Lời người dịch: Trận đánh tái chiếm cổ thành Quảng Trị kéo dài 81
ngày trong mùa Hè đỏ lửa 1972 là một trong những trận đánh dài và khốc
liệt nhất trong chiến tranh Việt Nam. Trong tạp chí tháng Tư trên trang
mạng khảo cứu lịch sử historynet năm nay, Thiếu Tướng hồi hưu John D.
Howard, một sĩ quan West Point và cựu cố vấn tại chiến trường Việt Nam
vào năm 1972 đã kể lại diễn biến toàn bộ chiến dịch và trận tái chiếm
lịch sử này. Xin giới thiệu lại bài viết này nhân kỷ niệm 50 năm trận
tái chiếm cổ thành kết thúc vào ngày 16 tháng 9 năm 1972.
*
Chiến Dịch Phục Sinh
Nằm gần các mật khu phía Bắc khu phi quân sư (DMZ) và giáp Lào, Quảng
Trị là một chiến trường đụng độ liên tục trong chiến tranh Việt Nam.
Các ủy viên Bộ Chính Trị Bắc Việt gọi đây là "mặt trận rực lửa" và Lê
Duẩn xem Quảng Trị là “thành phố cách mạng anh hùng” khi tái thiết lại
cổ thành này vào năm 1980. Các hướng dẫn viên du lịch tại đây thường
giới thiệu với du khách ngoại quốc và ca ngợi sự anh hùng của những
người cộng sản trong cuộc Tổng tấn công Xuân-Hạ 1972. Nhưng họ không hề
nhắc đến rằng, quân cộng sản đã chiếm được cổ thành này vào ngày 1 tháng
5 năm 1972 và lính Thủy Quân Lục Chiến của miền Nam Việt Nam đã tái
chiếm lại sau đó năm tháng.
Cuộc tấn công mở màn của Bắc Việt diễn ra vào ngày 30 tháng 3, tức
ngày thứ Năm trước lễ Phục Sinh. Nó thường được gọi là Chiến Dịch Phục
Sinh (người dịch: The Easter Offensive, theo cách gọi của sách báo
Mỹ, và Mùa Hè Đỏ Lửa của VNCH), là chiến dịch lớn nhất trong cuộc chiến.
Quân cộng sản tấn công bằng các đơn vị chủ lực trong mục đích giành
chiến thắng quyết định, không đánh du kích và dùng các đơn vị nhỏ làm
tiêu hao lực lượng khiến quân Mỹ mệt mỏi và rút quân như trước kia.
Chiến lược đánh dai dẳng bị loại bỏ để Bắc Việt dốc một canh bạc “được
ăn cả, ngả về không” (go-for-broke) nhằm đánh bại quân lực Việt Nam Cộng
Hòa và lật đổ chính phủ Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.
Quân Bắc Việt tràn qua khu phi quân sự (DMZ) và băng qua Lào dọc theo
Quốc lộ 9, hướng đến cố đô Huế, khởi đầu chiến dịch bằng ba cuộc tấn
công vào các vùng khác nhau của Nam Việt Nam. Rạng sáng ngày 3 tháng Tư,
cộng quân tấn công vào các căn cứ hỏa lực vùng cao nguyên, mở màn với
trận đánh vào Kontum với mục tiêu tiêu tối hậu là cắt đôi Nam Việt Nam ở
trung lộ. Ở phía Nam thì bốn ngày sau, tại khu vực quanh Sài Gòn, cộng
quân tràn qua Lộc Ninh, một khu vực tiền đồn được phòng thủ chắc chắn
tại vùng biên giới Campuchia và bao vây An Lộc, chỉ cách Sài Gòn khoảng
60 dặm.
Lực lượng tấn công của quân Bắc Việt có khoảng 30,000 đến 40,000 quân
từ ba Sư Đoàn thiện chiến là 304, 308 và 325C, đã cùng với 200 chiến xa
và các khẩu đội phòng không, tấn công vào một Lữ Đoàn mong manh của
quân đoàn Thủy Quân Lục Chiến và Sư đoàn 3 quân lực VNCH. Trung tướng
Hoàng Xuân Lãm, người đứng đầu Quân đoàn I đóng tại Đà Nẵng đã bỏ qua
các báo cáo tình báo cho thấy kẻ thù đã tập trung lực lượng lớn khắp DMZ
và ra lệnh chuyển quân giữa hai căn cứ hỏa lực của Sư đoàn 3 vào ngày
29 tháng 3. Mệnh lệnh sai thời điểm của ông đã góp thêm vào tình trạng
hỗn loạn khi cộng quân tấn công vào ngày hôm sau.
