh chàng tử tù tên Valentine hơn hai ngàn năm trước. Như thiếu úy Thủ Đức Trần Văn Quý 40 năm xưa trong rừng núi Kontum và như người tù lao cải Vương Đình Viên Hồng viết từ trại tù Yên Bái trong những năm đầu thập niên 80.
Hãy viết lời yêu thương ngay từ California cho những người ngồi bên cạnh ta. Một lần. Và xin đừng gửi thông báo cho tôi những lời mắng chửi qua lại giữa anh em làm hư hỏng cả chữ nghĩa tổ tiên ông bà để lại từ ngàn xưa.
Hôm nay, nhân ngày Valentine với ý nghĩa rộng hơn tình yêu đôi lứa, nhân danh tình thương của con người với con người, tác giả xin gửi hoa hồng cho cháu Trần Hoàng Hoa, em gái của cố thiếu úy Thủ Đức Trần Văn Quý, hiện còn ở Sài Gòn. Xin gửi hoa hồng cho người tù cải tạo Vương Đình Viên Hồng ở Virginia và xin gửi hoa hồng cho cháu Vương Bá Quốc Hùng ở San Jose. Cậu bé 16 tuổi ngày xưa ở Phú Nhuận, cũng muốn đi nhưng không có điều kiện. Phải chờ đến khi bố về mới có vé HO bơi thuyền đến bến tự do.
Happy Valentine cho mọi người.

Và Happy Valentine cho nhà tôi với 65 năm tình Bắc duyên Nam, một đóa hồng vàng

Giao Chỉ, San Jose

Friday, February 12, 2021

VALERIE ANDRE PHI CÔNG TRỰC THĂNG TẢN THƯƠNG Bay Vào Vùng Lửa Đạn Cứu Chiến Hữu Jon Welte

  

Trong tháng Tư năm 1944, quân đội Nhật Bản chiếm đóng Miến Điện (Burma) bắn rơi một phi cơ liên lạc Stinson đang chở ba binh sĩ người Anh bị thương ra khỏi khu vực nguy hiểm. Viên phi công và cả ba người lính Anh đều sống sót khi phi cơ rơi, nhưng vị trí rơi nằm sau phòng tuyến của địch (Nhật Bản), xa xôi, rừng rậm, hiểm trở, nguồn hy vọng được cứu thoát của họ rất mong manh, ngoại trừ một kỹ thuật mi đã được xử dụng nơi tiền tuyến.

Bay thử trực thăng Sikorsky YR-4B, phi công Carter Harmon, phi đội Cảm Tử số 1, Lục Quân Hoa Kỳ (sau này không quân mới tách ra thành một quân chủng) bay đến vị trí phi cơ lâm nạn để cứu viên phi công và ba người lính Anh. Lúc đó kỹ thuật trực thăng vẫn chưa được tân tiến, hoàn hảo như hiện nay, vị trí phi cơ rơi nằm trên một cao độ, nhiệt độ nóng (rừng nhiệt đới), nên Harmon chỉ đem ra được mỗi lần một người. Trong thời gian hai ngày, Harmon đưa họ đến một phi đạo gần nhất để phi cơ có cánh đưa đi bênh viện, Harmon sau đó được ân thưởng huy chương Cánh Bay Thập Tự Xuất Sắc.

Những phi công trực thăng đầu tiên, được xử dụng di tản thương binh. Trong thế kỷ 20, ngành hàng không đã tìm được giải pháp di tản thương binh, thường dân từ vùng hành quân, nơi xẩy ra tai nạn đến bệnh viện (nơi điều trị). Mặc dầu với sự tiến bộ ngành y khoa, nhưng vẫn cần phương tiện để đưa người thương binh, bệnh nhân đi đến bệnh viện.

Ít lâu sau trận thế chiến Thứ Hai, Đại Úy (nữ quân nhân) Valerie Andre, một vị bác sĩ trong quân đội Pháp phải đối diện với những khó khăn tương tự, trong nỗ lực cứu chữa thương bệnh binh ở Đông Dương (Việt, Miên Lào). Là một phi công đầy kinh nghiệm, Đại Úy Andre nhận thức rằng, trực thăng có thể trả lời việc di tản thương binh, bà ta quay trở về Pháp học lái trực thăng và mua hai chiếc trực thăng Hiller 360 của hãng máy bay Hiller Aircraft Corporation gửi sang Đông Dương. Trong vòng ba năm, Đại Úy Andre đã bay hơn 100 phi vụ chiến đấu, nhiều chuyến dưới hỏa lực của địch, bay vào chiến trường di tản thương binh. Với tinh thần hy sinh, dũng cảm cao độ, Valerie Andre được thăng lên cấp Tướng và nhận lãnh huy chươg Bảo Quốc Huân Chương (của Pháp) cho những công lao của bà đối với nước Pháp.

Tong khi đó Á châu, Hoa Kỳ tiếp tục phát triển kỹ thuật trực thăng cho các nhiệm vụ tải thương. Trong trận chiến Hàn Quốc, Lục Quân cũng như TQLC Hoa Kỳ đều công nhận, điạ thế hiểm trở, rừng núi, đường xá không tốt ở Hàn Quốc, phương tiện trực thăng như chiếc Hiller UH-12 (biến cải từ Hiller 360) và Bell 47 được trao nhiệm vụ di tản thương binh từ chiến trường về bệnh viện. Những trực thăng đó đã di tản khoảng 20000 thương binh trong suốt trận chiến Hàn Quốc (series show MASH trên TV). So với trận thế chiến thứ Hai, trực thăng đã cứu sống được gần một nửa số thương binh. 

