Saturday, April 11, 2026

MỘT BÁC SĨ BĐQ Chẳng giống ai!

Lời bạt: Năm 2015 tôi viết bài nầy và cố tình không viết về vợ con của Lê Văn Thại. Nhưng sau khi Hắn mỉm cười ra đi, tôi viết bổ sung câu chuyện cho tròn cái nghiệp mà Hắn đã trả xong. Mời quý vị xem đoạn cuối Hắn cưới vợ như thế nào và khúc quanh đời Hắn như cái "nghiệp" phải mang!
Tôi và Hắn cùng quê hương Tam Quan, vùng đất trải dài rộng lớn những rừng dừa và hệ thống sông ngòi chằn chịt! Hắn là cháu nội một phú hộ vùng Cấm An Sơn thuộc xã Hoài Châu; còn tôi thì sanh ra và lớn lên trong thôn Cữu Lợi xã Tam Quan nổi tiếng sản xuất dầu dừa và giây dừa. Ông nội của Hắn là chủ những ruộng vườn cò bay thẳng cánh. Ông nội tôi thì là chủ ghe bầu buôn bán dọc ven biển và các thành phố từ Nam chí Bắc một thời.
Tôi và Hắn cũng cùng chung số phận sống chín năm trong vùng Cộng Sản Liên Khu 5, thời kháng chiến chống Pháp, 1945-1954. Cũng có những tháng năm ngồi học trong các đình chùa bị đục vách phá bàn thờ để làm nhà kho và lớp học... Chung số phận là cháu con nhà địa chủ, sắp có chính sách đem ra toà án nhân dân đấu tố!
Thế nhưng cuộc đổi đời năm 1954, sau Hiệp Định Genève chia đôi đất nước, chúng tôi cởi bỏ được lớp bùn đất "Thiếu nhi Bác Hồ"; bắt đầu được học trong các trường công lập, được ca hát tự do! Hắn và tôi sau cùng vào học trường Tăng Bạt Hổ Bồng Sơn. Hắn nhỏ hơn tôi một tuổi nhưng học trên tôi một lớp. Gia Đình Hắn có tiệm bán thuốc tây (Pharmacy), vì thế, vài năm sau, Hắn bỏ trường huyện, vào học Tabert ở Saigon. Thẳng cánh cò bay, xong Trung Học, Hắn vào trường thuốc. Đến năm 1970, Hắn ra Bác Sĩ và được động viên vào binh chủng Biệt Động Quân.
Tôi và Hắn năm 1957
Còn tôi, đang học Văn Khoa thì bị động viên năm 1967 vào khoá 26 SQTB Thủ Đức. Năm 1970, lúc đang đóng quân ở Pleiku thì lính vào báo: " Thẩm quyền, có một số sĩ quan BĐQ đi xe Jeep trông dữ dằn lắm, tìm thẩm quyền!". Tôi cũng vừa từ đơn vị tác chiến tiểu khu Bình Định đổi lên vùng đất đỏ chưa được mấy tháng, chưa quen biết nhiều, làm sao có BĐQ là bạn tìm tôi! Trong khoá 26, ra trường có hơn 80 tên về BĐQ, nhưng chưa biết tụi nó ở đơn vị nào. Chưa quyết định thế nào thì đám rằn ri mũ nâu chạy sộc vào văn phòng: "Ê! Dũng Lùn đâu, trình diện thượng cấp!"
Dân mũ nâu rằn ri, đi tới đâu là ồn ào vang trời! Tôi nhìn lên, hoá ra tên dẫn đầu là Bác Sĩ Lê Văn Thại, tên thứ hai là Huỳnh Thọ Huyên, Khoá 26, tên thứ ba là Trần Tấn Đỡm, khoá 26, tên thứ tư là Lâm Đạo Đụng, khoá 26. Tôi bật dậy khỏi ghế như chiếc lò xo, mừng quá, bắt tay từng thằng.
Hoá ra là Hắn - Lê Văn Thại - Ra trường nghề thầy thuốc năm 1970, với bảy năm chương trình Bác sĩ dân sự - Sau đó được động viên về BĐQ, lên Pleiku chăm sóc Liên Đoàn 2 BĐQ, Y Sỹ Trưởng, đóng hậu cứ ở Biển Hồ.
Cuộc hội ngộ "lính" vô cùng ồn ào và mùi "quân trường" còn thoảng hơi chưa phai! Chúng tôi kéo nhau ra cà phê Dinh Điền nhâm nhi và từng thằng khai "tình trạng quân ngũ", những gương mặt mới xa, nhưng cứ tưởng không có cơ hội nào gặp lại... Ba thằng Khoá 26 Thủ Đức búng ra sửa, bây giờ trông rất "ngầu". Bộ quân phục Biệt Động Quân, chiếc mũ nâu đội lệch, phù hiệu... Thằng nào cũng hiên ngang và tự tin! Ba thằng cùng đang phục vụ Liên đoàn 2 BĐQ. Bác Sĩ Lê Văn Thại, Y Sĩ Trưởng, với bộ vía tác chiến Biệt Động trông rất "lính". Hồi còn đi học, Hắn rất giỏi võ Bình Định, sở trường Hầu Quyền; vô Sài Gòn học thêm Taekwondo, Hapkido... Mỗi khi Hắn nổi hứng, nắm tay ai bóp nhẹ là người đó la làng...Hắn uống rượu như uống nước, lần nào ngồi với Hắn và mấy trự BĐQ, tôi chỉ là thằng phá mồi!
X
Rồi thời gian trôi! Chiến trường các nơi sôi động. Cánh Biệt Động hành quân rày đây mái đó. "Mùa Hè Đỏ Lửa" năm 1972, tôi và đơn vị trấn thủ thành phố Pleiku để cho vợ con và dân chúng "di tản"... Sau đó, các đơn vị Biệt Động phải di chuyển xuống giải toả Tam Quan Bồng Sơn. hành quân liên miên... nên tụi tôi ít khi gặp nhau; dù là ở thành phố trấn biên như Pleiku, mệnh danh là "thành phố của lính", dù hậu cứ của tụi nó ở ngay Biển Hồ!
Mỗi thằng mỗi khung trời nhỏ trong guồng máy chiến tranh. Đã mang danh hiệu là "Biệt Động" thì có khi nào đơn vị được yên tịnh đóng ở một chỗ đâu! Cả "Vùng 2 Quân Khu II" đều là địa bàn in vết giày Biệt Động Quân; có biết bao anh hùng ngã xuống! Cuộc di tản tháng 3 năm 1975 là những ngày Quân Dân Cán Chính Pleiku - Kontum - Phú Bổn không thể nào quên. Tôi được may mắn thoát khỏi cuộc di tản trong gang tấc nhờ cái lệnh thuyên chuyển về Đặc Khu Cam Ranh chỉ trước một tháng!
Cánh BĐQ của BS Lê Văn Thại, Huỳnh Thọ Huyên cùng số phận kẹt cứng trong đoàn người và quân trang quân dụng trên Tỉnh Lộ 7b. Mấy thằng Khoá 26, lúc bấy giờ vừa được thăng cấp Đại Uý, đều bị "tóm" ở gần Sông Ba - Phú Bổn! Đại Uý Huỳnh Thọ Huyên cùng chung số phận với đơn vị. Vợ và ba con của Hắn thì lạc mất trong rừng. Vợ của Huyên lạc luôn ba đứa con, một trai 5 tuổi và hai gái, đứa 3 và đứa chưa tròn một năm sanh... Sau nầy nhờ tìm kiếm, vợ của Huyên tìm được đứa con trai từ một gia đình người Thượng, cháu được nuôi để chăn trâu! Hai cháu nhỏ thì không còn dấu vết...! Mấy tay BĐQ, bạn Khoá 26 của tôi bị nhốt ở nhiều nơi, sau rốt nằm ở Z30A Tuy Hoà. Riêng tên Bác Sĩ lì Lê Văn Thại thì thoát được về Sai Gòn.
Cuối tháng 3 năm 1975, từ Cam Ranh tôi về Saigon bằng đường bộ đến Phan Rang rồi đi ghe ở Bình Tuy về Vũng Tàu, vợ con gởi lại phía ngoại ở Ninh Hoà... Tôi và Lê Văn Thại lại gặp nhau, nhậu quên đời. Hai thằng quanh quẩn hũ rượu của ông già tôi ngâm. Rượu thuốc có thêm mùi trái ô môi vừa cay vừa ngọt. Ba tôi thấy hai đứa buồn chán nên cũng thường làm mồi cho hai đứa nhậu đưa cay!
Thê thảm nhất là ngày 30 tháng tư năm 1975, Khu xóm tôi ở trên đường Bà Hạt - Chung Cư Ấn Quang - rần rần người ra đi và rậm rật những đứa mang băng đỏ. Nếu ngày ấy hai đứa ra bến Bạch Đằng thì có lẽ đời sẽ rẽ qua hướng khác. Đàng nầy, hai đứa ngồi nhìn nhau không nói gì nhưng tay thì cầm ly! Tôi có hơi men, thỉnh thoảng còn bày đặt khóc nhớ vợ con chưa biết ra sao...
... Cho đến một ngày cuối tháng 5/1975, Ba tôi làm cơm đải hai đứa ngày mai "Trinh Diện Học Tập" 10 ngày bằng một chai rượu tây đem về từ Embassy Hotel. Lúc nâng ly, Lê Văn Thại đặt tên cuộc nhậu nầy là: "Đăng Trình Tửu". Hôm sau, hai đứa xách bị áo quần và cái mền mỏng, đem theo tiền ăn mười ngày, mấy bao thuốc lá, đôi dép Nhật hai quai... Hai đứa hý ha hý hửng "trình diện" tại trường Petrus Ký. "Học tập 10 ngày" thì nhằm nhò gì! Ông hàng xóm nói với tụi tôi khi thấy hai đứa khăn gói gỏ cửa nhà ông chào từ giã!
Tôi làm ra vẻ sành đường đi nước bước trong trường, dắt Lê Văn Thại lên lầu bên trái, chỉ vào lớp gần cuối: " Tao mài quần chưa rách trong phòng nầy!" Thế là hai đứa tôi và mấy chục người trải nilon nằm dưới sàn. Có thằng leo nằm trên bàn học trò. Tôi tìm chỗ ngồi năm xưa, phía dưới hộc, quả nhiên còn tên của mình đã khắc bằng dao!
Ở "khách Sạn" Petrus Ký, ăn cơm ngày ba bữa do các nhà hàng nổi tiếng ở Chợ Lớn cung cấp... Mọi người hý ha hý hửng cho rằng "Cách Mạng" đối đải "Kẻ Đầu Hàng" sao mà tử tế quá!
Nửa đêm, sau mấy ngày nằm chờ đợi "việc gì sẽ xảy ra", chúng tôi được gọi tên từng thằng, sắp hàng một, ôm hành lý leo lên xe bịt bùng đang đậu hàng dài trước cổng trường. Cứ hai mươi thằng leo lên, trên xe có sẵn hai chú nhóc bộ đội gườm súng bên hông. Xe phủ bạt kín mít, xe chạy rần rật trên các đường trong thành phố, chẳng ai biết nó về hường nào mà đoán!
Hai chú nhóc tì mặt hầm hầm, luôn gườm súng hăm doạ: "Không được nhìn ra ngoài, không được ồn ào nhúc nhích...". Xe chạy miết đến xế chiều, chúng tôi được phát lương khô "made in China". Cuối cùng rồi cũng đến nơi, xe ngừng trong một trại lính của VNCH gần núi Bà Đen, Trảng Lớn Tây Ninh! Doanh Trại nầy, không biết trước kia làm gì mà có những gian trống trơn, chỉ có sàn xi măng quá to, quá dài, rất nhiều căn trại như thế chứa chúng tôi. Cứ hai chục thằng là một B, "cán Bộ" chỉ định B Trưởng, chia nhau trải chiếu hay bao nilon nằm san sát bên nhau cho có hơi ấm! Cứ thế ở đó tự phân chia nấu ăn, tự biên tự diễn. Nếu có đứa nào bịnh thì "Bác Sĩ Cách Mạng" đến khám và bôi dầu cù là, chứ không có thuốc gì hết!