Thủy Quân Lục Chiến và Sư đoàn 3 ở ngay phía Nam DMZ và ở chân đồi
phía Tây đều bị tấn công dữ dội vào Chủ nhật Phục Sinh ngày 2 tháng Tư.
Trung tá QLVNCH Phạm Văn Đính, chỉ huy trưởng Trung đoàn 56 của Sư đoàn
3, đã đầu hàng toàn bộ đơn vị của mình cùng căn cứ Carroll, một căn cứ
hỏa lực cũ của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ. Trung Tá Đính cũng không cho phá
hủy kho đạn lớn hoặc vô hiệu hóa hơn 20 khẩu pháo, trong đó có 4 khẩu
175 mm.
Các cố vấn Mỹ là Trung tá Bill Camper và Thiếu tá Joe Brown đã gửi
một tin vô tuyến ngắn gọn cho biết họ sẽ rời khỏi căn cứ. Vì lý do an
ninh, họ không cho biết Trung đoàn 56 đã đầu hàng hàng loạt. Một Trung
tá Mỹ mới được thuyên chuyển đến gởi ra một mệnh lệnh "Không được rời
căn cứ!" Camper và Brown bất chấp mệnh lệnh nhằm tránh bị bắt sống và đã
rời trên chiếc trực thăng Chinook CH-47 do Đại úy Harry Thain lái,
người về sau đã nhận được huân chương cho cuộc giải cứu táo bạo này.
Việc mất căn cứ Carroll dẫn đến một cuộc triệt thoái quân về các vị
trí gần thị xã Đông Hà. Các cuộc không kích của Hoa Kỳ đã giúp làm chậm
bước quân Bắc Việt. Tuy nhiên, những nỗ lực nhằm thiết lập một hàng
phòng thủ liên hoàn đã bị thất bại bởi Tư Lệnh Quân đoàn I liên tục ra
các lệnh thiếu sự phối hợp. Ngày 28 tháng 4, Đông Hà thất thủ. Ba ngày
sau thành Quảng Trị tan hoang, quân đội triệt thoái.
Tình trạng hỗn loạn đã diễn ra. Thủy Quân Lục Chiến VNCH giữ vững kỷ
luật và chặn đứng đường tiến quân của cộng quân bằng một tuyến phòng thủ
kiên cố dọc theo sông Mỹ Chánh, cách Huế 15 dặm.
Những thành công ban đầu của phe cộng sản đã củng cố sự lạc quan của
những lãnh đạo diều hâu trong Bộ Chính trị Bắc Việt và gạt qua những
thành viên muốn có sự thận trọng. Lê Duẩn, thủ lĩnh của phe chủ chiến,
cương quyết cho rằng môi trường chính trị tại Hoa Kỳ sẽ ngăn cản Tổng
thống Richard Nixon có phản ứng mạnh mẽ vì năm 1972 là năm bầu cử tổng
thống và công chúng Hoa Kỳ bị xem là đã mệt mỏi với chiến tranh. Đó là
một suy đoán hoàn toàn sai lầm về tổng thống Hoa Kỳ.
Cuộc
tấn công của quân đội cộng sản đã gây làn sóng di tản của dân Quảng Trị
đổ vào Huế. Ai nấy gồng gánh bồng bế nhau chạy loạn.
Tuy nhiên, vào thời điểm này trong cuộc chiến, các chọn lựa đáp trả
mạnh mẽ từ Hoa Kỳ bị hạn chế. Vào ngày 30 tháng 4 năm 1972, có 68,100
lính Mỹ ở Việt Nam, giảm từ mức cao nhất là 543,100 quân vào tháng 4 năm
1969. Năm đó, chính quyền Nixon khởi xướng chương trình Việt Nam Hóa
Chiến Tranh, rút dần quân đội Mỹ để chuyển giao trách nhiệm chiến đấu
cho miền Nam Việt Nam. Chỉ còn lại hai lữ đoàn chiến đấu của Mỹ, một ở
phía Bắc Nam Việt Nam và một ở khu vực Sài Gòn với nhiệm vụ chính của họ
là bảo vệ các căn cứ không quân và cơ sở hậu cần của Hoa Kỳ.