Kỹ thuật trực thăng vẫn tiếp tục phát triển, khi Hoa Kỳ đem quân sang tham chiến trên chiến trường Việt Nam, khoảng mười năm sau, loại trực thăng Bell UH-1 Iroquois hay “Huey” đã thay thế các loại trực thăng cũ. Động cơ trực thăng Huey mạnh hơn để có thể chở một trọng tải lớn, nặng nề hơn các loại trực thăng Hiller, Bell, Sikorsky. Hơn nữa, bên trong trực thăng Huey đủ rộng để cho thương binh nằm bên trong thay về cột chặt bên ngoài, điều này rất quan trọng, bên trong trực thăng, y tá có thể làm thủ tục cấp cứu khẩn cấp cho thương binh trước khi đến quân y viện. Loại trực thăng Huey đã di tản hơn 100000 thương binh Hoa Kỳ trong suốt cuộc chiến Việt Nam, giảm con số tổn thất xuống một nửa so với trận chiến Hàn Quốc (1950-1953).

Đến năm 1969, số quân nhân (có lẽ họ chỉ nói người Hoa Kỳ) bị thương và con số tử trận trong vùng Đông Nam Á châu (Việt, Miên, Lào) ít hơn số người Hoa Kỳ tử nạn vì xe cộ trên các xa lộ ở Hoa Kỳ. Điều này cho thấy chương trình di tản bằng trực thăng đến các bệnh viện có thể cứu mạng nhiều thường dân trong thời bình (thực ra tất cả các thời đều có thể dùng phương tiện di tản người bị thương nặng bằng trực thăng). Ý kiến đó được áp dụng trong tiểu bang Mississippi năm đó (1969), mua ba trực thăng Hiller FH-1100 (của Pháp có lẽ rẻ hơn đồ made in USA) để chuyên chở bệnh nhân, những người bị nặng đến bệnh viện. Chương trình này rất thành công, cứu sống được nhiều người. Trong năm 1970, số bệnh viện xử dụng trực thăng tản thương tăng lên nhiều lần so với năm trước (1969), và trở thành chuyện bình thường.

Thursday, February 11, 2021

Valérie André French Medivac Pilot Flew Into Enemy Fire For Rescues

Helicopter Medical Evacuation
By Jon Welte

In April 1944, Japanese forces in occupied Burma shot down a Stinson liaison aircraft that had been carrying three wounded British soldiers to safety. The pilot and all three passengers survived the downing, but their location behind enemy lines in remote and rugged terrain would have permitted little opportunity for their rescue—except for the presence of a new technology at the front. Flying an experimental Sikorsky YR-4B helicopter, pilot Carter Harmon of the US Army’s First Air Commando Group flew to the crash site to rescue the downed pilot and soldiers. The early helicopter’s performance limitations, combined with hot-and-high conditions at the crash site, limited Harmon to carrying only a single passenger at a time. Over two days Harmon, who later received the Distinguished Flying Cross, ferried the men one by one to a nearby landing strip where a larger fixed-wing aircraft flew them out to safety.

These pioneering flights were the first use of a helicopter for medevac, or medical evacuation. Throughout the first half of the 20th century, aviation promised a solution to a vexing problem—transporting injured soldiers and civilians from combat zones and accident sites to medical facilities. Rapid advances in medicine meant that casualties provided with prompt attention were far more likely to survive, but all too often help was a long and difficulty journey away.

Shortly after World War II, Captain Valerie Andre, a doctor serving in the French Army, faced much the same situation in her efforts to treat soldiers in French Indochina (modern day Vietnam, Cambodia and Laos). An experienced airplane pilot, Capt. Andre realized that the helicopter provided a ready solution to the problem of medical evacuation. She returned to France to earn a helicopter rating and arrange for the purchase of two Hiller 360 helicopters, which she had shipped to the front lines. Over a period of 3 years Capt. Andre flew over 100 combat missions, some under enemy fire, to insert herself into areas with wounded soldiers in need of treatment and/or to evacuate casualties to proper medical facilities that might have been hours or even days away by surface transportation. Andre chose the Hiller 360, manufactured at the Menlo Park factory of the Hiller Aircraft Corporation, for its simplicity and reliability. The aircraft was easy to maintain in the field and, crucially, could carry stretchers mounted externally for the transport of seriously wounded patients. Valerie Andre was ultimately promoted to general and received the National Order of Merit among other decorations in recognition of her service to France.

Elsewhere in Asia, the United States further developed the role of helicopters for medevac operations. During the Korean War the US Army and Marine Corps were similarly bedeviled by rugged terrain and poor roads. Helicopters such as the Hiller UH-12 (derived from the Hiller 360) and Bell 47 were tasked with transporting wounded soldiers to medical facilities. These helicopters evacuated an estimated 20,000 wounded servicemen during the war. By the end of the Korean War the fatality rate for casualties wounded in battle had been cut nearly in half compared to World War II due largely to developments in medevac procedures and technology.

Helicopter technology continued to advance, and when the United States joined the Vietnam War some ten years later the mission had been largely taken over by the new Bell UH-1 Iroquois, universally known as the “Huey”. Powered by turbine engines and able to carry heavier loads than earlier piston-powered Hiller, Bell and Sikorsky aircraft, the UH-1 could carry patients internally rather than strapped to the helicopter’s exterior. This made it possible for medical personnel to begin basic treatment while the patient was in the air prior to reaching the medical center. Over one hundred thousand US soldiers were evacuated via medevac during the Vietnam War, and the ability to provide treatment in the air caused the fatality rate to fall in half again compared to the mid-1950s.

By 1969, soldiers wounded in action in Southeast Asia had lower mortality rates than drivers and passengers involved in serious automobile accidents on American highways, suggesting that a medevac program could provide lifesaving support to civilians in peacetime. A pilot effort to evaluate helicopter medical evacuation services was introduced that year in Mississippi. Three Fairchild Hiller FH-1100 helicopters were purchased and operated to transport patients to medical facilities in cases of extreme need. The program was deemed a success, and throughout the 1970s medevac helicopters and helipads at major hospitals grew increasingly common.

