Wednesday, September 11, 2019

Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa

Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa
- Sinh tháng 9 năm 1925 tại Sa Đéc
- Nhập ngũ ngày 4-8-1951
- Xuất thân trường sĩ quan Võ Bị Đà Lạt Khóa 5
- Cựu Tỉnh Trưởng Vĩnh Long

1. Nguyễn Ngọc Lễ, 2. Trần Thiện Khiêm, 3. Dương Văn Minh, 4. TT Thơ, 5. Trần Văn Đôn, 6. Tôn Thất Đính, 7. Nguyễn Văn Thiện, 8. Nguyễn Văn Vỹ, 9. Nguyễn Cao Kỳ, 10. Trần Ngọc Huyến, 11. Nguyễn Hữu Có, 12. Nguyễn Văn Thiệu, 13. xxx, 14. Lê Nguyên Khang, 15. Nguyễn Giác Ngộ, 16. Dương Hiếu Nghĩa, 17. Huỳnh Văn Cao

Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa (bên phải Chuẩn Tướng Phan Hòa Hiệp, Trưởng Đoàn Quân Sự Bốn Bên Việt Nam)

CUỐI ĐỜI BINH NGHIỆP
Nói tới những ngày cuối cùng của cuộc đời binh nghiệp của mình, tôi muốn ghi lại đây những giờ phút vui buồn trong đơn vị cuối cùng của mình, Ban Liên Hợp Quân Sự, một đơn vị mà cho đến giờ nầy vẫn có rất ít người biết đến nó, kể cả phần lớn anh chị em trong QLVNCH, mặc dầu nó là đứa con út của Quân đội, một đứa con sanh sau đẻ muộn vừa thai nghén vừa ra đời thực tế chỉ trong vòng có một tuần lễ, hay vỏn vẹn chỉ có 7 ngày! Hay còn ít hơn nữa! Và đứa con út nầy chỉ sống ngoắt ngoải được có 2 năm 3 tháng 3 ngày, khai sanh của nó được ghi rõ là 12 giờ đêm rạng sáng ngày 28 tháng 3 năm 1973 và không có khai tử nhưng được biết là ngày 29 tháng 4 năm1975! Trên lý thuyết thì 4 cha 3 mẹ (1) của nó đã mong muốn phải sanh ra nó từ lâu, từ lúc có các buổi đi đêm giữa cặp tình nhân Hoa Thạnh Đốn và Hà Nội, Lê đức Thọ trao cho Kissinger bản văn của Hiệp Định Paris (tiếng Việt, do cộng sản Bắc Việt soạn thảo) để Kissinger cho dịch ra Anh ngữ và chánh thức trình làng với cái tên thật hấp dẫn : Hiệp Định chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam.. dù đó là nguyên văn sản phẩm của cộng sản Bắc Việt.
Tôi được may mắn biết được một ít về tình hình ở Hội Nghị Paris một phần nhờ giáo sư Nguyễn ngọc Huy, thuộc phái đoàn thương thuyết Việt Nam, và một phần nhờ ông John Paul Vann, cố vấn trưởng Vùng 4 Chiến Thuật. Giáo sư Huy thỉnh thoảng về Việt Nam đều cho chúng tôi biết sơ qua về diễn tiến của cuộc hòa đàm, và ông Paul Vann thì cũng thường ghé qua Vĩnh Long khi ông từ Hoa Kỳ về lại Cần Thơ qua ngã Paris.
Tôi được thuyên chuyển từ Vĩnh Long về Sài Gòn vào tháng 7 măm 1972, và ngay sau đó tôi được lệnh vào học ở trường Cao Đẳng Quốc Phòng, (khóa 5) dù là vào trễ gần 2 tuần. Về sau nầy tôi mới biết lý do tại sao. Vào tháng 10 năm 1972 khóa 5 Cao Đẳng Quốc Phòng chúng tôi được lệnh "nghiên cứu" và "sửa chữa" các điều khoản bất lợi cho Việt Nam Cộng Hòa khi Hiệp Định Ba Lê sắp sửa được ký. Ông Tổng trưởng Thông Tin Hoàng đức Nhã đã đến thuyết trình và trao bản nháp của Hiệp Định cho trường và trung tướng Vĩnh Lộc đã chia lớp học chúng tôi ra thành nhiều toán để thảo luận, nghiên cứu và sửa chữa từng điều khoản bất lợi cho Việt Nam Cộng Hòa. Và tôi được hân hạnh là một trong mấy bạn trưởng toán đó. Nói là "bản nháp" nhưng thật sự đây là bản văn "thực thụ" của Hiệp Định sắp được ký kết.
Xin thú thật là công tác thảo luận nghiên cứu được tiến hành rất là hết lòng và hết sức nghiêm túc, và sửa chữa thì có đề nghị sửa chữa, nhưng tất cả đều là công dã tràng. Có quá nhiều điều khoản cần phải sửa chữa vì tất cả lời văn đều rất là bất lợi cho phía Việt Nam Cộng Hòa nhất là trong bản Hiệp Định không có một điều khoản nào nói về sự có mặt của Quân đội chánh quy Bắc Việt ở Miền Nam Việt Nam và do đó không có một điều khoản nào buộc họ phải rút quân ra khỏi Miền Nam Việt Nam .Trong lúc đó Hiệp Định chỉ có buộc "lực lượng của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác đồng minh của Hoa Kỳ và của Việt Nam Cộng Hòa phải rút đi mà thôi."(điều 3a), và buộc Hoa Kỳ phải chấm đứt mọi hoạt động quân sự chống lãnh thổ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa bằng mọi lực lượng trên bộ, trên không, trên biển,... v.v. (điều 2), tất cả đều nhằm khóa tay Hoa Kỳ "không được tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của Miền Nam Việt Nam" (điều 4). Nhất là, Việt Nam Cộng Hòa së không được nhận đưa vào Miền Nam Việt Nam quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, kỹ thuật, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh", mà không có một điều ràng buộc nào đối với Bắc Việt (điều 7) dù ai cũng biết là Bắc Việt đã và đang nhận viện trợ Quân sự, vũ khí đạn dược và mọi dụng cụ chiến tranh cũng như cố vấn kỹ thuật từ Liên Xô, Trung Cộng hay từ khối cộng sản Đông Âu.
Vào khoảng cuối tháng 10/1972 thì ông Kissinger đã bay sang Sài Gòn để trình lên Tổng Thống Thiệu bản văn chánh thức của Hiệp Định và yêu cầu Việt Nam Cộng Hòa ký vào bản văn đó. Chẳng những Tổng Thống Thiệu không chấp nhận bản văn đó mà còn dùng lời lẽ không được nhã nhặn lắm để biểu lộ sự tức giận của mình đối với cá nhân Kissinger khi ông nầy đã rời khỏi Dinh Độc Lập. Những lời lẽ nầy đã lọt hết vào tai của Kissinger có lẽ nhờ hệ thống máy móc và kỹ thuật nghe lén của người Mỹ. Và Kissinger về luôn Hoa Kỳ mà không còn trở lại Dinh Độc Lập nữa vì ông ta cũng dư biết rằng có tới cũng không được ai tiếp kiến.
Vào khoảng trước ngày lễ Giáng Sinh, Tổng Thống Nixon lại cho oanh tạc Bắc Việt lần nữa để buộc Hà Nội phải rút quân Bắc Việt ra khỏi Miền Nam Việt Nam theo đề nghị của Tổng Thống Thiệu và để đổi lại, theo đề nghị của Tổng Thống Nixon Việt Nam Cộng Hòa phải cho giải ngũ một số khoản 300.000 binh sĩ chánh quy. Đề nghị nầy là đề nghị duy nhất và lần đầu tiên của Hoa Kỳ chính thức nói đến sự hiện diện của Quân đội chánh quy Bắc Việt ở Miền Nam do Hoa Kỳ đưa ra và đang được bàn cãi "công khai" trên bàn hội nghị Paris. Nhưng rất tiếc là Hiệp Định đã thành hình từ lâu, nên dù có bàn cãi qua loa lấy lệ thì cũng không có một dư âm nào. Dĩ nhiên đề nghị nầy hai phía Bắc Việt và Việt Nam Cộng Hòa đều không bên nào đi đến thỏa thuận cả. Phía Việt Nam Cộng Hòa chúng ta chắc chắn không bao giờ thực hiện được việc giải ngũ 300.000 binh sĩ.
Theo lời giáo sư Nguyễn ngọc Huy (lúc bấy giờ là một thành viên của phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa tại hội nghị Paris) thì đây vừa là một "đòn độc", vừa là một đòn "xỏ lá" của Kissinger đối với cá nhân Tổng ThốngThiệu (sau khi không thuyết phục được Tổng Thống Thiệu trong chuyến đi vừa qua) để ép Việt Nam Cộng Hòa phải ký vào Hiệp Định, một bản Hiệp Định hoàn toàn do cộng sản Bắc Việt chủ động thảo ra và phía Mỹ chỉ có dịch lại nguyên văn không thiếu một dấu phẩy sau nhiều buổi "đi đêm bẩn thỉu" gọi là mật dàm giữa Kissinger và Lê đức Thọ.
Cuối cùng rồi thì vào cuối tháng chạp 1972 Việt Nam Cộng Hòa cũng phải xuôi tay chịu ký vào Hiệp Định, sau khi Tổng Thống Nixon đã đích thân viết thư riêng cam kết một số vấn đề với Tổng Thống Thiệu... (dĩ nhiên về sau nầy như chúng ta đã thấy, không có một lời cam kết nào được Hoa Kỳ giữ đúng). Trung tướng chỉ huy trưởng trường Cao Đẳng Quốc Phòng và chuẩn tướng Phan hòa Hiệp (học viên) được tháp tùng phái đoàn của Bộ Ngoại Giao sang Paris với tư cách là quan sát viên của buổi ký kết..
(Tôi xin mở một dấu ngoặc ở đây để nhắc lại lời của giáo sư Nguyễn ngọc Huy đã than với chúng tôi nguyên văn như sau:" ...ngay lúc đó (cuối năm1969) Hoa Kỳ (hay đúng hơn là Kissinger) đã có quyết định bỏ rơi số phận của đồng minh Việt Nam Cộng Hòa rồi, và coi như chúng ta đã mất nước kể từ khi chúng tôi bị đưa vào ngồi ở "bàn hội nghị " ở Paris (1968)"
Tuy không nói ra nhưng hai chữ "mất nước" đã ám ảnh tôi mãi từ năm 1970 khi được tâm sự với Giáo sư Huy, và hai chữ đó cứ bàng bạc nhảy múa trong đầu tôi mãi suốt thời gian phục vụ ở Ban Liên Hợp Quân sự.
Ngay sau khi Hiệp Định được ký kết, theo điều 16 thuộc Chương VI, một số lớn học viên Khoá 5 CDQP của chúng tôi trong đó có chuẩn tướng Phan hòa Hiệp, đại tá Nguyễn tử Đóa, đại tá Trần Tín, đại tá Lê văn Chuân, đại tá Tô văn Kiểm, cá nhân tôi và một số đại tá khác nữa.... được cấp tốc chọn lựa để đưa vào một đơn vị mới: "Ban Liên Hợp Quân sự 4 Bên" với nhiệm vụ "bảo đảm sự phối hợp hành động của các Bên trong việc thực hiện các điều khoản sau đây của Hiệp Định" (nguyên văn)
- về việc thực hiện ngừng bắn trên khắp Miền Nam Việt Nam (điều 2) giữa tất cả các bên ở Miền Nam Việt Nam (điều 3a), về việc rút ra khỏi Miền Nam Việt Nam của Quân đội Hoa Kỳ và các nước ngoài khác (điều 5) và việc hủy bỏ các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ và các nước ngoài ở Miền Nam Việt Nam (điều 6), về việc trao trả nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt v.v.......
Ngã rẽ chánh trị trên con đường binh nghiệp
Trên đường phục vụ đất nước, tôi tự xem như mình đã bước qua một ngã rẽ hoàn toàn xa lạ, trong một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn: tranh đấu với bọn cộng sản mặt đối mặt trên bàn hội nghị quân sự để bênh vực quyền lợi cho Việt Nam Cộng Hòa .
Ngày đầu tiên chân ướt chân ráo đến văn phòng của Ban Liên Hợp Quân sự ở Tân Sơn Nhất, là một ngày cuối năm, giáp Tết. Văn phòng là một dãy nhà ngang trống của một đơn vị nào đó vừa mới dọn ra, không bàn không ghế, rất là luộm thuộm. Tuy nhiên anh em ai cũng biết nhiệm vụ tương lai của mình rất là quan trọng. Chúng tôi họp nhau lại để thử vạch ra một sơ đồ tổ chức tạm thời cho đơn vị mình để tạm phân công trong công việc vì theo Hiệp Định (điều 16) thì "các Bên së cử ngay đại diện để thành lập Ban Liên Hợp Quân Sự Quân sự 4 Bên ....", vì hôm nay đã là ngày 28 tháng 1 rồi, tức là đã qua ngày ký Hiệp Định một ngày rồi. Điều nầy chứng tỏ rằng phía Việt Nam Cộng Hòa chúng ta hoàn toàn bị động nên không có chuẩn bị gì cả, nhất là về sự thành lập Ban Liên Hợp Quân Sự nầy. Trung Tướng Ngô Dzu là trưởng đoàn, chuẩn tướng Phan hòa Hiệp là Phó trưởng đoàn, còn lại tất cả anh em đại tá học viên Cao Đẳng Quốc Phòng chúng tôi đều là nhân viên. Tuy vậy cũng có một vài chuyện vui vui buổi đầu làm cho chúng tôi quên đi phần nào những luộm thuộm của một đơn vị mới thành lập với một trụ sở không có một chút tiện nghi, dù tối thiểu là bàn ghế.
- Việc thứ nhất là việc tôi tiếp xúc lần đầu tiên với một nhân vật "đầu sỏ" Bắc Việt ở phi trường khi ông ta vừa bước xuống phi cơ từ Hà Nội vào. Số là tôi được chỉ định ra sân bay đón phái đoàn quân sự Bắc Việt. Đây chỉ là một nhóm tiền phương, còn phái đoàn chánh thức của Ban Liên Hợp Quân Sự Bắc Việt së đến ngày hôm sau.. Trước khi đi, anh bạn ở phái đoàn Hoa Kỳ đã cho tôi biết là trong nhóm tiền phương nầy có một người mang tên là Lưu văn Lợi, tuy chỉ mang cấp bậc đại tá, nhưng ông ta không phải là quân nhân mà là một cán bộ cấp cao trong Ban Lãnh Đạo Đảng cộng sản, là chánh trị viên của cả 2 phái đoàn Bắc Việt và CPLTCHMN. Không biết anh có tin tức từ đâu mà anh còn cho tôi biết thêm là tên Lợi nầy cũng đã từng mang cấp bậc đại tá, đại diện của Bắc Việt lúc hội nghị về tù binh nhóm ở Trung Giá năm 1954 (Hiệp Định Genève). Do đó khi gặp tên Lợi nầy trrong bộ quân phục mới toanh, rộng thùng thình không đúng kích thước, tôi bèn "chộ" thẳng một câu khi bắt tay anh ta lúc anh ta vừa bước xuống phi cơ:
- Ủa anh Lợi, 9 năm rồi mới gặp lại anh, sao anh vẫn còn là đại tá hoài vậy ?
- Anh gặp tôi ở đâu ? anh phản ứng nhanh nhưng cộc lốc.
- Ở Trung Giá chớ còn ở đâu nữa .
- Ờ... anh buông nhẹ một tiếng rồi thôi, thấy mình bị lộ.