Nixon loại trừ việc điều quân bộ binh mà tấn công bằng không quân.
Ông điều động thêm phi cơ đến Đông Nam Á, tiếp tục ném bom ra mạn Bắc và
ra lệnh thả mìn phong toả các cảng của Bắc Việt. Không Quân Hoa Kỳ và
các chiến đấu cơ trên các hàng không mẫu hạm, với 206 phi cơ B-52 ném
bom và hơn 800 phản lực chiến đấu đã sẵn sàng cho cuộc chiến. Vào đầu
tháng Năm thì tình thế tại miền Nam Việt Nam bị xem là lâm vào tình
trạng nguy hiểm nghiêm trọng.
Việc mất Quảng Trị và hỗn loạn tại Huế đã dẫn đến quyết định từ Tổng
Thống Thiệu là tướng Lãm phải bị thay. Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư
Lịnh vùng đồng bằng sông Mekong và được xem là một trong những tướng tài
nhất của miền Nam Việt Nam sẽ thay thế. Tướng Trưởng cùng các sĩ quan
tùy tùng bay ra vùng Một trong vòng 24 tiếng. Quân lực VNCH chuẩn bị
phản công.
Những cuộc giao tranh đẫm máu
Súng 40 ly M42A1 gắn trên chiến xa M41 của quân lực VNCH đang nã đạn vào các vị trí của cộng quân Bắc Việt trên Quốc lộ Một.
Trung tướng Ngô Quang Trưởng cùng các sĩ quan tùy tùng thân tín
bay ra Quân đoàn I trong vòng chưa đầy 24 giờ sau lệnh bổ nhiệm từ Tổng
Thống Nguyễn Văn Thiệu. Vị tân tư lịnh thể hiện một phong cách riêng khi
chuyển bộ chỉ huy chính của Quân đoàn I từ Đà Nẵng ra Huế, nơi chỉ là
một sở chỉ huy tiền phương nhỏ do một số sĩ quan và cố vấn Hoa Kỳ chỉ
huy nhưng ông vẫn bay về Đà Nẵng đánh tennis và ăn tối ở nhà.
Tuyến quân tại sông Mỹ Chánh cần được tăng viện. Tướng Trưởng đề nghị
Tổng Thống Thiệu cho bổ sung quân số. Ngày 8 tháng 5, Lữ đoàn 2 Nhảy Dù
đến tăng viện và củng cố lại tuyến đường mặt biển. Hai tuần sau, Lữ
đoàn 3 Nhảy Dù và bộ chỉ huy sư đoàn Dù bay đến Huế. Các đơn vị thiện
chiến nhất bao gồm sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, sư đoàn Dù và sư đoàn 1
QLVNCH lúc này xem như đã nằm dưới quyền chỉ huy của tướng Trưởng.
Trung tướng Ngô Quang Trưởng tại Bộ Chỉ huy Lữ đoàn TQLC/VNCH, phía Bắc Huế.
Bày binh bố trận tốt cho phép vị tướng trở nên quyết đoán táo bạo
hơn. Lữ đoàn 369 của Thủy Quân Lục Chiến VNCH mở màn cuộc tấn công vào
hậu cứ cộng quân ngay phía Nam thị xã Quảng Trị với hai tiểu đoàn phi
đội. Hai ngày sau, vào ngày 15 tháng 5, Sư đoàn 1 QLVNCH tái chiếm được
căn cứ hỏa lực cũ của Mỹ là Bastogne, củng cố phía mạn Tây dẫn vào Huế.
Trong khi quân đội VNCH tiếp tục chiến đấu với địch quân thì các cố vấn
Mỹ đã điều các cuộc không kích đầy hữu hiệu.