Today, modern medevac operators continue the tradition of using helicopters to quickly and safely transport individuals with serious injuries or critical illnesses directly from incident sites to medical centers able to provide life-saving treatment. Stanford Life Flight, a local operator, embodies the best practices in use for civilian medevac helicopter operations. An Airbus Helicopters EC-145 allows operations in all weather conditions. The aircraft’s raised tail boom and rear clamshell doors permit stretcher loading directly into the rear of the aircraft. Specially-trained flight nurses provide in-flight emergency care comparable to or better than what a ground-based emergency medical technician could provide, and medical centers around the San Francisco Bay area train to operate with Life Flight to receive patients requiring urgent and immediate attention. The Bay Area also hosts medevac resources of the uniformed services, with United States Coast Guard Air Station San Francisco operating its Eurocopter HH-65 helicopters from San Francisco International Airport, and the California Air National Guard’s 129th Rescue Wing at Moffett Field in Mountain View flying Sikorsky HH-60s along with fixed-wing Lockheed C-130 tanker aircraft.

The Hiller Aviation Museum’s collection preserves glimpses of the early development of medical evacuation flights, while San Carlos Airport supports medevac operations in the present day. A Hiller 360 similar to those first flown by General Andre is displayed in the main Gallery, and a Hiller H-12 configured as a US Army medevac aircraft is suspended from the Gallery’s ceiling. San Carlos Airport serves as an essential waypoint for modern medevac aircraft, with Stanford Life Flight and the US Coast Guard frequent visitors for both training and operational missions.

The exploits of General Andre feature prominently in the Museum’s new Women in Aviation exhibit, which documents the exploits of female aviators from the early 20th century through the modern day. On Saturday, January 14th the Hiller Aviation Museum will dedicate this new exhibit and open it to the public. Come join the festivities and celebrate an important dimension in the history of aviation.

Resources

Andre, Valerie. Madame le General, 1988.

Born21 April 1922 (age 98)
Strasbourg, France
AllegianceFrance France
Service/branchFrench Army
Years of service1948 - 1981
RankMédecin Général Inspecteur
AwardsLégion d'honneur
ordre national du Mérite
Croix de guerre 1939-1945
Croix de guerre T.O.E
Croix de la Valeur Militaire
Médaille commémorative d'Indochine
Médaille de l'Aéronautique
Croix du Combattant Volontaire
Médaille de Vermeil du service de santé

Valérie André (French pronunciation: [valeʁi ɑ̃dʁe] (About this soundlisten); born 21 April 1922, in Strasbourg) is a veteran of the French resistance, a neurosurgeon, an aviator and the first female member of the military to achieve the rank of General Officer, in 1976, as Physician General. In 1981, she was promoted to Inspector General of Medicine. A helicopter pilot, she is the first woman to have piloted a helicopter in a combat zone. She is also a founding member of the Académie de l'air et de l'espace.[1]

As a member of the military, she is not addressed as "Madame la Générale" (a term reserved for spouses of generals) but as "General".[2]

She started as a Medical Captain in Indochina in 1948, already a qualified parachutist and pilot, in addition to being an army surgeon.[3][4] While in Indochina, she realized that the most difficult part of her duties was retrieving the wounded, who were often trapped in the jungle. She returned to France to learn how to pilot a helicopter, then flew one to Indochina. From 1952-1953, she piloted 129 helicopter missions into the jungle, rescuing 165 soldiers, and on two occasions completed parachute jumps to treat wounded soldiers who needed immediate surgery.[5][6]

One typical mission occurred on 11 December 1951, when casualties were in urgent need of evacuation from Tu Vu on the Black River. The only available helicopter, stationed near Saigon, was dismantled, flown to Hanoi by a Bristol Freighter and reassembled. Captain André then flew into Tu Vu despite heavy mist and anti-aircraft fire. There, she triaged the casualties, operated on the most pressing cases and then flew the urgent wounded back to Hanoi, two at a time. Later, she was put in command of a casualty evacuation flight.

She continued in Algeria as a Medical Commander in 1960, where she completed 365 war missions. She rose to the rank of Medical Lieutenant Colonel in 1965 then to Medical Colonel in 1970. She had a total of 3200 flight hours, and received 7 citations of the croix de guerre.

She has written two collections of memoirs : Ici, Ventilateur! Extraits d'un carnet de vol. (Calmann-Lévy, 1954) and Madame le général (Perrin, 1988).

She is one of eight women to hold the Grand-croix (Great Cross) rank in the Legion of Honour, with Germaine Tillion, Geneviève de Gaulle-Anthonioz, Jacqueline de Romilly, Simone Rozès, Christiane Desroches Noblecourt, Yvette Farnoux et Gilberte Champion. She is the aunt of politician André Santini.

Decorations

French
Foreign decorations

Trận Khe Sanh 1968

Trận Khe Sanh 1968 - phần 1

Hành Quân Lam Sơn 207A (Pegasus ) từ 1/4 đến 12/4/1968

Căn cứ Khe Sanh một tiền đồn đèo heo hút gió ở vùng cực Bắc của Việt Nam Cộng Hòa, tọa lạc trên một trảng cao của ngọn núi cao nhất vùng Đông Trị trong dảy Trường Sơn, cạnh sông Rào Quan, một chi nhánh của Sông Quảng Trị, bao quanh bởi núi đồi và cây rừng trùng điệp. Phía Bắc và Tây Bắc có 4 ngọn đồi án ngữ là 881 Bắc, 861, 558 và 881 Nam. Các ngọn đồi này được dùng như là các tiền đồn để bảo vệ căn cứ cũng như quan sát để xác định các vị trí pháo và phòng không của địch.

Khe Sanh chỉ cách biên giới Lào-Việt chừng 6 miles (10 km) trên con đường số 9 chạy theo hướng Đông-Tây nối liền Đông Hà thuộc tỉnh Quảng Trị, ngang qua Cam Lộ, Cà Lu, xuyên qua biên giới Lào-Việt tới tận Savannakhet bên Lào. Căn cứ Khe Sanh cách vùng Phi Quân Sự 14 miles (23 km) về phía Nam.