BS Lê Văn Thại tìm được trong đám đông thêm bạn. Đó là BS Lê Văn Một, người miền Nam, râu quai nón. Hai tên Bác Sĩ bắt đầu ngứa nghề. Trong đám ngàn người ngủ giống như ngoài trời suốt hai ba tháng trời, chuyện bệnh hoạn xức dầu cù là... được chúng tôi âm thầm chuyển qua "Bệnh Viện Một- Thại". Hai tên nầy kể cũng mát tay nên ít khi phải gọi Bác Sĩ "Dầu Cù Là"!
Nhưng khi "biên chế", một số về trại lính Sư Đoàn 18 ở Long Khánh, B19 của tôi, B20 có Thại và Một, đều xách gói lên xe. Ở trại mới một thời gian, đang "được lên lớp" bài đầu tiên: "Ba Dòng Thác Cách Mạng" của Lê Duẫn thì có 4 thằng trốn trại trong đêm. Hai ngày sau thì tụi nó bị bắt , trong túi xách có một số thuốc tây, chúng khai là của BS Lê Văn Thại cho!
Thế là nửa dêm, rần rật súng ống và cả đám đông bộ đội bao vây nơi BS Thại nằm, lôi hắn xuống sàn, còng số tám, đọc lệnh nhốt vào co néc (conex) - Khung sắt nầy hình khối vuông, trước kia "Xâm Lược Mỹ" dùng loại nầy chở quân trang quân dụng, chuyên chở từ Hoa Kỳ bằng tàu thuỷ cung cấp cho chiến trường... Hắn bị thẩm vấn và nhốt vào cái khung sắt "kiên cố" đó bằng một khoá bự! Trời Long Khánh nắng đổ lửa, mà ngồi trong cái thùng sắt dày, không có lổ thông hơi, bị khoá trái, ăn ngủ, tiêu tiểu một chỗ... Do Bác Sĩ Lê Văn Một được "đặc trách" chăm sóc. Chúng tôi cứ tưởng chừng mấy ngày là Hắn chết khô! Thế mà nhờ ngồi thiền, Hắn không chết...
Mấy tháng sau đó, một buổi trưa hè nóng gắt, kho đạn kế bên trại giam chúng tôi, không biết sao phát nổ. Toàn bộ bom, hoả tiển, đạn 81 ly, 60ly, M79 không những nổ mà còn bay đầy trời! Vụ nổ kéo dài đến tối. Trong trại chết một ít nhưng bị thương thì hơi nhiều. Ngoài dân chúng, những trái hoả tiễn bay xa làm sập nhà và chết nhiều hơn chúng tôi. Vòng thiệt hại ở xa trung tâm nổ, nhiều hơn vòng trong gần với kho đạn!
Trong lúc kho đạn nổ bay đầy trời, mấy anh chàng nhát gan nhảy xuống các hố hay giếng khô trốn thì đạn lại rơi vào chết thảm. Những thằng sợ quá mất khôn lấy đôi guốc gỗ che lên đầu đi lững lơ như người điên, thế mà chẳng sao. Có thằng lấy miếng carton che đầu... Riêng BS Lê Văn Thại an toàn ngồi trong khung sắt nghe tiếng nổ bên ngoài. Riêng tôi chui vào một cái lổ trong đống gạch, hai chân lòi ra ngoài chịu trận!
Sau vụ nổ, một thời gian ngắn, chúng tôi được leo lên xe đến "Khu gia binh" ở Long Giao. Lê Văn Thại được "tháo cũi sổ lồng" lên xe cùng chúng tôi. Hắn vốn đã là người ốm cao lêu nghêu, bấy giờ xác xơ đi không muốn nổi. Hồi còn sinh viên, tôi đặt tên Hắn là "Khô trúc Đại Sư"!
Hai đứa ở Long Giao một thời gian ngắn thì tôi "được thuyên thuyển" ra Bắc trên con tàu chở xi măng, để nổi trôi Hoàng Liên Sơn, Lao Cay, Yên Báy, Vĩnh Phú... Còn Hắn, "được tha về" vì có cái made in Bác Sĩ! Làm việc dưới quyền các Bác Sĩ vốn xuất thân từ trường thuốc "Dầu Cù Là"...
X
Tôi được "Cách Mạng khoan hồng" lệnh tha về từ trại tù K2 Tân lập Vĩnh Phú, phải mất 10 ngày từ nhà tù, vượt qua con sông Đà, ngồi tàu lửa chen lấn, từ ga Ấm Thượng về Hà Nội và con tàu suốt xuyện Việt. Về đến Sai Gòn thì mới hay là ông nội tôi đã qua đời 10 ngày trước, vì nghe tin tôi được ra tù; mừng quá lên máu đứng tim! Bước vào nhà cha mẹ tôi, Ba tôi chờ bên bàn thờ chít khăn tang cho thằng cháu địch tôn. Bác Sĩ Lê Văn Thại cũng có mặt.
Hắn kể lể một loạt từ khi hai đứa xa nhau. Lúc Ông Nội tôi bị đứng tim thì cũng có Hắn đưa cấp cứu nhà thương Chợ Rẫy và ẵm xác ông nội tôi về lại nhà. Hắn thay tôi trực lo chôn cất, sát cánh với gia đình thằng bạn còn trong tù ngục.
Mấy tháng sau Hắn dẫn đến nhà một cô gái trẻ đẹp, có duyên và nói tiếng Bắc Kỳ ngọt xớt giọng Hà Nội. Hắn giới thiệu tên cô là Dung đang làm Nữ Ý Tá ở Bệnh Viện Chợ Rẫy. Ba tôi xách một chai đế ngâm thuốc và má tôi thì xào đĩa thịt bò hành tây đãi khách. Dung uống rượu cũng rất là tâm đắc với Thại. Tôi ngồi chuốc rượu mà ngạc nhiên là Hắn tìm đâu ra kỳ phùng dịch thủ...
Một năm sau thì Hắn mời vợ chồng tôi mừng đám cưới Hắn với Dung. Năm đó Hắn 40 tuổi, là Bác Sĩ mà hàm răng cái mất cái còn trông tội nghiệp. Cô Dung y tá năm đó 25 xuân xanh! Một trời thơ mộng hạnh phúc mở ra cho thằng bạn tôi. Đám cưới ngoài vườn cây của ba mẹ Hắn trên Phú Lâm. Ngồi dưới tàng cây nhậu là hết ý.
Tôi nổi hứng đứng lên trước hàng bao nhiêu Bác Sĩ, bạn bè tứ phương tụ tập vui chuyện chúc mừng. Tôi ra câu đối chúc mừng tân Lang và Tân Giai nhân. Vế đầu tội đọc lên : " Bốn mươi tuổi tròn, răng không còn, Thầy Lang cưới vợ!" Nếu ai đối hợp ý thì được toàn thể cử tọa vỗ tay và cụng ly với một chai rượu tây chính cống!
Thế là một không khí ồn ào náo nhiệt bàn tán về ý của câu đối và rất nhiều tài danh viết nạp câu đối. Cuối cùng một anh bạn, nay đã quy tiên, có câu đối như thế này: "Hai mươi tuổi lẻ, vẫn còn trẻ, Y Tá vu quy" Câu đối được chấm xuất sắc!
Tôi và gia đình không được nhập cư Sai Gòn với cha mẹ, tuy trước năm 1975 chúng tôi có tên trong hộ khẩu. Vì thế nên chúng tôi phải đi vùng "kinh Tế Mới" ở Đồng Nai. Thời gian nầy Thại làm việc tại Bệnh Viện "Bệnh Nhiệt Đới" Chợ Quán. Cha Mẹ vợ Thại có con ở Hoa Kỳ đang làm bảo lãnh cho toàn thể gia quyến sang Mỹ. Lê Văn Thại lúc đó đã có được một con gái kháu khỉnh dễ thương tên Ngọc. Hắn không muốn ra đi "Tùy theo quê vợ" nên cứ dùng dằng "em chả"! Nhưng cuối cùng thì cũng phải vì tương lai con gái mà "theo em xuống thuyền".
Về phần tôi , năm 1990, cả gia đình tôi được giải thoát theo HO3 tháng 7 năm 1990 và định cư ở Nam Cali. Gia Đình Thại, vì không đủ 3 năm ở tù nên được đoàn tụ với Đại Gia Đình Vợ, định cư tiểu bang Oregon! Hắn quyết tâm học và quyết tâm lấy cho được bằng Bác Sĩ ở Hoa Kỳ, dù Hắn lúc đó đã lớn tuổi và sau năm 1990 thì chuyện học lấy BS rất khó! Vì nhiều lý do mà Hắn không thể theo học nghề thầy thuốc sau hai năm gắng sức! Trước kia Hắn học trường Pháp, bảy năm mài quần trong Y Khoa Đại Họa Sai Gòn, đậu bằng Bác Sĩ theo chương trình Pháp ở VN. Qua Hoa Kỳ hóa ra Hắn trở thành một tên "lộn chuồng"!
Lúc Hắn than là học khó quá, tôi khuyên Hắn: "Mầy bỏ ý định thành BS ở đây, mầy mở võ đường dạy võ Bình Định Thiếu Lâm hoặc cùng với BS Phạm Gia Cổn dạy võ Hàn Quốc thì tốt hơn". Hằn mĩm cười làm thinh tiếp tục hành hạ thân xác vì sĩ diện (?!)
Chính vì thế mà Hắn chán đời, chán vợ, chán con... lặn sâu qua tiểu bang Delaware với mấy bạn Biệt Động Quân chán đời, cùng ở dưới hầm nhà hơn tám chín năm trời để săn bắn và nhìn trời chiều bảng lảng! Khi con gái Hắn đậu bằng Bác Sĩ, hắn lên tinh thần và về lại Cali ở với con gái. Bác Sĩ Ngọc rất có hiếu và chăm sóc tận tình, chiều chuộng ông cha già ương ngạnh!
Tháng 3 năm 2019, Hắn được xe cấp cứu ò e, chở vào Fountain Valley nằm đã gần 10 ngày... Tôi vào thăm, Hắn nhìn tôi cười đểu: "Ê Lùn! sao không xách theo chai nào mà đi không vậy?"... Cầu mong Hắn chóng qua cơn "bệnh viện", tôi sẽ nói với bà xã đúc bánh xèo "dõ" (chỉ có bột gạo) kiểu Tam Quan, hắn rất thích, chấm với mắm nêm; đải Hắn một bữa với vài ly xoay chừng! Bây giờ Hắn cũng không còn uống được mấy ly, nhưng gà vẫn còn nhớ tiếng "gáy" một thời vang bóng!
Sau ba năm ở với con gái tối ngày đi trực Bệnh Viện vì dịch Covid-19 và là Bác Sĩ chuyên khoa, con gái Hắn ít khi ở nhà với Hắn. Nơi ở của hắn và con gái xa Westminster 2 giờ lái xe trên xa lộ, chung quanh rất ít người Việt Nam sinh sống. Hắn không dùng Iphone, không chơi internet, không lấy bằng lái xe... Bao năm tháng ở cái xứ Hoa Kỳ nầy mà như Hắn thì có phải chính Hắn tự hủy hoại mình và hành hạ thân xác dẫn đến chỉ một đường... tự giải thoát!
Được vợ Hắn báo tin Hắn đã được giải thoát ngày 3 tháng 3 năm 2022, tôi đang lái xe, phải dừng lại bên lề đường vì xúc động, Bây giờ Hắn nằm xuống, con gái Hắn không thể làm gì hơn là ngồi khóc, vợ Hắn thì đã sang ngang lừ bao nhiêu năm rồi. Nhưng phút cuối cùng Hắn cũng được gục chết bên vợ con với những lời trăn trối sau cùng nhắn với bạn bè chào vĩnh biệt!
Một người tài hoa không giống ai, một Bác Sĩ không giống ai, một người bạn mà mọi người đều cảm mến! Hắn là Lê Văn Thại!
tháng 3 năm 2022
letamanh
Share FB Hồ Công Bình và Thần Phong  

