Tuesday, June 30, 2020

Lực lượng đặc biệt Việt Nam Cộng hòa

Lực lượng Đặc biệt
Việt Nam Cộng hòa
Huy hiệu.
Hoạt động19561970
Quốc giaFlag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Phục vụFlag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực VNCH
Quân chủngbiệt kích
Phân loạiQuân thường trực
Bộ phận củaARVN Joint General Staff Insignia.svg Bộ Tổng Tham mưu
Khẩu hiệu-Danh dự
-Dũng cảm
Tham chiếnchiến tranh phi quy ước
Các tư lệnh
Chỉ huy
nổi tiếng
-Lê Quang Tung
-Phan Đình Thứ
-Đoàn Văn Quảng
-Phạm Văn Phú
Lực lượng đặc biệt (Tiếng Anh: Army of the Republic of Vietnam Special Forces, ARVNSF) - viết tắt: LLDB - là một đơn vị quân sự tinh nhuệ đặc biệt của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Khởi đầu là các toán biệt kích được huấn luyện để hoạt động sâu trong vùng kiểm soát của đối phương, chủ yếu để làm các nhiệm vụ thu thập thông tin tình báo, bắt cóc, phá hoại các mục tiêu quân sự. Về sau, lực lượng này phát triển thêm thành đơn vị tác chiến, có vai trò như một binh chủng đặc biệt tinh nhuệ trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Tổ chức tiền thân

Tháng 2 năm 1956, sau khi tiếp nhận căn cứ GCMA (Groupement de Commandos Mixtes Aéroportés, Lực lượng Biệt kích Không vận Hỗn hợp)' của Pháp tại Nha Trang, với sự trợ giúp của Phái bộ Cố vấn Quân sự (Military Assistance Advisory Group-MAAG) Mỹ tại Việt Nam, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã cho thành lập Trung tâm Huấn luyện Biệt động đội, nhằm xây dựng cơ sở huấn luyện biệt kích cho Việt Nam Cộng hòa. Về tổ chức, Trung tâm này được đặt dưới quyền quản lý của Nha Tổng Nghiên Huấn, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
Cuối năm 1956, theo khuyến cáo của Cơ quan Tình báo Hoa Kỳ, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã giải thể Nha Tổng Nghiên Huấn[1]. Các bộ phận Tình báo Chiến lược và Phản gián được chuyển về cho Sở Nghiên cứu Chính trị Xã hội. Bộ phận Biệt kích được chuyển về cho một tổ chức mới là Sở Liên lạc, trực thuộc Phủ Tổng thống, ngân sách do Mỹ đài thọ. Đại tá Rogers là người đầu tiên được cử đến làm cố vấn cho Sở này, sau đó Đại tá Floyld Parker đến thay thế. Giám đốc và Phó giám đốc Nha Tổng Nghiên Huấn là Trung tá Lê Quang Tung và Đại úy Trần Khắc Kính được bổ nhiệm làm Giám đốc và Phó giám đốc Sở Liên lạc[1]. Tháng 4 năm 1960, Sở Liên lạc được đổi tên thành Sở Khai thác Địa hình. Tuy nhiên, chức năng, tổ chức và nhân sự của Cơ quan này vẫn không có gì thay đổi.

Hình thành Lực lượng Đặc biệt

Trên thực tế, Sở Khai thác Địa hình tập trung vào công tác tuyển mộ, huấn luyện biệt kích. Chính do nhiệm vụ này, trong các phòng chuyên môn, Phòng 45 hay Sở Bắc, phụ trách các hoạt động tung gián điệp biệt kích ra miền Bắc; và Phòng 55 hay Sở Nam, phụ trách các hoạt động biệt kích trong lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa, đóng một vai trò rất quan trọng. Ngoài ra, từ năm 1961, Sở còn thành lập thêm một số đại đội biệt kích dù biệt lập để làm thành phần hỗ trợ, ứng cứu cho những toán nhảy qua Lào hay ở những vùng biên giới nguy hiểm.
Bên cạnh đó, một nhiệm vụ khác, tuy không chính thức, nhưng được xem là ưu tiên nhất của Sở Liên lạc là chỉ huy lực lượng cơ động tinh nhuệ chuyên dùng để bảo vệ Phủ Tổng thống chống những cuộc đảo chính. Chính vì vậy, mặc dù các hoạt động tung gián điệp biệt kích ra miền Bắc tỏ ra kém hiệu quả, quân số của Liên đoàn Quan sát số 1 vẫn phát triển không ngừng. Tháng 11 năm 1961, Liên đoàn Quan sát số 1 được đổi tên thành Liên đoàn 77. Tháng 2 năm 1963, Liên đoàn 31 được thành lập. Ngày 15 tháng 3 năm 1963, Tổng thống Diệm ra quyết định thành lập Lực lượng Đặc biệt trên cơ sở bộ máy của Sở Khai thác địa hình và 2 đơn vị tác chiến là Liên đoàn Biệt kích 77 và 31. Về nguyên tắc, Lực lượng Đặc biệt được chuyển thuộc Bộ Quốc phòng, có quy mô tương đương cấp lữ đoàn, nhưng trên thực tế, Tổng thống có toàn quyền điều động đơn vị này thông qua một cơ quan chỉ huy trực tiếp là Phòng Liên lạc Phủ Tổng thống, mà thực chất chính là Bộ chỉ huy Lực lượng Đặc biệt, do Đại tá Lê Quang Tung làm Chỉ huy trưởng.

Năm biến cố 1963

Được xem là một đơn vị tinh nhuệ và tuyệt đối trung thành với Tổng thống, trong Biến cố Phật giáo, 1963, Lực lượng Đặc biệt được cố vấn Ngô Đình Nhu sử dụng như lực lượng xung kích tấn công các chùa, đặc biệt là chùa Xá Lợi. Mặc dù vậy, Lực lượng Đặc biệt hoàn toàn bị vô hiệu hóa trong đảo chính năm 1963 khi Chỉ huy trưởng Lê Quang Tung bị giết chết ngay khi cuộc đảo chính vừa nổ ra. Trước đó, bằng một thủ pháp nhỏ, các tướng lãnh tham gia đảo chính đã điều các đơn vị thuộc Lực lượng Đặc biệt ra khỏi Sài Gòn. Mất đi lực lượng cơ động trung thành và tinh nhuệ này, Tổng thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu không còn cách nào khác ngoài việc đào tẩu khỏi Dinh Độc Lập. Cả hai ông đều bị giết chết trong hoàn cảnh bí ẩn không lâu sau đó.

Trở thành Binh chủng

Sau đảo chính, Phòng Liên lạc Phủ Tổng thống bị giải tán. Lực lượng Đặc biệt cũng được phân chia thành nhiều đơn vị khác nhau. Sở Bắc được tách riêng để hình thành một cơ quan độc lập trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu. Phòng ban khác cũng được giải thể và phân bổ vào các cơ quan thuộc Bộ Quốc phòng. Riêng các đơn vị tác chiến được tập hợp để hình thành một đơn vị độc lập với bộ chỉ huy riêng.
Tháng 7 năm 1964, Liên đoàn 31 được đổi tên thành Liên đoàn 111 và Liên đoàn 77 được đổi tên thành Liên đoàn 301. Tất cả đều đặt dưới quyền Chỉ huy trưởng Lực lượng Đặc biệt.
Ngày 19 tháng 6 năm 1965, Liên đoàn Biệt kích 111 và 301 bị giải tán. Các đơn vị chiến đấu được sắp xếp lại để chính thức hình thành Binh chủng Lực lượng Đặc biệt, gồm một Bộ Tư lệnh, một Đại đội Tổng Hành dinh, một Trung tâm Huấn luyện, và 4 Bộ Chỉ huy (C) ở 4 Quân khu. Mỗi C có một số B và mỗi B có một số toán A quân số vào khoảng 12 người. Ngoài ra, các đại đội biệt kích dù độc lập cũng được tập hợp thành Tiểu đoàn 91 Biệt cách Dù, cũng được đặt dưới quyền điều động của Bộ Tư lệnh Lực lượng Đặc biệt. Tổng cộng quân số Lực lượng Đặc biệt vào khoảng 5.000 trong thời điểm đó.
Cũng từ thời điểm này, các đơn vị Lực lượng Đặc biệt của đồng minh Hoa Kỳ là Liên đoàn 1, sau đó là Liên đoàn 5 tham chiến tại chiến trường miền Nam. Lực lượng Đặc biệt của Việt Nam Cộng hòa cũng tổ chức các toán biệt kích nhỏ phối hợp với các toán biệt kích Mỹ hỗ trợ cho các trại Dân sự Chiến đấu dọc theo vỹ tuyến 17 và ranh giới giữa Nam Việt Nam với Lào, Campuchia. Từng toán một, được trang bị vũ khí hiện đại với chiến thuật trinh sát và đột kích các đơn vị của đối phương trong nhiệm vụ bảo vệ biên giới.
Ngày 1 tháng 4 năm 1968, Tiểu đoàn 91 Biệt cách Dù được đổi tên thành Tiểu đoàn 81 Biệt cách Dù. Một cơ quan tham mưu là Trung tâm Hành quân Delta được thành lập để giúp Bộ Tư lệnh Lực lượng Đặc biệt chỉ huy hành quân các toán biệt kích và đơn vị Biệt cách Dù.

Bị giải thể

Cuối tháng 12 năm 1970, do các hoạt động tung biệt kích ra miền Bắc hoặc các vùng biên giới do phía Quân đội Nhân dân Việt Nam kiểm soát không có hiệu quả, Lực lượng Đặc biệt bị giải tán. Các sĩ quan và binh lính được chuyển sang các đơn vị khác, chủ yếu về Lực lượng Biệt động quân. Riêng Trung tâm Hành quân Delta và Tiểu đoàn 81 Biệt cách Dù được sáp nhập lại để hình thành Liên đoàn 81 Biệt cách Dù. Huy hiệu của Lực lượng Đặc biệt cũng trở thành huy hiệu của Liên đoàn 81.

Danh sách các tư lệnh qua các thời kỳ

Stt Họ và tên Cấp bậc Tại chức Chú thích
1
Lê Quang Tung[2]
Võ khoa Thủ Đức K3p[3]
Đại tá[4]
3/1963-11/1963
Tư lệnh đầu tiên. Bị sát hại trong Đảo chính ngày 1/11/1963
2
Lê Văn Nghiêm
Võ bị Lục quân Pháp
Trung tướng
11/1963-2/1964

3
Phan Đình Thứ
Võ bị Lục quân Pháp
Đại tá
2/1964-8/1964
Tư lệnh lần thứ 1
4
Đoàn Văn Quảng
Võ bị Lục quân Pháp
Đại tá
8/1964-7/1969

5
Phan Đình Thứ
Đại tá
7/1969-1/1970
Tư lệnh lần thứ 2
6
Phạm Văn Phú
Võ bị Đà Lạt K8
Chuẩn tướng
1/1970-8/1970

7
Hồ Tiêu[5]
Võ bị Địa phương
Trung Việt K2 (Đập Đá Huế)
Đại tá
8/1970-12/1970
Tư lệnh cuối cùng

Chú thích

  1. ^ a ă Lữ Giang, "Ai đã giết anh em Đại tá Lê Quang Tung? Những câu hỏi và trả lời 47 năm sau".
  2. ^ Đại tá Lê Quang Tung, sinh năm 1919 tại Hương Trà, Thừa Thiên.
  3. ^ Xuất thân từ Trường Sĩ quan.
  4. ^ Cấp bậc khi nhậm chức.
  5. ^ Đại tá Hồ Tiêu, sinh năm 1922 tại Quảng Trị.

Xem thêm

Liên kết

  • Tucker, Spencer C. (2000). Encyclopedia of the Vietnam War. ABC-CLIO. ISBN 1-57607-040-9.
  • Lữ Triệu Khanh, "Lịch sử Nha Kỹ thuật"
  • Vũ Đình Hiếu, "Cuộc chiến bí mật"

Tham khảo

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Liên Đoàn 5 Lực Lượng Đặc Biệt

Bộ ảnh Lực lượng đặc biệt (Tiếng Anh: Army of the Republic of Vietnam Special Forces, ARVNSF) - viết tắt: LLDB - là một đơn vị quân sự tinh nhuệ đặc biệt của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, khởi đầu là các toán biệt kích được huấn luyện để hoạt động sâu trong vùng kiểm soát của đối phương, chủ yếu để làm các nhiệm vụ thu thập thông tin tình báo, bắt cóc, phá hoại các mục tiêu quân sự, về sau, lực lượng này phát triển thêm thành đơn vị tác chiến, có vai trò như một binh chủng đặc biệt tinh nhuệ trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
Các tư lệnh chỉ huy nổi tiếng:
-Lê Quang Tung
-Phan Đình Thứ
-Đoàn Văn Quảng
-Phạm Văn Phú