Bản đồ vùng Khe Sanh của Trần Đổ Cẩm

Trận Khe Sanh 1968 - phần 2

Khi xưa, vì thuộc địa Lào nằm trong đất liền nên người Pháp xây dựng đường số 9 để thông thương ra vùng bờ biển Việt Nam. Trong cuộc chiến Việt Nam, đường số 9 là trục lộ chiến lược quan trọng được Cộng quân xử dụng để xâm nhập người và vũ khí từ bên Lào vào các tỉnh cực bắc Việt Nam Cộng Hòa.

Về phương diện hành chánh, Khe Sanh thuộc quận Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị với quận đường đặt gần làng Khe Sanh. Về mặt quân sự, Chi Khu Hướng Hóa do một Đại Úy chỉ huy, gồm chừng một đại đội Địa Phương Quân (ÐPQ) và Nghĩa Quân (NQ) cùng một số cảnh sát. Thông thường có thêm một Tiểu đoàn thuộc Trung Đoàn 2, Sư Đoàn 1 Bộ Binh tăng phái hoạt động trong vùng cùng một Pháo Đội 105 ly với 2 khẩu đặt tại sân bay Khe Sanh và 2 khẩu đặt tại Làng Vei.

Sau này, vì tình hình an ninh không đuợc khả quan nên Quận Hướng Hóa được di chuyển về vùng Cùa gần căn cứ Mai Lộc.

Về dân cư, vì là vùng đồi núi hoang dã, khí hậu khắc nghiệt nên chỉ có chừng trên ngàn người Việt cư ngụ, đa số là thân nhân và gia đình nhân viên, binh sĩ phục vụ tại chi khu Hướng Hóa. Sắc tộc thiểu số Bru đông hơn, tổng cộng chừng 50,000 người sống rải rác trên các đồi, núí dọc biên giới Lào, nhưng qui tụ khá đông đảo tại hai làng Khe Sanh và Làng Vei dọc đường số 9. Cũng như những sắc dân thiểu số khác như Rhadê, Hrê v.v... tại miền Trung và Bắc Việt Nam, giống Bru thuộc chủng loại Mã Lai- Polynesia nên đen đúa và khá lực lưỡng.

Tuy đường số 9 chỉ là một trục giao thông nhỏ, coi như bị bỏ hoang từ lâu, nhưng khu vực này lại là một chiến trường quan trọng, nơi xảy ra nhiều trận đánh lớn. Lý do vì con đường này dẫn sang Lào, giao tiếp với đường mòn HCM, lại nằm trong vùng đồi nuí hiểm trở nên rất thuận tiện cho quân Bắc Việt đưa người và vũ khí xâm nhập các tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên. Để ngăn chận đối phương, người Mỹ đã lập hàng rào điện tử McNamara theo hình vòng cung dọc theo mặt Bắc đường số 9, hướng Đông kéo dài từ Cửa Việt tới Khe Sanh gần biên giới Lào.

Như vậy, Khe Sanh là điểm cực Tây của hàng rào Mc Namara nằm trong phần đất Việt Nam, giữ nhiệm vụ thu thập tin tức tình báo kỹ thuật và chiến lược của quân lực Mỹ nhắm vào các hoạt động di chuyển, xâm nhập của các đại đoàn chính quy CSBV cơ động sát vùng Bắc Vĩ Tuyến 17 và phía Tây biên giới Việt Lào cũng như trên lãnh thổ Lào. Thủy quân lục chiến Mỹ có 3 Tiểu đoàn thuộc Trung Đoàn 26 đóng quân trong căn cứ Khe Sanh . Đó là các Tiểu Đoàn 1, 2, 3 và Tiểu Đoàn 13 Cơ giới cùng một đơn vị Tình Báo chiến lược.


Trận Khe Sanh 1968 - phần 3

Năm 1968 Khe Sanh trở thành một địa danh nổi tiếng được nhắc nhở đến nhiều nhất. Đó là thời điểm của Trận Chiến Tết Mậu Thân khi Việt Cộng khởi đầu chiến dịch tổng tấn công trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòạ. Trong chiến dịch này, 20,000 bộ đội Bắc Việt đã được huy động để bao vây 6,000 Thủy Quân Lục Chiến HK cùng Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân VNCH. Nhưng Khe Sanh đã chẳng thất thủ.

Trận chiến kéo dài 77 ngày và Cộng quân hứng chịu hơn 10,000 tổn thất. Ngày 19/1/1968 Một đơn vị TQLC Mỹ tảo thanh vùng đồi 881 Bắc đã đụng độ dữ dội với cộng quân. Chiều ngày hôm sau một Trung Úy CSBV tên Lã Thanh Tòng, Đại đội trưởng pháo đội 14 phòng không thuộc trung đoàn 95/SĐ325 về đầu thú, và tiết lộ kế hoạch tấn công căn cứ Khe Sanh. Trung Úy Tòng cho biết đêm nay Bắc quân sẽ mở cuộc tấn công lên các ngọn Đồi 861 và 881-Bắc. Ngoài ra, người tù binh cũng tiết lộ rằng hai sư đoàn 304 và 325C của Bắc Việt đã vạch sẵn kế hoạch đánh chiếm căn cứ Khe Sanh.

Ngày 20/1/1968 đúng như lời tiết lộ của Trung Úy Tòng, nửa đêm hôm đó sau nửa giờ pháo kích, lực lượng CSBV khoảng 300 cán binh xung phong lên đồị tấn công vào căn cứ. Nhưng lực lượng trú phòng Đại Đội K/3/26 đã chuẩn bị sẵn sàng tác chiến phản công. Trận đánh kéo dài đến 5 giờ 30 sáng, Cộng quân rút lui để lại 47 xác. Phía bên Đại Đội K/3/26 có một binh sỉ TQLC bị tử thương.