Về sau nầy anh ta quả nhiên là một tay có thực quyền đối với hai phái đoàn cộng sản Bắc Việt và CPLTCHMN. Khi hai phái đoàn Bắc Việt và CPLTCHMN coi như đã đến đông đủ ở trại Davis rồi thì đúng là ngày giao thừa. Chúng tôi đưa đề nghị lên cấp trên là chúng ta nên lấy tình đồng bào thết đãi họ một bữa cơm tất niên ở câu lạc bội Huỳnh Hữu Bạc, ngay trong Tân Sơn Nhất. Dĩ nhiên, trong bữa cơm tất niên giao thừa nầy cò đầy đủ các món ăn truyền thống của người Việt Nam như thịt kho dưa giá, bánh chưng, bánh tét, đưa hành,v.v... hoàn toàn có tính cách đãi 2 phái đoàn mà không có một ý thức hay hành động nào gọi là chánh trị. Cấp trên của chúng tôi chấp thuận, và chúng tôi lo tổ chức bữa cơm. Nhưng bên phía Bắc Việt họ có vẻ nghi ngờ, nhất là tướng 2 sao Lê Quang Hòa trưởng đoàn Bắc Việt, không biết phía Việt Nam Cộng Hòa có ý đồ bất chánh gì chăng, nên phía Bắc Việt có vẻ chỉ cho cấp nhỏ đi dự mà thôi. Tôi đích thân đến gặp Lưu Văn Lợi, nói rõ rằng phía Việt Nam Cộng Hòa chỉ muốn đãi hai phái đoàn một bữa cơm truyền thống ngày giao thừa mà thôi, mà tuyệt đối không có ý nào khác. Hơn nữa, nhà thầu hôm nay cũng chưa kịp cung cấp thức ăn kịp cho phái đoàn nên trại Davis chắc cũng không nấu nướng gì được cho cả gần 200 người ăn. Chính anh Lưu Văn Lợi nầy đã quyết định đưa hết các tướng tá và toàn bộ hai phái đoàn đến câu lạc bộ Huỳnh Hữu Bạc dự bữa cơm giao thừa nói trên. Phần chúng tôi hoàn toàn không có ai tham dự, có nghĩa là phái đoàn Bắc Việt hoàn toàn tự do trong việc ăn uống chuyện trò vói nhau một cách thật là tự nhiên thoải mái. Sau đó, cũng chính anh Lưu Văn Lợi nầy đã gặp chúng tôi để cám ơn. Điều nầy xác nhận tin tức tình báo của anh bạn tôi trong phái đoàn Hoa Kỳ là chính xác.
(Tôi xin mở thêm một dấu ngoặc ở đây để nói rõ là năm 2003, chính tên Lưu Văn Lợi nầy đã cùng ngồi chụp ảnh chung với tướng Nguyễn Khánh và một số cán bộ thuộc tòa đại sứ cộng sản, hình chụp ở Houston Texas, tất cả đều đội nón rơm vành lớn,báo chí đã có đăng. Không biết tên cộng sản Lợi nầy qua Mỹ với ý đồ gì ? và ngồi chụp ảnh chung với tướng Nguyễn Khánh với ý đồ gì ?)
- Việc thứ hai là chuyện của anh chàng Võ Đông Giang.
Buổi họp khai mạc đầu tiên tại phòng họp của Ban Liên Họp 4 Bên Trung Ương đã có một chuyện không hay xảy ra cho anh chàng Võ Đông Giang thuộc phái đoàn của CPLTCHMN. Lúc chúng tôi đang họp, khoản 9 giờ 30 sáng, thì anh chàng nầy xồng xộc đi vào phòng họp và tự xưng tên và tự giới thiệu mình là đại biểu của CPLTCHMN. Phía Việt Nam Cộng Hòa đang chủ trì phiên họp nên chúng tôi mời ông ta xuất trình cho các Bên giấy ủy quyền của CPLTCHMN. Anh lúng túng đưa ra tờ giấy thông hành (passport) mà anh đã sử dụng để đi từ Paris sang Việt Nam. Cả hai phái đoàn Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi đều không chấp nhận, và riêng phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa đã "phang" ra một câu làm anh chàng bẽ mặt phải chịu phép bước ra ngay khỏi phòng họp mà không nói thêm một lời nào:
- Chúng tôi vẫn biết anh là người của CPLTCHMN tử Paris mới tới. Nhưng chúng tôi cần anh chứng minh rằng anh là người được CPLTCHMN chánh thức ủy quyền đại diện cho CPLTCHMN trong Ban Liên Hợp Quân sự 4 Bên. Trên nguyên tắc thì giấy ủy quyền đó phải có chữ ký của người có thẩm quyền trong Chánh Phủ của anh và có đóng con dấu của CPLTCHMN. Nhưng có thể anh về trại làm giấy ủy quyền có chữ ký của ai cũng được, thiệt hay giả không cần biết, và phải có con dấu, dù đó là con dấu làm bằng củ khoai lang, miễn đó là giấy ủy quyền của CPLTCHMN là được.
Phái đoàn Bắc Việt do tướng hai sao Lê Quang Hòa chắc cũng thấy ê mặt vì câu nói mỉa mai nầy của chúng tôi.Về sau nầy trướng Trần văn Trà từ Lộc Ninh đến là trưởng phái đoàn của CPLTCHMN và anh chàng Võ đông Giang không thấy có mặt trên Bàn Hội Nghị nữa.
Trong tháng đầu chúng tôi làm việc thật là vất vả, một mặt phải chuẩn bị bài vở hoặc dàn bài để phát biểu hằng ngày trong các buổi họp, với đủ mọi loại đề tài, vừa tấn công vừa giữ vững lập trường cố hữu của Việt Nam Cộng Hòa cho bất cứ chương nào, điều nào của Hiệp Định, lại vừa phải phối hợp chặt chẽ với phái đoàn Hoa Kỳ, một mặt phải thực hiện kịp thời và đầy đủ những văn kiện gởi cho Ủy Ban Quốc tế để liên tục phản kháng hàng chục vi phạm ngừng bắn của cộng sản trong ngày, đêm đến có khi còn phải ở luôn tại đơn vị để cùng nhau hội họp để tìm một mô hình tổ chức và một bản cấp số hợp lý cho đơn vị của mình, (dù đó phải là nhiệm vụ của Phòng 1 / TTM ), sao cho phù hợp với hai nhiệm vụ đặc biệt đã được ấn định trong điều 16 của Hiệp Định. Riêng trong giai đoạn hiện tại, nhiệm vụ chính yếu của chúng tôi là "hội nghị" và "phản kháng", do đó hai Khối chính yếu của Ban Liên Hợp Quân Sự của chúng tôi là Khối Nghị Hội và Khối Ngoại Vụ (phản kháng vi phạm và giao dịch với Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến). Rồi từ bản cấp số của Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên, chúng tôi còn phải làm ra bản cấp số của các Ban Liên Hợp Quân Sự 2 Bên cho các Vùng Chiến Thuật và cho cả các tổ ở địa phương theo đúng điều 17 của Hiệp Định.
Một phần nhờ sự thuyết trình của ông Hoàng Đức Nhã khi Tổng Thống Thiệu giao cho trường Cao Đẳng Quốc Phòng chúng tôi sửa chữa bản Hiệp Định hôm tháng 10, nên chúng tôi được biết rõ thêm về mục đích và lý do thầm kín của cả Hoa Kỳ và Bắc Việt trong tiến trình đi đêm giữa Kissinger và Lê Đức Thọ. Một phần nhờ tôi chia sẻ lại cho anh em tất cả những gì riêng cá nhân tôi đã được giáo sư Nguyễn Ngọc Huy tâm tình cho biết từ lúc hoà đàm Ba Lê mới bắt đầu hình thành (1968) cho tới ngày ký kết Hiệp Định, đặc biệt là âm mưu và thỏa thuận của Kissinger và Lê đức Thọ trong suốt quá trình mật đàm của hai người mà không bao giờ biết đến sự có mặt của phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa tại bàn hội nghị. Do đó gần như anh em chúng tôi trong phái đoàn đều nắm vững được một số yếu tố đủ để ứng phó với hai phái đoàn cộng sản trên bàn hội nghị thuộc Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên Trung ương mà không sợ rơi vào thế hạ phong bao giờ, mà vẫn giữ được mối giao hảo tốt không lộ vẻ gì khác lạ đối với phái đoàn Quân sự Hoa Kỳ, dù vẫn biết Việt Nam Cộng Hòa đã bị đồng minh của mình phản bội và bỏ rơi.
Như vậy, nhờ đã cùng nhau thảo luận, mổ sẻ và nghiên cứu trước ở Cao Đẳng Quốc Phòng từng chương, từng điều và từng câu một của bản văn Hiệp Định rồi, nên chúng tôi đã thấy rõ được phần nào những mục tiêu cần phải tranh đấu cho đất nước trong giai đoạn nầy mặc dầu đã gần như thấy một tương lai đen tối trước mặt. Một ngõ cụt với viễn ảnh mất nước cứ lởn vởn trước mắt chúng tôi vì toàn bộ Hiệp Định chỉ có lợi cho phía cộng sản và hoàn toàn bất lợi cho Việt Nam Cộng Hòa chúng ta.
Chuyện "ngừng bắn" không quan trọng bằng chuyện chứng minh cho quốc tế thấy rằng Quân đội chánh quy Bắc Việt đang có mặt tại Miền Nam Việt Nam. Nhưng cái khó là dù có chứng minh được điều nầy thì Việt Nam Cộng Hòa chúng ta vẫn không sao đuổi họ ra khỏi lãnh thổ Miền Nam được, vì trong bản Hiệp Định không có một điều khoản nào, môt câu, một chữ nào nói đến quân đội chánh quy Bắc Việt. Mặc dầu vậy, lúc nào trên bàn hội nghị chúng tôi cũng vẫn ra rả tấn công điểm nầy bất chấp sự yên lặng tảng lờ không trả lời hay chối leo lẻo của phía Bắc Việt. Dĩ nhiên, những lý lẽ tấn công nầy chúng tôi đều có kèm theo bằng chứng cụ thể (lời khai và hình ảnh của tù binh trẻ Bắc Việt, về sinh quán, đơn vị, ngày xâm nhập vào Miền Nam v.v.) và chúng tôi trao liên tục cho Ủy Ban Quốc Tế nguyên văn để họ nắm rõ sự thật là lực lượng Việt Cộng ở Miền Nam thực tế chỉ gồm toàn quân chánh quy Bắc Việt.
Tất cả anh em học viên Cao Đẳng Quốc Phòng chúng tôi đã có một nhận định rất rõ ràng là phía Việt Nam Cộng Hòa mình phải gánh chịu đủ mọi hậu quả tai hại của chánh sách và nhu cầu của Tổng Thống Nixon khi ông ta "muốn rút chân ra khỏi Việt Nam, đưa tù binh Mỹ về nước" qua cuộc hòa đàm Ba Lê và do đó chính ông đã khoán trắng cho Kissinger tự do đi thẳng với Bắc Việt (Lê Đức Thọ) trong mật đàm và đi đêm với cộng sản, để cho ông nầy bước cả qua đầu của mình lẫn hai phái đoàn Mỹ Việt ở bàn hội nghị Ba Lê, đến độ bị Lê Đức Thọ xỏ mũi trao cho dự thảo bản văn của Hiệp Định để cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ dịch ra nguyên văn không sót một chữ, một dấu phẩy nào.
Tôi chỉ xin nhắc lại một chuyện: "chuyện cái bàn", để mọi người thấy rõ hơn. Chỉ riêng chuyện "hình dáng cái bàn" không thôi, Hoa Kỳ cũng đã hoàn toàn nhượng bộ Bắc Việt mà không hiểu được ý đồ thực sự của cộng sản. Từ "cái bàn tròn" với 3 phái đoàn Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa, và Bắc Việt, lại được Hoa Kỳ và Bắc Việt thỏa thuận biến thành "cái bàn vuông" để có thêm một chỗ ngồi chánh thức cho cái gọi là phái đoàn của CPLTCHMN, mà trên thật tế đây chỉ là một bọn du kích Việt Cộng được Bắc Việt dựng lên từ phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre vào năm 1960, được Bắc Việt âm mưu tiêu diệt gần hết trong trận tổng công kích Tết Mậu Thân, để Bắc Việt ung dung thay thế gần như toàn bộ bằng lực lượng chánh quy Bắc Việt. Trong hai năm dài bàn cãi về hình dáng của "cái bàn" ở Ba Lê, cuối cùng thì Hoa Kỳ bị Bắc Việt đánh cho một cú "nốc ao", té gục để nhìn nhận ngay CPLTCHMN là một "thực thể" ở Miền Nam Việt Nam trong khi theo Hiệp Định Genève 1954 thì chỉ có 2 thực thể trên toàn cõi Việt Nam là VNDCCH (Bắc Việt) và Việt Nam Cộng Hòa (Nam Việt)! Phía Việt Nam Cộng Hòa chúng ta chỉ còn biết xuôi tay chào thua mà thôi, vì bị Đồng Minh của mình chơi trò dùng viện trợ để trân tráo ép buộc phải chịu lép vế ê mặt ngồi chung bàn với bọn Việt Cộng!
Công việc được tiến hành một cách trôi chảy trong suốt thời gian sáu mươi ngày được Hiệp Định ấn định cho Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên nhưng trên thực tế thời gian nầy được kéo dài đến gần cuối tháng 3 năm 1973 thì phái đoàn Bắc Việt mới rút khỏi trại Davis, chỉ để lại một bộ phận liên lạc khoản 10 sĩ quan mà thôi. Từ đó, Hoa Kỳ vẫn đơn phương tiếp tục các chuyến bay ra Hà Nội hàng tuần, mà họ gọi là "chuyến bay liên lạc" không được Hiệp Định ấn định hay 4 Bên thỏa thuận trong thời gian hiệp thương trên bàn hội nghị tại Tân Sơn Nhất. Phía Việt Nam Cộng Hòa không biết rõ về mục đích của chuyến bay. Các sĩ quan Bắc Việt ở trại Davis vẫn được hoán chuyển thường xuyên nhờ các chuyến bay nầy và có Trời mới biết họ và các sĩ quan Mỹ mang đi mang về Hà Nội những gì. Trung tướng Trà cũng xin về Hà Nội và được thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn từ Lộc Ninh tới chánh thức thay thế.
Tôi còn nhớ trong thời gian nầy có hai sự kiện cần phải được nhắc lại để chúng ta thấy rõ tâm trạng của tướng Trần Văn Trà. Ông vốn là người sanh trưởng ở Quảng Ngãi thuộc Miền Nam Việt Nam nên tánh tình cũng bình dị và cởi mở như người Miền Nam. Phụ tá của ông là đại tá Nguyễn Văn Sĩ người gốc ở Cần Thơ, Tư Lệnh công trường 7 tức là sư đoàn 7 của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Anh Sĩ nầy hồi học ở trường trung học Cần Thơ được anh em sinh viên gọi là Sĩ Kiếng, và là chỗ quen biết với cá nhân tôi, lúc hai hội túc cầu của hai trường Pétrus Ký và Cần Thơ gặp nhau trong các trận giao hữu hằng năm. Cho nên khi trên bàn hội nghị mà bị bế tắc về con số tù binh phải được trao trả thì tướng Trà bảo "anh Sĩ hãy chịu khó bàn thảo riêng với anh Nghĩa để giải quyết". Thế là hai anh em chúng tôi kéo nhau ra câu lạc bộ Hoa Kỳ ngay bên cạnh để tôi tha hồ "chiêu đãi anh bạn cũ'' đủ mọi loại bánh ngọt của Mỹ mà tôi biết rằng anh rất thiếu. Ngoài ra tôi còn rỉ tai to nhỏ trao đổi với anh bạn cũ của mình nhiều chuyện về cộng sản Bắc Việt, mà tù binh là một, như sau :
- Đối với anh hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thì con số tù binh mà anh muốn chúng tôi thả ra bao nhiêu cũng được hết. Nhưng anh cũng dư biết là tù binh họ muốn thả ra nầy không phải là người Miền Nam của chúng ta mà phần đông là dân Bắc Kỳ (tôi dùng thẳng danh từ Bắc Kỳ với anh Sĩ). Và tôi cũng biết là các anh đều bị bọn Bắc Việt kềm kẹp trong mọi hoạt động, ở mặt trận cũng như trên bàn hội nghị nầy. Nhưng hai anh em mình và có lẽ cả tướng Trà cũng vậy, đều hiểu và thông cảm với nhau hơn, cho nên hai anh em mình mới có dịp ngồi uống trà với nhau thoải mái ở đây. Vậy anh muốn con số bao nhiêu, tôi chấp thuận cho anh bấy nhiêu. Với anh là cái gì cũng được hết .
- Cám ơn anh, anh cho tôi chừng 70 thôi, mà nửa nầy nửa kia. Tôi nói vậy là anh hiểu rồi phải không? Tôi cũng muốn người Nam của chúng ta ra hết càng sớm càng tốt cho gia đình họ.
-Tôi hiểu rất rõ, anh bạn.