I. LỜI GIỚI THIỆU.
Kể từ lâu, năm 1957 đã có quân của LLĐB/HK tại Việt-Nam, lúc đó họ chỉ làm nhiệm vụ huấn luyện, cố vấn và giúp đỡ quân đội VNCH. Các biệt kích mũ xanh phải tình nguyện hai lần, lần đầu học nhẩy dù và sau đó học về LLĐB. Trong năm 1957, ngày 24 tháng sáu, liên đoàn 1 LLĐB được thành lập tại Okinawa và gửi sang Việt Nam huấn luyện cho 58 quân nhân Việt Nam tại trung tâm huấn- uyện Biệt Động Đội ở Nha Trang. Những sĩ quan thụ huấn đó sau này trở thành huấn luyện viên hoặc cán bộ nồng cốt cho các đơn vị đầu tiên của LLĐB/VN. Mười năm sau LLĐB cố vấn và yểm trợ cho hơn 40.000 Dân Sự Chiến Đấu, hoạt động trên khắp lãnh thổ miền nam Việt Nam.
II. PHÁT TRIỂN.
Trong năm 1959, 1960 với sự bành trướng của Việt Cộng, gia tăng các vụ phá hoại, khủng bố gây nên tình trạng bất an nơi thôn quê, hẻo lánh. Quân đội Hoa Kỳ gửi thêm ba mươi huấn luyện viên LLĐB từ căn cứ Fort Bragg sang nam Việt Nam để tổ chức một chương trình huấn luyện cho QLVNCH.
Ngày 21 tháng Chín 1961, Tổng Thống John F. Kenedy tuyên bố sẽ tăng thêm ngân khoản viện trợ quân sự, kinh tế cho Việt Nam. Chính quyền Hoa Kỳ lo ngại về vấn đề xâm nhập người và vũ khí của quân cộng sản vào miền nam, do đó phải tìm cách ngăn chặn sự xâm nhập này. Các toán A Lực Lượng Đặc Biệt được giao phó cho trách nhiệm tổ chức và huấn luyện những dân tộc thiểu số, phá hoại, ngăn chặn đường xâm nhập của địch từ bắc vào nam. Về sau những lực lượng võ trang này được gọi là Dân Sự Chiến Đấu.
Liên đoàn 5 LLĐB/HK được gửi sang Việt Nam và hoàn toàn chịu trách nhiệm cho các hoạt động, hành quân đặc biệt tại miền nam. Lực Lượng Đặc Biệt được lục quân Hoa Kỳ tổ chức nhằm thích ứng cho các cuộc hành quân ngoại lệ và đã được định nghiã như “ba khía cạnh liên hệ trong du kích chiến, trốn tránh và đào tẩu, gậy ông đập lưng ông chống lại kẻ thù”. Chiến tranh ngoại lệ được định nghiã như sau “Hoạt động ngay trong lòng địch, hoặc những nơi địch kiểm soát”.
Cơ cấu tổ chức căn bản của liên đoàn Lực Lượng Đặc Biệt gồm có một bộ chỉ huy đầu não, ban chỉ huy các đại đội, ba đại đội hoặc nhiều hơn, một đại đội truyền tin và một phi đoàn yểm trợ. Các bộ, ban chỉ huy gồm đủ các ban tham mưu để chỉ huy và theo dõi, thêm phần quân y, và đơn vị tiếp tế thả dù. Đại đội LLĐB thường do một sĩ quan cấp bậc trung tá chỉ huy, thường gồm có một ban tham mưu và một BCH hành quân C, bộ chỉ huy này sẽ chỉ huy ba BCH/HQ B, mỗi BCH/HQ B sẽ chỉ huy bốn toán A. Toán A là một đơn vị căn bản mười hai người nồng cốt của LLĐB.
III. LỰC LƯỢNG DÂN SỰ CHIẾN ĐẤU.
Có hai lý do cho việc tổ chức DSCĐ. Người Hoa Kỳ tin rằng nên võ trang nhóm dân tộc thiểu số để chống lại sự xâm nhập của quân cộng sản. Lý do thứ hai, người Thượng và các sắc dân thiểu số là mục tiêu chính cho chủ thuyết tuyên truyền của cộng sản, họ không hài lòng về chính quyền quốc gia, rất dễ bị địch lợi dụng, tuyển mộ.
Vào tháng Chín 1962, bộ chỉ huy LLĐB tại Việt Nam được thành lập và trực thuộc Bộ Chỉ Huy Quân Viện (MAAG). Đến tháng Mười 1962, có tất cả hai mươi bốn toán LLĐB/HK hoạt động trên miền nam Việt Nam. Tháng Mười Một 1962, LLĐB/HK tại Việt Nam được tổ chức gồm có một BCH C, ba BCH B và hai mươi sáu toán A. Ngoài ra còn có một bộ chỉ huy đặt tại Saigon. BCH C không làm việc bình thường trên phương diện chỉ huy, điều hành mà làm nhiệm vụ như phần mở rộng của BCH trung ương.
Trong thời gian từ tháng Mười Hai 1962 đến tháng Hai 1963, BCH/LLĐB/HK hoàn toàn chịu trách nhiệm chỉ huy các hoạt động của các toán A tại Việt Nam. Lúc đó các toán A đã thiết lập các trại Dân Sự Chiến Đấu trên khắp bốn quân khu. Một BCH B được thành lập trên mỗi vùng chiến thuật để phối hợp với hệ thống chỉ huy của QLVNCH và chỉ huy, yểm trợ các toán A. Các toán A được xử dụng tạm thời lấy từ liên đoàn 1 LLĐB từ Okinawa, và liên đoàn 5, 7 LLĐB từ Fort Bragg, North Carolina. Đến tháng Mười Hai 1963, các toán A phối hợp với LLĐB Việt Nam đã huấn luyện và võ trang cho 18000 người thuộc lực lượng xung kích (Mobile Strike Force, Mike Force) và 43000 người phòng vệ dân sự (CIDG).
Tháng Hai 1963, bộ chỉ huy LLĐB/HK từ Saigon dời đi Nha Trang do hai điều thuận lợi, thứ nhất, Nha Trang nằm vào khoảng giữa từ vĩ tuyến 17 đến cuối miền nam, dễ điều hành các toán A nằm rải rác khắp miền nam Việt Nam. Thứ hai, vị trí nơi biển dễ nhận đồ trang bị, tiếp liệu đến từ Okinawa và phi trường, đường xá có sẵn cho vấn đề tiếp vận.
Cuối năm 1964, lực lượng Dân Sự Chiến Đấu không còn là vấn đề phát triển nữa. Mục đích và nhiệm vụ cũng thay đổi, không ngoài việc phòng vệ xóm làng, các trại DSCĐ được xử dụng làm căn cứ cho các cuộc hành quân tấn công vào sào huyệt địch. Sự thay đổi lớn thứ hai nhằm tăng phần hiệu qủa cho việc kiểm soát biên giới, LLĐB/HK xây thêm một số trại biên phòng.
Trong cuộc hành quân Switchback (11-62 đến 07-62), các hoạt động tấn công thuộc lực lượng xung kích DSCĐ bao gồm phục kích, tuần tiễu, thám sát trong khu vực trách nhiệm của mỗi trại. Ngoài ra những cuộc hành quân phối hợp với các đơn vị VNCH bao gồm LL/DSCĐ thuộc nhiều trại. Trong tháng sáu, bốn đại đội xung kích DSCĐ lấy từ các trại Đak To, Plei Mrong và Polei Krong phối hợp hành quân lùng địch.
Quân cộng sản phản ứng bằng cách pháo kích, quấy rối các trại biên phòng. Trong cuộc hành-quân Switchback, các hoạt động địch gia tăng, hầu hết các trại đều bị bắn quấy rối. Ngày 3 tháng Giêng 1963, đặc công cùng hai đại đội CSBV tấn công và tràn ngập trại Plei Mrong. Vấn đề phòng thủ các trại biên phòng được xét lại, bộ chỉ huy Quân Viện ra lệnh cho các toán A thiết lập thêm tuyến phòng thủ thứ hai cho tất cả các tiền đồn. LLĐB/HK được tăng cường thêm hai tiểu đoàn Công-binh Hải-quân (Seabee) phụ gíup trong việc xây cất.

Việc xử dụng LL/DSCĐ bao gồm các hoạt động tuần tiễu, lục soát ra ngoài phạm vi trách nhiệm của trại thường cần có những căn cứ tiền phương và lực lượng tiếp ứng. Một lực lượng xung kích 20000 quân được thành lập bắt đầu từ tháng Mười Một 1963 và hoàn tất vào tháng B ẩy năm 1964. Mỗi đại đội DSCĐ có 150 người gồm bộ chỉ huy 10 người và ba trung đội khinh binh 35 người, trung đội súng nặng 35 người. Mỗi trại có quân số bốn đại đội. Hai đại đội hoạt động bên ngoài từ những căn cứ tiền phương, tung các trung đội và các toán viễn-thám năm người ra hoạt động.
Vào tháng Giêng 1965, trước khi Hoa Kỳ đem thêm quân vào chiến trường miền nam. Kế hoạch chống xâm nhập được xác định rõ ràng gửi đi từ bộ chỉ huy liên đoàn 5 LLĐB/HK tới các BCH B và các toán A như sau: Định nghiã: Kế hoạch chống xâm nhập của LLĐB là một chương trình hỗn hợp quân sự và dân sự vụ, được tổ chức nhằm thực hiện các mục tiêu sau đây:
Loại trừ Việt cộng, thiết lập vùng an ninh.
Bảo đảm sự kiểm soát của chính quyền quốc gia đối với dân trong vùng.

Động viên những người dân hăng hái, sẵn sàng tham gia trong các chương trình của chính quyền quốc gia.
Những mục tiêu nói trên có thể đạt được khi thi hành một trong ba nhiệm vụ sau:
Kiểm soát và theo dõi biên giới.
Hoạt động nơi các đường xâm nhập.
Hành quân nơi chiến khu, căn cứ của địch.

Bắt đầu từ năm này, quân cộng sản đã thay đổi chiến thuật từ du kích sang trận địa chiến. Các hoạt động của LLĐB được phân làm ba loại. Một, thiết lập thêm trại DSCĐ nhằm ngăn chặn mức độ chuyển quân, tiếp vận của địch, bỏ một số trại do áp lực quá nặng của địch và phòng thủ các trại dọc theo biên giới như A Shau, Lang Vei, Cồn Thiên, Lộc Ninh, Bù Đốp.
Thứ hai, mở các cuộc hành quân ngoại lệ như hành quân Delta trong vùng I chiến-thuật. Hành quân Black Jack 33 ở vùng III, trong kế hoạch hành quân Sigma. Đây là cuộc hành quân đầu tiên phối hợp giữa đơn-vị du kích lưu-động và đơn vị xung kích tiếp ứng. Hành quân Black Jack 41, hai đại đội xung kích lưu động nhẩy dù xuống tấn công căn cứ địch trong vùng núi Thất Sơn dưới vùng IV.
Một đơn vị xung kích khác tảo thanh nơi Suối Đá trong vùng III, loại khỏi vòng chiến một tiểu đoàn Việt cộng trong hành quân Attleboro. Cuối cùng là những cuộc hành quân phối hợp với các đơn vị chính quy bạn. Hành quân Nathan Hale phối hợp giữa DSCĐ, sư đoàn 1 Không Kỵ và sư đoàn 101 Nhẩy Dù Hoa Kỳ. Hành quân Henry Clay và Thayer. Hành quân Rio Blanco ở vùng I bao gồm các đơn vị thuộc DSCĐ, Điạ Phương Quân, Biệt Động Quân Việt Nam, Thuỷ Quân Lục Chiến Đại Hàn, và TQLC/HK. Hành quân Sam Houston trên vùng II phối hợp giữa sư đoàn 4 Bộ Binh Hoa Kỳ và DSCĐ.
IV. HÀNH QUÂN NGOẠI LỆ.
Với sự thành lập các đơn vị du kích lưu động và hành quân Sigma, Omega trong thời gian từ tháng Tám cho đến tháng Mười năm 1966, khả năng về Chiến Tranh Ngoại Lệ của LLĐB gia tăng. Một trong những đặc tính của LLĐB là khả năng mở các cuộc hành quân ngắn hoặc lâu dài nơi vùng địch kiểm soát.
Lực lượng Du Kích Lưu Động được thành lập vào mùa thu năm 1966, cải tiến và phát triển từ quan niệm về đơn vị xung kích lưu động. Những đơn vị du kích này được tổ chức, huấn luyện và trang bị để hoạt động xa, nơi Việt cộng hoặc Bắc quân xem như thiên đàng. Trang bị nhẹ, các quân nhân thuộc đơn vị này xâm nhập vào vùng địch, do thám đường mòn, tìm kiếm dấu vết, căn cứ địch, thâu lượm tin tức tình báo về những cuộc chuyển quân của địch. Khi phát giác ra nơi đóng quân của địch, toán du kích sẽ theo dõi các hoạt động của địch, phục kích lẻ tẻ, quấy rối, đặt mìn bẫy.
Trường hợp tìm thấy kho tiếp liệu, toán sẽ tìm cách phá hủy hoặc hướng dẫn phi cơ oanh kích.
Một đơn vị du kích thường được đưa vào vùng hoạt động bằng tất cả mọi phương tiện có sẵn. Khi đã vào vùng địch kiểm soát, đơn vị thực sự trở nên du kích quân. Đồ tiếp tế được thực hiện qua không trợ. Đơn vị này thường hoạt động trong lòng địch một thời gian từ ba mươi đến sáu mươi ngày. Họ trở thành những “Chủ nhân ông” trong khu vực hoạt động, được toàn quyền hành động kể cả vấn đề không trợ, để đạt mục tiêu. Để tránh bị lộ hành tung, đôi khi phải cho đồ tiếp tế vào bom Napalm giả do khu trục cơ A1E Skyraider thả xuống trong một phi vụ oanh kích gỉa tạo.
Ngoài việc phát triển đơn vị du kích cho mỗi vùng chiến thuật. Liên đoàn 5 LLĐB/HK còn tổ chức thêm những cuộc hành quân ngoại lệ khác như hành quân Omega và Sigma. Hai tổ chức hành quân trên làm tăng thêm khả năng viễn thám, thâu lượm tin tức tình báo của liên đoàn ngoài chương trình hành quân Delta đã có sẵn. Mỗi tổ chức có quân số khoảng 600 người, gồm một đơn vị viễn thám và một đơn vị xung kích tiếp ứng, thêm một toán cố vấn tổ chức như BCH B của LLĐB.
Hành quân Delta được đặt dưới quyền chỉ huy hỗn hợp LLĐB Việt Mỹ và theo lệnh trực tiếp của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH và BCH Quân Viện Hoa Kỳ (MAC-V). Các toán hành quân Delta được tiểu đoàn 91 Biệt Cách Dù sẵn sàng làm lực lượng tiếp ứng yểm trợ. Các toán hành-quân Omega và Sigma được LLĐB trực tiếp chỉ huy và chỉ chịu trách nhiệm hoạt động ngoài vùng I và II chiến thuật. Các toán này được các đơn vị xung kích lưu động thuộc lực lượng DSCĐ yểm trợ.
V. HUẤN LUYỆN VÀ KHÔNG TRỢ.
Chương trình huấn luyện cho các cuộc hành quân ngoại lệ trước hết là phần huấn luyện về bộ binh, kỹ thuật tác chiến trong vùng Đông Nam Á. Những quân nhân được tuyển chọn cho hành quân ngoại lệ thường đã trải qua thời gian phục vụ trong lực lượng DSCĐ và đã có kinh nghiệm chiến đấu. Phần huấn luyện kỹ thuật hành quân ngoại lệ bắt đầu từ giai đoạn này. Đầu tiên là phải qua khóa huấn luyện nhẩy dù, sau đó là các môn học đặc biệt về hành quân như: di chuyển lặng lẽ, bí mật, phương pháp tìm dấu vết, theo dõi, cách xử dụng bản đồ, điạ bàn, dụng cụ làm dấu, những kỹ thuật xâm nhập, triệt thoái vùng thám sát, hoạt động, xử dụng các loại vũ khí đặc biệt, cứu thương, kỹ thuật đột kích, phục kích.
Chương trình huấn luyện kéo dài năm hay sáu tuần lễ, sáu ngày một tuần và khoảng mười tiếng đồng hồ mỗi ngày. Các buổi huấn luyện trong căn cứ và thực tập ngoài bãi tập.
Vấn đề hành quân ngoại lệ rất cần phần không trợ. Phi đoàn không yểm thuộc lục quân Hoa Kỳ biệt phái cho liên đoàn 5 LLĐB đã yểm trợ trực tiếp bằng những trực thăng võ trang và chuyển vận. Ngoài ra Không Lực Hoa Kỳ cung cấp phương tiện chuyển vận, đổ quân cấp đơn vị lớn và về tiếp liệu. Không Lực Hoa-Kỳ và Việt Nam còn yểm trợ thêm về phần oanh kích hoặc chuyển tiếp công điện qua hệ thống truyền tin. Ngoài vùng I chiến thuật, máy bay của Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ cũng cung cấp những phương tiện yểm trợ tương tự.
VI. SOẠN THẢO KẾ HOẠCH HÀNH QUÂN.
Chiến tranh ngoại lệ là một vai trò rất quan trọng của LLĐB trên chiến trường nam Việt Nam. Ngoại trừ vài trường hợp đặc biệt, mỗi cuộc hành quân đều được soạn thảo, điều nghiên kỹ lưỡng trước khi thực hiện và lực lượng tham dự được di chuyển đến căn cứ tiền phương trước khi ra tay. Thời gian dành cho soạn thảo kế hoạch, chuyển quân tuỳ theo mỗi loại hành quân và độ khẩn của cuộc hành quân.
Soạn thảo lệnh hành quân bắt đầu với đầy đủ chi tiết tình báo về khu vực hành quân. Mọi dữ kiện về điạ thế, thời tiết và những nơi tình nghi có quân địch đều được thâu thập và phân tích. Tất cả những chi tiết đó đều được ghi trên bản đồ, những lộ trình chính và phụ cho nhiệm vụ trinh sát đều được chọn lựa và đánh dấu. Nguồn tin tức thường được lấy từ các bản báo cáo về tình báo, không ảnh, thẩm vấn tù binh, và những bản báo cáo của các đơn vị bạn đã hành quân qua trước đây. Nếu cần, ban tham mưu soạn thảo lệnh hành quân bay những phi vụ thám thính khu vực hoạt động trước. Những chuyến bay này rất quan trọng cho quyết định cuối cùng chọn điểm xâm nhập, triệt xuất, chính và phụ.
Khi việc soạn thảo, điều nghiên đã hoàn tất, lệnh hành quân sẽ được ban ra. Kế tiếp là việc chuẩn bị hành quân, trường hợp cần thiết phải chuyển quân, vật liệu đến một căn cứ tiền phương đã có không yểm. Nếu chỉ là một toán nhỏ, ít vật liệu, phi cơ trực thăng của lục quân, TQLC/HK hoặc phi cơ nhỏ được xử dụng. Nếu cuộc hành quân với quân số cấp đại đội hoặc lớn hơn sẽ được Không Lực Hoa-Kỳ cung cấp với loại phi cơ vận tải C-7A hoặc C-130.
Khi đến căn cứ hành quân tiền phương, đơn vị sẽ bị thanh tra để có thể trong vị thế sẵn sàng. Các sĩ quan thuộc quyền sẽ được nghe thuyết trình về mục đích, nhiệm vụ của cuộc hành quân cùng vớí mệnh lệnh chi tiết cho từng trung đội, tiểu đội hoặc các toán.