Sunday, March 22, 2026

Đại Tá Phan Văn Huấn, “Linh Hồn” Biệt Cách Nhảy Dù

“Tôi chưa bao giờ vắng mặt trong bất cứ một trận đánh lớn nhỏ nào kể cả chiến trường An Lộc. Tôi chấp nhận hy sinh, đã nhiều lần bò sát đến từng vị trí phòng thủ để an ủi khuyến khích anh em chứ không chịu ngồi dưới hầm sâu để ra lệnh, do đó tôi nghĩ vì thế mà tinh thần chiến đấu của LÐ81 mỗi ngày mỗi lên cao” - Đại Tá Phan Văn Huấn.
*
Đại Tá Phan Văn Huấn, Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù vừa qua đời ngày 10/3/2026 tại California Hoa Kỳ. Hưởng đại thọ 96 tuổi. Ông sinh tại tỉnh Thừa Thiên. Xuất thân Khóa 10 Trần Bình Trọng (10/1953-6/1954), Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt.
Trong bài viết Câu Chuyện Chiếc Mũ Xanh của ông đã ghi lại cuộc đời quân ngũ, Lực Lượng Đặc Biệt và Biệt Cách Nhảy Dù.
“Ngày 22/4/57, tôi vào trình diện Bộ TTM để nhận lệnh mới thì được đưa đến tạm trú tại dãy nhà ở đường Hiền Vương, gần Câu lạc bộ Sĩ quan An Ðông, Chợ Lớn để đợi lệnh. Sau hơn một tháng chờ đợi, hơn 20 anh em mới được đưa ra Vũng Tàu để học lớp Truyền tin đặc biệt, Đại Úy Bùi Thế Minh được chỉ định làm trưởng lớp, Đại Úy Tống Hồ Hàm làm phó...
Sau một tháng học nhảy dù, chúng tôi di chuyển ra Nha Trang, học lớp LLÐB tại trường Biệt Ðộng Ðội ở Ðồng Ðế do một toán LLÐB Mỹ từ Okinawa đến huấn luyện. Ðại Úy Cramer là trưởng toán, lớp học được hơn một tháng thì trong một cuộc thực tập phục kích gần đèo Rù Rì, Đại Úy Cramer, một Thượng Sĩ Cố Vấn và Trung Úy Phan Thanh Ðàn tử thương vì sơ ý trong việc xử dụng chất nổ!...
Sau 4 tháng gian khổ học tập, khóa A đầu tiên của Binh chủng LLÐB mãn khóa vào tháng 12/57. Các khóa B, C, D sau đó vẫn tiếp tục huấn luyện tại trường Biệt Ðộng Ðội Ðồng Ðế Nha Trang và huấn luyện viên của các khóa sau này đều do khóa A đảm trách. Vì tính cách quan trọng của việc thành lập binh chủng LLÐB. Lúc đó Ðại Úy Phạm Văn Phú (Thiếu Tướng) và Trung Úy Trần Hữu Tác (Trung Tá) là khóa sinh khóa B cũng như nhiều khóa sinh ưu tú khác nhập học. Sau khóa D mãn khóa thì có cuộc hành quân thực tập, nhảy dù xuống vùng Xuyên Mộc, Ðất Ðỏ thuộc tỉnh Bình Tuy chừng 2 tuần, cuộc hành quân này gồm nhiều toán A, mỗi toán 15 người, toán tôi thì có Tr/Úy Lê Tất Biên toán phó, Thượng Sĩ Kalani làm cố vấn…
Sau khi khóa A mãn khóa thì được mang danh hiệu là Liên Ðội Quan Sát Số 1 (LÐQSS1), Đại Úy Bùi Thế Minh làm Chỉ Huy Trưởng và Đại Úy Tống Hồ Hàm, Chỉ huy phó. Nhưng đến khóa B thì Thiếu Tá Ðàm Văn Quý thay thế làm Chỉ Huy Trưởng và được đội Mũ Ðỏ như Nhảy Dù. Ðến ngày 11 tháng 11 năm 1960, Liên Ðoàn Nhảy Dù do Đại Tá Nguyễn Chánh Thi, Tr/Tá Vương Văn Ðông, và Tr/Tá Nguyễn Triệu Hồng chỉ huy làm cuộc đảo chánh Tổng Thống Ngô Ðình Diệm nhưng bất thành, phải bỏ trốn sang Campuchia…
Sau chính biến, toàn bộ LÐQSS1 di chuyển vào đóng quân ở trại Hùng Vương, cạnh trường đua ngựa Phú Thọ. LÐQSS1 đổi danh thành Liên Ðoàn 77 của Bộ Quốc Phòng ngày 3/10/61, rồi LÐ77 đổi danh thành LD301 và giải tán do nghị định 284/QP/NÐ ngày 9/6/65. Liên Ðoàn 31 do Đ/Úy Phạm Duy Tất làm Chỉ Huy Trưởng. Quân số 2 Liên Ðoàn 301 và 111 giải tán để sắp xếp lại và chính thức gọi là binh chủng LLÐB vào tháng 4/63, gồm có một Bộ Tư Lệnh, một Đại Đội Tổng Hành Dinh, một Trung Tâm Huấn Luyện, và 4 bộ chỉ huy C ở 4 vùng Chiến Thuật, mỗi C có một số B và mỗi B có một số toán A tùy theo tình hình địa phương, mỗi toán A quân số vào khoảng 12 người, tổng cộng quân số LLÐB vào khoảng trên dưới 5,000 cho đến khi giải tán vào năm 70.
Từ năm 1961, LLÐB bắt đầu kế hoạch mở các trại Biệt Kích Biên Phòng (BKBP) (CIDG) dọc theo biên giới Việt Miên Lào để ngăn chặn việt cộng xâm nhập vào lãnh thổ VNCH, tùy theo tình hình, mỗi trại quân số BKBP có từ một Tiểu Đoàn hoặc nhiều hơn. Cho đến ngày BKBP đổi danh thành Biệt Ðộng Quân Biên Phòng khi LLÐB giải tán vào năm 70 thì quân số đã lên đến trên 50 ngàn quân với gần 50 trại.
Cũng từ năm 1961 thì LLÐB bắt đầu thành lập các đại đội Biệt Cách Nhảy Dù (BCND) biệt lập rồi đến năm 1964 thì sát nhập lại thành lập Tiểu Đoàn 91 BCND, Thiếu Tá Trần Minh Huy làm Tiểu Đoàn trưởng đầu tiên, đến ngày 1/4/68 đổi danh thành Tiểu Đoàn 81/BCND. Cũng trong năm 64 này thì LLÐB lập thêm một đơn vị nữa, lấy tên là Trung Tâm Huấn Luyện Hành Quân Delta (TTHL/HQ/Delta) gồm có 12 toán Thám Sát, mỗi toán 6 người, và 12 toán Thám Kích Tiền Phong (TKTP) là Biệt Kích Quân lấy từ các trại do Mỹ trả lương. Ðại Úy Nguyễn Văn Khách là Chỉ Huy Trưởng Delta đầu tiên.
Bộ Tư Lệnh LLÐB chính thức thành lập vào tháng 4/63 do Đ/Tá Lê Quang Tung làm Tư Lệnh, lần này Mũ Ðỏ lại đổi thành Mũ Ðen của binh chủng LLÐB cho đến đầu năm 64 di chuyển ra Nha Trang vẫn còn đội Mũ Ðen, rồi chẳng bao lâu sau, Mũ Ðen đổi thành Mũ Xanh cho đến khi LLÐB giải tán vào tháng 8/70…
LLÐB là binh chủng đầu tiên thi hành những nhiệm vụ vô cùng bí mật đó là thả các toán Biệt Kích ra Bắc hoạt động. Khởi đầu thả vào năm 1961 và chuyển giao nhiệm vụ này cho Nha Kỷ Thuật vào năm 64 để từ đó LLÐB chỉ lo hoạt động ở nội địa mà thôi.
LLÐB đã tham dự các trận đánh quyết liệt từ Khe Sanh, Lao Bảo, Làng Vei, Ashau, Alưới, Tà Bạt, Dapek, Dakto, Ben Het, Pleime, Ðức Cơ, Vũng Rô, Ðức Phong, Ðồng Xoài, Bình Long, An Lộc, Tống Lê Chân, Thiện Ngôn, Trại Bí, Ðức Hòa, Ðức Huệ, Ðôn Phục, Cái Cái, cho đến Biệt Khu Hải Yến, Côtô, v.v... Ða số các trận đánh này đều nằm dọc theo biên giới Việt Miên Lào để ngăn chặn Việt cộng xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH)…
Không có cái buồn nào bằng cái buồn binh chủng LLÐB bị giải tán vào tháng 8/70! Anh em LLÐB phân tán đi nhiều binh chủng nhưng đa số là chuyển qua BÐQ và NKT; một số ít qua bộ binh, hoặc các Trung tâm huấn luyện, nha sở, v.v... Duy chỉ có TTHL/HQ/Delta và Tiểu Đoàn 81/BCND là không giải tán mà sát nhập lại để lập nên Liên Ðoàn 81/BCND do tôi làm Chỉ Huy Trưởng. LÐ 81/BCND trở thành lực lượng tổng trừ bị trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu (BTTM)...
Ngày 25/12/70, toàn bộ LÐ81/BCND di chuyển vào đóng quân tại trại Bắc Tiến, cạnh Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Sau khi đã ổn định nơi đồn trú, tôi được lệnh lên trình diện Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH. Ý tôi muốn cứ giữ nguyên Màu Cờ Sắc Áo của binh chủng Lực Lượng Ðặc Biệt nhưng khi đề cập đến vấn đề đó thì tất cả sĩ quan cao cấp của BTTM đều cho biết là khó thể Đại Tướng chấp nhận yêu cầu này… Với quyết tâm đó, cho nên khi vào trình diện Đại Tướng, tôi đã có sẵn những lý do vững chắc để xin giữ lấy chiếc Mũ Xanh và phù hiệu LLÐB. Sau những lời hỏi han về tình hình quân số, nơi ăn chốn ở, tinh thần quân sĩ của Liên Đoàn, cuối cùng Đại Tướng liền hỏi tôi có đề nghị gì không?... Sau khi trình bày Đại Tướng Cao Văn Viên nói: “Ðược rồi, để giữ vững tinh thần chiến đấu như khi còn LLÐB, tạm cho phép Liên Ðoàn được đội Mũ Xanh và mang phù hiệu LLÐB cho đến khi có lệnh mới”…
Tôi chưa bao giờ vắng mặt trong bất cứ một trận đánh lớn nhỏ nào kể cả chiến trường An Lộc. Tôi chấp nhận hy sinh, đã nhiều lần bò sát đến từng vị trí phòng thủ để an ủi khuyến khích anh em chứ không chịu ngồi dưới hầm sâu để ra lệnh, do đó tôi nghĩ vì thế mà tinh thần chiến đấu của LÐ81 mỗi ngày mỗi lên cao.
Tôi rất hãnh diện được chỉ huy một đơn vị mà ở mặt trận nào, LÐ81 cũng làm rạng danh những người chiến sĩ QLVNCH, đặc biệt nhất là ở chiến trường An Lộc năm 72, với 2 câu thơ cảm đề của cô giáo Pha đã lưu truyền tiếng tăm của BCD đến cho mọi người:
“An lộc địa sử ghi chiến tích,
Biệt Cách Dù vị quốc vong thân”
(Ngưng trích)