Và cứ thế tuần nào tướng Trà cũng tạo điều kiện cho hai chúng tôi gặp nhau ít nhất là 1 lần. Đây chỉ là con số tù binh được 4 Bên thỏa thuận mà thôi còn vấn đề trao trả thì do anh Phan Nhật Nam phụ trách tranh đấu thẳng với cả hai phái đoàn cộng sản tại hiện trường, hoặc ở Lộc Ninh, hoặc ở Bến Hải là địa điểm mà chúng tôi đã ép cộng sản phải nhận để Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến ghi nhận, vì là tù binh chánh quy Bắc Việt, dù bên nhận là CPLTCHMN. Vấn đề nầy cũng rất là gây cấn và không kém phần quan trọng, nên người phụ trách công tác tranh đấu chánh trị với cộng sản ngay tại hiện trường trao trả lúc đó là thiếu tá Phan Nhật Nam. Sau đó anh Nam đã viết luôn một cuốn sách: "Tù Binh và Hòa Bình" rất có giá trị, được xuất bản và phổ biến rộng rãi trước 1975 (2)
Ngoài ra trước khi rời khỏi Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên, tướng Trần Văn Trà cũng có nhờ riêng tôi mua cho ông ta một máy thu băng cassette và tất cả những băng cassette của tất cả những ca sĩ nam nữ của Miền Nam để ông mang về. Tôi giúp ông mua đầy đủ hết không thiếu một bản nhạc nào kể cả những bản nhạc tiền chiến mà sau nầy cộng sản Bắc Việt gọi là nhạc vàng Mỹ Ngụy. (tiền mua gần 500 ngàn tôi nhờ Hoa Kỳ đài thọ).
(Nhân tiện tôi cũng xin mở một dấu ngoặc ở đây để nói thêm về anh Sĩ nầy sau ngày 30/4/1975. Anh Sĩ được thăng cấp thiếu tướng và cho giải ngũ sau ngày Ban Quân Quản được giải tán tức là chỉ trước ngày cộng sản tuyên bố thống nhất cả hai miền Nam Bắc. Sau khi ra khỏi tù năm 1987, tôi có xuống Cần Thơ và đích thân vào gặp được lại anh Sĩ tại sân quần vợt của thành phố. Anh cho biết là từ năm 1977 anh "bị phục viên" (giải ngũ) với cấp bậc thiếu tướng và anh về sống ở Cần Thơ như các anh em bị phục viên khác của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, và tất cả các cán bộ chỉ huy của sư đoàn của anh đều được cán bộ đảng viên từ Miền Bắc vào thay thế hết. Tướng Trần Văn Trà, Đồng Văn Cống,v.v... đều lần lượt "bị phục viên" khi họ giải tán Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam).
Nhắc lại trong thời gian hoạt động của Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên, hầu hết các túi da beo nầy tiếng là căn cứ của CPLTCHMN nhưng thực tế là do Quân đội chánh quy Bắc Việt chiếm giữ và sử dụng như điểm xuất phát của các đại đơn vị của họ và mỗi ngày họ cứ bung ra trái với điều quy định của Hiệp Định. Do đó không khi nào có tình trạng ngưng bắn ở khắp Miền Nam Việt Nam nhất là ở vùng xôi đậu Miền Đông Nam Bộ, giao tiếp ngay với đường mòn Hồ chí Minh là con đường xâm nhập chính mà Bắc Việt đang sử dụng. Trong lúc đó, "không ảnh" vẫn cho thấy từng đoàn xe dài của Bắc Việt có cả chiến xa và Pháo Binh cơ giới cứ tiếp tục rầm rộ tiến vào hướng Lộc Ninh một cách tự do giữa ban ngày. Hoa Kỳ nhất định không can thiệp. Mặc dầu chúng ta có yêu cầu, nhưng phái đoàn Hoa Kỳ cho biết là Chánh Phủ Hoa Kỳ đã có quyết định không tái can thiệp vào công việc nội bộ của Miền Nam Việt Nam như điều 4 của Hiệp Định đã có qui định. Mặc dầu cả Hoa Kỳ và Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến đều được chúng tôi nêu rõ nhiều lần trong phản kháng với hình ảnh cụ thể là BắcViệt đã có hành động vi phạm trắng trợn (điều 7, Chương I) nầy của Hiệp Định.
Trong khi đó Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến thì lại hoàn toàn bất lực không tiến hành được bất cứ một cuộc điều tra vi phạm ngừng bắn nào trong nhiệm vụ chính yếu là "điều tra về việc ngừng bắn giữa các Bên ở Miền Nam Việt Nam" đúng theo điều 3(c), chỉ vì Lê đức Thọ đã quá khôn ngoan, khóa tay Ủy Ban bằng nguyên tắc "nhất trí" (đồng thuận) của điều 18f trong Hiệp Định mà Kissinger không bao giờ thấy được (mà có thấy chắc ông ta cũng làm ngơ). Hai thành viên cộng sản của Ủy Ban là Ba Lan và Hung Gia Lợi thì luôn luôn dựa vào nguyên tắc "nhất trí" của điều khoản nầy để cản trở hai phái đoàn Gia Nã Đại và Nam Dương trong công tác chính của Ủy Ban là điều tra, mà nếu Gia Nã Đại hay Nam Dương đơn phương dám liều lĩnh "mon men" bay vào khu vực da beo của cộng sản để điều tra vi phạm ngừng bắn mà không có sự đồng thuận của một trong hai thành viên cộng sản thôi thì cũng đủ để cho Bắc Việt cho bắn hạ trực thăng ngay, bất kể sự có mặt của sĩ quan Bắc Việt hay của CPLTCHMN trên trực thăng có sơn rõ ràng màu và dấu hiệu của Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến. Điều nầy đã xảy ra trong những ngày đầu tháng 4/ 1973 trên vùng trời Bình Chánh (Chợ Lớn) để răn đe hai thành viên Gia Nã Đại và Nam Dương. Nếu may mắn mà thành viên quốc tế nào còn sống thì së bị cộng sản bắt nhốt và hành hạ đối xử như tù binh thường với tội dám bay vào "vùng trời" của họ mà không xin phép. Ngoài ra, Ủy Ban đã chẳng những không khai triển vào đóng được ở các điểm được Hiệp Định dự trù như Lao Bảo, Vị Thanh, Đức Cơ, Xa Mát, Ben Hét, Tri Tôn, mà còn phải nằm yên bất động khắp nơi suốt mấy tháng khiến cho Gia Nã Đại quá ngao ngán và bất mãn đã phải rút chân ra khỏi Ủy Ban và về nước vô điều kiện, sau lần bị bắn thứ hai ở gần vùng Khe Sanh ngày 7 tháng 5/73 khi họ định vào tìm vị trí đóng quân cho Tổ Quốc Tế ở Lao Bảo. Sau đó vương quốc Iran được Hoa Kỳ mời vào thay chân cho Gia Nã Đại, và trong suốt thời gian từ 1973 cho đến 30 tháng 4 /1975, coi như Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến chỉ có mặt ở các đô thị Việt Nam để cho có mặt trong các buổi tiệc tùng, du hí mà thôi .
Đối với Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến, ngoài các tiệc tùng do Hoa Kỳ tổ chức khoản đãi Ủy Ban và Ban Liên Hợp Quân Sự 2 Bên, Khối Ngoại Vụ chúng tôi chỉ liên lạc và trao đổi tin tức với 2 phái đoàn Nam Dương và vương quốc Iran. Nhưng thỉnh thoảng Trung Tá Thiện của chúng tôi cũng thường xuyên liên lạc với ông Polgar trưởng toán CIA của tòa đại sứ Hoa Kỳ để biết được tin tức chính xác về đường lối và hành động của Hà Nội., qua đại tá Toth của Hung Gia Lợi, người mà ông Polgar thường hay tiếp xúc.
Riêng cá nhân tác giả bài nầy đã được phái đoàn Nam Dương hai lần giúp đỡ trong công tác tình báo chiến trường:
Vào cuối năm 1974, như thường lệ hằng tháng tôi sang thăm Đại tá Abbas, phó trưởng phái đoàn Nam Dương trong Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến ở Tân Sơn Nhất. Ông nầy vốn là sĩ quan Phòng Nhì thuộc Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Nam Dương. Sau tuần rượu khai vị thân mật, ông đưa tôi vào Phòng Tình Hình của phái đoàn, kéo tấm màn vải lên và cho tôi xem Bản Đồ Chiến Trận của Bắc Việt gồm toàn bộ các đại đơn vị chánh quy Bắc Việt. Ông chỉ cho tôi thấy vị trí của từng đơn vị cấp sư đoàn của Bắc Việt đang đóng quân hay đang di chuyển về vùng Cao Nguyên Trung Phần, tức là Vùng 2 Chiến Thuật của Miền Nam Việt Nam. Và sau đó ông ước tính là họ së tiến hành những trận đánh lớn ở vùng nầy, có thể là vào mùa Xuân năm 1975. Tôi không cần biết tại sao ông có được những thông tin nầy và có chính xác hay không vì trước đó chúng tôi đã có được những "không ảnh" nhận được từ phái đoàn Hoa Kỳ cho thấy tất cả những sự di chuyển công khai và rầm rộ bằng cơ giới của các đoàn xe Bắc Việt đều tiến về hướng Lộc Ninh, được 4 Bên mặc nhiên coi đó là thủ đô của CPLTCHMN. Tất cả đều phù hợp với nhận định và ước tính của đại tá Abbas. Tôi xin phép ông bạn Abbas cho tôi sao chép lại bản đồ nầy trên giấy kiến. Xong xuôi tôi mới từ giã ra về. Sau đó, tôi tức tốc gọi cho đại tá Võ Văn Cầm ở Phủ Tổng Thống xin vào gặp ngay Tổng Thống Thiệu. Tôi vào Dinh Độc Lập đúng 3 giờ chiều ngày 12 tháng chạp năm 1974 với các không ảnh và bản đồ chiến trận vừa sao chép được ở phái đoàn Nam Dương. Tôi và đại tá Cầm trải bản "overlay" lên bản đồ 1/100000 của Tổng Thống và tôi lập lại toàn bộ những ước tính tình báo của đại tá Abbas thuộc phái đoàn Nam Dương. Nhưng rồi Tổng Thống Thiệu lại bảo tôi mang sang cho tướng Đặng Văn Quang, điều mà tôi hoàn toàn không thi hành, vì thấy Tổng Thống đặt nhẹ vấn đề. Điều nầy tôi có cho đại tá Cầm biết.
Lần thứ hai vào khoản giữa tháng giêng năm 1975, một lần nữa tôi lại sang gặp đại tá Abbas theo lời mời của ông nầy qua điện thoại. Lần nầy cũng giống như lần trước, sau phần nghi lễ xã giao ngắn gọn ở phòng khách ông ta có vẻ nóng ruột đưa ngay tôi vào phòng tình hình để cho xem bản đồ đóng quân của các sư đoàn chánh quy Bắc Việt chung quanh hai tỉnh Kontum và Ban Mê Thuột. Đặc biệt hôm nay đại tá Abbas lại ước tính rất rõ ràng mục tiêu tấn công sắp tới của Bắc Việt së là huy hiếp Pleiku bằng hai cuộc tấn công mạnh vào tỉnh Kontum hay vào tỉnh Ban Mê Thuột nhưng Ban Mê Thuột là chắc hơn để có thể chận đường tiếp viện nếu có từ Pleiku. Tuy không nói rõ thời gian nhưng ông cho biết chắc chắn là rất gần đây thôi. Tôi lại sao chép tin tức một lần nữa và cũng xin gặp ngay Tổng Thống Thiệu để trình bày. Lần nầy thì ông Thiệu bảo đại tá Cầm đích thân trao cho Đại tướng Cao văn Viên. Không biết Tổng Thống có dặn thêm anh Cầm gì nữa không thì tôi không biết. Nhưng, tôi tin chắc rằng Tổng Thống đã đặc biệt chú ý đến tình hình của Vùng 2 Chiến Thuật, với sự có mặt của ít nhất là 3 sư đoàn bộ binh Bắc Việt trong đó có sư đoàn thiện chiến 308 cùng với một sư đoàn thiết giáp và một sư đoàn pháo binh hạng nặng và trung đoàn pháo binh phòng không. Quả nhiên mục tiêu tấn công của Bắc Việt là Ban Mê Thuột vào đêm 10 tháng 3 năm 1975 vào khoảng 3 giờ sáng. Và coi như Ban Mê Thuột chánh thức bị cộng sản chiếm hoàn toàn ngày hôm đó.
Và... Ban Liên Hợp Quân Sự 2 Bên tiếp tục sống ngoắc ngoải sau ngày 10 tháng 3 năm 1975 tức là ngày Bắc Việt tiến chiếm Ban Mê Thuột, rồi biến cố đẫm máu trên con đường liên tỉnh lộ 7B, cộng sản Bắc Việt thẳng tay giết dân lành không một tấc sắt trong tay trên đường chạy loạn, trên con đường độc đạo đã bỏ hoang từ nhiều năm, sau khi Tổng Thống Thiệu nhắm mắt đánh phé với Hoa Kỳ bằng cách ra lệnh rút bỏ Vùng 2 Chiến Thuật qua một phiên họp ngắn ở Nha Trang với sự có mặt của đại tướng Cao Văn Viên, Trần Thiện Khiêm và Tư lệnh Vùng 2 Trần Văn Phú. Tôi đã có mặt ở Nha Trang ngay ngày hôm đó, nhưng không phải để chứng kiến phiên họp cấp cao nầy, mà là để được nghe trung tướng Phạm Quốc Thuần ở Trung Tâm huấn luyện Đồng Đế thuật lại đầy đủ tình hình và diễn tiến của phiên họp lịch sử ngày hôm đó..
Sau khi thua cây phé quá nặng nầy (mất cả Vùng 2 Chiến Thuật và Quân Đoàn 2), coi như QLVNCH lần lượt bị tan rã từ từ mà không có một trận đánh nào từ Huế, Đà Nẵng cho tới Nha Trang... Chỉ còn có Xuân Lộc với những pha chiến đấu anh dũng duy nhất của sư đoàn 18 bộ binh và lữ đoàm 3 thiết giáp, được tăng cường một số đơn vị Biệt động Quân và Nhảy Dù, với sự yễm trợ tích cực của Không Quân Chiến Thuật trong những ngày cuối tháng 4/75, nhưng rồi vì thiếu vũ khí đạn dược, dù có đầy đủ tinh thần chiến đấu chúng ta vẫn phải chịu cúi đầu với số mạng hẩm hiu của một Quốc Gia và một Quân Đội bị Đồng Minh Hoa Kỳ của mình bỏ rơi một cách quá bỉ ổi và tàn nhẫn, không một luyến tiếc... chỉ vì quan điểm của cường quốc đối với quốc gia nhược tiểu:
"Quyền Lợi mới là chánh yếu, là trường cửu, còn Đồng Minh chỉ là Tạm Thời... giai đoạn"
Và Ban Liên Hợp Quân Sự chúng tôi bị pháo kích suốt đêm 29 tháng 4, từ 9 giờ 30 tối đến rạng sáng ngày hôm sau với hai dãy nhà ngang của hai Khối Nghị Hội và Ngoại Vụ bị cháy dưới sự chứng kiến đầy bất lực của chúng tôi (cá nhân tôi và đại tá Võ Văn Ba), và với khoảng 10 nhân viên bị thiệt mạng không cứu ra được. May mắn là chúng tôi kịp chạy ra nằm ngay dưới đường rãnh bên đường trước trụ sở của Ban Liên Hợp Quân Sự nên đã tránh được không bị thương và cũng không bị kẹt trong đám cháy. Do đó như tôi đã nói ở phần đầu là Ban Liên Hợp Quân Sự được chánh thức khai tử ngày 29 tháng 4 năm 1975.
Để kết thúc bài nầy, chúng tôi xin nói rõ là đứa con út của QLVNCH, là đơn vị Ban Liên Hợp Quân Sự của chúng tôi đã được khai tử ngày 29 tháng 4 năm 1975, đồng thời cuộc đời binh nghiệp của cá nhân Dương Hiếu Nghĩa coi như cũng bị chấm dứt ngay ngày quốc hận 30/4/75 cùng chung với số phận của Miền Nam Việt Nam và của tất cả anh chị em trong QLVNCH qua sự xâm lăng tàn bạo và trắng trợn của cộng sản Bắc Việt được chuẩn bị rất chi ly từ lâu với bản Hiệp Định Ba Lê 27 tháng giêng 1973, bằng đường lối bá đạo, bịp bợm và tàn ác trong đó có sự tự nguyện tiếp tay đắc lực của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ đã quyết định sai lầm là bội ước, phản bội đồng minh, dẫn đến sự bức tử của Việt Nam Cộng Hòa và sự tan rã của QLVNCH.