Trong những nhiệm vụ thám sát, các phương pháp, thủ tục cho mỗi hoạt động sẽ được trình bầy chi tiết tùy theo cuộc hành quân. Khi vào vùng địch, lúc ra khỏi phi cơ, di chuyển trong khu vực hành quân, trường hợp chạm địch, và giờ giấc cho vấn đề triệt xuất.
Sự thành công trong chiến tranh ngoại lệ tùy thuộc rất nhiều vào yếu tố bất ngờ. Thêm vào phần an ninh của toán biệt kích, nhiều lúc cần phải tìm cách đánh lừa địch quân. Lừa đối phương cũng là một phần quan trọng trong các cuộc hành quân. Tùy theo tình hình, thời tiết, mùa màng và quân số trong cuộc hành quân mà thực hiện các chuyến xâm nhập bằng đường bộ, không hoặc thủy. Tuy nhiên trên chiến trường Việt Nam, hầu hết các cuộc xâm nhập, triệt xuất đều thực hiện bằng phương tiện trực thăng.
Kinh nghiệm cho biết, thời gian hữu hiệu nhất để thả toán xâm nhập vào lúc trời sắp tối, đủ thì giờ cho toán lẩn vào bóng tối và trực thăng được bảo vệ bởi bầu trời đen. Tuy vậy, địch quân vẫn khám phá ra phương pháp thả toán của ta và tìm cách đối phó. Do đó phải đánh lừa địch về điểm thả quân, trực thăng sẽ đáp xuống ba chỗ hay hơn nữa trước khi thực sự thả toán. Điều này làm cho địch phân vân không biết đâu là điểm thả quân một cách chính xác. Một phương pháp khác là đoàn trực thăng ba chiếc bay thấp, nối đuôi nhau, chiếc bay đầu bất ngờ đáp xuống thả toán biệt kích trong chớp nhoáng rồi bốc lên nhanh nối vào đuôi hai chiếc kia làm thành hợp đoàn ba chiếc trở lại.
Trong trường hợp thả toán bằng đường bộ, các toán “Chạy đường mòn” (Roadrunner), viễn thám xâm nhập vùng địch dễ dàng lúc trời tối hoặc ngay lúc ban ngày, trong trường hợp căn cứ vẫn thường tung các toán ra tuần tiễu, lục soát mà không theo một phương hướng nhất định. Trong trường hợp khác, toán viễn thám đi xen vào với một đơn vị lớn. Khi thấy an toàn, toán biệt kích lặng lẽ di chuyển đến vùng hoạt động đã được trao phó nhiệm vụ từ trước. Tất cả mọi sự di chuyển trong chiến tranh ngoại lệ đều được soạn thảo cẩn thận. Sự sống còn của một toán viễn thám nhỏ tùy thuộc vào mỗi cá nhân trong toán. Sự hiểu biết về nhiệm vụ của từng người, đề cao cảnh giác, theo đúng thời khóa biểu lúc di chuyển.
Trong kế hoạch hành quân đôi khi có dặn dò thêm trường hợp toán phải phân tán tạm thời trước áp lực của địch, thời gian, vị trí của điểm hẹn, tập-họp. Bí mật là đặc tính căn bản trong vấn đề di chuyển của các đơn vị hành quân ngoại lệ. Mặc dầu địch cũng đề phòng về sự hiện diện của biệt kích quân, điều quan trọng là địch vẫn không biết rõ vị trí chính xác của toán. Mọi di chuyển phải im lặng, bàn tay và thủ hiệu được xử dụng để truyền tin và ban lệnh thay cho lời nói, ít xử dụng máy truyền tin và để độ âm thanh tối thiểu, súng đạn đồ trang bị gọn gàng không gây tiếng động khi chạm vào cây lá hoặc đá và tuyệt đối giữ im lặng khi di chuyển.
Về vấn đề tái tiếp tế cũng được đặt ra, các quân nhân trong chiến tranh ngoại lệ không thể mang theo đồ ăn, đạn dược và vật dụng quá năm ngày. Tùy theo mỗi cuộc hành quân, kế hoạch hành quân cũng nói đến vấn đề tái tiếp tế trong vòng từ ba đến năm ngày tại một địa điểm định trước. Vấn đề đặt ra là sự an toàn, không để lộ vị trí của toán. Thả dù tiếp tế ban ngày sẽ làm cho địch báo động, đề phòng. Thả ban đêm trong vùng rừng núi, cơ hội thâu hồi kiện hàng rất ít.

Triệt xuất theo đúng hạn kỳ hoặc trong trường hợp khẩn cấp phải đem về một người bị tai nạn bất tử hay bị thương, cả toán cũng phải tính trước. Lực Lượng Đặc biệt rất thành công từ lúc đầu cho đến giữa năm 1967, hầu hết các toán đều thi hành nhiệm vụ đúng theo hoạch định, hết thời gian, ra điểm hẹn để trực thăng bốc đem về. Những toán “Chạy đường mòn”, viễn thám rất dễ bị địch tiêu diệt do đó nhân viên trong bộ chỉ huy có nhiệm vụ theo dõi hoạt động của toán biệt kích, phải chuẩn bị sẵn sàng vấn đề triệt xuất toán trong vùng địch ngay tức khắc khi nhận được báo cáo “khẩn”.
VII. CÁC CĂN CỨ / BỘ CHỈ HUY LỰC LƯỢNG ĐẶC-BIỆT.
B-50 LLĐB (HÀNH QUÂN OMEGA).
Dựa trên sự thành công của các cuộc hành quân Delta và nhu cầu chiến trường, bộ chỉ huy B-50 Lực Lượng Đặc Biệt tổ chức chương trình hành quân Omega vào tháng Bẩy năm 1966 và đặt tại Nha Trang. Hành quân Omega trực tiếp đảm nhận những cuộc hành quân viễn thám, thâu thập tin tức tình báo tác chiến, tuy nhiên không như Delta trực thuộc bộ Tổng Tham Mưu và bộ tư lệnh Quân Viện Hoa Kỳ, hành quân Omega được thực hiện trên vùng I chiến thuật kể từ ngày 1 tháng Chín năm 1967.

B-50 LLĐB tuyển mộ các sắc tộc thuộc bộ lạc người Jah, Rhade và Sedang, người gốc Chàm và Tầu. Ban đầu gồm có tám toán viễn thám và bốn toán “Chạy đường mòn”, sau đó tăng lên mười sáu toán viễn thám và tám toán “Chạy đường mòn”. Trong năm 1968, các toán “Chạy đường mòn” thuyên chuyển qua B-57 LLĐB, tiếp tục các hoạt động tuần tiễu lấy tin tức. Hành quân Omega có ba đại đội xung kích làm thành phần tiếp ứng, trừ bị. Bộ chỉ huy B-50 chấm dứt nhiệm vụ tại Việt Nam vào tháng Sáu năm 1972.
B-51 LLĐB TRUNG TÂM HUẤN LUYỆN ĐỘNG BA THÌN.
Động Ba Thìn là trung tâm huấn luyện của QLVNCH. Đến năm 1964, bộ chỉ huy B-51 LLĐB đến cố vấn cho chương trình huấn luyện tại trung tâm. Nhiều chương trình huấn luyện được cải tiến theo thời gian, khóa căn bản LLĐB Việt Nam, khóa học nhẩy dù của LLĐB, huấn luyện cho DSCĐ, võ Tae Kown Do Đại Hàn, truyền tin và các khóa huấn luyện khác.

Năm 1968, B-51 LLĐB dời các khóa huấn luyện đi An Khê, nhưng đến tháng Mười 1969 quay trở lại Động Ba Thìn và căn cứ được gọi là trung tâm huấn luyện quốc gia. Sau đó B-51 được bộ chỉ huy Quân Viện giao cho nhiệm vụ huấn luyện quân đội Campuchia. Bộ chỉ huy B-50 LLĐB rời Việt Nam tháng Ba năm 1971.
B-52 LLĐB HÀNH QUÂN DELTA.
Vào tháng Năm 1964, cơ quan tình báo CIA khởi đầu chương trình Leaping Lena dùng LLĐB/HK huấn luyện cho LLĐB/VN và lực lượng DSCĐ trong những nhiệm vụ thám sát thâu thập tin tức. Khi chương trình phát triển, nhu cầu về nhân lực của LLĐB/HK tăng lên cho đến tháng Sáu năm 1965, khi liên đoàn 5 LLĐB/HK được giao phó thêm trách nhiệm và bộ chỉ huy B-52 được thành lập để chỉ huy và theo dõi các hoạt động viễn thám. Chương trình này được gọi là hành quân Delta, mỗi toán thường gồm có hai quân nhân LLĐB/HK và bốn LLĐB/VN, ngoại trừ các toán “Chạy đường mòn” có từ bốn đến sáu quân nhân Việt, thường mặc quần áo, trang bị như quân cộng sản hoạt động trong vùng địch kiểm soát.

Bộ chỉ huy B-52 vẫn thường thay đổi lề lối làm việc, tổ chức tùy theo nhu cầu đòi hỏi, mới đầu chỉ có mười hai toán viễn thám LLĐB Việt Mỹ và mười hai toán DSCĐ “Chạy đường mòn”, một đại đội phòng thủ người Nùng và tiểu đoàn 81 Biệt Cách Dù với năm đại đội làm đơn vị xung kích tiếp ứng. Những nhiệm vụ được trao phó cho hành quân Delta gồm có: Xác định vị trí đơn vị địch, thâu thập tin tức tình báo chiến lược, thẩm định sự tàn phá cho các trận thả bom, lùng và diệt địch, đột kích và phá hoại. Bộ chỉ huy B-52 rất nổi tiếng trong suốt trận chiến.
Đến năm 1966, chương trình Delta làm việc trực tiếp với bộ chỉ huy Quân Viện (MACV), thi hành những sứ mạng trên khắp Việt Nam. Cũng trong năm này hai chương trình khác, Sigma và Omega được phát triển với nhiệm vụ tương tự, hoạt động trên lãnh thổ vùng I và vùng II chiến thuật. Bộ chỉ huy B-52 còn được MACV giao cho nhiệm vụ huấn luyện lính Hoa Kỳ về kỹ thuật viễn thám. B-52 đồn trú tại Nha Trang cho đến tháng Sáu năm 1970 khi chương trình Delta chấm dứt.B-53 NHÓM CỐ VẤN HÀNH QUÂN ĐẶC BIỆT.
Bộ chỉ huy B-53 được chính thức thành lập tại Việt Nam vào tháng Hai năm 1964. Lúc đó đặt trong căn cứ huấn luyện LLĐB Việt Nam ở Long Thành. Trong thời gian tại đó, nhiều sứ mạng của đơn vị được đề cao và bảo trợ bởi đơn vị Nghiên Cứu Quan Sát (SOG) thuộc bộ chỉ huy Quân Viện (MACV-SOG).
Khi liên đoàn 5 LLĐB/HK rời Việt Nam năm 1971, vấn đề huấn luyện quân Việt Nam về chiến tranh ngoại lệ vẫn cần thiết. B-53 LLĐB trở thành hạt nhân cho chương trình này và vào tháng Giêng năm 1971 được gọi là nhóm Cố Vấn Sứ Mạng Đặc Biệt (SMAG). Nhóm mới thành lập này, lúc đầu di chuyển đến trường huấn luyện viễn thám (MACV RECONDO), sau đó lấy bộ chỉ huy liên đoàn 5 LLĐB làm bộ chỉ huy vào tháng Ba.

Nhiêm vụ của nhóm cố vấn này là huấn luyện, cố vấn và phụ giúp cho đơn vị Dịch Vụ Sứ Mạng Đặc Biệt (Special Mission Service – SMS) của Việt-Nam, đơn vị này là tiền thân của LLĐB/VN trong chiến tranh ngoại lệ. Vào tháng Chín năm 1971, đơn vị SMS được lệnh làm việc với đơn vị 1, Sở Liên Lạc QLVNCH đóng tại Đà Nẵng, hậu thân của bộ chỉ huy Bắc (Sở Bắc) của nhóm Nghiên Cứu, Quan Sát MACV (MACV-SOG). Cho đến tháng Ba năm 1972, trong vòng mười một tháng, nhóm Cố Vấn Sứ Mạng Đặc Biệt (SMAG) hoàn tất việc huấn luyện cho 27 toán hoạt động và 15 toán viễn thám. Nhóm cố vấn này chấm dứt nhiệm vụ vào tháng Tư năm 1972 và bộ chỉ huy B-53 rời Việt Nam.
B-55 TOÁN LIÊN LẠC TẠI SAIGON.
Với sự hiện diện của LLĐB/HK từ năm 1962, nhu cầu phải có một ban liên lạc gần bộ chỉ huy Quân Viện Hoa Kỳ tại Saigon để dễ dàng trong việc soạn thảo, huấn luyện và chuyển những tin tức tình báo. Đó là nhiệm vụ của toán Liên Lạc LLĐB B-55, thường được gọi là Trung Tâm Hành Quân Chiến Thuật (TOC), nhưng trên thực tế, cơ quan này làm nhiệm vụ giải đoán tin tình báo. Được huấn luyện, hướng dẫn bởi ban Cố Vấn Kỹ Thuật hỗn hợp (JTAD) và phối hợp với ban Nghiên Cứu hỗn hợp (CDS). Sau khi sở Nghiên Cứu, Quan Sát (MACV-SOG) hoạt động, B-55 làm nhiệm vụ phối hợp giữa hai tổ chức LLĐB tại Việt-Nam.