Cuộc phản công của Quân đoàn I mang mật danh là Chiến Dịch Lam
Sơn 72 nhằm đẩy lùi địch quân qua khỏi khu vực phi quân sự DMZ. Tổng
Thống Thiệu ra lệnh cho tướng Trưởng tái chiếm cổ thành Quảng Trị, là
thành phố tỉnh lỵ duy nhất nằm trong tay địch, trước khi tiến quân xa
hơn ra phía Bắc. Thị trấn này không có giá trị chiến lược và tướng
Trưởng muốn bỏ qua nó vì ông muốn tiêu diệt các đơn vị Cộng quân và
chiếm lại các vùng đã mất trước, nhưng lệnh của tổng thống Thiệu đã buộc
các sư đoàn Dù và Thủy Quân Lục Chiến đi vào một cuộc đụng độ đẫm
máu trong nội đô với quân địch.
Một kế hoạch tinh vi nhằm đánh lừa địch quân về thời gian và địa điểm
của cuộc tấn công được vạch ra. Đó là cho "lộ bí mật" về một cuộc nhảy
dù và một cuộc đổ bộ vào hậu cứ của địch quân. Tuy nhiên, cú lừa này
không tạo ra hiệu quả đặc biệt gì vì bộ chỉ huy quân cộng sản trong khu
vực đã nhận được thông tin chi tiết về cuộc tấn công thật sự từ một điệp
viên của họ cài vào trong ban tham mưu Quân đoàn I.
Chiến dịch Lam Sơn 72 bắt đầu vào ngày 28 tháng 6 khi Thủy Quân Lục
Chiến và lính Dù mở cuộc tấn công trong đêm qua sông Mỹ Chánh. Mặc dù kế
hoạch đã bị lộ, họ cũng gặp sự kháng cự giới hạn từ địch quân. Các sĩ
quan cao cấp đầy tự tin của QLVNCH hy vọng sẽ tái chiếm được cổ thành
Quảng Trị trong chín ngày nhưng dự tính này đã thiếu chính xác.
Quân tiến công được hỗ trợ bởi các cuộc oanh kích của B-52, có sự yểm
trợ mạnh trên không cùng hỏa lực của hải quân Hoa Kỳ với hai tiểu đoàn
lính Dù và hai tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến VNCH đổ bộ vào phía sau
tuyến kháng cự chính của địch quân. Dù vậy, sư đoàn Dù cũng phải mất một
tuần mới đến được vòng ngoài của thị xã. Tốc độ tiến quân chậm đã giúp
phía địch quân có được thời gian để củng cố trong cổ thành.
Được xây dựng vào năm 1824, bốn mặt của cổ thành có chiều dài 1,640
feet (khoảng 500 mét) và tất cả đều được bảo vệ bởi một con hào rộng.
Những bức tường gạch dày cao gần 30 feet (hơn 9 mét) với một tháp pháo
đài ở mỗi góc thành.
Tư lệnh Sư đoàn Dù là Trung tướng Dư Quốc Đống ra lệnh cho Lữ đoàn Dù
2, gồm ba tiểu đoàn với hơn 2,000 lính dù, đánh chiếm thị xã. Đại tá
Trần Quốc Lịch cam đoan với tướng Đống rằng Lữ đoàn của ông sẽ chiếm lại
nhanh chóng và đã chuẩn bị rượu champagne để ăn mừng chiến thắng. Dù
vậy, Đại Tá Lich vẫn cho tấn công khá thận trọng.
Thiếu tá Lê Văn Mễ, một sĩ quan có năng lực xuất chúng chỉ huy đơn vị
chủ lực của lữ đoàn là Tiểu đoàn Dù 11, biết sự thận trọng của Đại
Tá Lịch đã khiến tiểu đoàn của ông mất phần chủ động. Cố vấn Hoa Kỳ của
Thiếu tá Mễ là Đại úy Gail “Woody” Furrow, nói với một cố vấn khác rằng:
“Họ đã trên đường bỏ chạy! Chúng ta nên bỏ qua thị xã Quảng Trị và tiến
thẳng đến DMZ”.