Tiểu bang Washington ngày 15 tháng 11 năm 2004
Dương Hiếu Nghĩa

Ghi Chú:
(1) .- Bốn Cha Ba Mẹ: Nguyên thủy thì cuộc hòa đàm Ba Lê chỉ có "Ba Mẹ" là Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa và VNDCCH (Bắc Việt). Nhưng về sau có thêm cái gọi là CPLTCHMN (Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam) được cộng sản Bắc Việt khai sanh và đòi Hoa Kỳ phải nhận nó như một thực thể như Việt Nam Cộng Hòa, mặc dầu nó chỉ là một sự thay tên đổi họ của nhóm Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, nên gọi là "Bốn Cha".
(2) "Quyển "Tù Binh và Hòa Bình" của nhà văn Phan Nhật Nam thiếu tá thuộc Ban Tù Binh trong Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên, đã được xuất bản tại Việt Nam trước 1975. Sau khi ra khỏi nhà tù cộng sản vào cuối thập niên 80, anh được định cư ở Hoa Kỳ và quyển Tù Binh Và Hòa Bình được tái bản đến 2 lần, lần thứ hai vào năm 1988 do nhà xuất bản Đông Tiến, San jose, California. Đồng thời, tác phẩm Tù Binh và Hòa cũng đã được dịch sang Anh ngữ với tựa đề: "Peace and Prisoners of War", được lưu giữ trong các thư viện khắp Hoa Kỳ.

Hồi Ký Dang Dở
- Cuộc đời binh nghiệp

Monday, September 9, 2019

On the upcoming death anniversary of the RVN President - Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và công lao của một vị tướng.