Là cơ quan liên lạc tại Saigon, B-55 phải lo thủ tục giấy tờ cho các quân nhân LLĐB/HK tại Việt Nam. Tham dự các buổi họp, thuyết trình giữa các bộ chỉ huy, tuyển mộ lính đánh thuê. Vào ngày 23 tháng Năm 1968, B-55 đảm nhận thêm nhiệm vụ chỉ huy Lực Lượng 5 Xung Kích Lưu Động (Mike Force). B-55 giữ trách nhiệm này cho đến ngày lên đường về Hoa Kỳ vào năm 1970.
B-56 HÀNH QUÂN SIGMA.
Khi mức độ chiến trường leo thang, nhu cầu tình báo tác chiến đòi hỏi qúa nhiều, đặt nặng vấn đề cho chương trình Delta. Liên đoàn 5 LLĐB/HK thành lập bộ chỉ huy B-56 vào tháng Tám 1966 để phụ trách chương trình hành quân Sigma đặt căn cứ trong trại Hồ Ngọc Tảo. Hành quân Sigma được tổ chức tương tự như những chương trình thám sát khác, gồm có tám toán viễn thám và ba đại đội xung kích tiếp ứng. B-56 ít tuyển mộ người Thượng, dùng lính đánh thuê người Nùng hoặc Miên. Những toán “Chạy đường mòn” của chương trình Sigma được chuyển qua bộ chỉ huy B-57 vào năm 1967.

Sigma tham gia trong nhiều cuộc hành quân Blackjack trong vùng trách nhiệm hoạt động. Thường làm nhiệm vụ viễn thám cho các cuộc hành quân, đôi khi xử dụng lực lượng cơ hữu của Sigma phối hợp với lực lượng tiếp ứng Mike Force.
Đến tháng Mười Một 1967, vấn đề chỉ huy hành quân của B-56 được đặt dưới sự kiểm soát của MACV và thuộc quyền xử dụng của viên tư lệnh Quân Đoàn II. Trong năm 1969, B-56 dời đi Ban Mê Thuột, cuối cùng trở lại Hoa Kỳ vào tháng Năm 1971.

B-57 CHƯƠNG TRÌNH GAMMA.
Từ khi có nhiều đơn vị trinh sát, viễn thám hoạt động trên chiến trường Việt Nam, nhu cầu giải đoán những nguồn tin tình báo thâu thập được và cung cấp tin tức, hướng dẫn về các mục tiêu trở nên hiển nhiên. Vào tháng Sáu 1967, bộ chỉ huy B-57 chương trình Gamma được thành lập. Bộ chỉ huy đặt tại Saigon, B-57 có nhân viên làm việc rải rác khắp các vùng chiến thuật II, III, và IV. B-57 đặc biệt tuyển mộ, điều hành những người lấy tin tức (điệp viên) hoạt động trong vùng địch. Để trợ giúp nhân viên tình báo của LLĐB, lục quân Hoa Kỳ biệt phái một số chuyên viên tình báo gọi là nhóm Cố Vấn Kỹ Thuật Hỗn Hợp. Tổ chức này đã hoạt động hơn một năm và đã thiết lập một hệ thống gián điệp nằm vùng, có sẵn những nguồn tin tình báo. B-57 còn giữ sự liên hệ mật thiết với các cơ quan khác của chính quyền nhằm mục đích trao đổi, thẩm định tin tức và phối hợp các hoạt động tình báo. Chương trình Gamma chấm dứt vào tháng Ba năm 1970, khi B-57 rời Việt-Nam.

TRƯỜNG VIỄN THÁM (RECONDO SCHOOL).
Khi chương trình hành quân Delta tăng thêm quân số, nhu cầu huấn luyện về kỹ thuật tuần tiễu thám sát được đặt ra. Vào tháng Năm 1964, chương trình Delta bắt đầu huấn luyện trong phạm vi căn cứ tại Nha Trang. Một thời gian ngắn sau, các đơn vị bắt đầu nghe đến khóa huấn luyện viễn thám và được phép gửi quân nhân về học. Khi cơ quan MACV được báo cáo kết qủa tốt đẹp của việc huấn luyện, ra chỉ thị cho liên-đoàn 5 LLĐB đảm trách về khóa học.
Ngày 15 tháng Chín năm 1966 là ngày chính thức khai giảng trường huấn luyện Viễn Thám MACV với ban huấn luyện thuộc bộ chỉ huy B-52. Khóa học dài ba tuần về kỹ thuật tác chiến, tuần tiễu, trinh sát. Khóa sinh phải đầy đủ sức khỏe, đã ở Việt Nam tối thiểu một tháng và còn sáu tháng phục vụ. Ưu tiên dành cho những quân nhân đến từ các toán A LLĐB, các đại đội Biệt Động Quân, các toán viễn thám và các đơn vị trinh sát khác.

Sau này trường huấn luyện thêm khóa hướng dẫn về chiến đấu cho các quân nhân LLĐB/HK mới đến Việt Nam. Trường chính thức đóng cửa vào tháng Mười Một năm 1970.
LỰC-LƯỢNG DU KÍCH LƯU ĐỘNG.
Ý tưởng về Lực Lượng Du Kích Lưu Động (MGF) dựa trên quan niệm đặt những đơn vị sâu trong vùng địch kiểm soát trong một khoảng thời gian, nhằm khuấy phá căn cứ và các hoạt động của địch. Bắt đầu từ năm 1966, đơn vị Du Kích Lưu Động gồm có một toán A LLĐB và một đại đội 150 người DSCĐ hoặc Mike Force, đã được huấn luyện về kỹ thuật tuần tiễu lâu dài và một trung đội trinh sát 34 người. Dưới danh hiệu Blackjack, những đơn vị này được đưa sâu vào vùng địch và nhận tiếp tế bằng phương tiên thả dù. Hành quân Blackjack 21 xử dụng đơn vị đặc nhiệm 777 gồm 15 quân nhân LLĐB/HK và 249 quân nhân Thượng. Blackjack 22 gồm có một đại đội xung kích Mike Force và một đại đội Du Kích Lưu Động. Blackjack 33 gồm đại đội 3 xung kích Mike Force và đại đội du kích 957.

Có nhiều cuộc hành quân Blackjack được tổ chức trong năm sau, cuối cùng các đại đội Du Kích kết hợp với các đại đội xung kích Mike Force thành đơn vị cấp tiểu đoàn Xung Kích Lưu Động.
LỰC LƯỢNG XUNG KÍCH LƯU ĐỘNG (Mobile Strike Force).
Mặc dầu các trại LLĐB đều có lực lượng xung kích cơ hữu để trả đủa tức thời, tuy nhiên vẫn phải có thêm lực lượng tiếp ứng khác đặt dưới quyền điều động trực tiếp của LLĐB trong trường hợp khẩn cấp, giải vây trại LLĐB trước áp lực nặng nề của địch. Một quyết định được tiến hành vào tháng Sáu năm 1966, thành lập một đơn vị trừ bị cho mỗi quân khu và đặt trực thuộc bộ chỉ huy LLĐB quân khu (Bộ chỉ huy C). Các tiểu đoàn tiếp ứng được huấn luyện và bắt đầu hoạt động từ mùa thu 1966. Mới đầu gọi là Lực Lượng Trừ Bị Lưu Động, sau trở thành “Mike Force” (Mobile Reaction Forces – MRF). Năm 1967, tên gọi chính thức cho các đơn vị trên là Lực Lượng Xung Kích Lưu Động (Mobile Strike Force – MSF), mỗi quân khu đều có một đơn vị riêng và đơnvị thứ năm được thành lập xử dụng cho bốn quân khu.

Mặc dầu dự định là một đơn vị trừ bị đa dụng, đơn vị xung kích trước tiên được xử dụng như lực lượng bảo vệ căn cứ. Mỗi đại đội có 184 người, được tổ chức như đơn vị chính quy trang bị súng cộng đồng. Những đại đội này được gom lại thành tiểu đoàn 552 người. Tiểu đoàn xung kích thường có thêm đại đội trinh sát 135 người và bộ chỉ huy, đại đội công vụ 227 người. Nhiệm vụ chính là giải vây cho các trại LLĐB, trong năm đầu, lực lượng xung kích phối hợp với lực lượng du kích trong nhiều cuộc hành quân. Về sau thường được xử dụng tiếp ứng cho toán Nghiên Cứu, Quan Sát (MACV – SOG) khi khẩn cấp. Đến năm 1967, lực lượng du kích sát nhập vào lực lượng xung kích và hoạt động cho đến khi LLĐB/HK bàn giao cho QLVNCH.
Chiến đoàn 1 Xung Kích trực thuộc B-16 LLĐB, thành lập vào tháng Hai 1966 và đặt dưới quyền chỉ huy của bộ chỉ huy C1/LLĐB tại Đà Nẵng. Trong 5 năm hoạt động trên chiến trường vùng I, chiến-đoàn 1 Xung Kích gồm có hai tiểu đoàn, một đại đội trinh sát, bộ chỉ huy và đại đội công vụ. Chiến đoàn 2 Xung Kích trực thuộc B-20 LLĐB ở Pleiku, B-23 ở Ban Mê Thuột và B-24 trên Kontum. Tất cả đặt dưới quyền chỉ huy của bộ chỉ huy C2/LLĐB trách nhiệm trên lãnh thổ quân khu II. Trong 5 năm hoạt động, chiến đoàn 2 Xung Kích gồm có năm tiểu đoàn, một đại đội trinh sát, bộ chỉ huy và đại đội công vụ.
Chiến đoàn 3 Xung Kích thành lập vào tháng Mười Một năm 1967 và đặt dưới quyền điều động của bộ chỉ huy C3/LLĐB, chịu trách nhiệm trên lãnh thổ quân-khu III. Bộ chỉ huy B-36 LLĐB chỉ huy trực tiếp chiến đoàn 3 Xung Kích gồm có ba tiểu đoàn, đại đội trinh sát, bộ chỉ huy cùng đại đội công vụ. Vào cuối năm 1970, chiến đoàn dược chuyển giao cho QLVNCH, B-36 trở về Hoa-Kỳ tháng Hai năm 1971.
Chiến đoàn 4 Xung Kích trực thuộc B-40, bộ chỉ huy C4/LLĐB gồm có ba tiểu đoàn, đại đội trinh sát, đại đội xuồng bay (Air boat) 184 người, bộ chỉ huy cùng đại đội công vụ. Mới đầu chịu trách nhiệm trên quân khu IV đến tháng Tám năm 1969, đặt dưới quyền điều động của Biệt Khu 44. Bắt đầu từ tháng Năm 1970, chiến đoàn được bàn giao cho QLVNCH, B-40/LLĐB/HK về nước tháng Mười Hai năm 1970.
VIII. ĐOÀN NGHIÊN CỨU, QUAN SÁT (MACV – SOG).
Liên đoàn Nghiên Cứu, Quan Sát thuộc bộ chỉ huy Quân Viện (MACV – SOG) là một đơn vị tuyệt đối cho các hành quân đặc biệt. Ngay từ lúc khởi đầu, danh hiệu Nghiên Cứu, Quan Sát (đôi khi gọi là Hành Quân Đặc Biệt) được dùng làm tên che mắt (Code name – Danh hiệu) cho các cuộc hành quân tối mật về tình báo.
Cơ quan Trung Ương Tình Báo CIA đã từ lâu yểm trợ cho các dịch vụ bí mật của chính quyền VNCH cho đến năm 1963, lúc đó cơ quan trở thành bộ chỉ huy Lực Lượng Đặc Biệt Việt Nam và thực hiện những cuộc hành quân đặc biệt. Cường độ chiến tranh gia tăng, nhu cầu cho các hoạt động tăng lên. LLĐB/VN phát triển trở thành Sở Khai Thác Đặc Biệt. Vào ngày 16 tháng Giêng năm 1964, bộ chỉ huy mới Liên Đoàn Nghiên Cứu, Quan Sát được thành lập trong Chợ Lớn cho các cuộc hành quân đặc biệt. Năm 1966, bộ chỉ huy MACV-SOG dời ra Saigon, bộ phận Bộ đóng trong phi trường Tân Sơn Nhất, bộ phận Không Yểm dời ra Nha Trang, và bộ phận Hải Yểm đóng ngoài Đà Nẵng.
Các sứ mạng của MACV-SOG nhắm trực tiếp vào những nơi địch kiểm soát trong miền nam Việt Nam, và vượt biên sang đất Lào, Campuchia, Bắc Việt và nam Trung Hoa. Những nhiệm vụ đặc biệt bao gồm việc thu thập tin tức tình báo chiến lược, phá hoại đường giao liên, tiếp vận của địch, chiến tranh tâm lý, cứu tù binh và phát triển phong trào kháng chiến chống lại chính quyền, v.v… Những nhiệm vụ thám sát của liên đoàn Nghiên Cứu, Quan Sát (MACV-SOG) được chọn lựa kỹ càng và những bản báo cáo sau chuyến xâm nhập thường được gửi về Ngũ Giác Đài (bộ Quốc Phòng HK), để đánh gía và phân phối đi.
Năm 1967, MACV-SOG được tổ chức lại đơn vị Bộ thành ba bộ chỉ huy: Bộ chỉ huy Bắc (CCN) ở Đà Nẵng, Trung (CCC) trên Kontum và Nam (CCS) ở Ban Mê Thuột. Những bộ chỉ huy này được tổ chức bằng cách gom lại một số căn cứ hành quân tiền phương (FOB), mà trước đây được thiết lập để yểm trợ tiếp cận cho những cuộc hành quân xâm nhập. Các căn cứ này đóng ở Phú Bài (Huế), Kontum, Khe Sanh, Non Nước, Ban Mê Thuột và trại Hồ Ngọc Tảo. Bộ phận (Sở) Bộ gồm hơn 1600 quân LLĐB/HK, chia ra hơn 70 toán thám sát và 8000 quân LLĐB Việt Nam (Lôi Hổ).
Cách tổ chức cuả liên đoàn Nghiên Cứu, Quan Sát (MACV-SOG) cũng gần như song song với tổ chức của Lực Lượng Đặc Biệt với các toán xâm nhập tương đương với các toán A LLĐB, căn cứ hành quân tiền phương tương đương với bộ chỉ huy B LLĐB, các bộ chỉ huy Bắc, Trung, Nam tương đương với các bộ chỉ huy C LLĐB.
Bộ phận (Sở) Không Yểm bao gồm phi đoàn 90 Hành Quân Đặc Biệt (SOS) của Không Lực Hoa Kỳ, đóng tại Nha Trang, cung cấp máy bay C-130. Phi đoàn 20 (SOS) có bộ chỉ huy ở vịnh Cam Ranh, các đơn vị phụ thuộc đóng trên Ban Mê Thuột, Đức Lập và Tiêu Atar cung cấp trực thăng yểm trợ. Ngoài ra MACV-SOG còn có đơn vị trực thuộc là phi đoàn Đệ Nhất (First Flight) đóng rải rác khắp nơi và Thái Lan.
Bộ phận Hải Yểm đóng ngoài Đà Nẵng gồm có đơn vị biệt kích (SEALs) của Hải Quân Hoa Kỳ, các siêu tốc đỉnh và các toán Người Nhái, phá hoại dưới nước thuộc Hải Quân Việt Nam.
MACV-SOG còn có một trung tâm huấn luyện và đơn vị xâm-nhập bằng dù ở Long Thành. Đơn vị này gồm các quân nhân Việt Nam, được thả vào vùng địch bằng phương tiện nhẩy dù.
Cơ quan MACV-SOG ngưng hoạt động kể từ ngày 30 tháng Tư 1971 và chương trình được giao cho toán Yểm Trợ Nha Kỹ Thuật 158 (STDAT). Một số quân Bộ đã chuyển qua nhóm Cố Vấn Hành Quân Đặc Biệt từ tháng Ba năm 1971. Cuối cùng chấm dứt nhiệm vụ vào ngày 12 tháng Ba năm 1972. Kết thúc một trong những huyền thoại trong ngành Lực Lượng Đặc Biệt.
https://dongsongcu.files.wordpress.com/…/16e40-doan72nhatra…
BỘ CHỈ HUY (CCN) SỞ BẮC.
Bộ chỉ huy Bắc được thành lập vào ngày 01 tháng Mười Một năm 1967 tại Đà Nẵng với ba bộ chỉ huy tiền phương 1 tại Phú Bài, bộ chỉ huy tiền phương 3 tại Khe Sanh và bộ chỉ huy tiền phương 4 tại Non Nước. Quân nhân thuộc Liên-đoàn 5 LLĐB/HK và ban cố vấn Hải Quân.