Ngày 30/4/1975, khi TT lâm thời Dương Văn Minh ra lệnh buông súng đầu hàng, ông đã ở lại với binh sĩ và bị 13 năm tù trong các trại khổ sai từ Nam ra Bắc. Với tinh thần dũng cảm trên chiến trường, ông viết về chốn lao tù vẫn cương trực:
“Trại tù Nam Hà có gần 1,000 tù “cải tạo” vào năm 1978, trong số đó có vài trăm cấp Đại Tá không đi lao động suốt nhiều tháng, được nghỉ ở trại để viết về đề tài “Cuộc Ðời Tôi” nghĩa là kê khai tất cả chi tiết từ nhiều đời, đến khi vào quân đội cho đến ngày 30/4/75. Suốt ngày ngồi viết dưới sự trông coi của “cán bộ”, chiều đến thì nạp bài để đêm đến họ kiểm soát lại xem mình có viết đúng như họ hướng dẫn không. Sáng hôm sau thì họ kêu những người không viết theo hướng dẫn lên để xỉ vả! “Cán bộ” thì ngồi trên ghế, người bị kêu lên ngồi dưới đất để nghe những lời hạch hỏi thiếu văn hóa của kẻ “thắng trận”.
Tôi nhìn cảnh đó quá uất hận, rồi nghĩ nếu chẳng may đến lượt mình thì có chịu đựng được không? Nhất là khi Danh Dự của chiếc Mũ Xanh bị tổn thương, lúc đó chắc tôi khó mà kềm chế được sự tức giận để rồi sự thể có ra sao cũng đành cam chịu. Ðiều bất hạnh là tôi bị kêu lên thật, tên Tr/Úy Quốc là “cán bộ văn hóa” của trại tù với giọng nói cục cằn đã xỉ vả tôi “Anh viết tắt thế này (tôi viết tắt chữ Biệt Cách Nhảy Dù thành BCND), thì khi gởi thư, bố mẹ anh làm sao đọc được? “Không kềm chế được! Máu uất nổi lên, tôi đứng phắt dậy, dằn mạnh tập giấy đang viết xuống bàn và la lên cốt cho tất cả mọi người cùng nghe”.
“Nếu tôi có tội thì cứ giết tôi, còn cha mẹ tôi không có tội, cán bộ đừng đụng đến cha mẹ tôi”. Bị tôi phản ứng bất ngờ, tên Quốc giận tím mặt, ngồi yên lặng một lúc rồi đứng dậy đến bắt tay tôi và xin lỗi. Tôi liếc nhìn anh em Đại tá đang ngồi, thấy anh em hoảng hốt, sợ tánh mạng tôi sẽ bị nguy hại vì sự nóng giận đó, sau đó mới thấy tôi tuy quá uất hận nhưng cũng rất khôn ngoan đã lợi dụng cái lỗi của nó đụng chạm đến cha mẹ tôi để làm lớn chuyện mà tên Quốc không làm gì tôi được lúc đó nhưng tôi biết chắc chắn tôi sẽ bị trả đũa sau này. Từ sau ngày đó, tôi thấy bọn chúng bớt hống hách hơn với anh em Đại tá.
Viết xong “Cuộc Ðời Tôi” thì tiếp đến viết về đề tài “Các Tướng Ngụy”, viết tất cả những Tướng nào mà mình biết, tôi chỉ viết các Tướng Tư Lệnh LLÐB đã chỉ huy trực tiếp tôi mà thôi, tôi vẫn lập luận là cấp Tướng thì đương nhiên phải giỏi hơn tôi, tôi làm sao giỏi hơn để phê bình họ được? Tôi chỉ nói sơ lược cách hành xử của các Tướng Tư Lệnh mà không một phê bình nào về đúng hay sai nên cán bộ bực tôi lắm!...
Một buổi sáng nọ, tất cả lên hội trường để nghe “cán bộ ở Bộ Nội Vụ” về nói chuyện, khi đã ngồi yên vị, “cán bộ” liền nói “Hôm nay là buổi họp mặt để phê bình những khai báo của các anh trong mấy tháng qua, có 3 anh đáng được đưa ra để anh em phê bình xây dựng, đó là anh Phan Văn Huấn, anh Tạ Thành Long, và anh Lý Văn Minh đã có những tư tưởng không tốt như anh Huấn chẳng hạn, anh Huấn viết là:
“Tôi chưa bao giờ nói dối với các con tôi, ngày đi trình diện học tập cải tạo, tôi đã nói chính phủ cách mạng chỉ bắt đi học tập cải tạo một tháng rồi ba sẽ trở về với các con, nay đã 3 năm rồi không thấy về nhưng tôi không biết giải thích với các con tôi như thế nào, vậy xin cán bộ chỉ giùm cho, các anh cho biết những thắc mắc của anh Huấn như thế có đúng không?”
“Cán bộ” nói xong liền cho anh em nghĩ 10 phút để suy nghĩ và góp ý phê bình. Trong thời gian đó, tôi thấy nhiều cán bộ gọi nhiều người ngồi riêng để nói chuyện nhỏ to gì đó, tôi biết chắc là cán bộ khuyên dụ anh em phải phê bình tôi không biết ơn cách mạng đã tha tội chết cho mà còn đặt những câu hỏi làm mất uy tín cách mạng.
Ðến giờ vào họp lại thì lần lược các anh Cao Văn Ủy, Phạm Bá Hoa, Phan Thông Tràng, và nhiều anh em khác lần lược đứng lên phát biểu ý kiến, tôi biết chắc một điều là cộng sản chỉ cần một anh phê bình tôi là lập tức tôi bị cùm và dẫn đi kiên giam ở một nơi khác để dằn mặt các Đại Tá…
Bây giờ số phận tôi nằm trong danh dự của các anh em Đại Tá, thôi ta chấp nhận chết, đây cũng như là tử trận ở chiến trường mà ta đã chấp nhận từ lâu. Ðiều hãnh diện hết sức là anh em cứ nói vòng vo Tam Quốc, không đâu vào đâu hết khiến cho các “cán bộ” bực tức mà chẳng biết làm gì hơn được.
Năm 1988, tôi và một số lớn tù được tha về vào mấy ngày trước Tết, về tới nhà tôi rất đau lòng khi thấy vợ và 7 con đang sống trong cảnh nghèo nàn xơ xác, nhưng tôi cũng tự an ủi là mình còn may mắn hơn nhiều anh em khác, khi về nhà đến nhà thì không còn đủ vợ con.
Ngày 18/3/1993 vợ chồng tôi và 3 con được ra đi đến định cư tại California theo diện nhân đạo HO, tại đây đã có hội Thân Hữu Lực Lượng Ðặc Biệt thành lập từ năm 1987 và đang ngưng hoạt động, do đó anh em đã đề nghị tôi đứng ra thành lập hội Gia Ðình 81 BCND/LLÐB để đại diện đầy đủ hơn cho các chiến hữu của cả hai Binh chủng BCD, LLÐB cũng như anh em Delta, và hội đã được thành lập ngày 04 tháng 7 năm 1993”.
(Ngưng trích)
Trích dẫn những dòng trên vởi bản thân ông, Đại Tá Phan Văn Huấn đáng ngưỡng mộ với những chiến công hiển hách và khi trở thành “kẻ chiến bại” trong 13 lao tù vẫn giữ được hào khí của người lính QLVNCH.
*
Trong bài viết của Thiếu Tá Phạm Châu Tài, đoạn “Theo Chân Đoàn Quân Ma” có đoạn tường thuật như sau:
“Theo kế hoạch giải vây, hai đơn vị thiện chiến được sử dụng đến là Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù. Cả hai đơn vị nầy đều nhảy thẳng vào An Lộc với hai nhiệm vụ khác nhau, một phía trong và một phía ngoài thị xã.
Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù sẽ quét sạch hành lang vây khốn bên ngoài chu vi phòng thủ và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù mở đường máu đánh thẳng vào An Lộc tiếp tay với quân trú phòng bên trong, chiếm lại phân nửa thành phố đã mất.
Người ta suy nghĩ, kế hoạch này là một ván cờ liều, một kế hoạch đánh xả láng “thí chốt để lấy xe”, và những đơn vị thi hành sẽ là những con thiêu thân bay vào ánh lửa. Đúng vậy, họ là những con chốt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, những con chốt đã sang sông, đã nhập cung,và đã trở thành một pháo đài sừng sững trước mặt quân thù.
Ngày 14 tháng 4 năm 1972, từ Quận Chân Thành, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù và một pháo đội được trực thăng vận vào một địa điểm cách An Lộc 04 cây số về phía Đông Nam…
… Sáng ngày 16 tháng 04 năm 1972 Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù được vận chuyển qua Lai Khê bằng trực thăng Chinook CH-46. 12 giờ trưa cùng ngày, khi kho đạn Lai Khê bị đặc công Cộng Sản phá hoại nổ tung, là lúc toàn bộ 550 quân cảm tử của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù sẵn sang tại phi trường Lai Khê để được trực thăng vào An Lộc.
Nắng hè chói chang oi bức, ánh nắng lung linh theo cánh quạt của trực thăng tiễn đưa đoàn quân Ma đi vào vùng đất cấm. Địa điểm đổ quân là những đám ruộng khô cằn, nứt nẻ phía Tây tỉnh lộ 245, chung quanh là những cánh rừng thưa trải dài theo hướng Tây Bắc, khoảng cách 1 cây số đi về phía Đồi Gió.
Phải một hợp đoàn 45 chiếc trực thăng đa dụng HU-1D với hai đợt đổ quân mới thực hiện xong cuộc chuyển quân, và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù đã vào vùng hành quân lúc 04 giờ chiều ngày 16 tháng 4 năm 1972. Mở tần số liên lạc với Tướng Lê Văn Hưng trong An Lộc và liên lạc với Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù để biết vị trí quân bạn, sau đó nhanh chóng khai triển đội hình chiến đấu di chuyển về hướng Tây, len lỏi theo đường thông thủy giữa hai ngọn đối Gió và 169 âm thầm ngậm tăm mà đi.