On Facebook, this article posted by a person aka Phương Dung.
Chánh quyền cộng sản Hà Nội đã cố tình tỏ ra thờ ơ, lạnh nhạt trước tin  Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu qua đời. Nguyên nhân then chốt dẫn đến sự  lạnh nhạt cố tình và thái độ thù nghịch của chánh quyền Hà Nội đối với Tổng thống Thiệu chính là do sự sáng suốt nhìn rõ bản chất biển lận của  cộng sản và lập trường chống cộng trước sau như một của Tổng thống  Nguyễn Văn Thiệu trong suốt những năm dài của cuộc chiến tranh VN.
Là một người Việt yêu nước, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã có thời đi theo Việt Minh với ước vọng phụng sự cho đất nước. Nhưng chỉ trong thời  gian ngắn, ông đã nhìn rõ bộ mặt tàn nhẫn của Việt Minh nên nhanh chóng  từ bỏ. Tổng thống Thiệu, dù ở bất cứ cấp bậc nào hay cương vị nào, ông cũng  không bao giờ chấp nhận thương thuyết, thỏa hiệp hay có bất cứ ảo tưởng  nào về cộng sản. Chính nhờ vậy, lập trường chống cộng 4 không, và câu  tuyên bố của ông đã trở thành chân lý.
Cho đến khi Mỹ bắt tay với cộng sản để thông qua Hiệp Định Ba Lê với  những điều khoản vô cùng phi lý, có nguy cơ bức tử VNCH, Tổng thống  Nguyễn Văn Thiệu là một trong những người Việt hiếm có nhìn rõ nguy cơ  đó và dám công khai chống lại Tổng thống Nixon và ngoại trưởng  Kissinger. Sau này, trước sự đe dọa Mỹ sẽ cắt viện trợ, trước thái độ Mỹ  sẵn sàng đơn phương ký kết hiệp định Ba Lê với CS Bắc Việt bất chấp sự  chống đối của VNCH, và trước những lời cam kết bảo vệ VNCH bằng mọi giá  được viết xuống trên giấy trắng mực đen của Tổng thống Nixon, Tổng thống  Nguyễn Văn Thiệu đành phải ký kết Hiệp Định Ba Lê.
Nhận thức được vai trò và khả năng vô cùng quan trọng của Tổng thống Thiệu sẽ là một cản trở to lớn đối với ý đồ thôn tính Miền Nam nên trong  những ngày cuối cùng của tháng 4/75, cộng sản Hà Nội đã tìm đủ trò tháu  cáy và tạo áp lực tối đa với Mỹ để loại trừ tổng thống Thiệu ra khỏi vị  thế quyền lực của chánh phủ VNCH. Hậu quả, với áp lực của Mỹ, với những  lời đe dọa "sẽ có đảo chánh giống như đảo chánh Ngô Đình Diệm" cộng thêm thái độ chủ hòa, bạc nhược, ảo tưởng hòa hợp hòa giải của một số tướng lãnh, chính khách. Tổng thống Thiệu không còn cách nào khác ngoài cách phải từ chức.
Sau khi tổng thống Thiệu từ chức, cả Mỹ lẫn CS Hà Nội, bằng mọi giá phải đẩy ông ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Có như vậy, những  toan tính thông đồng giữa Mỹ và CS mới có thể thực hiện, sự an toàn tối  đa cho sự triệt thoát của người Mỹ khỏi Việt Nam mới được bảo vệ, và  việc thôn tính Miền Nam qua vở tuồng hòa hợp hòa giải của CS mới có cơ  thành tựu. Đó là nguyên nhân khiến Tổng thống Thiệu bị buộc phải rời  khỏi VN cấp kỳ ngay sau khi ông từ chức. Trong khi đó, nhiều người VN,  cho đến hôm nay, vẫn cho rằng cuộc ra đi của ông là một sự trốn chạy,  một sự phản bội.
Thậm chí, chánh quyền CS Hà Nội, mặc dù đã biết rõ, tổng thống Nguyễn  Văn Thiệu khi rời VN không hề mang bất cứ tấn vàng nào của công qũy, và  tài sản riêng của ông cũng không hề có bất cứ tấn vàng nào như sự đồn  đại, nhưng trong suốt 26 năm qua, CS Hà Nội vẫn rêu rao dựng đứng tin  Tổng thống Thiệu ra đi mang theo 16 tấn vàng ông đã vơ vét.. Ngay cả hôm  nay, khi tổng thống Nguyễn Văn Thiệu nằm xuống, khi mà Phan Thúy Thanh,  phát ngôn viên ngoại giao CS Hà Nội leo lẻo tuyên bố "nghĩa tử là nghĩa  tận", thì trên báo Thanh Niên, báo Nhân Dân, và các cơ quan truyền thông  của CS, vẫn công nhiên lôi chuyện 16 tấn vàng để bôi nhọ tổng thống  Thiệu.
Đồng ý, trên một số phương diện, vì lý do nào đó, Tổng thống Nguyễn Văn  Thiệu đã không đáp ứng được sự kỳ vọng của những người Việt Nam yêu tự  do. Cụ thể, khi đất nước mất vào tay cộng sản, ông đã không có được cái  hào khí vị quốc tuẫn tiết như tướng Nam, tướng Hưng. Chứng kiến cảnh đất  nước tang thương dưới sự đô hộ của cộng sản, Tổng thống Thiệu cũng  không có được lòng dũng cảm, sự hy sinh, thái độ dấn thân để trở thành  một lãnh tụ kháng chiến theo đuổi con đường phục quốc, giải phóng quê  hương như tướng Hoàng Cơ Minh. Hơn nữa, suốt 25 năm sống tại hảo ngoại,  Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã chọn cho ông cuộc sống xa lánh thời thế,  cách biệt mọi nỗi đau buồn của dân tộc, của cộng đồng người Việt tỵ  nạn...
Tuy nhiên, trên nhiều phương diện, Tổng thống Nguyễn  Văn Thiệu là một người có công với đất nước, với dân tộc Việt Nam. Nhứt  là trong cương vị một quân nhân, một vị tướng, ông đã có những đóng góp  quan trọng trong việc xây dựng quân lực VNCH từ thuở còn trứng nước cho  đến khi trở thành một đội quân hùng mạnh, ngăn chặn làn sóng đỏ suốt 15  năm trời.
Trong tư cách một vị nguyên thủ quốc gia  suốt thời gian ngót 10 năm, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã đặt nền tảng  căn bản cho một chủ thuyết và một thái độ minh bạch không đội trời  chung đối với kẻ thù cộng sản. Sự sáng suốt và thái độ kiên quyết của  ông là một trong những yếu tố quan trọng giúp VNCH hóa giải được những  tư tưởng chủ hòa, những thành phần hòa hợp hòa giải, duy trì được sức  mạnh quốc gia, chống chọi được cộng sản.
Đặc biệt, trong mối quan hệ với đồng minh đầy quyền lực như Hoa Kỳ, tổng  thống Nguyễn Văn Thiệu đã duy trì một cách vừa khôn khéo vừa cương  quyết mối quan hệ ngoại giao để vừa bảo đảm sự hậu thuẫn liên tục của Mỹ  vừa bảo vệ được chủ quyền quốc gia và tư thế của một vị nguyên thủ.
Nhìn vào cục diện chiến tranh Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu xuyên  suốt thời gian nhiều thập niên, ta sẽ thấy Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu  là một trong những người đã có những đóng góp lớn lao trong công cuộc  bảo vệ VNCH. Đáng tiếc, cho đến tận hôm nay, khi ông vĩnh biệt trần thế,  xem ra chỉ có những người cộng sản, kẻ thù của ông mới âm thầm và hậm  hực đánh giá sức mạnh, tài năng và ý chí của ông một cách đúng đắn. Còn  phần đông chúng ta, vì lý do này hoặc lý do khác, đã không nhìn thấy hết  kích thước tài năng cùng những đóng góp của ông. Đau lòng hơn nữa, có  một số người do hạn chế trình độ, tầm nhìn và tư cách, đã dễ dàng bị  cộng sản tuyên truyền, hễ nói đến tổng thống Thiệu là khư khư cho rằng,  đất nước mất vào tay cộng sản là do tổng thống Thiệu, 16 tấn vàng không  cánh mà bay cũng do tổng thống Thiệu...
Phải chăng vì cả một phần lớn cuộc đời cống hiến cho  mục tiêu chống cộng bảo vệ quê hương nhưng bất thành, phải chăng vì bị  đồng minh phản bội, đồng bào hiểu lầm, nên trong những năm tháng lưu  vong, Tổng thống Thiệu đã sống trong cô đơn và cay đắng" Phải chăng vì  vậy, ngay cả những chiến hữu thân cận, từng vào sinh ra tử với ông, xem  ra cũng hiếm có người cùng ông chia xẻ ngọt bùi trong tình huynh đệ chi  binh cùng ông"
Bây giờ ông đã vĩnh viễn nằm xuống.  Sự ra đi của ông là sự ra đi của một vị tổng thống từng một thời oanh  liệt, hiển hách; của một vị tướng đã vào sinh ra tử bảo vệ sự tự do của  quê hương đất nước trước làn sóng đỏ. Vậy mà xem ra, đi tìm một sự xúc  động chân thành dành cho ông ở Việt Nam hay ở hải ngoại, là điều rất  khó. Phải chăng, đó là bi kịch chung của tất cả những người có công, có  lòng, nhưng đã mất quyền, mất thế"
Phương Dung

Friday, September 6, 2019

Với những Người Lính Nhảy Dù vắng mặt…Phan nhật Nam và Phàn Hồi của Hải Ngoại Phiếm Đàn

 Đại Úy Phan Nhật Nam
Một bài viết hay của nhà văn Nhảy Dù Phan Nhật Nam về một vị tướng Nhảy Dù một thời lừng lẫy chiến công , nhưng cuối cùng thân bại danh liệt vì đã bán quân trang , vũ khí, thực phẩm , quân dụng hàng đoàn xe công voa cho bọn CSBV . Một vị tướng bị giáng cấp xuống đại uý quân phạm , đã được chào đón trong Đại Hội GĐMĐ Hải Ngoại lần thứ 39 tại Nam CA . Một sự đón tiếp vô tiền khoáng hậu trong binh chủng ND hải ngoại ( ??? ) .
Tướng Nguyễn văn Hiếu là người đã phanh phui ra sự buôn lậu, tham nhũng của các tướng bẩn trong QLVNCH, đã bị chết một cách khó hiểu trong văn phòng làm việc của ông vào những ngày miền Nam sắp mất
Cường Vương

Với những Người Lính Nhảy Dù vắng mặt
Dẫn Nhập: Ngày 30 và 31 Tháng 8, 2019 tại vùng Nam Cali có tổ chức Đại Hội Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam Hải Ngoại Lần Thứ 39, quy tụ hơn 800 cựu quân nhân nhảy dù, gia đình đến từ các Tiểu Bang Hoa Kỳ, các nước Âu Châu, Úc Châu, Gia Nã Đại, bao gồm một số chiến binh nhảy dù đến từ Việt Nam. Đặc biệt kỳ đại hội nầy có nhiều sĩ quan cao cấp thuộc binh chủng Dù, các Quân Y Sĩ phục vụ Quân Y Nhảy Dù từ lúc đơn vị còn là mang phiên hiệu liên đoàn (sau 1954); lữ đoàn trước 1965… Đây là một đại hội tập họp số lượng người tham dự đông đảo nhất từ trước tới nay. Tuy nhiên có một số lớn vắng mặt: Những người không thể tham dự đại hội – Những Người Đã Chết – Những Chiến Binh, Quân Y Sĩ Nhảy Dù hiến thân trên các chiến trường sau lần Hà Nội mở cuộc chiến xâm lược Miền Nam qua tổ chức Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (19/12/1960) cho đến ngày tàn cuộc- Sáng 30/4/1975 trên đường phố Sài Gòn, ngay tại Ngã Tư Bảy Hiền, trước cổng Trại Hoàng Hoa Thám, bản doanh của Sư Đoàn Nhảy Dù.
***
Một: Trước tiên cần đề cập đến một chi tiết nhỏ.. Người viết nguyên là Thiếu Úy

Phan Nhật Nam
Trung Đội Trưởng Đại Đội 72/TĐ7ND (1963-1965); Đại Đội 72 có nguyên gốc từ Tiểu Đoàn 3/ND do Trung Úy Trần Quốc Lịch đưa từ Sài Gòn về Biên Hòa khi TĐ7ND tái thành lập, 1/12/1960. Sau những đơn vị cấp tiểu đoàn, năm 1968, người viết nhận nhiệm vụ Sĩ Quan Hành Quân-Tiếp Vận/Lữ Đoàn 2 ND (1968-1970), do Trung Tá Trần Quốc Lịch chỉ huy thay thế Trung Tá Đào Văn Hùng tại thời điểm cộng sản tổng tấn công Mậu Thân Đợt 2, tháng 5/1968. Những chi tiết vừa nêu xét thấy cần thiết của bài viết sẽ trình bày về người và việc như sau..
Đầu năm 1970, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 2 Trần Quốc Lịch được thăng cấp Đại Tá Nhiệm Chức, chỉ huy các tiểu đoàn cơ hũu (TĐ 5,7,11) và các đơn vị tăng phái, thống thuộc hành quân trong giai đoạn 1970-1972. Tháng 9, 1972, do công trận, chiến tích các đơn vị thuộc Lữ Đoàn 2 thâu đoạt, Đại Tá Lịch được bổ nhiệm giữ chức Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh thay thế Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng; 1/11, 1972, Đại Tá Lịch tiếp thăng cấp Chuẩn Tướng nhiệm chức; tháng 7, 1973, Chuẩn Tướng Lịch được lệnh bàn giao Sư Đoàn 5 lại cho Đại Tá Lê Nguyên Vỹ, tiếp giữ chức vụ Chánh Thanh Tra Quân Đoàn IV/Quân Khu 4. Cuối năm 1974, Chuẩn Tướng Lịch bị câu lưu do tội danh tham nhũng, tạm giam tại Đề Lao Chí Hòa, buộc phải giải ngũ, giáng xuống cấp đại úy! Phiên tòa quân sự chính thức xét xử Đại Úy Trần Quốc Lịch về tội danh tham nhũng chưa thực hiện thì xẩy ra biến cố 30/4/1975. Vụ án Chuẩn Tướng/Đại Úy Trần Quốc Lịch chìm khuất trong đại nạn nước mất nhà tan. Chẳng mấy ai trong, ngoài quân đội nơi Miền Nam nhớ đến những vụ việc tai tiếng “tham nhũng còi hụ Long An”; vụ bán quân trang, vũ khí, gạo.. chất sẵn trên quân xa chuyển giao cho Việt Cộng trên Quốc Lộ 13, trong vùng trách nhiệm của Sư Đoàn 5 Bộ Binh tại thời đoạn dưới quyền Tư Lệnh Trần Quốc Lịch.. Coi như những giọt nước tràn chiếc ly đã vỡ của tình cảnh Quốc Hận toàn Miền Nam, cả Dân Tộc Việt Nam!


Ch/Tướng Trần Quốc Lịch SĐ5BB
Đến đây chúng ta có thể kết luận: Vụ tham nhũng tại Sư Đoàn 5 Bộ Binh trong giai đoạn Chuẩn Tướng Trần Quốc Lịch (1973-1974) là một sự kiện có thật qua thực tế: Trần Quốc Lịch từ Chuẩn Tướng bị giáng xuống Đại Úy và bị giam giữ tại Chí Hòa cho tới ngày 30/4/1975. Riêng những chi tiết: Tổ chức tham nhũng gồm những ai? Đầu mối chỉ đạo, điều hành từ đâu? Diến tiến, quá trình tham thực hiện như thê nào.. ? Quả tình không ai được rõ, vì phiên tòa quân sự chính thức chưa mở với hồ sơ an ninh quân đội, quân cảnh tư pháp Quân Khu III/Vùng III dẫu đã thiết lập với chứng cứ đầy đủ… Nước mất, quân đội bó tay, thất trận 1975 thì có đáng kể gì thêm những mưu mô tham nhũng, nằm vùng, trở cờ, phản bội. Và quân dân miền Nam nơi hải ngoại, ở trong nước bởi mối đau chung quá lớn của Ngày 30/4 nên chẳng mấy ai nhớ ra, muốn nhớ đến những tính danh gọi là.. Nguyễn Hữu Hạnh, Nguyễn Thành Trung, kể cả Dương Văn Minh, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát!! Người Việt-Người Lính Miền Nam chỉ CẦN nhắc đến những phương danh kỳ vĩ: Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ.. Những Lữ Đoàn Trưởng Nhảy Dù, Tư Lệnh Quân Đoàn IV, Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Trong tình cảnh ấy, danh tính “Chuẩn Tướng/Đại Úy Trần Quốc Lịch” đồng bị bỏ quên – Bao gồm bản thân của chính đương sự kể từ thời điểm 1991, khi người nầy ra đến hải ngoại. Điển hình tại các sinh hoạt của Gia Đình Mũ Đỏ Hải Ngoại cho đến kỳ thứ 39 trong ngày 30 và 31 tháng 8 vừa qua. Cũng cụ thể với chính bản thân người viết, dẫu có những liên hệ trực tiếp chặt chẽ như phần trên đã trình bày, nên đã ”không nghe/không biết/không nói đến danh tính “Chuẩn Tướng/Đại Úy Trần quốc Lịch” – Hoàn toàn không là vấn đề yêu/ghét giữa hai cá nhân.