Các hành quân vượt biên do BCH Bắc tổ chức nhắm vào miền bắc Việt-Nam và Lào. Những cuộc hành quân trong vùng nam Lào dưới danh hiệu Shining Brass bắt đầu từ năm 1965 nhằm phá hoại đường dây xâm nhập người và vật liệu. Sau đó đổi tên là Prairie Fire, khi chuyển qua Nha Kỹ Thuật cuộc hành quân lấy tên là Phù Dung.
Như tất cả các cuộc hành quân thám sát, BCH Bắc cũng có đơn vị tiếp ứng gọi là đơn vị Cảm Tử Đặc Biệt. Ngoài ra còn thiết lập những căn cứ hành quân bí mật bên Thái Lan. Tuy nhiên, nhiệm vụ chính vẫn là trinh sát, thâu thập tin tức tình báo chiến lược.

BỘ CHỈ HUY (CCC) SỞ TRUNG.
Bộ chỉ huy này đóng trên Kontum gồm quân của liên đoàn 5 LLĐB/HK, có thời gian được xem như phần nới rộng hành quân của LĐ 5 LLĐB. Khu vực trách nhiệm của bộ chỉ huy Trung là tam giác Lào, Miên và Việt. Các cuộc hành quân lúc đầu lấy tên là Daniel Boone, sau đổi thành Salem House nhằm phá hoại căn cứ, kho tiếp liệu che dấu của quân cộng sản Bắc Việt, đặc biệt trong vùng đông bắc Campuchia. Trong Bộ chỉ huy Trung có tất cả 30 toán thám sát, mỗi toán gồm 3 quân nhân LLĐB/HK và chín quân nhân Việt Nam. Ngoài ra còn có bốn đại đội khai thác, xử dụng tin tức do các toán thám sát cung cấp trong các cuộc hành quân lùng và diệt.

BỘ CHỈ HUY (CCS) SỞ NAM.
Bộ chỉ huy này được thành lập vào tháng Mười Một năm 1967 đồn trú tại Ban Mê Thuột. Bộ chỉ huy này nhỏ nhất trong các bộ chỉ huy của liên đoàn Nghiên Cứu, Quan Sát (MACV-SOG). Khu vực hoạt động chính nơi đồng bằng Cửu Long và Campuchia. Đơn vị gồm có một số toán thám sát và bốn đại đội khai thác. Do địa thế dưới vùng đồng bằng, các đại đội khai thác thường xử dụng xuồng bay trong các cuộc hành quân tiếp ứng. Sự tham chiến của các quân nhân Hoa Kỳ trong đơn vị này chấm dứt vào tháng Giêng năm 1973, tất cả các đơn vị Hoa Kỳ trở về nước.

IX. ĐOẠN KẾT.
Trong chiến tranh Việt Nam, rất nhiều giai thoại nói về binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt. Nhưng ít người hiểu biết tường tận, ngay cả đến những quân nhân phục vụ trong ngành LLĐB. Điều này không nên lấy làm lạ vì đó là đặc tính căn bản (sống chết) của LLĐB… “BÍ MẬT”. Nhiều đơn vị có tên nghe rất lạ: Lôi Hổ, Thám Sát, Sở Công Tác, Liên Lạc, Biệt Kích v. v… Đối với quân đội Hoa Kỳ, các quân nhân LLĐB được coi như những chiến sĩ can trường, được tuyển chọn và huấn luyện đầy đủ nhất. Trong QLVNCH, binh chủng LLĐB Việt Nam gồm những chiến sĩ can đảm, gan lì, đôi khi hơi bí mật… Họ là những “Bóng ma biên giới” đối với quân cộng sản. Binh chủng LLĐB đã đóng góp rất nhiều công lao, xương máu cho miền Nam tự do của chúng ta, mặc dầu những chiến công, sự chiến đấu của họ cũng thầm-lặng… bí mật.
Xin hết.



















Liên quan của Bộ Tổng Tham Mưu , Phòng 7 , Lực Lượng Đặc Biệt và Nha Kỹ Thuật



Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam, được thành lập ngày 1 tháng 5 năm 1952, đặt trụ sở tại đường Galliéni (sau là đường Trần Hưng Đạo), Quận 5, Sài Gòn, thời  gian này Nha Kỹ Thuật chưa có tên trong danh sách của Khối Cơ Quan, và BTTM gồm có 5 phòng.

Phòng 1 (Nhân sự), Phòng 2 (Tình báo),Phòng 3 (Tác chiến), Phòng 4 (Tiếp vận), Phòng 5 (Tâm lý chiến)


Đầu thập niên 1960, các Văn phòng Phụ tá Không quân và Hải quân hình thành Bộ Tư lệnh. Bộ Tổng Tham mưu thành lập thêm các Nha Xã hội, Nha Chiến tranh Tâm lý, Nha Cựu Chiến binh và Phế binh. Ngoài ra còn có Bộ Tư lệnh Hành quân, là cơ quan chỉ huy chiến lược và chiến dịch cao nhất, dưới quyền Bộ Tổng Tham mưu. Trong thời gian này trong danh sách Khối Cơ Quan có sự xuất hiện của:


Nha Kỹ Thuật (Sở Khai Thác Địa Hình) CHT là Đại Tá Lê Quang Tung, Phòng 6 (Phản gián) do Đại tá Lê Hữu Tiến là Trưởng Phòng, Phòng 7 (Kỹ thuật) Trưởng phòng 7 là Chuẩn Tướng Phạm Hữu Nhơn.



Năm 1965 BTTM có thêm một số cơ quan và cơ cấu  giữ nguyên cho đến 30-4-1975

Các Chỉ Huy Trưởng Nha Kỹ Thuật:

4/1963   - 11/1963 Đại tá Lê Quang Tung 

11/1963 - 2/1964   Trung Tướng Lê Văn Nghiêm

2/1964   - 2/1968   Đại tá Trần Văn Hổ (Lục Quân)

6/1968   - 4/1975   Đại tá Đoàn văn Nu



NKT được hình thành trong khoảng thời gian từ đầu năm 1957 – dưới một tên khác – và dưới danh nghĩa một bộ phận trực thuộc Sở Liên Lạc/Phủ Tổng Thống, sau đó là Sở Khai Thác Ðịa Hình/Phủ Tổng Thống, và mãi cho đến đầu năm 1964 mới được chính thức gọi là Nha Kỹ Thuật (Strategic Technical Directorate – STD), trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu/QLVNCH.



Nha Kỹ Thuật được hình thành và phát triển do nhu cầu chiến lược của hai chính phủ VNCH và Hoa Kỳ. Do đó, kể từ đầu năm 1964 cho đến hết ngày 31/12/1970, tổ chức và danh xưng được thay đổi theo tình hình chính trị và quân sự đòi hỏi. Vào tháng 6/1970, theo văn thư chính thức của Bộ Tổng Tham Mưu/QLVNCH phổ biến thì Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Ðặc Biệt và các đơn vị trực thuộc sẽ chính thức giản tán vào ngày 31/12/1970. BTL/LLÐB sẽ chuyển cho Nha Kỹ Thuật/BTTM 1650 quân nhân gồm sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ của BTL/LLÐB, Ðại Ðội Tổng Hành Dinh LLÐB, Ðại Ðội Truyền Tin, Ðại Ðội Quân Y, các Toán C, các Toán B và Biệt Ðội Quân Cảnh 207.



Nha Kỹ Thuật là một cơ quan tình báo chiến lược tối mật của VNCH. Cơ quan này chịu sự giám sát trực tiếp của Ðại tướng Cao Văn Viên – Tổng Tham Mưu Trưởng / QLVNCH và không trực thuộc phòng 7 hay bất cứ khối cơ quan hay khối Quân Binh Chủng của Bộ Tổng Tham Mưu kể từ ngày thành lập cho đến ngày 30/4/1975.
 
1, Bộ Tư lệnh hành quân :
Bộ Tư lệnh hành quân {BTLHQ} thành lập ngày 20/5/1961, là cơ quan chỉ huy chiến lược - chiến dịch cao nhất, dưới quyền BTTM quân lực VNCH
BTLHQ có trách nhiệm và quyền hạn :
- Chỉ huy các quân đoàn, các lực lượng trực thuộc và phối thuộc cho quân đoàn về mặt tác chiến.
- Soạn thảo kế hoạch tác chiến chiến lược theo lệnh của BTTM và kế hoạch sử dụng lực lượng.
- Điều hành các cuộc hành binh theo kế hoạch và chỉ huy lực lượng tổng trù bị nếu được BTTM giao quyền.
- Nghiên cứu và phát triển khả năng tác chiến của quân đội về mặt chiến thuật và kỹ thuật.
Tuy nhiên, do những thay đổi về cơ cấu tổ chức trong quân lực VNCH nên từ năm 1965, BTLHQ giải thể và thay vào đó là Trung tâm hành quân chiến thuật thuộc phòng 3, BTTM. Trưởng phòng 3 đồng thời là giám đốc trung tâm.

2, Phòng 1 { nhân sự } :
Phòng 1 có nhiệm vụ duy trì tổng quân số của quân đội và quân số của các đơn vị, quản trị nhân viên, phát huy và duy trì tinh thần quân sĩ, giám sát kỹ thuật, pháp luật và trật tự trong quân đội. Phòng 1 nhân sự gồm các khối :
- Khối quân số : có các Ban điều xung, kiểm dụng.
- Khối pháp chế : có các Ban tinh thần, pháp chế, huy chương.
- Khối tuyển mộ và nhập ngũ : có Ban kiểm kết và chưởng kế.
- Khối thiết kế : có các Ban chương trình và nghiên kế { ? }.
- Khối qui tắc nhân viên : có các Ban quy chế, dân chính và thủ tục quản trị.
Ngoài ra phòng 1 còn có đơn vị trực thuộc là Trung tâm tuyển mộ và nhập ngũ các quân khu.

3, Phòng Tổng quản trị :
Phòng tổng quản trị là nơi cung ứng quân số đầy đủ và kịp thời. Đồng thời phải thi hành các công tác tuyển mộ, quân dịch, động viên. Riêng cơ quan hành chính tổng quản trị là nơi phải làm các công việc như thống kê quân số, điều hành, kiểm toán, văn thư nội bộ, cung cấp các ấn phẩm, mẫu in, bảo vệ tài liệu mật, đào tạo nhân viên nghành quản trị, phụ trách quân bưu vụ.
4, Phòng 2 {tình báo } :
a, Nhiệm vụ :
Phòng 2 có nhiệm vụ theo dõi tình hình quân sự của đối phương trong nước và các quốc gia lân cận như Lào và Cam-pu-chia. Nhận định và ước tính khả năng quân sự của đối phương. Cung cấp và yểm trợ tin tức cho các đơn vị tác chiến. Phối hợp với tổng cục Quân huấn để tổ chức huấn luyện cán bộ quân báo. Phối hợp với phòng 1 trong kế hoạch bổ sung nhân viên quân báo các cấp.
b, Tổ chức biên chế :
Quân số của phòng 2 có khoảng 300 người { không kể quân số của hai đơn vị 101 và 306 là những đơn vị sưu tầm, yểm trợ chuyên môn cho phòng 2 }. Phòng 2 được tổ chức thành các khối :
- Khối quốc nội : quân số 100 người, chỉ huy trưởng là trung tá, có nhiệm vụ theo dõi tình hình trong nội địa miền Nam Việt Nam. Khối quốc nội bao gồm các ban : Ban quốc nội Vùng chiến thuật 1,2,3,4. Ban ước tính { báo cáo tháng, năm, thống kê thiệt hại của đối phương }. Ban nghiên cứu { về tổ chức các quân ,binh chủng đối phương ở VN }.
- Khối quốc ngoại : quân số 50 người, chỉ huy trưởng là trung tá, có nhiệm vụ theo dõi tình hình miền Bắc VN và sự viện trợ của các nước phe XHCN cho Bắc VN, tình hình quân sự, chính trị của Lào, Cam-pu-chia. Khối bao gồm các ban : 
Đông Nam Á { 13 người },  Bắc Việt { 15 người },  Ban nghiên cứu { 15 người } chuyên viết các bài diễn văn cao cấp, xã luận báo chí.  Ban liên lạc ngoại quốc { 5 người } chuyên khai thác báo cáo của các tùy viên quân sự miền Nam VN ở nước ngoài gửi về { trừ Lào và Cam-pu-chia }.
- Khối sưu tập : quân số 70 người, chỉ huy trưởng là trung tá, có nhiệm vụ : theo dõi, kiểm sóat lưu trữ các nguồn tin do mật báo viên cung cấp, các bản cung tù binh, hồi chánh. Thiết lập các bản yêu cầu điều tra, hành lang, không ảnh, không thám, hệ thống kho tàng, rada, không quân, hệ thống ống dẫn dầu, máy bay của miền Bắc VN. 
Khối sưu tầm gồm các ban :  Ban phối hợp sưu tầm { 15 người } làm các yêu cầu điều tra miền Băc, miền Nam và hành lang.  Ban không thám ảnh { 20 người }.  Ban liên lạc không thám { 18 người } làm yêu cầu và theo dõi không ảnh.  Ban kiểm sóat nguồn tin {17 người } theo dõi và lưu trữ các nguồn tin khai thác tù hàng binh, hồi chánh, mật báo viên, thống kê các tù binh, hồi chánh.
- Khối kế, huấn, tổ : có nhiệm vụ theo dõi quân số, nhân viên quân báo các cấp và nắm bản đồ các loại, huấn luyện nhân viên quân báo.