Một sự kiện bất ngờ không may xảy đến khi đoàn quân đang di chuyển, một quả bom của Không Quân Hoa Kỳ định đánh vào vị trí của Cộng Quân lại rơi ngay vào đội hình đang di chuyển của Biệt Cách Dù, gây thương vong cho một vài binh sĩ, trong đó có Thiếu Úy Lê Đình Chiếu Thiện. Lập tức trái khói vàng được bốc lên cao giữa đoàn quân để phi công nhận diện phía dưới là quân bạn.
Phải mất một thời gian ngắn cho việc tản thương, hai cố vấn Mỹ; Đại Úy Huggings và Thượng Sĩ Yearta nhanh chóng liên lạc với Lữ Đoàn 7 Kỵ Binh Không Vận Hoa Kỳ yêu cầu trực thăng cấp cứu và được thỏa mãn ngay. Đây là hai cố vấn thuộc lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ còn chiến đấu bên cạnh Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù khi quân bộ chiến Mỹ đã rút lui ra khỏi chiến trường Việt Nam theo kế hoạch Việt Nam Hóa Chiến Tranh được thi hành vào năm 1970.
Sự kiện thứ hai xảy đến là sự xuất hiện của 47 quân nhân thuộc Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân từ đối 169 chạy tuôn xuống, mặt mày hốc hác vì mệt mỏi và thiếu ăn, bị thất lạc và phải trốn trong rừng. Họ đi theo Biệt Cách Dù để trở lại đơn vị gốc trong An Lộc…
Hoàng hôn phủ xuống thật nhanh, bóng tối lần lần bao trùm cảnh vật chung quanh. Súng vẫn nổ rải rác từng đợt, từng hồi trong rừng thẳm. Biệt Cách Dù chiếm ấp Srok Gòn trong im lặng và an toàn vì địch vừa rút ra khỏi đây. Lục soát, bố trí và dừng quân chung quanh ấp trong những công sự chiến đấu đã có sẵn của Việt Cộng.
Bóng đêm dày đặc, im vắng xa xa về hướng An Lộc- đạn pháo ì ầm nổ như tiếng trống cầm canh.
Sự đổ quân tăng viện ồ ạt của Việt Nam Cộng Hòa về phía Đông Nam cách An Lộc 4 km, đồng nhịp với các phi vụ đánh bom B52 tàn khốc về phía Nam của thành phố, đã làm cho Cộng quân hoang mang hốt hoảng. Lữ Đoàn 1 Dù là lực lượng đối kháng vòng ngoài để thu hút địch quân đồng thời tạo một lỗ hổng cho Biệt Cách Dù thâm nhập vào thành phố.
Sáng ngày 17 tháng 4 năm 1972, cùng một thời điểm Tiểu Đoàn 8 Dù tiếp cận ngoại vi tuyến phòng thủ của Thị Xã vế phía Nam, cạnh Quốc Lộ 13.
Cộng quân không ngờ Biệt Cách Dù đã lọt được vào Thị Xã tiếp hơi cho quân tử thủ và mở cuộc tấn công ngay trong đêm đó vào các khu phố mặt Bắc…
Nói về liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy dù, mặc dù chỉ có 550 chiến sĩ được đổ quân vào An Lộc nhưng khả năng tác chiến có thể bằng hay hơn 2000 quân bộ chiến (cấp Trung Đoàn) của các Công trường quân Cộng sản Bắc Việt, bởi chiến pháp linh động và bất ngờ, uyển chuyển theo tình hình, biết tùy theo thời tiết và địa thế, khi tấn công thì như vũ bão, sấm sét giáng lên đầu quân địch, khiến chúng không kịp trở tay, xuất hiện bất ngờ như những thiên thần trên trận mạc, đánh cận chiến tuyệt kỹ trên các hầm hố giao thông hào vào ban đêm, chui tường, đục lỗ tác chiến trong thành phố, cả ngày lẫn đêm rất điêu luyện (lấy ít đánh nhiều, sát hại địch nhiều mà thương vong lại ít), đột kích bất ngờ thu dọn chiến trường nhanh chóng đã làm kinh tâm khiếp đảm địch quân trên tận dãy Trường Sơn heo hút gió ngàn, và trong thành phố tại ngã ba Cây Thị kỳ Tết Mậu Thân 1968 tại Sài Gòn.
Thật là một đơn vị Biệt Kích - Commando thiện chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, hơn hẳn các đơn vị “đặc công” thiện chiến của Cộng Quân, và không thua bất cứ đơn vị Commando nào của các Quân Đội trên Thế Giới…
Điểm đáng lưu ý là Biệt Cách Dù đã tránh được một cuộc chạm súng với đơn vị Trung Đoàn 141 của Công Quân, có quân số đông hơn Biệt Cách Dù đến 5 lần, và địch được ưu thế phòng không và có công sự chiến đấu. Nhất là khi chuyến đầu đổ quân, không sao tránh khỏi đụng trận, các chiến binh Biệt Cách Dù kể cả các trực thăng đổ quân chắc chắn phải bị hao hụt ít nhiều, không còn được nguyên vẹn quân số, để tiếp tục làm tròn sứ mạng tiếp sức với Trung Đoàn 8 thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh, chiếm lại ½ diện địa phía Bắc, trong những ngày kế tiếp sau đó.
Trung Đoàn 141 thuộc Công Trường 7 của Cộng quân, thật sự đã ẩn phục tại Ấp Srok Gòn từ hơn tuần qua, và mới nhận được lệnh điều động rời khỏi vị trí, di chuyển về vùng Phi Trường Quản Lợi. Vì bị trúng kế “Điệu Hổ Ly Sơn”, đúng theo sự thiết kế của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3 Việt Nam Cộng Hoà.
Câu chuyện này, cho đến nay vẫn có rất ít người biết, kể cả đơn vị Biệt Cách Dù cũng không biết được là nguyên do nào mà đơn vị mình được đổ quân ngay vào lòng địch, mà vẫn được an toàn tiến quân vào tiếp cứu quân bạn đánh bại Quân Đoàn xăm lăng quân Cộng Sản Bắc Việt, một cách oanh oanh liệt liệt như thế”.
Trong bài viết “Tàn Cơn Binh Lửa” của BCD Lê Ðắc Lực:
“Sau khi rời khỏi chức vụ Biệt Đội Trưởng để đảm nhận trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, tôi có thì giờ và có nhu cầu theo dõi tình hình quân sự và chính trị nhiều hơn. Ngoài những hành động gây chiến giành dân lấn đất, bọn Cộng Sản đang thăm dò thái độ của Mỹ sau khi họ ký Hiệp Ðịnh Paris năm 1973…
Sau khi chiếm Phước Long ngày 6 tháng Giêng, năm 1975, quân Cộng Sản chiếm Ban Mê Thuột ngày 10 tháng Ba cùng năm đó. Rõ ràng, như trong bài trước đã trình bày, đánh Phước Long, là Cộng Sản thăm dò phản ứng của Mỹ. Thấy Mỹ bất động, lại còn cắt viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa, Cộng Sản thấy thời cơ đã tới, làm tới luôn, mở đầu chiến dịch tổng tấn công miền Nam bằng trận đánh lớn kế tiếp: Ban Mê Thuột.
Mặc dù tình hình căng thẳng, ngày càng nặng nề, hoạt động của Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù vẫn bình thường. Theo lệnh của Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn III, Ðại Tá Phan Văn Huấn đã cho rút Bộ Chỉ Huy nhẹ của Trung Tá Nguyễn Văn Lân, từ Tây Ninh về lại căn cứ Hành Quân Biên Hòa, để lại Biệt Ðội 813 do Trung Úy Lại Ðình Hợi chỉ huy, tăng cường phòng thủ cho chiến trường Tây Ninh. Ðiều động Bộ Chỉ Huy 3 Chiến Thuật, do Thiếu Tá Phạm Châu Tài chỉ huy, gồm ba Biệt Ðội 811, 817 và 818 đến bảo vệ Bộ Tổng Tham Mưu.
Riêng tại căn cứ hành quân Suối Máu Biên Hòa, Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn do Ðại Tá Phan Văn Huấn chỉ huy và hai Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật 1 và 2, với quân số các biệt đội còn lại lên tới 2,000 binh sĩ, vẫn bố phòng ở mặt Bắc phi trường Biên Hòa, sẵn sàng chiến đấu. Các toán Thám Sát vẫn được thả vào Chiến Khu D để do thám, thu nhặt tin tức các hoạt động của địch.
Trưa ngày 28 tháng Tư, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn III họp tất cả đơn vị trưởng, Chỉ Huy Trưởng các đơn vị đang đồn trú ở địa phương. Trong buổi họp, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn thông báo tình hình quân sự tuyệt vọng ở Quân Khu III, và ra lệnh tất cả các đơn vị rút về phòng tuyến mới, dọc theo Xa Lộ Ðại Hàn, Thủ Ðức, để bảo vệ Thủ Ðô Sài Gòn. Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù là đơn vị rút cuối cùng, có nhiệm vụ bảo vệ cầu Biên Hòa, trên Quốc Lộ 1, gần ngã ba đường đi vào Núi Bửu Long, để toàn bộ binh sĩ rút qua khỏi cầu này được an toàn.
Cũng trong ngày hôm ấy, Bộ Tổng Tham Mưu hầu như có kế hoạch cho trực thăng đến đón các cấp chỉ huy di tản khỏi Việt Nam. Nhưng đối với Ðại Tá Huấn thì ông đã từng tuyên bố khẳng định: “Tôi có vợ và tám con. Tôi có thể bỏ lại gia đình, nhưng không thể bỏ lại hai ngàn chiến sĩ của tôi để mà ra đi trong hoàn cảnh như thế này được…”
Và Ðại Tá Huấn đã ở lại với binh sĩ của ông, cho đến giây phút cuối cùng, khi có lệnh buông súng đầu hàng của tân Tổng Thống Dương Văn Minh.