Tư lệnh quân Bắc Việt tại chiến trường này là Trung tướng Trần Văn
Quang, biết Tổng Thống Thiệu sẽ cho thực hiện bất cứ điều gì cần thiết
để tái chiếm thị xã. Biết là một cuộc chiến đẫm máu sẽ diễn ra, ông ta
đã chuyển một số trung đoàn bộ binh vào trong cổ thành và sử dụng một
trung đoàn khác để xây dựng các công sự bên trong thị xã. Súng cối và
đại bác, đặc biệt là pháo hạng nặng 130 ly do Liên Xô chế tạo đã được
tái bố trí để hỗ trợ tối đa hỏa lực. Các đại bác 130 ly đã phóng những
quả đạn nặng 70 pound đi xa khoảng 17 dặm, vượt xa tầm bắn của các loại
pháo 105 và 155 ly của phía VNCH. Pháo binh và súng cối của cộng quân đã
gây ra phần lớn thương vong cho lính VNCH.
Cuộc tấn công của Lữ đoàn 2 Nhảy Dù bắt đầu vào ngày 10 tháng 7. Hai
tiểu đoàn 6 và 11 tấn công từ phía Nam, trong khi Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù
thực hiện cuộc tấn công chính từ phía Đông Bắc. Các tiểu đoàn 5 và 6
Nhảy Dù, tăng viện vào ngày 25 tháng 6, không đủ quân số chiến đấu do
thiệt hại từ chiến trường An Lộc kéo dài từ tháng Tư đến giữa tháng Sáu.
Đại úy Earl Isabell, cố vấn của Tiểu đoàn 5, sau đó cho biết: “Chúng
tôi được chỉ định là mũi tấn công chính nhưng không được bổ sung thêm
quân số. Chúng tôi cần thêm vài đại đội. Các tân binh thì hầu như chưa
được huấn luyện còn các chỉ huy dày dặn kinh nghiệm tử nạn tại An Lộc
vẫn chưa được thay thế”.
Các Tiểu Đoàn 6 và 11 Nhảy Dù đã giành được ưu thế vành ngoài thị xã,
nhưng quân Bắc Việt đã chiến đấu ở mỗi góc nhà. Cuộc xung kích được
tính từng mét và mỗi tòa nhà chiếm được. Tiểu Đoàn 1 của sư đoàn Thủy
Quân Lục Chiến đã mở một cuộc tấn công bằng đường không ở cách thị xã
Quảng Trị khoảng một dặm về phía Đông Bắc vào sáng ngày 11 tháng 7 để
ngăn chặn giao thông trên đường 560, song song với sông Thạch Hãn là
tuyến tiếp tế chính của quân cộng sản phòng thủ. Tiểu đoàn được chở
trên 34 chiếc trực thăng của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ và 6 trực thăng tấn
công Cobra của Quân đội Hoa Kỳ hộ tống.
Cuộc đổ quân được yểm trợ bởi hỏa lực Hải Quân và các cuộc oanh tạc
của B-52 nhưng vẫn vấp phải sự kháng cự mạnh mẽ. Súng tự động và hỏa
tiễn địa-không SA-7 bắn lên như mưa. Một chiếc CH-53 Sea Stallion và hai
chiếc trực thăng CH-46 Sea Knight chở Thủy Quân Lục Chiến bị bắn hạ.
Một chiếc trực thăng vô tình hạ cánh gần một chiếc xe tăng T-54 của cộng
quân được ngụy trang khá kỹ nhưng chiếc Cobra hộ tống có trang bị
phi đạn chống tăng nên đã tiêu diệt được chiếc xe tăng này.
Thiếu tá Nguyễn Đăng Hòa, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu đoàn 1 và cố vấn của
ông là Đại úy Thủy Quân Lục Chiến Mỹ Lawrence Livingston đã dẫn đầu các
cuộc xung phong vào ngày 11 tháng 7 nhằm phá hủy các công sự của cộng
quân đang chặn đường tiến quân lính VNCH. Livingston đã được tặng thưởng
bội tinh vì sự anh dũng của mình. Trận đánh tiếp diễn trong ba ngày.
Đến ngày 14 tháng 7, đường 560 đã bị cắt đứt. Quân Bắc Việt phải tìm
đường khác thay thế để tiếp tế cho quân của mình tại Quảng Trị.
Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù đã thực hiện cuộc tấn công chủ lực vào đêm ngày
11 tháng 7. Hỏa lực pháo binh được bắn trước và 18 cuộc xuất kích của
Không quân Hoa Kỳ đã làm yếu các công sự phòng thủ của tòa thành. Tuy
nhiên, quân phòng ngự của địch quân đã chặn được Tiểu đoàn 5 ngay sát
chân tường thành. 25 lính bị tử nạn và hơn 100 lính bị thương.