c, Các đơn vị trực thuộc :
Để giúp cho phòng 2 về phương diện sưu tầm tin tức và chuyên môn, còn có 2 đơn vị trực thuộc : 101 và 306.
Đơn vị 101 : có quân số 700 người với 5 biệt đội sưu tập tại 4 quân khu và Biệt khu Thủ đô mang tên đoàn 65, 66, 67, 68 và 69.
Đơn vị 306 : có quân số là 300 người, được tổ chức sau 1965 khi Mỹ đưa quân vào VN. Lúc đầu đơn vị này có 5 trung tâm hỗn hợp :
- Trung tâm quân báo hỗn hợp : có nhiệm vụ cung cấp cho phòng 2 { BTTM Quân lực VNCH } và phòng 2 { Bộ tư lệnh MACV } những tin tức khai thác được liên quan đến lực lượng đối phương như không ảnh, tình hình cầu cống, đường xá, địa thế đường mòn HCM v.v...
- Trung tâm khai thác tài liệu hỗn hợp : có nhiệm vụ tập trung tất cả tài liệu do các quân khu, quân đoàn, sư đoàn, tiểu khu tịch thu được của đối phương trên các chiến trường, địa phương. Ngoài ra còn cả báo chí, sách, phim ảnh của miền Bắc để khai thác rồi báo cáo cho phòng 2 {BTTM } và phòng 2 {MACV} phổ biến cho các nơi có liên quan.
- Trung tâm khai thác quân dụng hỗn hợp : có nhiệm vụ khai thác các loại vũ khí, đạn dược, quân dụng tịch thu được. Nhân viên của trung tâm này phần lớn là chuyên viên các cục quân nhu, quân cụ, quân y, truyền tin biệt phái sang. Trung tâm này tổ chức thành các toán lưu động ở 4 quân khu. Sau khi khai thác xong sẽ biên soạn thành sách nhan đề : " Chiến cụ của Việt Cộng " để phổ biến rộng rãi cho các đơn vị quân Mỹ và VNCH. Riêng các loại vũ khí hiện đại như : hoả tiễn, tên lửa phòng không SAM 2, tên lửa chống tăng AT-3 do chuyên viên Mỹ khai thác "!?" .
- Trung tâm thẩm vấn hỗn hợp: có nhiệm vụ xét hỏi tù binh, hồi chánh quan trọng hoặc có sự hiểu biết nhiều, thông thường từ cấp đại đội trở lên, sau đó lập thành các bản cung. Khi tình hình chiến sự căng thẳng, trung tâm này thường tăng phái các nhân viên cho các quân khu, quân đoàn.
- Trung tâm quản trị quân báo: có nhiệm vụ theo dõi và quản trị số nhân viên quân báo từ cấp hạ sĩ quan trở xuống, quản trị các đội quân báo của quân đoàn, sư đoàn, các đơn vị quân báo biệt phái đi với Mỹ.
Sau khi Mỹ rút quân khỏi VN { 30/6/1973 }, đơn vị 306 chuyển các trung tâm hỗn hợp trên thành các khối.
d, Mức độ tin cậy từ các nguồn tin do phòng 2 { BTTM } sắp xếp :
- Ưu tiên 1 : tin của phòng 7 { trinh sát kỹ thuật }.
- Ưu tiên 2 : ảnh không thám.
- Ưu tiên 3 : tin của Nha Kỹ thuật { đơn vị chuyên tung gián điệp, biệt kich ra miền Bắc VN - đã được nói nhiều ở trên }.
- Ưu tiên 4 : Sở liên lạc theo dõi các mật khu ở miền Nam và đường mòn HCM.
- Ưu tiên 5 : cung tù binh, hồi chánh.
- Ưu tiên 6 : tài liệu thu được.
- Ưu tiên 7 : tin của các quân khu, quân đoàn.
- Ưu tiên 8 : mật báo viên của đơn vị 101 { tin ít người sử dụng }.

e, Các nguồn tin tình báo :
Các tin tức tình báo thường được lấy từ các nguồn :
- Ủy ban phối hợp tình báo quốc gia do tướng Đặng Văn Quang là phụ tá quân sự và an ninh Phu tổng thống phụ trách.
- Phủ đặc ủy tình báo.
- Phòng 2 { BTTM }.
- Phòng 7.
- Nha Kỹ thuật.
- Sở liên lạc.
- Bộ tư lệnh cảnh sát Quốc gia.
- Bộ chiêu hồi.

Bộ Tổng Tham mưu là cơ quan chỉ huy cao nhất của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Để thống nhất hệ thống chỉ huy các lực lượng Quân đội Quốc gia Việt Nam, Bộ Tổng Tham mưu được chính thức thành lập vào ngày 1 tháng 5/1952 với vị Tổng Tham mưu trưởng đầu tiên là Thiếu tướng Nguyễn Văn Hinh, Tham mưu trưởng là Trung tá Lê văn Tỵ. Trụ sở Bộ Tổng Tham mưu ban đầu đặt tại khu nhà số 606 Đại lộ Trần Hưng Đạo, Sài Gòn. Tổng số nhân sự Bộ Tổng Tham mưu lúc bấy giờ gồm khoảng 150 người, gồm 21 sĩ quan và 15 hạ sĩ quan Pháp, còn lại là Việt Nam. Lúc mới thành lập, Bộ Tổng Tham mưu được tổ chức rất đơn giản, với các thành phần như sau:
- Tổng Tham mưu trưởng và Văn phòng TTMT
- Tham mưu trưởng Tham mưu Biệt bộ (nơi tập trung mọi tin tức để đệ trình Tổng thống)
- Ba Tham mưu phó: Tổ chức và Nhân viên, Hành quân và Huấn luyện, Tiếp vận
- Chỉ huy trưởng Viễn thông, ngang hàng Tham mưu phó
- Bốn Phòng Tham mưu chính: 1, 2, 3 và 4
- Nha An ninh Quân đội
- Ban Không quân
- Ban Hải quân
- Trung tâm Công văn và Công điện
- Bốn Nha: Nhân viên, Quân nhu, Quân cụ (trong đó có Sở Vật liệu Truyền tin) và Quân y Tháng 7/1952, các quân khu được thành lập với các tư lệnh như sau: 
Đệ nhất Quân khu (Nam Việt) Đại tá Lê Văn Tỵ,  Đệ nhị Quân khu (Trung Việt) Trung tá Nguyễn Ngọc Lễ,  Đệ tam Quân khu (Bắc Việt) Trung tá Nguyễn Văn Vận và Đệ tứ Quân khu (Cao nguyên Trung phần).  Tháng 11/1954, Đại tá Lê Văn Tỵ thăng chức Thiếu tướng và ngày 1 tháng 12/1954, ông được cử giữ chức Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam thay thế Trung tướng Nguyễn Văn Hinh. Tháng 10/1955, Thiếu tướng Lê Văn Tỵ được thăng Trung tướng, rồi Đại tướng tháng 12/1956, tiếp tục giữ chức vụ Tổng Tham mưu trưởng Quân đội VNCH đến sau cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11/1963. Trong thời gian này (1956), Bộ Tổng Tham mưu được di chuyển vào trại Trần Hưng Đạo (Camp Chanson), Phú Nhuận, nơi đặt Bộ Chỉ huy của Quân đội Pháp trước đây. Sau tháng 7/1965, chức vụ Tổng Tham mưu trưởng được kiêm nhiệm bởi Trung tướng Nguyễn Hữu Có, Tổng trưởng Quốc phòng. Vào ngày 14 tháng 10/1965, sau khi Tướng Nguyễn Khánh bị gạt bỏ khỏi chính quyền, Trung tướng Cao Văn Viên được cử vào chức vụ Tổng Tham mưu trưởng QLVNCH. Năm 1967, khi Tướng Nguyễn Hữu Có bị bãi chức, Trung tướng Viên kiêm nhiệm chức vụ Tổng trưởng Quốc phòng trong một thời gian ngắn. Cũng trong năm này, ông được thăng Đại tướng. Sau 1963, Bộ Tổng Tham mưu còn có Trung tâm Hành quân Bộ Tổng Tham mưu, để điều khiển và theo dõi mọi cuộc hành quân trên toàn quốc. Trung tâm Hành quân BTTM là một Bộ Tổng Tham mưu thu hẹp, có đủ các đại diện thẩm quyền từ các Phòng của Bộ Tổng Tham mưu, các Bộ Tư lệnh Không quân, Hải quân, các binh chủng yểm trợ hành quân và tiếp vận. Bộ Tổng Tham mưu có tới hai trung tâm truyền tin. Một trung tâm truyền tin Diện địa cố định gọi là Trung tâm Truyền tin Bộ Tổng Tham mưu, do Tiểu đoàn 650 thuộc Liên đoàn 65 Khai thác Truyền tin Diện địa quản trị, với những phương tiện viễn liên cố định. Ngoài ra, Trung tâm Hành quân BTTM còn có một Trung tâm Truyền tin Chiến thuật lưu động do Tiểu đoàn Truyền tin BTTM điều khiển và quản trị.   Từ 1965 khi Quân đội VNCH được cải tổ lại, Bộ Tổng Tham mưu bao gồm 7 phòng/nha và một số các cơ quan trực thuộc như Hành quân, Nhân viên, Huấn luyện, Tổng Cục Tiếp vận, và Tổng Cục Chiến tranh Chính trị. Các phòng/nha và đơn vị thường được nhắc đến là Phòng Tổng Quản trị, Phòng Tài ngân, Nha Tổng Thanh tra Quân lực, Nha Kỹ thuật Chiến lược, Đại đội Tổng Hành dinh, Đại đội 1 Quân cảnh, Đại đội Công vụ…  Theo tinh thần của sắc luật về vai trò của Bộ Tổng Tham mưu được Tổng thống Thiệu ban hành vào tháng 7/1970 thì Bộ Tổng Tham mưu được định nghĩa là một Ban Tham mưu Liên quân.  Trên thực tế và bản chất, Bộ Tổng Tham mưu là một Bộ Tham mưu Lục quân với thẩm quyền trên hai quân chủng kia, chịu trách nhiệm trực tiếp với Tổng trưởng Quốc phòng về vấn đề huấn luyện, tổ chức và sử dụng quân đội trong đường hướng do Tổng thống định liệu. Khi Hiệp định Paris 1973 được ký kết, thì các buổi họp bất thường hay hàng tháng với các Tư lệnh Quân đoàn cùng các Tư lệnh Quân binh chủng như Hải quân, Không quân v.v. được diễn ra trong Dinh Độc Lập thay vì ở Bộ Tổng Tham mưu như thường lệ. Những buổi họp này được đặt dưới quyền chủ tọa của Tổng thống Thiệu với tư cách là Tổng Tư lệnh Tối cao QLVNCH. Từ đó, Tổng thống Thiệu hoàn toàn lấy mọi quyết định và ra lệnh thẳng cho các nơi.   Vào lúc 8 giờ sáng ngày 28 tháng 4/1975, Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng Trần Văn Đôn đã đến văn phòng Tổng Tham mưu trưởng như thường lệ để gặp Đại tướng Cao Văn Viên theo dõi tình hình quân sự. Trong cuộc gặp nói trên, Đại tướng Viên yêu cầu Tổng trưởng Quốc phòng Trần Văn Đôn cử người thay thế vì ông đã trình xin Tổng thống Trần Văn Hương cho được giải nhiệm.  Sau khi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức vào tối 21 tháng 4/1975, và sau cuộc rút quân của QLVNCH khỏi Xuân Lộc, Đại tướng Cao Văn Viên không còn thiết tha với chức vụ Tổng Tham mưu trưởng QLVNCH. Khi Tướng Viên trình xin Tổng thống Trần Văn Hương cho ông được giải nhiệm, Tổng thống Hương yêu cầu ông tiếp tục giữ chức vụ đến khi ông này trao quyền cho ông Dương Văn Minh.   Chiều 28 tháng 4/1975, Đại tướng Cao Văn Viên ra đi cùng với Chuẩn tướng Trần Đình Thọ, Trưởng phòng 3 BTTM. Trung tướng Đồng Văn Khuyên, Tham mưu trưởng Liên quân QLVNCH, kiêm Tổng Cục trưởng TCTV bỏ đi trưa ngày 29 tháng 4/1975. Trung tướng Nguyễn Văn Minh, Tư lệnh Biệt khu Thủ đô cũng rời nhiệm sở. Khoảng 11 giờ 45, trực thăng của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ đáp xuống ngay sân cờ tòa nhà chính đón Trung tướng Ngô Quang Trưởng. Trước tình trạng này, tân Tổng thống Dương Văn Minh đã cử một số (cựu) tướng lãnh như Trung tướng Vĩnh Lộc giữ chức Tổng Tham mưu trưởng, cựu Trung tướng Nguyễn Hữu Có Phó Tổng Tham mưu trưởng, cựu Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh (Việt Cộng nằm vùng) làm Phụ tá Tổng Tham mưu trưởng BTTM, cựu Thiếu tướng Lâm Văn Phát làm Tư lệnh Biệt khu Thủ đô, Chuẩn tướng Lê Văn Thân, Tư lệnh phó Biệt khu Thủ đô, Chuẩn tướng Nguyễn Văn Chức giữ chức Tổng Cục trưởng TCTV.

● Trong quá trình hình thành, ngoài sự thay đổi về cơ cãu, Bộ Tổng Tham mưu cũng đã thay đổi danh xưng một vài lần. Tháng 4/1964, Trung tướng Nguyễn Khánh ký sắc lệnh đổi Bộ Tổng Tham mưu thành Bộ Tổng Tư lệnh Quân lực Việt Nam Cộng Hòa bao gồm Lục quân, Không quân, Hải quân và Địa phương quân-Nghĩa quân. Tổng Tư lệnh QLVNCH (tức Tổng Tham mưu trưởng) lúc bấy giờ là Trung tướng Trần Thiện Khiêm. Sau khi Tướng Khiêm đi làm Đại sứ, Tướng Khánh biến đổi Văn phòng Tổng Tư lệnh thành Nha Đổng lý Văn phòng Tổng Tư lệnh và bổ nhiệm Thiếu tướng Nguyễn Văn Vỹ làm Đổng lý Văn phòng (10/1964). Danh xưng Bộ Tổng Tư lệnh sau đó lại được đổi thành Bộ Tổng Tham mưu, khi Tướng Khánh bị gạt bỏ khỏi chính quyền (2/1965). 




Tóm lược sự hình thành “Nha Kỹ Thuật” QLVNCH



Trái – Phải: Ðại Tá John K. Singlaub – Chief SOG, Ðại Tá Trần Văn Hổ – Giám Ðốc Nha Kỹ Thuật/BTTM/QLVNCH, Trung Tá Ngô Thế Linh – Phó Giám Ðốc Nha Kỹ Thuật/BTTM/QLVNCH, Sĩ Quan SOG (không nhớ tên)
(Hình của Thiếu Tá Lữ Triệu Khanh, nguyên Chánh Văn Phòng Giám Ðốc NKT/BTTM/QLVNCH)

Lời của người viết: Cựu Thiếu tá Trần Kim Khánh / Nha Kỹ Thuật, và Bùi Thượng Khuê (thế hệ thứ 2 NKT) cùng hợp soạn bài viết này, với mục đích để cho người đọc trong thế hệ trẻ tại Hoa Kỳ nói riêng, và người Việt trên toàn thế giới nói chung, hiểu biết thêm về Nha Kỹ Thuật, một đơn vị hào hùng của QLVNCH qua những hoạt động đặc biệt và hy sinh thầm lặng của họ trong cuộc chiến tại Việt Nam.

Tác giả xin hân hoan đón nhận sự bổ túc và sửa đổi khiếm khuyết quý báu của quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu và quý Anh Chị Em trong đại gia đình Nha Kỹ Thuật để bài viết được lưu lại cho thế hệ mai sau như một món qùa nhiều ý nghĩa của Thế Hệ Cha-Anh, người đã trực tiếp góp phần vào việc giữ vững miền Nam Việt Nam trong suốt 21 năm chinh chiến (1954 – 1975) – Xin cám ơn.

Nhân dịp này, người viết xin đặc biệt chân thành cảm tạ:

• Thiếu tá Lữ Triệu Khanh, nguyên Chánh Văn Phòng Giám Ðốc Nha Kỹ Thuật / BTTM / QLVNCH

• Thiếu tá Nguyễn Phan Tựu, nguyên Huấn Luyện Viên Biệt Kích / Trung Tâm Huấn Luyện Long Thành; nguyên Chỉ Huy Trưởng Ðoàn Công Tác 72 / Sở Công Tác / Nha Kỹ Thuật

• Ðại úy Nguyễn Hùng Trâm, nguyên Huấn Luyện Viên Biệt Kích / Trung Tâm Huấn Luyện Long Thành; nguyên Liên Toán Trưởng / Ðoàn Công Tác 75 / Sở Công Tác / Nha Kỹ Thuật

• Thiếu tá Nguyễn Hữu Hà, nguyên Chỉ Huy Trưởng Biệt Hải / Sở Phòng Vệ Duyên Hải; nguyên Trưởng Phòng 4 / Sở Công Tác / Nha Kỹ Thuật đã cung cấp một số chi tiết quan trọng để bài viết thêm phần hoàn chỉnh.