Sáng ngày 21/1/1968, căn cứ bị pháo dữ dội hằng ngàn quả đạn, kho bom dự trử bị nổ tung, nhiều phi cơ trực thăng bị hư hại, phi đạo ở Khe Sanh với chiều dài 3,900 feet (1,188 m) bị cày xới lung tung, rút ngắn lại chỉ còn 2,000 feet (609 m) đài kiểm lưu bất khiển dụng, nhiều dụng cụ quan trắc khí tượng bị hư hỏng...Tình hình trở nên vô cùng nghiêm trọng.

Ngày 22 tháng 1/1968, trước tình hình nguy ngập. Tiểu Đoàn 1/9 TQLC Hoa Kỳ được trực thăng vận đến tăng viện cho Khe Sanh. Đây là một đơn vị thuộc Trung Đoàn 9 đã nổi danh trong trận đánh tại Côn Thiện (Cồn Tiên) gần vùng phi quân sự vào năm 1967 vừa qua

Ngày 25/1/1968 Thiếu Tướng J.J.Tolson, Tư lệnh Sư Đoàn 1 KBKV, bắt đầu soạn thảo kế hoạch chuẩn bị một cuộc hành quân để giải tỏa căn cứ Khe Sanh.

Ngày 27/1/1968 Tiểu Đoàn 37BĐQ-VNCH, được không vận đến để tăng viện thành 5 Tiểu đoàn họp thành lực lượng phòng thủ căn cứ. TĐT/TĐ37BĐQ là Đại Úy Hoàng Phổ. Như vậy, ngoài 6,000 TQLC Hoa Kỳ và một Tiểu Đoàn thiện chiến Biệt Động Quân Việt Nam, Khe Sanh lại được phòng thủ bởi hỏa lực pháo binh gồm một pháo đội súng cối 106 ly, 3 pháo đội đại bác 105 ly, và một pháo đội đại bác 155 lỵ. Về thiết giáp, Khe Sanh có 5 xe tăng loại M-48 và 2 chi đội chiến xa M-50 Ontos với 6 khẩu đại bác 106 ly trên mỗi chiếc. Về hỏa lực yểm trợ quanh vùng, Khe Sanh nằm trong tầm tác xạ hỏa yểm của 4 pháo đội đại bác 175 ly từ căn cứ Rock Pile và 3 pháo đội 175 ly từ căn cứ Carroll.

Trận Khe Sanh 1968 - phần 4

Trong khi đó tin tức tình báo ghi nhận lực lượng Cộng Sản cũng hùng hậu không kém hiện diện chung quanh Khe Sanh. Có ít nhất 3 sư đoàn và thêm một số đơn vị biệt lập hỗ trợ khác. Các đơn vị Cộng Sản được ghi nhận như sau:

- SĐ325 CSBV đang hiện diện quanh quẩn tại phía Bắc đồi 881 Bắc.
- SĐ304 từ Lào cũng đã xâm nhập vào VN và hiện đang có mặt tại phía Tây-Nam của Khe Sanh.
- Một Trung Đoàn của SĐ324CSBV cũng được phát giác tại khu phi quân sự cách Khe Sanh chừng 24 km về hướng Tây Bắc.
- SĐ320CSBV đang ở phía Bắc căn cứ hỏa lực Rock Pile, cũng có thể tiếp ứng cho mặt trận Khe Sanh.
- Ngoài ra, Cộng Sản còn huy động thêm một đơn vị Thiết Giáp với chiến xa T-54 cùng hai Trung đoàn 68 và 164 Pháo Binh.

Theo ước tính của các cơ quan tình báo liên quân Việt-Mỹ, quân số tham chiến của Cộng quân tại chiến trường Khe Sanh vào lúc đó đã lên đến khoảng 50 ngàn quân, trong đó 4/5 là lực lượng chính quy CSBV.


Bản đồ khu giới tuyến và QL 9 của Trần Đổ Cẩm

Ngày 30 tháng 1 Cộng Sản mở chiến dịch "Tổng Công Kích - Tổng Khởi Nghĩa" trên toàn lãnh thổ Nam Việt Nam. Có tất cả 25 tỉnh lỵ và thị trấn trong số 44 Tỉnh của VNCH bị tấn công, trong đó có Huế và Saigon là hai thành phố xảy ra những vụ đụng độ lớn nhất.

Từ ngày 5/2/1968 ( mồng 7 Tết) Cộng quân bắt đầu liên tục pháo kích, tấn công bằng bộ binh và bao vây quanh vòng đai căn cứ chiến lược Khe Sanh. Địch quân đã phối trí rất nhiều vị trí phòng không xung quanh căn cứ và các dàn pháo 130 ly đặt sâu trong các sườn núi từ phía biên giới Lào, cách Khe Sanh khoảng 20 cây số, y hệt như chiến thuật sử dụng tại Điện Biên Phủ năm 1954. Nhưng lực lượng trú phòng đã phản công chống trả quyết liệt gây nhiều tổn thất cho địch quân.

Đêm 6 tháng 2/1968, Quân CS Bắc Việt sử dụng một biệt đội chiến xa thuộc Trung Đoàn 202 chiến xa gổm 12 chiếc PT 76 có bộ binh tùng thiết và Trung đoàn 101 D chủ lực tấn công vào trại Lực lượng Đặc biệt tại Làng Vei, cách Khe Sanh 6 miles (10 km) về hướng Tâỵ. Trại này do Trung ta' Schungel chỉ huy gồm 1 phân đội Lực lượng Đặc biệt Hoa Kỳ 24 người và khoảng 400 Dân sự Chiến đấu (Biệt kích quân biên phòng) phần lớn là dân thiểu số miền núi tỉnh Quảng Trị.

Ngày hôm sau, 7/1/1968, trại này bị tràn ngập bởi lực lượng Cộng quân, một số đông binh sĩ và cố vấn do Trung ta' Schungel chỉ huy phải rút về Khe Sanh.