Hai: Dạ tiệc Tiền Đại Hội Lần Thứ 39 được tổ chức tại Nhà Hàng Diamond Seafood Palace, và dạ tiệc, văn nghệ mừng đại hội kết thúc tại Đại Sảnh Đường Khách Sạn Delta, Marriot Hotel, Thành phố Anaheim với sự tham dự của một số lượng lớn chiến hữu, thân hữu, và thân nhân Gia Đình Mũ Đỏ Hải Ngoại, “Chuẩn Tướng Trần Quốc Lịch” được mời dự với tư cách Niên Trưởng Danh Dự do cấp bậc cao nhất của buổi hội. Hơn thế nữa, buổi Hội Ngộ Quân Y Sĩ Nhảy Dù trong đêm 1 Tháng 9 tiếp theo tại nhà hàng Paradise Seafood, Westminster, “Chuẩn Tướng Trần Quốc Lịch” cũng được mời tham dự với tư thế trang trọng tương tự: Niên Trưởng Mũ Đỏ Cao Cấp Nhất. Bài viết nầy được hình thành bởi lý do sau đây.
Trong cuộc đảo chính 11 Tháng 11, 1960, Đại Tá Nguyễn Chánh Thi và các sĩ quan thuộc Lữ Đoàn Nhảy Dù như Thiếu Tá Trần Văn Đô, Phan Trọng Chinh khi khởi sự hoặc sau khi thất bại luôn nêu bật đến Yếu Tố Chính Trị của cuộc đảo chính hoàn toàn khác biệt với Công Trận của Lữ Đoàn Nhảy Dù. Sự kiện khác biệt nầy tạo nên một KHOẢNG CÁCH RẤT LỚN giữa Chiến Tích Quân Sự với Hành Vi Chính Trị của những cá nhân tham gia đảo chánh, điễn hình với Đại Tá Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Liên Đoàn/Lữ Đoàn Nhảy Dù (1956-1960). Cũng thế, có một khoảng cách khác biệt bất khả bù trù, không tác động, không hổ tương… giữa công trận của Trung Úy ĐĐT/ĐĐ72/TĐ7ND-Thiếu Tá TĐT/TĐ3ND-Đại Tá LĐT/LĐ2ND Trần Quốc Lịch với Chuẩn Tướng Tư Lệnh SĐ5BB/Đại Úy Quân Phạm Trần Quốc Lịch. KHOẢNG CÁCH KHÁC BIỆT NẦY KHÔNG BAO GIỜ CÓ THỂ VƯỢT QUA. Bởi đấy là sự khác biệt có Tính Nguyên Lý: Thiện/Ác; Xấu/Tốt; Anh Hùng/Kẻ Phản Bội.. “Chuẩn Tướng Cựu Tư Lệnh SĐ5BB/Đại Úy Quân Phạm Trần Quốc Lịch” đã vượt qua ranh giới nầy từ, với Đại Hội 39 của Gia Đình Mũ Đỏ Hải Ngoại.
Bản thân cá nhân người tên là Trần Quốc Lịch không hề có khả năng vượt qua ranh giới khác biệt kể trên, nhưng đương sự đã vượt qua với sự đồng thuận, hổ trợ thực hiện của Ban Tổ Chức Đại Hội 39 Gia Đình Mũ Đỏ Hải Ngoại, với sự quyết định cuối cùng của Ban Chấp Hành Gia Đình Mũ Đỏ Hải Ngoại. Sự xâm phạm Nguyên Lý Đạo Đức Chính Danh thêm được hiện thực qua đêm Hội Ngộ Cựu Quân Y Sĩ Nhảy Dù 1 tháng 9 tại nhà hàng Paradise Seafood với “Niên Trưởng Mũ Đỏ Chuẩn Tướng Trần Quốc Lịch”. Chẳng lẻ trong ngàn quan khách tham dự đêm dạ tiệc Tiền Đại Hội, Đêm Dạ Tiệc Chính, Đêm Hội Ngộ Quân Y Sĩ.. KHÔNG MỘT AI NHỚ ĐẾN LẦN GIÁNG CẤP CỦA ĐẠI ÚY QUÂN PHẠM TRẦN QUỐC LỊCH HAY SAO? Chẳng lẻ trí nhớ con người ngắn đến thế?!
Ba: Quân sử Quân Lực VNCH nói chung, Binh Chủng Nhảy Dù nói riêng chắc không có đơn vị cấp đại đội nào gánh chịu số phần bi thảm khốc liệt như Đại Đội 72 thuộc Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù, KBC 4919 – Đơn vị mà năm 1960 Trung Úy Trần Quốc Lịch đã đưa từ Tiểu Đoàn 3 ND về Biên Hòa như trên đã trình bày. 11/6/1965, Đại Đội 72 chung nghiệt cảnh của Tiểu Đoàn 7, đã bị thiệt hại nặng chỉ còn khoảng 10 người! Bản thân là viên thiếu úy mang cấp bậc cao nhất còn lại với viên Chuẩn Úy Dương Văn Chánh (em của Phu Nhân Dương Thị Thanh, Người Bạn Đời Chiến Đấu với Tướng Quân Trương Quang Ân, Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Nhị vị đồng hóa thân trong lửa vào ngày 8 tháng 9, 1968 trên chiến địa Đức Lập). Chuẩn Úy Chánh và Đại Đội 72 với quân số mới bổ sung dưới quyền của Trung Úy Phạm Ngọc Bích từ Tiểu Đoàn 3 chuyển về (Do Tiểu Đoàn Trưởng TĐ3, Thiếu Tá Trần Quốc Lịch ưu tiên chỉ định đối với đại đội cơ hữu đầu đời của mình) tiếp nhận số mệnh bi thảm gấp bội.. Ngày 11 tháng 12, 1965, toàn thể đại đội 81 người đồng tử nạn phi cơ trong chuyến bay từ Phú Bổn về Tuy Hòa. Năm 1974, 14 bao đựng xác được thu hồi, nhưng mãi đến năm 2012 tất cả mới được nhận dạng, xác định tính danh.
Năm 1968, trận chiến lớn xẩy ra tại một địa danh vang động thế giới: Chiến trận Khe Sanh khiến tất cả đại đội trưởng tác chiến của Tiểu Đoàn 3 đồng bị thương trận, bạn tôi, Đại Úy Nguyễn Đức Cần, Khóa 19 Võ Bị Đà Lạt tử thương góp nên phần công trận hiển hách cho Thiếu Tá Trần Quốc Lịch. Thiếu Tá Lịch vinh thăng trung tá, tiếp giữ chức Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 2 như trên đã trình bày trong khi có những trung tá thâm niên chức vụ, cấp bậc như Trung Tá Nguyễn Viết Cần, bào huynh của Cố Trung tướng Nguyễn Viết Thanh.
Cuối cùng, trận chiến 1972, Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn Đình Bảo và hàng trăm chiến binh của TĐ11ND đã hy sinh trên cao điểm Charlie (12/4/1972) nâng cao trị giá chiến đấu của Lữ Đoàn 2, tạo nên sức đẩy để Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng Trần Quốc Lịch tiếp vinh thăng Chuẩn Tướng, 1/11/1972.
Nhắc lại những chi tiết kể trên để dẫn chứng một điều: Suốt thời gian dài từ 1960 đến 1972.. Bao nhiều Người Lính Nhảy Dù thuộc các đơn vị Đại Đội 72; Tiểu Đoàn 3; Lữ Đoàn 2 Dù những đơn vị dưới quyền chỉ huy trực tiếp của người mang tên Trần Quốc Lịch đã hy sinh.. Tất cả đã tạo nên “vinh quang dưới bóng cờ” – Một thành ngữ hoa mỹ mà Trần Quốc Lịch thường dùng để mô tả công trận của mình.
Chuẩn Tướng Trần Quốc Lịch
Xương máu của chiến binh đơn vị nhảy dù hy sinh xây dựng nên công trận Chuẩn Tướng Trần Quốc Lịch trong dịp cuối tháng 3, 1975 được đậm thêm bởi lượng máu của Liên Đoàn 31 Biệt Động Quân, nơi chiến địa Chơn Thành, Bình Dương, cửa ngỏ Bắc Sài Gòn trong trận chiến tuyệt vọng không cân sức chống lại Công Trường 7 (Sư đoàn 7 bộ binh cộng sản) và thành phần cộng sản địa phương Miền Đông Nam Bộ.. Phía cộng sản ngoài ưu thế hỏa lực, quân số vượt trội còn được tăng cường thêm vũ khí, quân trang cụ, lương thực, xe quân vận của quân lực VNCH do lần tham nhũng từ nhân sự chỉ huy Sư Đoàn 5 BB chuyển lại! Thế nên, chiến hữu Sư Đoàn 5 Bộ Binh ở hải ngoại trong các dịp Lễ Tưởng Niệm chỉ bắt đầu từ Tư Lệnh Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, kêt thúc với Tư Lệnh Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ và không hề nhắc tới “Tư Lệnh Chuẩn Tướng Trần Quốc Lịch”! Chắc hẳn chiến hữu Sư Đoàn 5 Bộ Binh không có ý phân liệt Nhảy Dù/Bộ Binh vì Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ vốn xuất thân từ Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù – Và cả hai cũng từ cấp thiếu úy, trung úy nên danh vị Chuẩn Tướng – Nhưng rất khác xa!
Riêng về phần quân Y Sĩ Nhảy Dù với Y Sĩ Trung Úy Nghiêm Sĩ Tuấn thuộc Tiểu Đoàn 6 đã cùng lần hy sinh (4/1968) nơi chiến địa Khe Sanh với Đại Úy Nguyễn Đức Cần thuộc Tiểu Đoàn 3, dưới quyền Thiếu Tá Trần Quốc Lịch. Cái chết của Y Sĩ Trung Úy Nghiêm Sĩ Tuấn hiện thực sự chọn lựa lặng lẽ đầy dũng khí của tuổi trẻ dấn thân ý thức nơi Miền Nam: Y sĩ trưng tập chỉ với thể hình cao 1 thước 58, nặng 40 ký nhưng đã tình nguyện chọn Binh Chủng Nhảy Dù trong ngày mãn khóa y khoa bác sĩ! Y Sĩ Trung Úy Nghiêm Sĩ Tuấn chết với bông băng cứu thương cầm trong tay khi băng mình dưới đạn pháo để chạy đến giao thông hào, nơi có người lính bị nạn kêu cứu.. Bác sĩ!! Bác sĩ! Với tính chất cao quý xã thân nầy, tôi có suy nghĩ rằng: Nếu còn sống đến hôm nay, Y Sĩ Trung Úy Nghiêm Sĩ Tuấn hẳn sẽ vắng mặt trong buổi hội ngộ Quân Y Sĩ Nhảy Dù với sự có mặt của người khách danh dự Chuẩn Tướng/Đại Úy Trần Quốc Lịch.
Tôi cũng đã vắng mặt. Thiếu Úy Phan Nhật Nam, Trung Đội Trưởng/Đại Đội 72 Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù, KBC 4919.
Phan Nhật Nam