Qua hai bài viết của Thiếu Tá Phạm Châu Tài và Đại Úy Lê Đắc Lực trong binh chủng Biệt Cách Nhảy Dù dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Phan Văn Huấn thể hiện nhân cách, tinh thần chiến đấu anh dũng, chỉ biết phục vụ cho lý tưởng. Một vị Chỉ Huy Trưởng của binh chủng, nhưng sau khi ra tù thì vợ con “sống trong cảnh nghèo nàn xơ xác” cho thấy sự trong sạch của ông trong suốt cuộc đời binh nghiệp.
Trong giới truyền thông, ký giả Vũ Ánh (13 năm tù) qua bài viết Đại Tá Phan Văn Huấn, Người Anh Cả Gia “Chúng tôi chưa từng là thuộc cấp của ông, nhưng vẫn gọi ông là anh cả. Nhân cách và hình ảnh của ông chế ngự trong tôi suốt thời gian tôi được chuyển về sống tại Z-30A (trại C) năm 1986 và được ‘biên chế’ vào đội rau xanh cùng ông. Sắp bước sang năm thứ 12, nhưng trại C vẫn còn đầy ắp những sĩ quan cao cấp mà thời gian chinh chiến của họ dài gấp đôi gấp ba những năm tù. Giai đoạn cuối một đời ‘học tập cải tạo’ nhưng ‘không bao giờ thuộc bài’ của chúng tôi có nhiều điều đáng nói, nhiều hình ảnh cần nhớ và nhiều hình ảnh cũng cần quên để giữ vững tinh thần… Vui khi thấy một đàn anh xứng đáng, đàng hoàng và chỉ một lời trách nhẹ của họ, chúng tôi cũng coi như một lệnh phải thi hành. Buồn khi thấy một đàn anh khúm núm một cách không cần thiết trước mặt những kẻ thắng trận. Số người này ít nên nỗi buồn cũng chỉ thoáng qua. Số giữ được tư cách vẫn rất nhiều và làm cho lớp đàn em chúng tôi vững tin.
Những bạn tù của tôi, người Công Giáo, nói rằng, anh cả Phan Văn Huấn là người vác thánh giá cho lũ em. Mà quả thật đi chung với anh một đường, lòng thấy nhẹ đi, phơi phới hơn, tin tưởng hơn. Con đường khó cũng bớt khó. Dáng người cao, gầy, nước da đen xanh, nhưng đôi mắt sáng và nụ cười bao giờ cũng là đầu câu chuyện. Giọng Huế còn ‘chay’ lúc nào cũng nhỏ nhẹ, ý nhị, cười vui vừa phải, anh cả dẫn chúng tôi vào những câu chuyện buồn vui đời lính của chính ông và các sĩ quan binh lính thuộc cấp. Những kỷ niệm ông nói ra là những bài học không lúc nào mất giá trị.
Trang phục của ông trong tù khi quay về với cái nóng ở phương nam là quần áo may bằng bao cát xám. Chuyện mưu sinh chứ không phải là mốt thời trang. Người nào từng là tù cải tạo ra Bắc hoặc xuôi Nam đều biết loại quần áo tù bền muôn thuở này. Lúc đầu được phát mỗi năm hai bộ quần áo trận của quân VNCH, nhưng túi và cầu vai bị xé hết. Thời gian sau, họ phát quần áo tù bằng vải thô có đóng dấu cải tạo sau lưng. Mồ hôi của lao động khổ sai có thể xé rách bất cứ loại quần áo nào. Phải vá thôi, nhưng vải đâu. Thấy loại bao cát xám hay bao cát màu olive đem về giặt đi để đắp đỡ lên những chỗ rách trên áo tù. Thấy loại bao cát xám, càng giặt đi càng mịn có thể may quần áo được, tha hồ bền nên vài người tù trở thành thợ may bất đắc dĩ. Chúng tôi không được giữ vật bén nhọn, nhưng tìm trong vài ba lô vẫn có được những mảnh thép quí, mài đi thành dao nhỏ, cắt bao cát thay kéo, mài những cộng sắt làm kim, chỉ thì rút từ chính những sợi từ những bao cát bằng ni lông, thế là có một bộ đồ "ăn chơi quá thú"
Anh cả Phan Văn Huấn quanh năm suốt tháng mang trang phục rất ‘mốt’ may bằng bao cát xám. Tôi để ý thấy ông còn giữ được bộ đồ trận tương đối tươm tất nhưng chỉ thấy ông mặc nó vào ngày 19 tháng 6. Ở những trại tù trước, chúng tôi tổ chức kỷ niệm 19 tháng 6 bằng một phút im lặng chào quốc kỳ và chào nhau kiểu nhà binh trước khi bọn cai tù mở cửa buồng giam điểm số để ra lao động.
Ở trại Z-30A vào 3 năm cuối của thập niên 80, ngày Quân Lực được tổ chức theo từng nhóm riêng. Tôi mang áo lính nhưng binh chủng của tôi lại là đạo quân phóng viên, biên tập viên của hệ thống truyền thanh quốc gia, nên cả trại chỉ còn mình tôi. Phần lớn đồng nghiệp với tôi đã trở về sớm hơn, có đứa vào năm 1986 đã tốt nghiệp đại học ở Mỹ và làm lại cuộc đời rồi.
Anh cả Phan Văn Huấn quí tôi nên thường mời tôi tham dự những bữa cơm đoàn kết cùng với một số các sĩ quan thuộc cấp của Biệt Cách Dù, LLĐB cùng bị giam ở trại Z-30A. Ở đội rau xanh, tới giờ nghỉ giải lao, chúng tôi thường tụ tập hút với nhau điếu thuốc lào, nói dóc hay kiếm ếch nhái để ‘cải thiện’. Riêng anh cả Huấn thì không nghỉ, anh dùng giờ giải lao để chăm bẵm một giàn mướp và vài bụi mồng tơi ở bên cạnh "lãnh thổ" của đội rau xanh. Viên cán bộ quản giáo, còn một chút hiểu biết, nên cũng dễ dãi cho phép tù "cải thiện". Mỗi đợt thu hoạch, anh Huấn hái về 5, 7 trái mướp vừa độ, vài nắm lá mồng tơi. Về trại anh chia đều cho những sĩ quan thuộc cấp…
Có một lần vào ngày đầu tuần lễ, tôi bị bệnh được cho nghỉ nằm nhà. Anh Huấn được gọi ra thăm nuôi gặp gia đình. Bốn mươi phút sau, anh cả trở vào gọi tôi sang và dúi vào tay tôi những tờ giấy gói hàng. Ðó là những tờ báo của tờ Tuổi Trẻ mà gia đình khéo léo bọc ngoài những món đồ khô. Giỏ quà thăm nuôi của anh gồm rất nhiều gói nho nhỏ, mỗi thứ một chút: một ít mắm ruốc kho với tóp mỡ, chút ít cá khô chà bông, ít mì vụn, một hũ nhỏ nước mắm kho quẹt, ít thịt heo băm nhỏ rim mặn, ít ruốc xả theo kiểu Huế... Phía trong mỗi gói đều có một mảnh giấy với vài hàng chữ. Anh cho tôi đọc một lá thư, ngắn ngủi nhưng chứa đựng một tấm lòng thương kính của gia đình quả phụ tử sĩ đối với anh. Chỉ đọc lá thư đầu để trong một gói mắm ruốc kho với tóp mỡ, nước mắt tôi đã trào ra. Chữ nguệch ngoạc bằng bút chì trên một miếng giấy kẻ ô đã vàng xé ở đâu đó: “... Gia đình em, cha mẹ của cố Binh nhất... kính thăm Đại Tá. Chỉ có chút quà nhỏ do lòng thành của gia đình gởi biếu Đại Tá dùng lấy thảo. Vẫn nhớ Đại Tá và mong Đại Tá khỏe mạnh, sớm về với gia đình...”
Lá thư ngắn ngủi kèm theo gói nhỏ đạm bạc nhưng đầy ắp tình thương và quí mến của gia đình tử sĩ Liên Đoàn 81/BCD, dù rằng, vào lúc đó đại gia đình này đã tan đàn, xẻ nghé. Trường hợp như người anh cả của gia đình Biệt Cách Dù không phải là số nhiều. Nó chứng tỏ rằng, trong thời chiến, cựu Ðại Tá Phan Văn Huấn đã hành xử đúng vai trò người anh cả trong một đại đơn vị chiến tích lẫy lừng ấy. Trận mạc gan lì nhưng trái tim ông đầy lòng nhân ái, sống gắn bó với những người lính của mình, chia xẻ những mất mát không gì bù đắp được của các gia đình tử sĩ, cô nhi quả phụ…
Anh cả được trở về với gia đình sau tôi vài tháng. Một người họ hàng với mẹ tôi là phụ huynh của một thương binh trước đây là lính của anh cho tôi biết, anh sống khó khăn và việc tìm cách đến thăm có thể làm cho mối hoài nghi của bọn công an phường gia tăng thêm. “Cậu đến thăm chắc ông ấy vui lắm, nhưng chị thấy là nên tránh cho ông ấy”. Bà chị họ tôi nói như vậy.
Tôi đi định cư ở Mỹ trước anh cả Huấn. Rồi một hôm, đang ngồi làm việc ở tòa soạn của nhật báo Viễn Ðông của anh Nguyễn Ðức Quang, thì anh cả Huấn đẩy cửa bước vào. Tôi nhận ra anh ngay và chào kính. Vẫn nụ cười, anh cho tôi biết qua về đời sống hiện tại của anh ở Mỹ. Anh nói: “Lớn tuổi rồi, nhưng anh vẫn OK. Có chuyện này nhờ Ánh”. Chuyện anh nhờ thực ra anh không cần nhờ, tôi cũng có bổn phận phải làm. Ðó là một thư mời họp mặt Gia Đình 81/BCD - LLĐB.
Anh cả Huấn nói: “Bây giờ anh ngồi nhà, làm công việc kêu gọi anh em ở đây trợ giúp những người trong Gia Đình 81 còn kẹt và gia đình quả phụ tử sĩ. Khó đấy, nhưng cố gắng tới đâu hay tới đó”. Tôi được hân hạnh tham dự họp mặt của Gia Đình 81/BCD, nhưng các lần sau đó thì không còn cơ hội…
Vâng, đó chính là hình ảnh đích thực của anh cả Phan Văn Huấn và những đồng đội của anh trong Gia đình 81/BCD - LLĐB. Tới nay, dù tuổi đã cao, họ vẫn sống như những người lính đích thực của thời trận mạc…”
Nay ông đã vĩnh biệt cõi trần trong sự quý mến, kính trọng của quý chiến hữu, mọi người Việt tị nạn. Đại Tá Phan Văn Huấn xứng đáng là niềm hãnh diện trong QLVNCH. Năm 1988, ông ra tù với tấm thân bệnh tật vì những thương tích chiến trường và lao tù hành hạ nhưng được hưởng đại thọ như vậy, rất hiếm.
Vương Trùng Dương