Ngày 9/2/1968 một Tiểu đoàn CSBV thuộc Trung Đoàn 101D của Sư Đoàn 325 tấn công đồi 64 do Đại Đội A/1/9 TQLC trấn giữ. Các vị trí phòng thủ trên đồi bị Bắc quân tràn ngập. Không chút chậm trễ, các khẩu đại bác quanh vùng đều nhắm hướng đồi 64 và tác xạ. Một lực lượng TQLC khác được gởi đến tiếp viện. Trong 3 tiếng đồng hồ máu lửa này, có 200 bộ đội Bắc Việt chết và 26 binh sĩ Hoa Kỳ tử thương.

Trận Khe Sanh 1968 - phần 5

Sau trận đánh ở Đồi 64 nầy, quân Bắc Việt tạm ngưng các hoạt động để bổ sung quân số. Chiến trường lắng dịu trong hai tuần. Ngày 11 tháng 2, Cộng quân gia tăng pháo kích vào phi đạo, việc tiếp tế cho quân trú phòng đã gặp khó khăn. Các vận tải cơ C-130 đáp xuống phi đạo trở thành mục tiêu của các họng pháo Cộng quân nhắm vào, hai phi cơ vận tải C-130 đáp xuống Khe Sanh, một chiếc bị nổ tung vì trúng đạn pháo kích bốc cháy trên phi đạo 6 nhân viên phi hành đoàn bị tử thương. Chiếc thứ hai cũng bị hư hỏng và được gấp rút sửa chữa rồi bay "khập khễnh" về phi trường Đà Nẵng.

Ngày 21/2/1968 khoảng 1 Đại đội cộng quân tấn công vào phòng tuyến của Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân tại khu vực hướng Đông căn cứ Khe Sanh. Nhưng các binh sĩ Mũ Nâu VNCH đã vững vàng cố thủ. Đợt tấn công của đối phương đã bị Biệt Động Quân bẻ gảỵ

Hai ngày sau 23/2/1968, quân CSBV tập trung pháo binh để phục hận. Một nghìn ba trăm (1,300) quả đạn đủ loại đã được bắn vào Khe Sanh. Trận địa pháo 8 tiếng đồng hồ này đã làm nổ tung một kho tồn trữ đạn trong căn cứ, gây thiệt mạng cho 10 quân nhân Hoa Kỳ và 51 người khác bị thương.

Khoảng 9.30 giờ đêm 29/2/1968, một Tiểu đoàn Cộng quân (thuộc Sư Đoàn 304 CSBV) đánh thẳng vào mặt Đông của Khe Sanh. Đây là khu vực trách nhiệm của TĐ37 Biệt Động Quân VNCH. Sau một màn pháo kích dọn đường, và ba lần biển-người xung phong, CSBV cũng không phá được phòng tuyến thép. Đêm hôm đó, các binh sĩ Biệt Động Quân bình tĩnh chiến đấụ Họ đợi đối phương xung phong đến thật gần rồi mới khai hỏạ. Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân đã chống trã mãnh liệt. Kinh nghiệm chiến đấu và sự gan dạ của họ chính là một trong các yếu tố quan trọng giúp đẩy lui cả 3 lần xung phong của Bắc quân.


Ngày hôm sau, kiểm điểm tình hình chiến trận họ đếm được 70 xác chết địch quân trên trận địạ Sau nhiều ngày thảo luận tình hình chiến sự, sau cùng Tướng Westmoreland chấp thuận kế hoạch hành quân giải vây Khe Sanh. Hành quân mang tên Pegasus ( có tài liệu viết là Pagasus) về phía Mỹ và về phía VNCH nằm trong kế hoạch Hành Quân Lam Sơn 207A. Cả hai cuộc hành quân đặt dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tướng J.J. Tolson. Lực lượng tham dự hành quân gồm có :

1/ Lữ Đoàn 1 KBKV với Lữ Đoàn Trưởng là Đại Tá J.F. Stannard.
2/ Lử Đoàn 2 KBKV với Lữ Đoàn Trưởng là Đại Tá J.C. Mc Donough.
3/ Lữ Đoàn 3 KBKV với Lữ Đoàn Trưởng là Đại Tá H.S.Campbell.
4/ Trung Đoàn 26 TQLC với Trung Đoàn Trưởng là Đại Tá D.E. Lownds
5/ Trung đoàn 1 TQLC.
6/ Chiến Đoàn 3 Nhảy Dù –VNCH trách nhiệm khu vực phía Bắc quốc lộ 9 và phía Tây căn cứ Khe Sanh gồm 3 Tiểu Đoàn dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Nguyễn Khoa Nam.
- Tiểu Đoàn 3 ND – TĐT là Thiếu Tá Trần Quốc Lịch.
- Tiểu Đoàn 6 ND – TĐT là Thiếu Tá Trương Vĩnh Phước.
- Tiểu Đoàn 8 ND – TĐT là Thiếu Tá Nguyễn Văn Thọ.

Bộ Tư Lệnh hành quân đóng tại căn cứ Stud gần Cà Lu. Quân số tham chiến lên đến khoảng 20,000 người với sự yểm trợ bởi 300 trực thăng, 148 khẩu pháo binh.

Ngày 25/3/1968 Thiết Đoàn 1/9 KBKV dưới quyền chỉ huy của Trung Tá R.W.Diller sử dụng trực thăng trinh sát dọc theo QL 9 hướng về Khe Sanh để thu thập tin tức về địch quân, xác định các vị trí bải đáp trực thăng đồng thời tiêu diệt các ổ phòng không của địch.

Sáng ngày30/3/1968, SĐ3TQLC Mỹ phối họp với SĐ1BB-VNCH hành quân nghi binh tại vùng Côn Thiện và Gio Linh. Lực lượng của Mỹ hơp thành lực lượng đặc nhiệm Kilo trong khi cánh quân SĐ1BB-VNCH nằm trong kế hoạch Lam Sơn 203. Cuộc hành quân chấm dứt lúc trưa ngày 1/5/1968. chỉ có những cuộc chạm súng lẻ tẻ không đáng kể.