Thư phản ứng cuả các Đồng đội về "Nhà Văn_ Phan Nhật Nam
Theo như sự kính trọng sẵn có, câu đầu tiên tôi phải gửi người nhận bằng 2 chữ Niên trưởng PNN, nhưng từ khi đọc bài cuả ông đăng trên báo Người Việt. Tôi đã xoá hẳn 2 chữ ấy trong đầu và chắc chắn mai hậu, khi có ai đó nhắc đến tên ông, tôi sẽ liên tưởng đến đó là một tên...vô lại đường phố..
Từ khi bài ông đăng lại trên Hải Ngoại Phiếm Đàm, chúng tôi nhận được không ít những phản ứng nóng bỏng cuả các Đại Niên trưởng anh em đồng đội, họ không vào Bàn Ra Tán Vào mà gửi các phẫn nộ ấy bằng những cú phone...( Có một số đông ở tuổi 7O và trên nưã không quen dùng phương tiện khác )
Tôi xin ghi lại những thái độ " Bức xúc " này để tất cả chúng ta cùng ( ngao ngán ) suy nghĩ về tình đời, tình đồng đội:
- NT ĐĐĐ ( K.4 phụ ): Tôi và Trần Quốc Lịch cùng khoá, lại sống nghèo trong 1 chung cư CXTD. Tôi viết rất rõ. Đó là một Sĩ quan đảm lựợc, một ác mộng cuả kẻ thù trên khắp mặt trận cuả cuộc chiến tranh giữ nước. " Nó" đã vượt và đứng ngang với các đồng khoá và Khoả 4 ( Thủ Đức ) đã thành danh.
- NT ( Cựu Tư Lệnh, Cựu Tỉnh trưởng ): Vụ án Tham nhũng áp đặt vào Trần Quốc Lịch thật ra đó là một đòn chính trị để thoả mãn sự đòi hỏi cuả Cha Cố ( như LM Trần Hữu Thanh... )
- NT PVH ( Khoá 4, San Jose ): Nếu không nhìn tên tác giả Phan Nhật Nam thì tôi lại nghĩ đến những " thằng " Sĩ quan quen chụp mũ ở Hải ngoại , những bọn văn công nằm vùng chuyên biạ chuyện bôi đen sĩ quan VNCH, viết bài đó...
- NT Hùng S. ( SanJose, Nhẩy dù ): Địt mẹ cái thằng Phan Nhật Nam, nó thù ông Lịch khi Ông ấy là Chiến Đoàn Truởng CĐ 2.. Ông Lịch chỉ huy rất nghiêm khắc...Thằng này ( PNN ) lại là thằng Sĩ quan vô hạnh, vô kỷ luật...bây giờ lợi dụng sự nổi tiếng để trả thù...Hèn hèn...
- NT NBH ( K 8 Đà Lạt, San Diego ): Trong đời tôi, đã lăn lộn khắp chiến trường 4 vùng Chiến thuật tôi chưa thắy ai đánh giặc giỏi như Tướng Trần Quốc Lịch...
- NT N Ch.H ( K 16 Đà Lạt, Cựu TĐT/Nhẩy Dù. Cựu Trung Đoàn Trưỏng ): Cứ theo thời sự mà suy, bọn phóng viên ngoại quốc, bọn quen chụp mũ luôn mở miệng ra là nói VNCH tham nhũng, chúng ta, nếu có chỉ là hạt cát, 1 vài hạt các so với mênh mông cát tham nhũng cuả VC, cái nhà cuả ông Thiệu so ra chưa bằng cái nhà cuả 1 trưởng khóm VC...
- Nhà Văn NT Đ. Đ. Bảo ( Đà Lạt ): Phan Nhật Nam đâu có phải Nhẩy Dù, nó bị đuổi ra từ năm nó là Trung Uý. Nhẩy Dù đuổi nó vê Điạ Phương Quân, thằng " thày" chữ nghiã cuả nó là VNC ( Ng.V ) Pháo đội trưởng Nhẩy Dù...Chúng nó chỉ biết đánh võ miệng, nhậu nhẹt la cà ở các nhà hang nghe các sĩ quan cùng trường kể lại chuyện chiến trường rồi cứ thế phóng bút...
Còn khoảng muời mấy ý kiến nưã. Đồ Ngu tôi đang " nghiên cúu" tiếp tục...
Riêng đối với Ông Phan Nhật Nam ông đã tự vất bỏ tình thầy trò, đồng đội để hiện nguyên hình một tên " Đồ tể " văn hoá nhỏ nhen ti tiện...
Ông viết là Ông cũng là người vắng mặt trong Đại Hội mới đây cuả Nhẩy Dù..
Thật ra, ông đã thật sự  không còn có mặt trong hàng ngủ các Thiên thần Mũ Đỏ khi bị tống cổ khỏi Sư Đoàn Thiện Chiến số 1 cuả QLVNCH rồi.
Đồ Ngu sao chép
************
Cập nhật: ( Phần này được ghi lại từ các Thành viên khác )
Chuẩn tướng Trần Quốc Lịch làm TL SĐ5BB dưới quyền của Trung tướng Nguyễn Văn Toàn TL QĐ III. Tướng Lịch bị gán  tội tham nhũng nhưng sau khi bị bắt vì tham nhũng, tướng Lịch vẫn chỉ có một căn nhà trong cư xá Tự Do từ thời ông làm TDT/TD3ND, không có xe hơi riêng, miếng đất được BTL/SD dù cấp trước TD2ND vẫn còn là miếng đất trống, Thử hỏi tiền bạc ông tham nhũng để ở đâu hết!!!! trong lúc cấp trên của ông là tướng Toàn TLQD III từng vang danh Quế Tướng Công vẫn an nhiên tự tại trên giàu sang phú quý.????
-Phan nhật Nam đã viết là khi về Lữ đoàn 2ND thì làm "sĩ quan hành quân tiếp liệu",  đúng là bố láo, trong QLVNCH không có chức vụ "sĩ quan hành quân tiếp liệu". Sự thật là khi còn ở TĐ 9ND Phan Nhật Nam là một trung đội trưởng vô kỷ luật, thường xuyên vắng mặt những lúc  chuẩn bị hành quân, bị  Th/tá Nguyễn thế Nhã TĐ trưởng trả về cho BTL/SD. và Nam được thuyên chuyển đến LD2 ND ở Long Bình  cho Đ/ tá Trần Quốc Lịch và tạm thời cho làm nhân viên Ban 4 (tiếp liệu) do Th/tá Tước làm trưởng ban. Chứng nào tật náy, PNN vẫn luôn lè phè và trốn trại nên bị Lữ đoàn Trưởng Trần Quốc Lịch cho ra khỏi binh chủng ND.  Đây chính là nguyên do mà PNN có mối thù truyền kiếp với tướng Trần Quốc Lịch cho đến ngày nay. Nói chung PNN là một SQ hèn nhát, luôn tìm cách trốn tránh hành quân, vô kỷ luật, ...bị loại ra khỏi binh chủng ND khi còn trung úy.
-Ông Phan Nhật Nam viết cuốn ký sự chiến trường "Mùa hè Đỏ Lửa" 72 và những ký sự về trận hạ Lào LS 719. thật ra ông chỉ nghe bạn bè kể lại rồi viết 'ký sự" chứ thật ra ông ta không hề có tham gia HQ Lam sơn 719 /1971 cũnh như HQ tái chiếm Quảng trị 1972. Thời gian nầy ông đang ở Địa phương quân tiểu khu Long An, làm trưởng toán gác cầu Bến lức nhưng lại luôn có mặt ăn nhậu  phê pháo khu Catinat (Tự Do). do đó những ký sự của PNN đa phần là chế biến cường điệu làm cho độc giả cảm thấy thích thú như đọc tiểu thuyết...nhưng... rất nhiều điều không đúng sự thật.
- Bạn Nhẩy Dù Cố Gắng: Phan Nhật Nam chọn báo Người Việt cũng là 1 thái độ đối với Cộng đồng...Một tờ báo luôn đánh phá sự tranh đấu cuả Đồng Hương...Than ôi niên trưởng Phan Nhật Nam ...
- TN L.B.A ( Đà lạt ) : Tạo sự căm phẫn đối với Cô Nhi Quả Phụ bằng cách viết ra rằng Tướng Trần Quốc Lịch sát quân là võ đoán, quy chụp có ác tâm...Những cô nhi quả phụ cuả QLVNCH họ chỉ phẫn nộ và quy tội cho Cộng quân vì sự tử trận cuả thân nhân họ mà thôi...
- NXY ( Cưu ĐUý TĐ 9 ND( Phan Nhật Nam ở TD 9 quậy phá, Bị trả về BTL Nhẩy dù. Tướng Dư Quốc Dống biết chỉ có Trần Quốc Lịch có thể " trị" được PNN nên chuyển Nam xuống Lữ Đoàn 2 ND, nơi đây cho Nam về Ban 4 Tiếp liệu làm nhân viên dưới quyền cuả TT Tước. Nam vẫn rượu chè quậy phá...Bị Tướng Lịch đích thân yêu cầu BTL đuổi Nam ra khỏi Binh Chủng...Nam ôm mối hận ấy

* Lại xin lỗi vì viết thẳng vào admin
Ý kiến bạn đọc
Thứ Bảy, 07 Tháng Chín 201911:09 CH
Khách
Còn thiếu comment của Cung " Củ Đậu " từng tự xưng là cựu trung tá Nhảy Dù !!
Mấy cha Nhảy Dù ơi, tụi VC va VG nó đang vỗ tay cả cười kìa !
Thứ Bảy, 07 Tháng Chín 201910:12 CH
Khách
Những vị phát biểu ý kiến cần nêu rõ danh tính, không viết tắt để cho độc giả có sự nhận xét.
Thứ Bảy, 07 Tháng Chín 20193:28 CH
Khách
trời ơi! sao toàn những chuyện chia rẻ gì đâu làm đau lòng người đọc làm vậy !!!
có thằng trọc phú hoàng kiều đang dùng tiền khuynh loát cộng đồng chống cộng không vạch mặt thủ đoạn của hắn và cảnh báo cho cộng đồng biết âm mưu tu hú , muốn recall để dễ thay tổ chống cộng bằng tổ vc, mà bỏ thì giờ kích bác nhau làm gì .

Nhờ đồng đội cha tại Mỹ, con trai ở Việt Nam tìm được nơi cha mất 45 năm trước Ngọc Lan/Người Việt