Lệnh cấm Không Quân Mỹ không kích vào bên trong thị xã được ban hành
vào ngày 15 tháng 7 vì Tổng Thống Thiệu muốn tái chiếm Quảng Trị mà
không cần sự trợ giúp của Hoa Kỳ. Ông bối rối trước các báo cáo rằng
Không Quân Hoa Kỳ đã cứu được An Lộc và Kontum. Trước sự phản đối của
tướng Trưởng, một vòng tròn tưởng tượng đã được vẽ xung quanh thị xã.
Các cuộc không kích của Hoa Kỳ đã bị cấm trong khu vực đó.
Khúc khải hoàn viết bằng máu
Chiến đấu trong thành phố Quảng Trị, có cả những lần cận chiến xáp lá cà đẫm máu.
Quân Bắc Việt vẫn mở các cuộc tấn công nhằm phá vỡ những cuộc
hành quân phối hợp của phía VNCH. Họ tấn công Tiểu Đoàn 5 vào ngày 15
tháng 7 và gần như chiếm được trạm chỉ huy tiểu đoàn. Vì một lý do không
giải thích được, cuộc tấn công đã bị dừng lại khi chiến thắng nằm trong
tầm tay của cộng quân. Hai ngày sau, một cuộc tấn công tương tự vào
Tiểu Đoàn 6, hai bên đánh xáp lá cà trước khi quân Bắc Việt rút lui.
Lính Dù của quân lực VNCH tấn công nhưng kết quả giới hạn và thương
vong tăng lên. Những người cộng sản nướng quân cho chuyện cầm cự vì việc
giữ được Quảng Trị là ưu tiên hàng đầu của Hà Nội. Mặc dù đường 560 đã
bị chặn, các chuyến phà trên sông Thạch Hãn vẫn chuyển quân, hàng tiếp
liệu và khí cụ thay thế vào cổ thành, cố duy trì ưu thế về quân số của
mình. Trong khi đó, phía chính quyền Sài Gòn đã gặp khó khăn để đáp ứng
kịp nhu cầu thay quân.
Bộ chỉ huy Lữ đoàn Dù 2 nhận mệnh lệnh mở một cuộc tấn công khác. Lần
này Tiểu Đoàn 5 được tăng cường thêm hai Đại Đội từ Tiểu Đoàn 81 Biệt
Cách Dù thiện chiến và một Trung Đội xe tăng. Trước cuộc tấn công vào
đêm 23 tháng 7, một chiếc F-4 Phantom của Không lực Hoa Kỳ đã được phép
thả một quả bom đạn đạo laser nặng 2,000 cân Anh xuống thành lũy phía
Đông Bắc của tòa thành để Tiểu đoàn 5 đột kích vào pháo đài. Khi trời
rạng sáng, lệnh hạn chế không lực Hoa Kỳ lại bị áp đặt và Không Quân
VNCH được ra lệnh thay thế. Một phi cơ đã vô tình thả ba quả bom 500 cân
vào giữa lính nhảy dù, gây thiệt mạng 45 lính và làm bị thương nặng 100
lính khác.Tiểu đoàn 5 buộc phải rút lui, chấm dứt cuộc tấn công.
Cuộc chiến đấu kéo dài hai tuần gần như xoá sổ cả Lữ đoàn 2 Nhảy Dù.
Tiểu đoàn 5 bị thiệt hại nặng nề nhất. Đơn vị có 600 quân bị tử trận hết
98 lính và 400 lính bị thương. Hai tiểu đoàn còn lại cũng không khá
hơn. Bốn trong sáu cố vấn Mỹ bị thương và phải chở vào bệnh viện. Sư
đoàn Thủy Quân Lục Chiến VNCH tiếp viện cho Sư đoàn Dù vào ngày 27 tháng
7. Một cố vấn Thủy quân lục chiến Mỹ đã phải giật mình trước những gì
nhìn thấy tại Quảng Trị.
Quảng Trị là hình ảnh của Berlin vào năm 1945. Hố bom khắp mọi nơi.
Mọi cấu trúc hầu như đã bị phá hủy, chỉ còn những tòa nhà trơ trọi vách.
Quang cảnh đổ nát của thành phố sau trận chiến.