Trần Kim Khánh / Nha Kỹ Thuật / Bộ Tổng Tham Mưu / QLVNCH
Bùi Thượng Khuê / Thế Hệ 2 Nha Kỹ Thuật Cùng Hợp Soạn – Mùa Hội Ngộ 2010

Theo các bài viết của một số quý Niên Trưởng trong đại gia đình Nha Kỹ Thuật (kể từ đây được viết tắt trong bài này là “NKT”) cùng với sự giải mật của những tài liệu trong Văn Khố và Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ trong những năm gần đây, có liên quan đến cuộc chiến tranh ngoại lệ (unconventional warfare) tại Việt Nam thì NKT được hình thành trong khoảng thời gian từ đầu năm 1957 – dưới một tên khác – và dưới danh nghĩa một bộ phận trực thuộc Sở Liên Lạc/Phủ Tổng Thống, sau đó là Sở Khai Thác Ðịa Hình/Phủ Tổng Thống, và mãi cho đến đầu năm 1964 mới được chính thức gọi là Nha Kỹ Thuật (Strategic Technical Directorate – STD), trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu/QLVNCH.

Nha Kỹ Thuật là một cơ quan tình báo chiến lược tối mật của VNCH. Cơ quan này chịu sự giám sát trực tiếp của Ðại tướng Cao Văn Viên – Tổng Tham Mưu Trưởng / QLVNCH kể từ ngày thành lập cho đến lúc cùng tất cả các Quân Binh Chủng khác của QLVNCH bị bức tử ngày 30/4/1975.

Thực ra, trước khi Hiệp Ðịnh Genève được ký kết vào ngày 20/7/1954, người Pháp đã thành lập một cơ quan “Gián điệp và Phản Gián” (Comité d’espionage et Contre espionage), còn có tên gọi là Sixième Bureau hay Phòng 6 để theo dõi hoạt động của Ðảng Cộng Sản và các đảng phái quốc gia khác chống Pháp tại Việt Nam. Tuy nhiên, sau ngày quân Pháp rời Việt Nam, số mật báo viên do Pháp tuyển mộ và huấn luyện đều không được Pháp bàn giao cho chính phủ Việt Nam thời đó!?

Sự hoạt động của các cơ quan tình báo cùng với những biến chuyển quan trọng về chính trị lẫn quân sự dưới thời Ðệ Nhất Cộng Hòa do Hoa Kỳ chủ trương và thực hiện đã ảnh hưởng đến vận mạng của quốc gia và dân tộc chúng ta, nói chung, đồng thời có liên hệ mật thiết đến sự hình thành và phát triển của Nha Kỹ Thuật, nói riêng.

Hiệp Ðịnh Genève chia đôi đất nước, lấy vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải) làm ranh giới tạm thời của hai miền Nam-Bắc. Miền Bắc, theo Xã Hội Chủ Nghĩa do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Miền Nam, theo Thế Giới Tự Do do Thủ tướng Ngô Ðình Diệm lãnh đạo. Ở miền Nam, sau khi đã ổn định tình hình chính trị, quân sự và phát triển kinh tế, Ông Ngô Ðình Nhu, trong vai trò cố vấn chính trị cho Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đã đề ra chủ thuyết “Cần Lao Nhân Vị”, thành lập Ðảng Cần Lao và quốc sách “Ấp Chiến Lược”, đánh bại “Chiến Tranh Du Kích” của Cộng Sản Bắc Việt tại miền Nam Việt Nam. Song song với hai chính sách nói trên (khoảng năm 1960), Ông Ngô Ðình Nhu còn đề xướng – với sự góp ý của Ðại tá Lê Quang Tung, Giám Ðốc Sở Liên Lạc/Phủ Tổng Thống và Ðại úy Ngô Thế Linh, Trưởng Sở Bắc thành lập “Phong Trào Gươm Thiêng Ái Quốc” (Sacred Sword Patriotic League) nằm trong Mặt Trận Giải Phóng Miền Bắc (North Viet Nam Liberation Front) để làm hậu thuẫn cho chính phủ Ngô Ðình Diệm chống lại Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam do Cộng Sản Bắc Việt dựng lên tại miền Nam, nhằm chống phá chính phủ VNCH. “Phong Trào Gươm Thiêng Ái Quốc” chỉ dành riêng cho Sở Bắc thuộc Sở Liên Lạc/PTT (sau này đổi thành Sở Khai Thác Ðịa Hình/Phủ Tổng Thống rồi đến Nha Kỹ Thuật/BTTM/QLVNCH) mà thôi.

Như đã đề cập ở trên, trước khi Hiệp Ðịnh Genève, trong quân đội Liên Hiệp Pháp đã có một cơ quan gọi là Phòng 6. Ðây chỉ là danh xưng vỏ bọc (cover name) của một cơ quan gián điệp và phản gián mà người Pháp gọi là “Sixième Bureau”. Trụ sở của Phòng 6 đặt tại Bà Chiểu thuộc tỉnh Gia Ðịnh, hoạt động dưới quyền của Thiếu tá Nguyễn Khánh (Cựu Ðại tướng). Ngày 8/9/1954, Thiếu tá Khánh bàn giao Phòng 6 lại cho Trung tá Trần Ðình Lan. Trung tá Lan theo nhóm của Thiếu tướng Nguyễn Văn Hinh thân Pháp, toan lật đổ chính phủ Ngô Ðình Diệm nhưng bất thành và do đó, Trung tá Lan phải trốn qua Pháp. Nhân dịp quân đội Pháp rút khỏi Việt Nam, người Pháp đã chuyển giao một số sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ cho chính phủ Ngô Ðình Diệm vào ngày 11/2/1955.



Đại Tướng Nguyễn Khánh.

Cũng trong thời gian này, chính phủ Ngô Ðình Diệm bắt đầu tổ chức lại quân đội, lấy tên là Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam, thành lập Bộ Tổng Tham Mưu, bổ nhiệm các cấp chỉ huy cùng cải tổ lại các Quân Binh Chủng trong quân đội. Cũng xin nói thêm rằng, trong thời gian Quân Ðội Cộng Sản tập kết ra Bắc theo tinh thần của Hiệp Ðịnh Genève, họ đã để lại một số cán bộ nòng cốt và chôn dấu một số lớn vũ khí để sử dụng sau này. Ðặc biệt là tại Liên Khu 5 (Nam, Ngãi, Bình, Phú).

Ðể tiếp tục theo dõi và khám phá hầu ngăn chận các hoạt động của Cộng Sản tại miền Nam Việt Nam, chính phủ Ngô Ðình Diệm thành lập một cơ quan tình báo khác lấy tên là “Nha Tổng Nghiên Huấn” trực thuộc Bộ Quốc Phòng. Thiếu tá Lê Văn Lung, nguyên Giám Ðốc Phòng 6 được vinh thăng trung tá và được bổ nhiệm làm Giám Ðốc Nha Tổng Nghiên Huấn/Bộ Quốc Phòng. Ðại úy Trần Khắc Kính được thuyên chuyển từ Quảng Ngãi về làm Phó Giám Ðốc. Nha Tổng Nghiên Huấn có 3 Sở chính:
• Sở Liên Lạc, còn gọi là Sở 32. Sở này có trách nhiệm thu thập tin thức tình báo, đưa người xâm nhập vào hàng ngũ của địch hay ngược lại, lôi kéo người của địch vào hàng ngũ của ta. Ðại úy Nguyễn Khắc Bình (Chuẩn tướng Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia kiêm Ðặc Ủy Trưởng Phủ Ðặc Ủy Trung Ương Tình Báo – Ðệ Nhị Cộng Hòa) là Chánh Sở 32 đầu tiên.

• Sở Bảo Vệ, còn gọi là Sở 42. Sở này có nhiệm vụ kiểm chứng, đối chiếu các tin tức thu lượm được của Sở Liên Lạc, tổ chức hệ thống tình báo phản gián và thực hiện các vụ bắt giữ cán bộ Cộng Sản hoạt động tại miền Nam Việt Nam. Chánh Sở Bảo Vệ hay Sở 42 đầu tiên là Nguyễn Ngọc Lâm. Sau khi ông Lâm bị ám sát chết trên đường Pasteur, Ðại úy Trần Văn Thăng được chỉ định thay thế chức vụ Chánh Sở 42.
• Sở Công Tác, còn gọi là Sở 52. Sở này có trách nhiệm tổ chức các cuộc hành quân thám sát, đột kích hoặc tấn công vào các mật khu của Cộng Sản.
Các danh xưng Sở Liên Lạc, Sở Bảo Vệ và Sở Công Tác đã ra đời từ đây trong cơ cấu tổ chức của Nha Tổng Nghiên Huấn/ Bộ Quốc Phòng vào khoảng tháng 2 năm 1955. Tuy nhiên, 3 Sở này đã phải trải qua rất nhiều thay đổi trong cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, đường lối và phương cách hoạt động trước khi trở thành những bộ phận tình báo chiến lược của Nha Kỹ Thuật, trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu/QLVNCH trong thời Ðệ Nhị Cộng Hòa. Cũng xin nói thêm, ngoài các cơ sở ở Trung Ương (đặt tại Sài Gòn), Nha Tổng Nghiên Huấn/ Bộ Quốc Phòng còn thành lập ở mỗi Quân Khu một “Nha Ðại Diện”, gọi là Ðại Diện Nha Tổng Nghiên Huấn/Bộ Quốc Phòng tại “Ðệ... Quân Khu”. Thí dụ: Ðại Diện Nha Tổng Nghiên Huấn/BQP tại Ðệ Nhị Quân Khu, năm 1956 do Thiếu tá Nguyễn Khắc Bình làm đại diện. Nha Ðại Diện chỉ chuyên trách về các vấn đề hành chánh như thuyên chuyển, thăng thưởng sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ; phụ trách lương bổng, tiếp liệu và tiếp vận; bảo trì và sửa chữa quân xa, vũ khí, quân trang và quân dụng, kiêm phụ trách tâm lý chiến và các công tác xã hội, v.v. Dưới quyền mỗi Nha Ðại Diện đều có 3 Sở trực thuộc, đặc trách về chuyên môn như:
Sở Liên Lạc, còn gọi là Sở 322, hay Chính Cục (Central). Năm 1955-1956, Chánh Sở 322 là Ðại úy Phó Thịnh Trinh và sau đó là Ðại úy Lê Quang Bình. Trung úy Nguyễn Văn Diêu làm Phụ Tá Hành Chánh (Adjoint Administratif), Trung úy Nguyễn Hứa Luật làm Phụ Tá Chuyên Môn (Adjoint Technique). Dưới Chính Cục (Central) tại mỗi tỉnh còn có một Chi Cục gọi là Antenne. Thí dụ: Chi Cục Quảng Trị – Ðông Hà do Trung úy Nguyễn Hào làm Chi Cục Trưởng. Chi Cục Thừa Thiên–Huế do Trung úy Phan Cảnh Tuân rồi đến Thiếu úy Phan Chí Cang làm Chi Cục Trưởng. Chi Cục Ðà Nẵng do Trung úy Nguyễn Văn Tùng làm Chi Cục Trưởng. Chi Cục Hội An (Faifoo) do Trung úy Nguyễn Hòa làm Chi Cục Trưởng. Chi Cục Quảng Ngãi do Trung úy Nguyễn Văn Bửu rồi Thiếu úy Phan Văn Trang làm Chi Cục Trưởng. Năm 1955-1956 chưa thành lập Chi Cục tại Bình Ðịnh và Qui Nhơn vì lúc đó Việt Cộng đang tập kết ở Sa Huỳnh. Các Chi Cục của Sở Liên Lạc chuyên trách về tình báo. Do đó, các Chi Cục này chỉ tuyển mộ, huấn luyện và gởi các mật báo viên hoạt động tại các vùng chỉ định mà thôi. Các tin tức thu lượm được đều chuyển về Chính Cục để nơi đây chuyển giao cho Sở Bảo Vệ khai thác. Ðôi lúc vì lý do khẩn cấp, các Chi Cục cũng phổ biến các tin tức tình báo cho các Tiểu Khu liên hệ để tùy nghi sử dụng.
• Sở Bảo Vệ, còn gọi là Sở 422. Chánh Sở là Ðại úy Sang. Một số các sĩ quan kỳ cựu khác cũng phục vụ tại Sở này như Ðại úy Nguyễn Văn Thức, năm 1955-1956 làm Chi Cục Trưởng (Sở Bảo Vệ) tại Quảng Ngãi và sau đó nhậm chức Quận Trưởng Thủ Ðức vào năm 1960-1962, Trung úy Nông An Pang, Thiếu úy Ðoàn Công Lập, v.v. Sở này có nhiệm vụ phối kiểm và đối chiếu các tin tức của Sở Liên Lạc gởi qua, bắt giữ các cán bộ Việt Cộng về khai thác và đồng thời phá hủy các hạ tầng cơ sở của Việt Cộng trong vùng trách nhiệm. Sở Bảo Vệ có 2 Chi Cục ở Ðà Nẵng và Quảng Ngãi. Hai Chi Cục này hoạt động rất hữu hiệu và đã phá hủy nhiều cơ sở của Việt Cộng tại Quảng Nam và Quảng Ngãi.
• Sở Công Tác, còn gọi là Sở 522. Sở này do Ðại úy Ðàm Văn Qúy chỉ huy. Tất cả quân nhân các cấp của Sở này đều có bằng nhảy dù, được trang bị nhẹ như lính Commando của Pháp. Sở này hoạt động trong toàn lãnh thổ của Ðệ Nhị Quân Khu như phục kích các đường di chuyển và xâm nhập của các toán Việt Cộng, đột kích hay tấn công để bắt tù binh và tiêu diệt các buổi họp và hội nghị của cán bộ cao cấp Việt Cộng cùng nơi đồn trú của các đơn vị du kích Cộng Sản, v.v. Có lần các sĩ quan và hạ sĩ quan của Sở 522 đã vượt sông Bến Hải, dùng tiểu liên tấn công các đồn bót của Cộng Sản Bắc Việt và bắn phá các loa phóng thanh ở bờ Bắc sông Bến Hải. Ðặc biệt vào giữa năm 1955, do sự phối hợp của hai Sở 422 và 522, Ðại Diện Nha Tổng Nghiên Huấn/BQP tại Ðệ Nhị Quân Khu đã tổ chức một cuộc hành quân xuyên sơn đầu tiên từ Bến Hải vào đến Qui Nhơn. Cuộc hành quân xuyên sơn này do Trung úy Nông An Pang chỉ huy, kéo dài gần 2 tháng và đã khám phá rất nhiều hoạt động của Việt Cộng tại vùng rừng núi thuộc 3 tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Ðịnh. Trong suốt cuộc hành quân, Thiếu tá Trần Khắc Kính, Phó Giám Ðốc Nha Tổng Nghiên Huấn/BQP đã dùng máy bay quan sát L-19 bay không thám và liên lạc với các đơn vị hành quân. Tại các Quân Khu khác, Nha Tổng Nghiên Huấn/BQP cũng đều tổ chức các đơn vị tương tự như ở Ðệ Nhị Quân Khu. Cuối năm 1956, Nha Tổng Nghiên Huấn/Bộ Quốc Phòng chính thức giải tán để thành lập Sở Liên Lạc, trực thuộc Phủ Tổng Thống dưới thời Ðệ Nhất Cộng Hòa. Ðại úy Lê Quang Tung, lúc bấy giờ đang là Chánh Sở 2 An Ninh Quân Ðội tại Huế, được vinh thăng Thiếu tá và được bổ nhiệm làm Giám Ðốc Sở Liên Lạc/Phủ Tổng Thống. Ðại úy Trần Khắc Kính được thuyên chuyển qua làm Phó Giám Ðốc. Sở Liên Lạc/PTT có trách nhiệm tổ chức, tuyển chọn và huấn luyện các cán bộ cấp chỉ huy để thành lập những bộ phận căn bản đầu não của Sở trong cuộc chiến tranh tình báo chiến lược, hay chiến tranh bất qui ước tại Việt Nam. Như danh xưng, Sở Liên Lạc/Phủ Tổng Thống không nằm trong hệ thống chỉ huy của Bộ Tổng Tham Mưu hay Bộ Quốc Phòng, mà được đặt dưới sự cố vấn và chỉ đạo trực tiếp của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu.
Sở Liên Lạc/PTT còn có một danh xưng vỏ bọc khác là “Trung Ương Cục” để đối đầu với “Trung Ương Cục Miền Nam”, hay “Cục R” của Cộng Sản Bắc Việt. Trụ sở của Sở Liên Lạc/PTT được đặt tại một khu vực cạnh Bộ Tổng Tham Mưu, gần Nghĩa Trang Bắc Việt và Sân Vận Ðộng Quân Ðội. Ðại tá Lê Quang Tung và Thiếu tá Trần Khắc Kính là 2 người đầu tiên đã bỏ ra rất nhiều công sức để xây dựng một nền tảng vững chắc cho Sở Liên Lạc/PTT, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành và hoạt động của Sở Bắc và Nha Kỹ Thuật sau này.
Cũng trong giai đoạn này, Ðại úy Trần Văn Hổ được bổ nhiệm làm Phó Giám Ðốc Sở Liên Lạc/PTT trong một thời than ngắn. Ngày 1 tháng 11 năm 1957, một Liên Ðội “hành động” đầu tiên được thành lập, có danh xưng là Liên Ðội Quan Sát Số 1, đặt dưới quyền chỉ huy của Ðại úy Bùi Thế Minh và trực thuộc Sở Liên Lạc/PTT. Vào khoảng cuối năm 1958, cơ cấu tổ chức của Sở Liên Lạc/PTT gồm có:
• Phòng 35 có nhiệm vụ tổ chức và chỉ huy hành quân, huấn luyện cán bộ, thanh tra các Trung Tâm Huấn Luyện cùng gởi nhân viên ra ngoại quốc thụ huấn, v.v. Phòng 35 do Ðại úy Trần Khắc Kính, Phó Giám Ðốc Sở Liên Lạc/PTT kiêm nhiệm cùng với phụ tá Trần Lai Miên.
• Phòng 45 hay Phòng E và còn được gọi là Sở Bắc, có nhiệm vụ tổ chức hệ thống tình báo chiến lược của VNCH tại miền Bắc và quốc ngoại. Trưởng Phòng là Ðại úy Ngô Thế Linh, cùng một số các sĩ quan phụ tá như Nguyễn Bảo Thùy, Ðỗ Văn Tiên, Nguyễn Nghệ, v.v. trực tiếp điều hành.
• Phòng 55 còn được gọi là Sở Nam, có nhiệm vụ đặt cán bộ nòng cốt tại miền Nam Việt Nam để xây dựng và thành lập các thành phần kháng chiến nằm vùng, đề phòng trường hợp Cộng Sản Bắc Việt tràn xuống miền Nam. Trưởng Phòng 55 là Nguyễn Qúy Huỳnh, và sau đó là Trần Văn Minh. Phòng 55 hay Sở Nam là tiền thân của Sở Liên Lạc, trực thuộc Nha Kỹ Thuật/BTTM/QLVNCH.
• Phòng 65 chuyên lo về An Ninh Quân Ðội, kiểm soát những thành phần nội công và gián điệp Cộng Sản. Lê Ðình Ngân, Ðàm Thế Công và Nguyễn Qúy Huỳnh là những người đầu tiên trực tiếp điều hành Phòng 65.
• Phòng 75 có nhiệm vụ trông coi, thu thập và lưu giữ hồ sơ cùng những tài liệu mật có liên quan đến các hoạt động của Sở Liên Lạc/PTT.