Wednesday, March 4, 2026

Đại Tá Phan Văn Huấn

ĐẠI TÁ Phan Văn HUẤN khi còn mang LON THIÉU TÁ 1967 CHỈ HUY TRƯỞNG LƯỢNG LƯỢNG DELTA (Picture credit to Tô Phạm Thái)

1. Đại Tá Phan Văn Huấn – Chỉ huy nổi tiếng của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù
Theo Wikipedia tiếng Việt, Phan Văn Huấn được liệt kê trong danh sách “các tư lệnh – chỉ huy nổi tiếng” của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù .
Liên Đoàn 81 BCD là một trong những lực lượng tinh nhuệ nhất của QLVNCH, trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu và phối hợp chặt chẽ với Nha Kỹ Thuật.

2. Vai trò của Đại Tá Huấn trong các trận chiến lớn
Một video tư liệu về trận Phước Long 1975 ghi rõ:
Đại Tá Phan Văn Huấn, lúc đó là Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn 81 BCD, đã nhận lệnh khẩn cấp rút quân khỏi Tây Ninh để điều động trực thăng đưa lực lượng đến giải tỏa áp lực địch tại mặt trận khác .
Điều này cho thấy ông trực tiếp chỉ huy các chiến dịch quan trọng trong giai đoạn cuối của chiến tranh.

3. Nhân cách và sự nghiệp – ghi nhận từ Đài Đáp Lời Sông Núi
Một bài viết tưởng niệm từ Đài Đáp Lời Sông Núi mô tả Đại Tá Phan Văn Huấn là:
Một con người đạo đức, quả cảm, khí khái, cương trực
Nghiêm khắc trong quân kỷ nhưng gần gũi thuộc cấp
Một cấp chỉ huy tài trí, nhiều mưu lược
Lập nhiều chiến công hiển hách trên cả 4 vùng chiến thuật
Niềm hãnh diện của Trường Võ Bị Đà Lạt và chiến binh Liên Đoàn 81 BCD
Bài viết còn trích hai câu thơ treo tại nghĩa trang Biệt Kích Dù Bình Long năm 1972:

Những câu này được dùng để tôn vinh tinh thần chiến đấu của đơn vị và của chính Đại Tá Huấn.

4. Vị trí của ông trong lịch sử Liên Đoàn 81 BCD
Từ các nguồn trên, có thể khẳng định:
Đại Tá Phan Văn Huấn là một trong những Chỉ Huy Trưởng quan trọng nhất của Liên Đoàn 81 BCD.
Ông được xem là biểu tượng của tinh thần Biệt Cách Dù: gan dạ, kỷ luật, mưu lược, và tận tụy với thuộc cấp.
Tên ông xuất hiện trong nhiều tài liệu lịch sử, hồi ký và chương trình tưởng niệm về QLVNCH.