Hầu hết lính Thủy Quân Lục Chiến tin rằng họ sẽ nhanh chóng chiếm ưu
thế nếu lính Dù chưa làm được. Sự lạc quan của họ nhanh chóng tụt
xuống khi cuộc tấn công ban đầu bị chao đảo sau khi đối đầu với một lực
lượng phòng vệ vượt trội về quân số phía địch quân. Thiếu tướng Thủy
Quân Lục Chiến Mỹ là Richard Rothwell, cố vấn cho Tiểu đoàn 5 Thủy Quân
Lục Chiến VNCH, đã đổ lỗi một phần điều này cho Sư đoàn Dù đã không bảo
vệ được sườn trái của lực lượng Thủy Quân Lục Chiến. Nhiều pháo đài cũ ở
phía Tây Quốc lộ Một do cộng quân chiếm giữ đã nã pháo vào các đơn vị
Thủy Quân Lục Chiến đang tấn công. Trước đó thì Thiếu Tá Lê Văn Mễ, Tiểu
Đoàn trưởng Tiểu đoàn 11 Dù đã cho rằng các pháo đài nằm quá xa để có
thể cản đường tiến công dọc theo trục mà Thủy Quân Lục Chiến sử dụng.
Bất kể là gì, bộ tham mưu Quân Đoàn I đã không giao trách nhiệm về
các pháo đài và thiết lập ranh giới chính xác giữa hai sư đoàn. Đây là
một sơ suất tác chiến quan trọng của bộ tham mưu trong chiến tranh quy
ước vì chỉ từng tác chiến đơn vị nhỏ mà hiếm khi chỉ huy phối hợp trong
môi trường chiến thuật.
Cuộc tấn công vào ngày 3 tháng 8 cũng bị sa lầy. Tổng Thống Thiệu
buộc phải gỡ bỏ các hạn chế các cuộc oanh tạc của Mỹ vào Quảng Trị,
nhưng quyết định đó cũng không thay đổi được gì khi trận chiến đã trở
thành các cuộc đọ sức giữa pháo binh VNCH và các cuộc oanh tạc của Không
Quân Hoa Kỳ đối đầu với pháo binh cộng quân. Sư đoàn Thủy Quân Lục
Chiến đơn giản là không đủ lực lượng để thắng được đông đảo địch quân.
Chuẩn Tướng Bùi Thế Lân, Tư lệnh sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến cần được
tăng quân.
Trong suốt tháng 8, các cuộc giao tranh tại từng mỗi góc nhà và pháo
binh liên tục gây ra nhiều tổn thất hơn cho binh lính VNCH. Kể từ ngày
30 tháng 3, Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến hùng mạnh với 15,000 quân đã
thiệt mạng hết 1,358 lính và 5,500 lính bị thương. Các cuộc giao tranh
cũng đã gây ra một thiệt hại tương tự cho các cố vấn Mỹ của Sư Đoàn. Vào
đầu tháng Bảy, đơn vị Cố vấn Thủy Quân Lục Chiến đã phải yêu cầu khẩn
cấp chín sĩ quan thay thế những sĩ quan Mỹ tử nạn.
Những lời yêu cầu lặp đi lặp lại của tướng Lân về việc tăng thêm quân
đã được đáp ứng vào ngày 8 tháng 9. Ba tiểu đoàn của Liên đoàn 1 Biệt
Động Quân đến thay cho Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến 147 ở phía Bắc thị
xã, nhằm giúp Thủy Quân Lục Chiến dồn thêm các tiểu đoàn cho cuộc tấn
công. Lúc này tướng Lân đã có trong tay sáu tiểu đoàn, gồm bốn tiểu đoàn
ở hướng Nam và hai tiểu đoàn ở hướng Bắc để thực hiện nhiệm vụ. Ông vẽ
sơ đồ giáp công đến giữa thành, bố trí Lữ đoàn 147 ở hướng Bắc và Lữ
đoàn 258 ở hướng Nam. Tiểu đoàn 6 được ra lệnh tấn công từ hướng Đông
Nam.