Thầy giáo-nghệ sĩ khuyết tật đa tài Nguyễn Thế Vinh tìm được nơi cha mình nằm xuống cách đây 45 năm, tại Tiền Đồn 5, Kon Tum. (Hình: Nguyễn Thế Vinh cung cấp)
WESTMINSTER, California (NV) – Không ít người Việt trong và ngoài nước biết đến thầy giáo-nghệ sĩ khuyết tật nhưng đa tài Nguyễn Thế Vinh. Bị mất cánh tay phải nhưng anh lại là người có thể vừa đánh đàn guitar vừa thổi harmonica rất giỏi. Không chỉ vậy, anh còn mở ngôi trường mang tên Hướng Dương nuôi dạy hơn 100 trẻ mồ côi khuyết tật ở Bến Cát, Bình Dương.
Tuy nhiên, câu chuyện Nguyễn Thế Vinh vừa tìm được nơi cha anh ngã xuống vào năm 1974 ở Kon Tum trong một trận pháo kích, nhờ sự giúp đỡ từ những đồng đội cũ của cha anh đang sống ở Mỹ, hoàn tất ước mơ suốt mấy mươi năm qua của anh và gia đình, thì có lẽ chưa mấy người biết.
Khắc khoải tìm cha vì lẽ “sống có nhà, chết có mồ” 
“Ba mất khoảng Tháng Bảy, 1974, khi tôi được 4 tuổi,” anh Vinh bắt đầu câu chuyện nhân dịp ghé đến tòa soạn nhật báo Người Việt chuẩn bị cho đêm nhạc “Góp Lá Mùa Xuân” diễn ra hồi cuối Tháng Tám vừa rồi.
Những gì anh được biết về cha anh là “Ba tên Nguyễn Xuân Quang, trước đây thuộc Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 44, Sư Đoàn 23. Cho đến khi mất ba tôi là thiếu úy đại đội trưởng Đại Đội 2. Ba mất khoảng Tháng Bảy, 1974, ở Kon Tum. Lúc đó gia đình tôi ở Sông Mao, Bình Thuận, nơi hậu cứ của Trung Đoàn 44, Sư Đoàn 23.”
Theo lời Vinh, dù đã có “giấy báo tử” gửi về nhà (thực ra sau này anh mới biết đó là “Tờ Trình Ủy Khúc” dành cho người mất tích hoặc người chết chưa tìm thấy xác) nhưng má anh vẫn cứ đi tìm cha anh, “nghe ở trại cải tạo nào có tên ai giống ba là má tôi lại đến tìm xem có phải ba tôi không.”
Lý do gia đình anh vẫn hy vọng cha anh còn sống là bởi “trước năm 1972, ba tôi từng mất tích một lần, nhà cũng nhận được giấy báo, và má tôi đã lập bàn thờ. Nhưng thực tế khi đó ba tôi chỉ bị bắt làm tù binh. Đến khi Mỹ và quân đội VNCH hành quân vào khu vực ba tôi bị giam, thì do ba là một trong số những người bị thương rất nặng nên phía bên kia không giải đi theo mà bỏ nằm lại, nên ba tôi mới được cứu đưa về chữa trị ở bệnh viện Quảng Ngãi. Sau khi hồi phục, ba lại tiếp tục ra trận.”
“Chính vì thế mà khi nhận được ‘giấy báo tử,’ má tôi vẫn cứ đi tìm kiếm ba là như vậy,” anh kể.
Tuy nhiên công cuộc tìm kiếm tông tích cha anh bị dừng lại vào năm 1977, bởi “má tôi bị bệnh mất vào năm đó.”
Bốn anh em Vinh tiếp tục sống trong sự bảo bọc của ông bà ngoại và các cậu dì.
Hai năm sau, khi được 9 tuổi, trong một lần đi chăn bò sau giờ học cho hợp tác xã để phụ giúp ông bà, Vinh bị té gãy tay phải. Không tiền bạc, không thuốc men chữa trị. Tay Vinh bị hoại tử phải cắt bỏ.
Dù vậy, cậu bé mồ côi cả cha lẫn mẹ, nhưng với sự đùm bọc của gia đình ngoại, dẫu trong khó khăn, nghèo khổ, vẫn tiếp tục đến trường, vừa học chữ, vừa mày mò tự học đàn bằng một bàn tay vừa bấm vừa khảy.
Anh Nguyễn Thế Vinh (trái) và cựu Thiếu Úy Nguyễn Tuấn Khanh, 
người chứng kiến trận pháo kích Tiền Đồn 5 vào Tháng Sáu, 1974. 
(Hình: Ngọc Lan/Người Việt)
Năm 1989, anh trai của Vinh cũng qua đời. Vinh trở thành người con trai lớn, gánh vác chuyện nuôi em lẫn chuyện học hành.
Năm 1994, anh tốt nghiệp Đại Học Kinh Tế ở Sài Gòn. Và cũng từ đó ý định đi tìm cha lại thôi thúc trong anh.
“Tôi luôn cảm thấy tội nghiệp ba. Người ta nói sống có cái nhà, mất có cái mồ để nhang khói, mà ba tôi thì không biết mất nơi nào nên tôi cứ muốn đi tìm. Hơn nữa, lúc đó gia đình không có hy vọng là ba tôi còn sống nữa, vì lâu quá rồi, những người đi tù cải tạo cuối cùng cũng đã về hết rồi, nên phải tin chắc rằng ba tôi đã chết,” người con trai mồ côi nói.
Tìm cha trong… vô vọng 
“Nếu như còn tờ ‘giấy báo tử’ thì mọi chuyện dễ dàng hơn, nhưng khi tôi lớn lên, muốn đi tìm ba thì tờ giấy đó đã bị mất, nên không còn tung tích gì để tìm, chỉ nhớ được vài chi tiết như đã kể ở trên,” anh tiếp tục câu chuyện.
Dù mong manh hy vọng, nhưng Vinh vẫn cứ “có dịp đi tới đâu tôi cũng hỏi thăm xem có ai từng tham gia trong quân đội VNCH, thuộc Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 44, Sư Đoàn 23 ngày trước không, để hỏi thăm tin tức của ba.”
Nhưng.
Mấy chục năm rồi Vinh vẫn không nhận được câu trả lời.
Anh nhờ cả những “nhà ngoại cảm” để tìm xem cha mình đang nằm ở đâu. “Họ cũng chỉ ở khu vực này khu vực kia, nhưng khi đến nơi thì không biết nơi nào để tìm, nên cũng coi như vô vọng,” anh cho biết.
Tuy nhiên, như kinh nghiệm ông bà xưa từng nói “kẻ có lòng thì trời không phụ.”
Vinh kể, “Tình cờ hồi Tháng Bảy, 2019 vừa rồi, tôi qua Úc trình diễn. Hôm 12 Tháng Bảy khi đến Sydney, gặp được nhiều người bạn ở đó, tôi lại mang câu chuyện này ra hỏi. May mắn sao lúc đó có anh Luật Sư Thuần Nguyễn. Anh Thuần điện thoại gọi ngay cho chú Phạm Tín An Ninh ở Mỹ, vì theo lời anh Thuần thì chú Ninh là người ở Trung Đoàn 44 ngày trước.”
Liên lạc với đồng đội cũ của cha 
Ông Phạm Tín An Ninh là một tên tuổi khá quen thuộc với cộng đồng người Việt tại Mỹ, vì ông không chỉ là một cựu sĩ quan VNCH, mà còn là một nhà văn được biết nhiều đến qua các tác phẩm “Ở Cuối Hai Con Đường,” “Người Con Gái Phú Hòa,” “Thằng Bé Đánh Giày Người Nghĩa Lộ”….
Tuy nhiên, trong cuộc gọi đó, Luật Sư Thuần đã không gặp được ông Ninh. Thế là ông Thuần email giới thiệu Vinh với ông Phạm Tín An Ninh.
Như có một sợi dây tình cảm đặc biệt nào đó giữa những quân nhân xưa, nay, nghe con trai của đồng đội cũ hỏi thăm về cái chết của cha họ, ông Ninh đã nhanh chóng liên lạc với những người bạn cũ, và rất nhanh sau đó, ông đã có thể gửi cho anh Vinh một email khá chi tiết về những gì anh Vinh cần tìm.
Cùng xem lại hình ảnh của Tiền Đồn 5, Kon Tum, sau 45 năm. 
(Hình: Ngọc Lan/Người Việt)
Trong email, ông Ninh viết:
“Hai hôm nay, chú đã liên lạc với chú Sơn và vài người khác, đã tham dự các trận chiến trong cùng thời gian, cùng và chung quanh địa điểm mà ba cháu đã hy sinh, đặc biệt trong số này có người từng sinh ra, lớn lên và đi lính tại Tiểu Khu Kon Tum.
Đến hôm nay chú và chú Sơn đã có được một số chi tiết tương đối chính xác về trường hợp hy sinh của ba cháu.
Ba cháu hy sinh tại Tiền Đồn 5 (khác với Căn Cứ 5). Tiền đồn này nằm trên con đường từ Kon Tum đi Quảng Ngãi (lúc ấy bỏ hoang, không sử dụng từ lâu vì chiến tranh), bây giờ là Quốc Lộ 24.
Tiền Đồn 5 này nằm cách Thị Xã Kon Tum khoảng 15 km, gần khu vực Kon Xom Luh, giữa 2 địa danh có tên Kon Cha Re và Kon Se Tieu (không tìm thấy tên trên bản đố này, có lẽ vì hai địa danh quá nhỏ).
Đặc biệt, tại Kon Xom Luh hiện có nhà thờ Kon Xom Luh.
Nếu có dịp đến Kon Tum, cháu tìm đến nhà thờ này hỏi thăm các vị linh mục, nhờ quí ngài chỉ giúp, hay hỏi thăm người dân địa phương (lớn tuổi) Kon Cha Re và Kon Se Tieu nằm ở đâu.
Riêng ngày mất của ba cháu, chú nghĩ trong khoảng 15 đến 30 Tháng Sáu, 1974, nhưng chú Sơn đang tìm hiểu từ những bạn bè có tham dự trận đánh ấy, để cho cháu một ngày chính xác hơn.
Tiếc quá, nếu cháu còn giữ ‘giấy báo tử’ (lúc ấy được gọi là Tờ Trình Ủy Khúc, dành cho người mất tích. Lính mất không tìm thấy xác thì không đều gọi là mất tích), thì trong đó có ghi rõ ngày giờ và đặc biệt là tọa độ (địa điểm chính xác nhất) nơi ba cháu hy sinh.
Thời gian đã quá lâu, mọi sự đã thay đổi, các dấu tích chiến tranh và cả xương thịt những người lính hy sinh, chắc cũng không còn. Tuy nhiên tất cả đều để lại trong lòng những người còn sống như các chú và nhất là cháu, những vết thương khó lành cùng với một nỗi hoài niệm khó nguôi.
Các chú xin được thành tâm chia sẻ về sự mất mát và nỗi buồn lớn lao này của cháu và cầu nguyện ơn Trên che chở và giúp cháu tìm lại được những điều mà cháu từng mong ước…” 
Đi tìm nơi cha ngã xuống từ 45 năm trước 
Anh Vinh kể, “Khi có được thông tin của chú Phạm Tín An Ninh gửi, sau chuyến biểu diễn, trở về Việt Nam, tôi đi ngay đến nơi các chú hướng dẫn. Tuy nhiên, địa danh mà các chú nhớ hoàn toàn khác tên hiện tại. Những bản đồ quân sự ngày trước cũng không thể hiện rõ Tiền Đồn 5 là nằm ở ngọn đồi nào, đánh mã số mấy tôi cũng không thấy được.”
Tuy nhiên, như Vinh nói, “May mắn là tôi tìm gặp được một chú lính địa phương quân ngày xưa, người dân tộc. Chú này chỉ vị trí Tiền Đồn 5 là ở đâu. Lúc đó tôi mừng lắm, vì chú nói rất tự tin là hồi trước chú cũng đóng quân ở khu vực này nên chú biết rõ.”
Anh cho biết khi đến được chân núi của Tiền Đồn 5 là 11 giờ trưa ngày 28 Tháng Bảy, 2019. “Lúc đó trời muốn mưa và mây phủ kín hết ngọn đồi của Tiền Đồn 5. Những ngọn đồi thấp hơn thì mình còn thấy thấp thoáng. Người dân nơi đó khuyên tôi không nên lên vì đường khó đi, nhưng tôi lại cảm thấy muốn đi liền ngay lúc đó,” đứa con đi tìm cha nhớ lại.
Với sự giúp đỡ của người dân, hai thanh niên địa phương dùng hai chiếc xe gắn máy mà bánh xe phải ràng dây xích, một chiếc chở anh Vinh, một chiếc chở đồ ăn, thức uống, hoa quả, bắt đầu leo đồi.
“Sau một tiếng leo đồi bằng xe Honda qua nhiều đồi khác nhau, khi đến chân đồi của Tiền Đồn 5 thì không còn đường để xe gắn máy chạy nữa, nên chúng tôi bắt đầu đi bộ, vừa đi vừa phải dùng rựa chặt cây mở đường,” Vinh tiếp tục kể.
Sau 30 phút vừa đi vừa mở đường, Vinh đến được đỉnh đồi của Tiền Đồn 5.
Những bao cát làm chiến hào bị rách nát. Những đế giày bốt-đờ-sô vương vãi. Những cục pin dẹp nằm chỏng chơ. Những cọng kẽm gai phần chôn dưới đất, phần ló lên mặt đất… Là những gì Vinh nhìn thấy trên khoảng đồi trống của Tiền Đồn 5. Dấu tích trận đánh năm nào vẫn còn hiển hiện nơi đây…
“Nhìn những gì còn sót lại đó, tôi cảm thấy rất xúc động,” Vinh trầm giọng.
“Cũng thật lạ là khi đó sương mù đã phủ kín hết bầu trời, tôi lấy hoa quả bày ra và thắp bó nhang cho ba tôi cùng các chú, các bác đã nằm lại nơi này, thì trời lại bỗng dưng ló nắng,” anh kể thêm.
Chiếc xe dùng để đưa thầy giáo
Nguyễn Thế Vinh leo đồi lên 
Tiền Đồn 5 tìm nơi cha anh hy sinh. 
(Hình: Nguyễn Thế Vinh cung cấp)
Câu chuyện của người chứng kiến trận pháo kích vào Tiền Đồn 5 
Cũng nhân lúc trời bỗng dưng hé sáng, Vinh kịp chụp lại vài tấm hình cũng như gọi điện thoại báo tin cho những người bạn cũ của ba anh đã giúp đỡ anh tìm đến nơi này. Trong số những người trong nhóm nhận được email có ông Nguyễn Tuấn Khanh, từng ở Trung Đoàn 44, Tiểu Đoàn 1 và Sư Đoàn 23 ngày trước.
Trong email gửi cho anh Vinh sau đó, ông Khanh, chứng nhân của trận đánh đó, đã kể nhiều chi tiết hơn.
Trong email, ông Khanh viết:
“Trước tiên, chú xin chúc mừng con đã tìm ra nơi ba con đã tử trận. Chú là Nguyễn Tuấn Khanh, nguyên cấp bậc thiếu úy, sĩ quan Ban 3 (về Hành quân & Huấn luyện) trong thời điểm ba con hy sinh và chú cũng có dự trận đánh đó.
Chú không nhớ rõ là ngày nào, nhưng chỉ biết là lúc đó vào Tháng Sáu, 1974, vì Tháng Năm chú được về phép, Tháng Sáu chú trở lại đơn vị.
Là sĩ quan ban 3 nên chú đi thường hành quân chung với Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn. Lúc đó Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn đóng ở Tiền Đồn 5 nằm trên một ngọn đồi, còn ba con là đại đội trưởng Đại Đội 2 được giao nhiệm vụ đóng dưới chung quanh chân đồi để bảo vệ Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn. Cách đó khoảng vài tiếng lội đường rừng là một ngọn đồi khác cũng cao cỡ đồi ở Tiền Đồn 5 do Đại Đội 4 của Trung Úy Hanh trấn giữ.
Hôm trở về đơn vị, chú cùng Trung Úy Đỗ Minh Cao và một toán lính khoảng tám người của Đại Đội 4 ra trình diện đơn vị. Bọn chú đi vô Đại Đội 4 trước, và vì trời tối nên chú với Trung Úy Cao phải ngủ đêm tại đó.
Sáng hôm sau, Trung Úy Hanh cho một toán lính đưa chú và Trung Úy Cao vô Tiền Đồn 5. Nhưng đi được khoảng 10 phút thì bị quân địch chận đánh phía trước nên toán của chú phải trở về Đại Đội 4, lúc đó khoảng 8 giờ sáng.
Khi vừa về tới Bộ Chỉ Huy Đại Đội 4 thì chú thấy Tiền Đồn 5 bị pháo tới tấp và ngay trong những phút đầu đã nghe máy báo là tiểu đoàn trưởng Đại Úy Dương Đình Chính tử trận. Sau đó cũng không nghe thấy tiếng báo máy của ba con. Có lẽ ba con cũng bị tử trận trong những giây phút đầu đó vì địch pháo rất nhiều vào những điểm khác nhau, rừng núi cây xanh bị pháo cày lên đất đỏ. Từ ngọn đồi bên đây chú coi trong ống dòm thấy địch rất đông tiến lên đồi và nghe thoảng theo hơi gió những tiếng hô xung phong và tiếng còi tu huýt. Tiền Đồn 5 thất thủ từ đó.”
Có mặt tại tòa soạn báo Người Việt cùng với anh Vinh hồi cuối Tháng Tám vừa rồi, ông Khanh, hiện làm việc trong ngành computer cho Đại Học San Jose State, kể thêm câu chuyện tiếp theo sau khi Tiền Đồn 5 thất thủ.
“Do Trung Úy Cao và tôi không thuộc quân số Đại Đội 4 nên sáng hôm sau hai chúng tôi trở ra, về hậu cứ trình diện. Khi về đến hậu cứ, tôi vô trực máy theo dõi tình hình để liên lạc truyền tin hướng dẫn cho lính gom lại chỗ nào chỗ nào. Có nhiều người đi nhưng không biết hướng thì mình truyền tin hướng dẫn. Lúc đó khoảng 4 giờ chiều, tôi nghe máy thấy có một nhóm lính ba người của đơn vị anh Quang cũng bị bao vây nên vừa đánh vừa chạy, và hiện đang ẩn trốn trong một xác máy bay trực thăng cách Tiền Đồn 5 khoảng 5 cây số về hướng Tây Bắc,” ông kể.
“Đang nói chuyện thì họ báo là quân địch vừa phát hiện ra họ, bao vây rất nhiều.  Họ kêu máy cho tôi nói ‘tụi nó đông lắm, hãy cho pháo vào để giết hết tất cả đi,’ nghĩa là họ chấp nhận hy sinh luôn. Nhưng tôi làm không được,” giọng người cựu chiến binh tắt nghẹn.
“Mất phút sau tôi nghe tiếng súng, không nghe tiếng họ nữa. Họ mất rồi…” Một quãng im lặng đến ngạt thở giữa ba chúng tôi, những người đang ngồi nghe lại trận pháo kích năm nào.
Và tiếng người lính năm xưa vỡ òa, “Mà sau đó tôi cũng không nỡ gọi pháo vô… không nỡ pháo vô xác họ…”
***
Tôi hỏi, “Khi đến được đỉnh đồi của Tiền Đồn 5, biết được chính xác nơi ba anh nằm lại, anh có cảm giác toại nguyện không?”
Vinh trả lời, “Không. Tôi chỉ nghĩ là mình sẽ còn trở lại đây nhiều lần nữa.”
Anh Vinh cho biết, “Hiện giờ tôi đang liên lạc với người thân của các chú các bác đã ngã xuống cùng ba tôi trên ngọn đồi Tiền Đồn 5, để Tháng Mười Hai này, tôi sẽ cùng họ quay lại đó để tụng niệm cho các chú các bác và có thể rước vong linh của các chú các bác về một chùa nào gần đó, phía Bắc của Kon Tum, để tiện bề nhang khói cho các chú các bác đỡ quạnh hiu.” (Ngọc Lan)
—- Liên lạc tác giả: ngoclan@nguoi-viet.com