Ngày 1/4/1968 cuộc hành quân chính thức khai diển. Hai Tiểu Đoàn 2/1 và 1/3 TQLC Mỹ từ Cà- Lu tiến dọc hai bên đường QL9 hướng về Khe Sanh để bảo vệ cho TĐ11Công Binh tu sửa lại con đường nầy. Trong khi đó 3 Tiểu Đoàn thuộc Lữ Đoàn 3KBKV được trực thăng vận đổ xuống các bải đáp phía trước cách Khe Sanh khoảng 5 dậm.

Trận Khe Sanh 1968 - phần 6

Ngày 2/4/1968 liên tiếp 2 ngày, hai Lữ đoàn 2 và 1 KBKV được thả xuống phía Nam căn cứ Khe Sanh và đường số 9 tảo thanh quanh khu vực đồn điền của người Pháp khi xưa.

Sau khi được thả xuống bải đáp, TĐ1/5KBKV hướng về mục tiêu đồn Pháp cũ, đã đụng độ với một Tiểu Đoàn cộng quân đang cố thủ tại đây,TĐ1/5KBKV bị thiệt hại nặng, Trung Tá Runkle Tiểu Đoàn Trưởng bị tử thương. TĐ2/5KBKV được lịnh vào thay thế nhưng cộng quân đã rút lui.

Trong khi đó, các đơn vị phòng thủ bên trong căn cứ Khe Sanh, TĐ1/9TQLC cũng bắt đầu tấn công ra về phía Nam để chiếm lại ngọn đồi 471 theo chiến thuật gộng kềm, ép đơn vị Tiểu Đoàn 7 Trung Đoàn 66 địch quân vào giửa. Cộng quân cố thoát ra khỏi vòng vây nhưng với hoả lực hùng hậu của các đơn vị tham chiến, Công quân phải rút chạy và bỏ lại chiến trường 148 xác.

Ngày 4/4/1968 Các Tiểu Đoàn 3, 6 và 8 Nhảy Dù thuộc LĐ3ND-VNCH được thả xuống khu vực LZ Snake phía Tây và Tây Nam căn cứ Khe Sanh. (bên ngoài và phía sau vị trí của địch quân đang bao vây căn cứ.) để chận đường lui binh của địch.

Tiểu Đoàn 3 Dù của Thiếu Tá Trần Quốc Lịch được trực thăng vận phía Tây Nam của đồi 471,

Tiểu Đoàn 6 Dù của Thiếu Tá Trương Vĩnh Phước được thả về phía Bắc của TĐ3ND. Tiểu Đoàn 8 Dù của Thiếu Tá Nguyễn Văn Thọ cùng với Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn và một pháo đội 105 ly được thả về khu vực phía Bắc Làng Khe Sanh .

Vừa được thả vào buổi chiều, thiết lập xong các công sự phòng thủ thì TĐ8ND cùng với Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn bị địch quân tấn công phủ đầu vào buổi tối vì chúng nghĩ rằng đây là một đơn vị của Hoa Kỳ. Bị chống trả mãnh liệt, địch phải tháo lui. Trong trận này, Tham Mưu Trưởng Chiến Đoàn là Thiếu Tá Bùi Văn Thạch, cùng khóa 3 Thủ Đức với Trung Tá Nam, tử trận.

Ngày 6/4/1968 các đơn vi KBKV đã bắt tay được với TQLC bên trong căn cứ tại đồi 471.Sau đó TĐ 1/9 TQLC bắt đầu càn quét khu vực chung quanh căn cứ khởi đi từ ngọn đồi 552 rồi đến đồi 681. không gặp một kháng cự nào của địch.

Trận Khe Sanh 1968 - phần 7

Cùng lúc đó về mặt Bắc, TĐ2/26TQLC cũng tiến ra ngọn đồi 558. Mủi tiến quân nầy gập sự chống trả mạnh mẽ của công quân; trận chiến phải mất hết 2 ngày mới bứng hết các ổ kháng cự.

Ngày 7/4/1968 trong khi tiến về Khe Sanh dọc theo QL9, TĐ2/7KBKV đã chạm địch mạnh tại địa điểm chỉ cách Khe Sanh chừng 2 dậm. Để 3 Đại Đội cầm chân địch quân ở mặt trận chính, Đại Đội thứ tư lòn ra sau bọc hậu, mới đánh bật được Cộng quân ra khỏi các công sự phòng thủ.

Cũng trong ngày nầy các Tiểu Đoàn Nhảy Dù Việt Nam đã chạm địch, Sau khi TĐ3ND và TĐ6ND đáp xuống vị trí ổn định, Trung Tá Nam Chiến Đoàn Trưởng cho lệnh các đơn vị mở rộng đội hình tác chiến dàn hàng ngang tiến vào phía căn cứ.

Khi biết có đơn vị Nhảy Dù VN tăng cường, binh sỉ TQLC bên trong căn cứ lên tinh thần nên khi lực lượng Nhảy Dù chạm địch, bên trong căn cứ cũng bắn ra dữ dội. Do đó địch quân bị kẹt giữa hai lằn đạn, vì quá gần trong khoảng cách không quá 200m, biết không thể tiến cũng không thể thoát được, địch quân gọi pháo tác xạ vào ngay lên đội hình của chúng nên bị chết rất nhiều, một số bị bắt sống, bên ta cũng bị tổn thương khá cao. Đại Đội 33 Nhảy Dù bị tổn thất nặng nhất: Đại Úy Nguyễn Đức Cần, ĐĐT cùng 2 Chuẩn Úy Trung Đội Trưởng bị tử thương . Một Thiếu Úy Trung Đội Trưởng bị thương. chỉ còn một Trung Đội Trưởng là Thiếu Úy Trương Văn Dũng không bị thương tích.

Bị dồn ép và không chịu nổi bị tấn công từ nhiều phía, địch quân bắt buộc phải bỏ chạy. Sau đó Lực lượng Nhảy Dù trở lại hành quân giải tỏa Làng Vei lúc này vẫn do một tiểu đoàn CSBV chiếm đóng, còn dân chúng thì đã di tản ra khỏi vùng.

Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù, tương đối còn nguyên vẹn, được lệnh chuyển hướng về phía Nam để án ngữ sườn phía Bắc của Làng Vei trong khi đó một lực lượng của Sư Đoàn 101 Hoa Kỳ tiến từ hướng Đông.

Ngay hôm đó, Truyền Tin Tiểu Đoàn 3 Dù dò tần số địch biết được địch đang tăng viện thêm hai tiểu đoàn, một tiểu đoàn chận đánh Tiểu Đoàn 6 Dù còn tiểu đoàn kia hỗ trợ cho Làng Vei, liền báo cáo về Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn.

Tiểu Đoàn 6 Dù được lệnh dừng quân chuyển qua đội hình phòng thủ. Chưa kịp đào công sự chiến đấu thì TĐ6ND đã bị địch xung phong. Tiểu đoàn 3 Dù bắn yểm trợ khoảng 100 đạn súng cối trên hướng tiến quân của địch. TĐ6ND nhờ chuẩn bị trước nên phản công quyết liệt, địch phải rút lui trước sự chống trả của các chiến sĩ Dù. Bác Sĩ Nghiêm Sĩ Tuấn, Y Sĩ Trưởng của Tiểu Đoàn 6 Dù tử thương.

Các lực lượng Hoa Kỳ sau đó đã sử dụng tối đa ưu thế của không quân chiến thuật oanh kích các tiểu đoàn địch khiến họ phải rút về biên giới Lào.

Sau cuộc hành quân Pegasus nầy, các đơn vị của Cộng Sản Bắc Việt đang được điều động đến khu vực Khe Sanh phải bỏ dở ý định tấn công vì không muốn làm mồi cho hỏa lực Không Quân và Hải Quân Hoa Kỳ do đó áp lực địch vào căn cứ Khe Sanh giảm đi và thế là giấc mơ tạo dựng một chiến thắng quân sự như kiểu Điện Biên Phủ của Võ Nguyên Giáp để eo sèo đòi hỏi Mỹ và VNCH nhượng bộ kể như không thành. Các binh đoàn dưới quyền chỉ huy của ông bị mất từ 10 đến 13,000 bộ độị. Nhiều đơn vị bị xóa tên dưới hỏa lực hùng hậu của pháo binh và không yểm.

Ngày 8/4/1968 Căn cứ Khe Sanh hoàn toàn được giải toả sau 77 ngày bị cộng quân vây hảm , các đơn vị tham chiến tung quân càn quét các khu vực xung quanh, chỉ một vài cuộc đụng độ lẻ tẻ quanh ngọn đồi 881 Bắc.

Tổng kết về cuộc hành quân Pagasus thiệt hại về phía đồng minh 41 Bộ Binh Mỹ, 51 TQLC Mỹ và 33 quân nhân VNCH bị tử trận và 667 M ỹ 187 Việt bị thương, đổi lại 1304 quân CSBV bỏ xác tại trận và 23 tù binh (chưa kể số thiệt hại vì pháo đài B52 và Pháo binh tác xạ)

Trận Khe Sanh 1968 - phần 8

Cuộc hành quân Lam Sơn 207 A chính thức kết thúc vào ngày 15/4/1968 Lữ Đoàn 3ND được đưa về Huế để tham dự một cuộc hành quân mới ‘Lam Sơn 216’ chiếm lại thung lủng A Shau.


Thiếu Tướng Dư Quốc Đống Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù đang gắn huy chương cho Trung Tá Nguyễn Khoa Nam, Chiến Đòan Trưởng LĐ3ND

Sau này, có người nhận xét cho rằng tướng Giáp muốn dụ Hoa Kỳ dồn quân vào Khe Sanh để quân Cộng Sản có thể rãnh tay tấn công các vùng khác. Người khác lại cho rằng ông Giáp bao vây Khe Sanh với lý do muốn tạo dựng một chiến thắng như Điện Biên để buộc Hoa Kỳ phải nhượng bộ. Trong khi đó, một số tài liệu chiến sử Hoa Kỳ lại nghĩ rằng tướng Westmoreland đã "tương kế tựu kế." Ông mong Cộng quân sẽ tập trung nhiều binh đoàn gần Khe Sanh để ông có thể dùng hỏa lực pháo binh và phi cơ tiêu diệt.

Nhưng lịch sử đã đổi chiều không phải của Điện Biên Phủ 14 năm về trước. Năm 1968, Hoa Kỳ có đầy đủ phương tiện để phòng thủ, yểm trợ, và tiếp tế Khe Sanh trong 77 ngày, hoặc lâu dài hơn nếu cần thiết. Phía bên kia, Cộng quân đã không chiếm nổi Khe Sanh, mà lại còn bị thiệt mất từ 10 đến 13,000 bộ đội. Đó là chưa kể thiệt hại trên các phương diện khác như quân cụ, chiến thuật, cùng hàng ngàn thương binh.

Tài liệu tham khảo:

- Trận chiến Tết Mậu Thân 1968 của Phạm Văn Sơn trên trang nhà History of the Viet Nam War.
- Chiến tranh Việt Nam toàn tập của Tiến Sĩ Nguyẽn Đức Phương, nxb Làng Văn 2001.
- Một Cánh Hoa Dù của Trương Dưởng. Tác giả xb 1998
- The War in The Northern Provinces 1966-1968 by Lieutenant General Willard Pearson Dept of The Army Washington, D.C., 1975
- Phỏng vấn trực tiếp các chiến hữu trong SĐND.
- Khe Sanh 77 ngày trong năm 1968 của Phạm Cường Lể trên trang nhà History of the VN War.

Đại Úy Võ Trung Tín
Tiểu Đoàn Truyền Tin SĐND – 714-856-9202

Đại Úy Nguyễn Hữu Viên
Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù – 714-897-1435