Để kéo đối phương ra khỏi Quảng Trị, Hạm Đội 7 của Mỹ đã thực
hiện một cuộc đổ bộ giả. Lữ đoàn đổ bộ Thủy Quân Lục Chiến số 9 đã thực
hiện tất cả kế hoạch này, bao gồm tung sóng vô tuyến giả, trinh sát các
bãi đổ bộ và đưa 400 lính Biệt Động Quân VNCH lên các tàu đổ bộ của Hoa
Kỳ. Vào ngày 9 tháng 9, các cuộc pháo kích của Hải Quân, các cuộc không
kích chiến thuật và một cuộc tấn công bằng bom B-52 đã dội xuống bãi
biển phía Đông thị xã Quảng Trị. Khi trận ném bom ngưng lại, quân Bắc
Việt xông ra khỏi các hầm boong-ke để xáp chiến với lực lượng đổ bộ. Họ
bị kẹt trong làn pháo của Hải Quân và bị tổn thất nặng nề. Thiết
giáp lội nước và trực thăng của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đã vào đến bờ
biển nhưng lại quay lưng lại không tham chiến.
Trong khi Lữ đoàn 9 cầm chân đối phương, cuộc tấn công vào cổ thành
mở màn. Phía Cộng quân tái bố trí một số pháo binh của họ trước mối
nguy từ Hạm đội 7 đã làm giảm hỏa lực trước các lữ đoàn tấn công. Nhưng
Thủy Quân Lục Chiến VNCH vẫn phải đối mặt với một trận đánh khốc liệt.
Những đống gạch đổ nát do pháo kích đã tạo ra những vị trí phòng thủ
tuyệt vời và hệ thống hầm công sự của cộng quân đã chống đỡ được phần
nào hỏa lực phía Thủy Quân Lục Chiến.
Đêm 9 tháng 9, Trung tá Đỗ Hữu Tùng, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu đoàn 6
Thần Ưng TQLC cho một mũi thám báo đột nhập thành. Nhóm này báo lại là
đã gặp sự kháng cự ít ỏi, vậy là Trung Tá Tùng phát lệnh tấn công ngay
tối hôm sau. Rạng sáng đầu ngày 11 tháng 9, một chốt đại đội đã cắm vào
được vào bên trong góc Đông Nam của tòa thành. Trung Tá Tùng tung thêm
lính TQLC vào. Đồng thời, các Tiểu đoàn 1 và 2 chiếm được phía sông
Thạch Hãn, chặn đường hoạt động của phe địch. Cộng quân phản công nhưng
Thủy Quân Lục Chiến giữ vững được chiến tích xương máu của mình.
Về phía Bắc, các Tiểu đoàn 3 và 7 đã quét sạch khu vực đóng quân cộng
sản. Sáng ngày 15 tháng 9, Tiểu đoàn 3 xông vào thành. Cộng quân bắt
đầu một trận pháo kích dữ dội để cắt Tiểu đoàn 3 và Tiểu đoàn 6 ra nhau,
nhưng cả hai đơn vị này vẫn giữ được đội hình tác chiến vào xế chiều.
12:45 trưa ngày 16 tháng 9, lá cờ Việt Nam Cộng Hòa phất phới tung
bay trên Tây môn cổ thành, xem như chấm dứt 138 ngày lọt vào tay quân
cộng sản Bắc Việt.
Tin chiến thắng đi khắp thế giới. Với miền Nam Việt Nam, việc
chiếm lại được tỉnh lỵ cuối cùng trong tay địch là một điều hết sức vui
mừng. Ngày 20 tháng 9, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bay ra ủy lạo Sư đoàn
Thủy Quân Lục Chiến, chúc mừng bộ tham mưu, các sĩ quan và binh sĩ.
Việc thăng cấp và trao huân chương đã được thực hiện cùng khắp.
Thiếu tướng Lục Quân Hoa Kỳ Howard Cooksey, Tham mưu trưởng của Bộ
Chỉ huy Viện Trợ Quân Sự Vùng Một còn đề nghị tặng Huân chương Tổng
thống Hoa Kỳ, một anh dũng bội tinh cho lính Mỹ hay đồng minh đã anh
dũng chiến đấu trên chiến trường, cho toàn bộ chiến sĩ Sư đoàn Thủy Quân
Lục Chiến VNCH, dù điều này không có dấu hiệu đã diễn ra.
– John D. Howard
(Bản dịch Đinh Yên Thảo)
Nguồn: historynet.com