LIÊN ĐOÀN 81 BIỆT CÁCH DÙ THAM CHIẾN
Đến ngày 16 tháng 04 năm 1972, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, được tăng viện cho An Lộc, và khởi phát cuộc phản công tái chiếm lại ½ lãnh thổ phía Bắc An Lộc.
Từng đoàn trực thăng HU1D cất cánh từ căn cứ Lai Khê vào trưa ngày 16 tháng 04 năm 1972 đưa 550 Biệt Cách Nhảy Dù đến chiến trường An Lộc một cách an toàn.
Bãi đổ quân được chọn trên một khoảng ruộng trống, về phía Tây, Tỉnh lộ 245, cách Đồi Gíó 1 cây số về phía Đông Bắc.
Hợp đoàn trực thăng từng đợt 30 chiếc HU1D cho mỗi đợt đổ quân, có 4 trực thăng võ trang hộ tống bao vùng. Đợt đầu thả Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn, do Trung Tá Phan Văn Huấn chỉ huy và 4 toán trinh sát của Liên Đoàn 81 Biệt Cách, do Trung Úy Lê Văn Lợi chỉ huy, cùng Đại Đội 1 do Đại Úy Nguyễn Ích Đoàn chỉ huy và Đại Đội 2 do Đại Úy Nguyễn Sơn chỉ huy; Chuyến thứ nhì gồm có Liên Đoàn Phó, Thiếu Tá Nguyễn văn Lân, cùng Đại Đội 3 do Đại Úy Phạm Châu Tài (có biệt danh là Hổ Xám) chỉ huy, và Đại Đội 4 do Đại Úy Đào Minh Hùng chỉ huy.
Sau khi được an toàn nhảy xuống trận địa, kiểm điểm quân đầy đủ, Trung Tá Huấn liền cho lệnh các đơn vị di chuyển đến chiếm cứ Ấp Srok Gòn, cận kề bên bãi đổ quân, bố trí xong xuôi, Trung Tá Huấn mở tần số truyến tin, liên lạc được với Tướng Hưng (Bộ Chỉ Huy Mặt Trận) và Đại Tá Lưỡng (Lực Lượng Dù) ở phía Nam để được hướng dẫn lộ trình an toàn cũng như tránh ngộ nhận giữa quân bạn trước khi tiến quân vào thành phố.
Trên đường tiến quân vào chiếm Ấp Srok Gòn, đơn vị Biệt Cách đi đầu, báo cáo về Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn, gặp được hai người Thượng, đang mò mẫm trở về Ấp, để tìm các con BÒ của dân làng đã bỏ chạy ra khỏi Ấp còn để lại từ hơn tuần qua, khi Cộng quân đến chiếm cứ. Với nhiều vết tích hầm hố, giao thông hào chiến đấu, còn nguyên vẹn, hai người dân Thượng còn cho biết, quân Cộng Sản cũng vừa mới rút đi, còn chưa kịp lấp lại hầm hố, đào xới tứ tung.
Chiếu theo tài liệu của nhân chứng sống Biệt Cách Dù, Thiếu Tá Phạm Châu Tài, trong tác phẩm “AN LỘC CHIẾN TRƯỜNG ĐI KHÔNG HẸN”, đoạn “Theo chân đoàn quân ma” có đoạn tường thuật như sau:
“Theo kế hoạch giải vây,hai đơn vị thiện chiến được sử dụng đến là Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù.
Cả hai đơn vị nầy đều nhảy thẳng vào An Lộc với hai nhiệm vụ khác nhau, một phía trong và một phía ngoài thị xã.
Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù sẽ quét sạch hành lang vây khốn bên ngoài chu vi phòng thủ và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù mở đường máu đánh thẳng vào An Lộc tiếp tay với quân trú phòng bên trong, chiếm lại phân nửa thành phố đã mất.
Người ta suy nghĩ, kế hoạch này là một ván cờ liều, một kế hoạch đánh xả láng “thí chốt để lấy xe” , và những đơn vị thi hành sẽ là những con thiêu thân bay vào ánh lửa. Đúng vậy, họ là những con chốt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, những con chốt đã sang sông, đã nhập cung,và đã trở thành một pháo đài sừng sững trước mặt quân thù.
Ngày 14 tháng 04 năm 1972, từ Quận Chân Thành, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù và một pháo đội được trực thăng vận vào một địa điểm cách An Lộc 04 cây số về phía Đông Nam.
Từ Ấp Srock Ton Cui, Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù chiếm lĩnh cao điểm 169, còn được gọi là Đồi Gió, đặt 06 khẩu 105 ly, để yểm trợ cho Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn cùng Tiểu đoàn 5 và 8 Nhảy Dù tiến vào An Lộc.
Linh động và bất ngờ là hai yếu trong binh pháp, được Lữ Đoàn 1 Dù khai thác triệt để trong cuộc hành quân nầy.
Cộng quân bao vây An Lộc bị cú bất ngờ khi thấy lính Nhảy Dù xuất hiện phía sau, yếu tố bất ngờ đã làm địch quân hốt hoảng, trận đánh đẫm máu nổ ra và Nhảy Dù đã chiếm ưu thế, mở được một khoảng trống trong vòng vây kín mít từ phía Đông Nam hướng về An Lộc.
Cùng ngày 14 tháng 04 năm 1972 khi Lữ đoàn 1 Nhảy dù được trực thăng vận vào An Lộc, thì từ những khu rừng già vùng Tây Nam Xa Mát dọc theo biên giới Việt- Miên, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù đang hành quân, được lệnh triệt xuất để trở về căn cứ Trảng Lớn thuộc Tỉnh Tây Ninh.
Sáng ngày 16 tháng 04 năm 1972 Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù được vận chuyển qua Lai Khê bằng trực thăng Chinook CH-46.
12 giờ trưa cùng ngày, khi kho đạn Lai Khê bị đặc công Cộng Sản phá hoại nổ tung, là lúc toàn bộ 550 quân cảm tử của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù sẵn sang tại phi trường Lai Khê để được trực thăng vào An Lộc.
Nắng hè chói chang oi bức, ánh nắng lung linh theo cánh quạt của trực thăng tiễn đưa đoàn quân Ma đi vào vùng đất cấm. Địa điểm đổ quân là những đám ruộng khô cằn, nứt nẻ phía Tây tỉnh lộ 245, chung quanh là những cánh rừng thưa trải dài theo hướng Tây Bắc, khoảng cách 1 cây số đi về phía Đồi Gió.
Phải một hợp đoàn 45 chiếc trực thăng đa dụng HU-1D với hai đợt đổ quân mới thực hiện xong cuộc chuyển quân, và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù đã vào vùng hành quân lúc 04 giờ chiều ngày 16 tháng 04 năm 1972. Mở tần số liên lạc với Tướng Lê Văn Hưng trong An Lộc và liên lạc với Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù để biết vị trí quân bạn, sau đó nhanh chóng khai triển đội hình chiến đấu di chuyển về hướng Tây, len lỏi theo đường thông thủy giữa hai ngọn đối Gió và 169 âm thầm ngậm tăm mà đi.
Một sự kiện bất ngờ không may xảy đến khi đoàn quân đang di chuyển, một quả bom của Không quân Hoa Kỳ định đánh vào vị trí của Cộng Quân lại rơi ngay vào đội hình đang di chuyển của Biệt Cách Dù, gây thương vong cho một vài binh sĩ, trong đó có Thiếu Úy Lê Đình Chiếu Thiện. Lập tức trái khói vàng được bốc lên cao giữa đoàn quân để phi công nhận diện phía dưới là quân bạn.
Phải mất một thời gian ngắn cho việc tản thương, hai cố vấn Mỹ; Đại Úy Huggings và Thượng sĩ Yearta nhanh chóng liên lạc với Lữ Đoàn 7 Kỵ Binh Không vận Hoa Kỳ yêu cầu trực thăng cấp cứu và được thỏa mãn ngay. Đây là hai cố vấn thuộc lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ còn chiến đấu bên cạnh Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù khi quân bộ chiến Mỹ đã rút lui ra khỏi chiến trường Việt Nam theo kế hoạch Việt Nam Hóa Chiến Tranh được thi hành vào năm 1970.
Sự kiện thứ hai xảy đến là sự xuất hiện của 47 quân nhân thuộc Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân từ đối 169 chạy tuôn xuống, mặt mày hốc hác vì mệt mỏi và thiếu ăn, bị thất lạc và phải trốn trong rừng. Họ đi theo Biệt Cách Dù để trở lại đơn vị gốc trong An Lộc.
Vài tiếng súng AK ròn rã ở phía Đông, có lẽ địch bắn báo động. Tiếp tục di chuyển vế hướng Tây Bắc để vào rừng cao su Phú Hòa. Tiếng súng nổ liên hồi, đứt khoảng phía trước, Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù đang chạm địch. Gặp Tiểu Đoàn Trưởng Nhảy dù- Trung Tá Hiếu cười méo miệng, nói như phân trần ” tụi nó đông như kiến và bám sát tụi moi như bày đỉa đói”.
“ Tụi nó đông như kiến” đã nói lên thực trạng chênh lệch lực lượng quân sự đôi bên mà ưu thế vế phía Việt cộng. Nhưng đã là lính thì phải cố gắng cho đến lúc tàn hơi, đã là một Biệt Cách Dù thì phải chấp nhận mọi gian khổ, hy sinh cho màu cờ sắc áo của đơn vị.
Hoàng hôn phủ xuống thật nhanh, bóng tối lần lần bao trùm cảnh vật chung quanh. Súng vẫn nổ rải rác từng đợt, từng hồi trong rừng thẳm. Biệt Cách Dù chiếm ấp Srok Gòn trong im lặng và an toàn vì địch vừa rút ra khỏi đây. Lục soát, bố trí và dừng quân chung quanh ấp trong những công sự chiến đấu đã có sẵn của Việt Cộng.
Bóng đêm dày đặc, im vắng xa xa về hướng An Lộc- đạn pháo ì ầm nổ như tiếng trống cầm canh.
Sự đổ quân tăng viện ồ ạt của Việt Nam Cộng Hòa về phía Đông Nam cách An Lộc 4 km, đồng nhịp với các phi vụ đánh bom B52 tàn khốc về phía Nam của thành phố, đã làm cho Cộng quân hoang mang hốt hoảng. Lữ Đoàn 1 Dù là lực lượng đối kháng vòng ngoài để thu hút địch quân đồng thời tạo một lỗ hổng cho Biệt Cách Dù thâm nhập vào thành phố.
Sáng ngày 17 tháng 04 năm 1972, cùng một thời điểm Tiểu Đoàn 8 Dù tiếp cận ngoại vi tuyến phòng thủ của Thị Xã vế phía Nam, cạnh Quốc Lộ 13.
Cộng quân không ngờ Biệt Cách Dù đã lọt được vào Thị xã tiếp hơi cho quân tử thủ và mở cuộc tấn công ngay trong đêm đó vào các khu phố mặt Bắc…
Nói về liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy dù, mặc dù chỉ có 550 chiến sĩ được đổ quân vào An Lộc nhưng khả năng tác chiến có thể bằng hay hơn 2000 quân bộ chiến ( cấp Trung đoàn ) của các Công trường quân Cộng sản Bắc Việt, bởi chiến pháp linh động và bất ngờ, uyển chuyển theo tình hình, biết tùy theo thời tiết và địa thế, khi tấn công thì như vũ bão, sấm sét giáng lên đầu quân địch, khiến chúng không kịp trở tay, xuất hiện bất ngờ như những thiên thần trên trận mạc, đánh cận chiến tuyệt kỹ trên các hầm hố giao thông hào vào ban đêm, chui tường, đục lỗ tác chiến trong thành phố, cả ngày lẫn đêm rất điêu luyện ( lấy ít đánh nhiều, sát hại địch nhiều mà thương vong lại ít), đột kích bất ngờ thu dọn chiến trường nhanh chóng đã làm kinh tâm khiếp đảm địch quân trên tận dãy Trường Sơn heo hút gió ngàn, và trong thành phố tại ngã ba Cây Thị kỳ TẾT Mậu Thân 1968 tại Sài Gòn.
Thật là một đơn vị Biệt Kích = Commando thiện chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, hơn hẳn các đơn vị “đặc công” thiện chiến của Cộng Quân, và không thua bất cứ đơn vị Commando nào của các Quân Đội trên Thế Giới.
Theo như lời khai báo của hai dân Thượng, thì đơn vị trú quân tại Ấp Srok Gòn là Trung Đoàn 141 Cộng Sản Bắc Việt, đã vội vàng rút đi trong đêm 13 rạng ngày 14 tháng 04 năm 1972, đến bảo vệ Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn Cộng Sản Bắc Việt cũng như Cục R. Điểm đáng lưu ý là Đơn vị Biệt Cách Dù đã tránh được một cuộc chạm súng với đơn vị Trung Đoàn 141 của Công Quân, có quân số đông hơn Biệt Cách Dù đến 5 lần, và Ðịch được ưu thế phòng không và có công sự chiến đấu. Nhất là khi chuyến đầu đổ quân, không sao tránh khỏi đụng trận, các chiến binh Biệt Cách Dù kể cả các trực thăng đổ quân chắc chắn phải bị hao hụt ít nhiều, không còn được nguyên vẹn quân số, để tiếp tục làm tròn sứ mạng tiếp sức với Trung Đoàn 8 thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh, chiếm lại ½ diện địa phía Bắc, trong những ngày kế tiếp sau đó.
Trung Đoàn 141 thuộc Công Trường 7 của Cộng quân, thật sự đã ẩn phục tại Ấp Srok Gòn từ hơn tuần qua, và mới nhận được lệnh điều động rời khỏi vị trí, di chuyển về vùng Phi Trường Quản Lợi. Vì bị trúng kế “Điệu Hổ Ly Sơn”, đúng theo sự thiết kế của Bộ Tư lệnh Quân Đoàn 3 Việt Nam Cộng Hoà.
Câu chuyện này, cho đến nay vẫn có rất ít người biết, kể cả đơn vị Biệt Cách Dù cũng không biết được là nguyên do nào mà đơn vị mình được đổ quân ngay vào lòng Địch, mà vẫn được an toàn tiến quân vào tiếp cứu quân Bạn đánh bại Quân Đoàn xăm lăng quân Cộng Sản Bắc Việt, một cách oanh oanh liệt liệt như thế.






Tuesday, February 24, 2026

Phân Ưu và Cáo Phó Cố Đại Úy Lê Thành Long



Thành Kính chia buồn cùng chị Thanh Thủy Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH, nguyện cầu linh hồn anh Long sớm về Chốn Thiên Đàng và luôn ghi ơn anh trong những công tác giúp Thương Phế Binh VNCH. Mong Anh yên nghỉ bên Chúa. Amen.





Author
Hoa Pham
May be an image of ‎text that says '‎m an ت seueN Thành Kính chia buồn cùng... و Published Yesterday at 11:50M 293,785 177,443 29,811‎'‎
Ngan Duong
Thành kính phân ưu cùng gia đình và tang quyến.Cầu Chúc hương linh Anh thanh thoát cõi vĩnh hằng...
Bùi Ngân Hạnh
Thành kính phân ưu cùng gia quyến.
Tien Nguyentam
Thành kính phân ưu cùng gia đình.
Hoi Pham Van
Thành kính phân ưu cùng gia quyến nguyện xin chúa đón nhận linh hồn anh sớm hưởng nhan thánh chúa xin chia buồn
Khoa Tran
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU
Trung Sỹ Trung Sỹ
XIN THÀNH KÍNH PHÂN ƯU.
chia buồn cùng gia đình ,vong Lình Anh về với Đất CHÚA
Thái Duyên
Thành kính phân ưu 🙏🙏
May be an image of text that says 'Thành Kính Phân Ưu'
  • Reply
  • Hide
Ha Tien Dat
Vô cùng thương tiếc
  • Reply
  • Hide
Mylien Nguyen
Xin chia buon cung gia quyen. Cau Chuc huong linh Anh som tieu dieu mien Cuc Lac.
Dung Nguyen
Nam Mô A Di Đà Phật …
Nguyen Trung
Xin thành kính chia buồn cùng gia đình … 
See more