Đại tá Lê Quang Tung.
• Phòng 78 có trách nhiệm về hành chánh và tài chánh, điều hành các ngân khoản trợ cấp cho các hoạt động của Bộ Chỉ Huy Sở cũng như cuộc hành quân của các toán.

• Phòng 95 là Phòng Truyền Tin, chỉ huy Ðại Ðội Truyền Tin 660, có trách nhiệm tổ chức và huấn luyện chuyên viên truyền tin cho các Toán, phân phối máy móc và giữ liên lạc truyền tin giữa BCH Sở và các Toán hoạt động tại Bắc Việt, quốc nội cũng như quốc ngoại. Trưởng Phòng 95 là Ðại úy Mai Viết Triết.

William Colby (CIA) và Đại tá Trần Khắc Kính.
Từ năm 1957 đến năm 1959, Sở Liên Lạc/PTT bắt đầu khởi sự việc huấn luyện về chiến tranh ngoại lệ cho các cán bộ chỉ huy và các đơn vị trực thuộc. Năm 1959, Trung tá Lê Quang Tung, Thiếu tá Trần Khắc Kính và Ðại úy Trần Văn Hổ là 3 người Việt Nam đầu tiên tham dự khóa Chiến Tranh Ngoại Lệ trên đảo Saipan, một hòn đảo nhỏ do Hoa Kỳ kiểm soát tại Thái Bình Dương. Sau đó, Thiếu tá Trần Khắc Kính và Thiếu tá Cố Vấn Hoa Kỳ Russel Flyn Miller hướng dẫn 12 sĩ quan của Sở Liên Lạc/PTT qua Saipan học khóa Chiến Tranh Ngoại Lệ để điều hành chương trình Hành Quân Bắc Tiến của Sở. Mười hai sĩ quan của Sở Liên Lạc/PTT tham dự khóa này gồm có:
1. Ðại úy Ngô Thế Linh
2. Ðại úy Ðàm Minh Viêm
3. Trung úy Nguyễn Văn Hy
4. Trung úy Trần Bá Tuân
5. Trung úy Văn Công Báu
6. Trung úy Nguyễn Quang Trung
7. Trung úy Nguyễn Bảo Thùy
8. Thiếu úy Lê Công Chất
9. Thiếu úy Phạm Văn Minh
10. Thiếu úy Nguyễn Nghệ
11. Thiếu úy Nông An Pang
12. Thiếu úy Lê Quang Triệu (bào đệ của Ðại tá Lê Quang Tung)
Tháng Ba năm 1961, để chuẩn bị cho một chuyến công tác dài hạn xâm nhập miền Bắc, Sở Bắc gởi một điệp viên đơn độc (singleton) là Vũ Công Hồng, bí danh Hirondelle, vượt sông Bến Hải qua vùng Phi Quân Sự, hoạt động dọc theo vĩ tuyến 17 trong một công tác ngắn hạn. Hai tuần sau, điệp viên Hirondelle trở lại miền Nam cùng với một số tin tức về đường đi nước bước và hệ thống an ninh của miền Bắc. Chuyến công tác này coi như thành công và mang lại nhiều phấn khởi cho Sở Bắc nói riêng và Sở Liên Lạc/PTT nói chung.


Đại tá Ngô Thế Linh.
Ðầu tháng Tư năm 1961, một điệp viên đơn độc khác của Sở Bắc tên Phạm Chuyên, bí danh Ares hay Hạ Long, rời bãi biển Ðà Nẵng bằng thuyền Nautilus 1, lặng lẽ xâm nhập vào vùng biển Quảng Ninh rồi sau đó chèo xuồng đổ bộ vào một làng đánh cá gần Cẩm Phả, Hòn Gai (Bắc Việt), bắt đầu thi hành một công tác dài hạn. Khoảng 2 tuần sau, người điệp viên bí danh Ares gởi một bức điện văn đầu tiên về cho Sở Bắc và cơ quan CIA tại Sài Gòn. Chuyến công tác xâm nhập coi như thành công! Sau đó, điệp viên Ares gởi thêm 22 bản báo cáo nữa cho đến tháng Sáu năm 1961 thì đột nhiên mất tích... Ngày 8 tháng Tám năm 1961, Sở Bắc lại nhận được một điện văn của điệp viên Ares sau gần 2 tháng mất liên lạc, cắt nghĩa về sự vắng mặt của mình và yêu cầu xin tiếp tế... Từ đó, thỉnh thoảng điệp viên Ares vẫn liên lạc với Trung Ương tại Sài Gòn, báo cáo những tin tức quan trọng về nhà máy điện tại Uông Bí, hệ thống cầu cống, xe lửa, xa lộ và hải cảng Hải Phòng, v.v. mãi cho đến năm 1968 mới mất liên lạc hẳn.
Cũng vào tháng Tư năm 1961, Sở Liên Lạc/PTT được đổi tên là Sở Khai Thác Ðịa Hình, vẫn trực thuộc Phủ Tổng Thống và duy trì các cơ cấu tham mưu của Sở Liên Lạc để tiếp tục hoạt động. Bộ Chỉ Huy Sở Khai Thác Ðịa Hình/PTT dùng danh hiệu đặc biệt “KHIÊM QUANG”. Mỗi chữ trong danh hiệu này là tên của một Phòng. Mỗi Phòng được giao phó một nhiệm vụ tham mưu hay một công tác đặc biệt. Theo nguyên tắc này, Phòng 45 được đặt tên là Phòng E. Cũng vào thời điểm này, Liên Ðội Quan Sát Số 1 đổi tên thành Liên Ðoàn 77 và được thuyên chuyển từ Quân Trường Ðồng Ðế (Nha Trang) về đóng tại Trại Hùng Vương, phía sau trường đua Phú Thọ (Sài Gòn).
Một trong những người Biệt Kích đầu tiên của Sở Bắc xâm nhập miền Bắc từ trên không là Trung sĩ I Hà Văn Chấp, nguyên Trưởng Toán Castor, gồm 4 Biệt Kích Sở Bắc, đã nhảy dù xuống Ðồi 885, cách Làng Nghĩa Lộ thuộc Tỉnh Tuần Giao, Lai Châu (Bắc Việt) khoảng 1 cây số, thi hành công tác trong đêm mồng 2 tháng 6 năm 1961. Toán Biệt Kích Castor bị “Lực Lượng Công An Vũ Trang” của miền Bắc bắt khoảng một tuần sau đó và bị ép buộc gởi công điện về Trung Ương xin tiếp tế. Mặc dầu Thiếu tá Trần Khắc Kính nghi ngờ lời lẽ trong bản công điện gởi về Sở Bắc không phải của Trung sĩ Hà Văn Chấp, Trung tá Lê Quang Tung vẫn quyết định gởi tiếp tế cho Toán Castor vì trong bản công điện có mật mã chứa đựng dấu hiệu an toàn!
Sau chuyến công tác tiếp tế cho Toán Castor bằng phi cơ C-47 của Sở Bắc do Trung úy KQVN Phan Thanh Vân lái bị bắn rơi tại Tô Hiệu (Bắc Việt) vào đêm mồng 3 tháng 7 năm 1961, Thiếu tá Trần Khắc Kính xin rời Bộ Chỉ Huy Sở Khai Thác Ðịa Hình/PTT, ra Ðà Nẵng dồn nỗ lực chỉ huy và điều động 15 toán Biệt Kích Lôi Vũ cùng với Trung Ðội Beo Gấm và 4 Ðại Ðội Biệt Kích Nhảy Dù của Liên Ðoàn 77. Lực lượng này đã được Sở Khai Thác Ðịa Hình/PTT thành lập vào cuối mùa Hè năm 1961 để hành quân tại vùng Khe Sanh – Lao Bảo (gần biên giới Lào-Việt). Các Toán Biệt Kích Lôi Vũ đã bắt đầu bí mật nhảy xuống lãnh thổ Lào vào tháng 8 năm 1961 để thám sát và ngăn chận những đường giây xâm nhập của Cộng Sản Bắc Việt từ Lào vào miền Nam Việt Nam.
Người “Biệt Kích Gián Ðiệp” thứ sáu của Sở Bắc xâm nhập miền Bắc bằng đường biển là Ðặng Chí Bình, bí danh Athena (một người rất nổi tiếng trong giới người Việt hải ngoại của chúng ta sau này qua bộ hồi ký Thép Ðen), đã dùng ghe Nautilus 4 xâm nhập vào Ðèo Ngang, Hà Tĩnh–Bắc Việt thi hành công tác vào ngày 28 tháng 5 năm 1962.
Như đã trình bày ở trên, Sở Bắc, đầu tiên là một cơ cấu của Sở Liên Lạc/PTT, được thành lập vào cuối năm 1957, có nhiệm vụ tổ chức hệ thống tình báo chiến lược của VNCH tại miền Bắc và quốc ngoại. Danh xưng “Biệt Kích Sở Bắc” đã bắt đầu từ đây. Sở Bắc được đặt dưới quyền chỉ huy và huấn luyện trực tiếp của Ðại úy Ngô Thế Linh.
Trong khoảng thời gian từ năm 1961 cho đến năm 1963, ngoài những cơ cấu về không vận, Sở Bắc còn có 2 Chi Cục Atlantic và Pacific, có nhiệm vụ tuyển mộ, huấn luyện và tổ chức các chuyến công tác xâm nhập miền Bắc bằng bộ vận và thủy vận. Trung úy Trần Bá Tuân là Chi Cục Trưởng Chi Cục Atlantic, đặc trách về bộ vận. Ðại úy Hà Ngọc Oánh làm Chi Cục Trưởng Chi Cục Pacific, đặc trách về hải vận. Sở Bắc, sau đó là Sở Khai Thác, kể từ ngày thành lập đến đầu năm 1964 đã được Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ (CIA) yểm trợ về tài chánh, phương tiện, vũ khí và các trang cụ đặc biệt trong mọi công tác tại miền Bắc dưới danh nghĩa là “Combined Studies Division” (CSD).
Ngay sau khi Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu bị sát hại trong cuộc đảo chánh của các tướng lãnh ngày 1/11/1963, Bộ Tổng Tham Mưu liền bổ nhiệm Trung tướng Lê Văn Nghiêm làm tư lệnh Lực Lượng Ðặc Biệt và chuẩn bị di chuyển đơn vị ra đồn trú tại Nha Trang. Trong thời gian này, Ðại tá Trần Văn Hổ được Bộ Tổng Tham Mưu đề cử làm Trưởng Sở Bắc. Mặc dù Bộ Tư Lệnh LLÐB rời ra Nha Trang nhưng Sở Bắc vẫn đóng tại Sài Gòn và vẫn duy trì mọi hoạt động như cũ. Ngày 1/1/1964, Sở Bắc được cải danh thành Sở Khai Thác, trực thuộc văn phòng Ðại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH.
Sau ngày 1/11/1963, Ðại tướng Dương Văn Minh ra lệnh hủy bỏ toàn bộ hệ thống Ấp Chiến Lược tại miền Nam Việt Nam, cộng thêm vào đó là những xáo trộn về chánh trị và quân sự (đảo chánh, chỉnh lý, v.v.) đã là một món qùa bằng vàng cho Cộng Sản Bắc Việt lúc bấy giờ. Tại miền Nam, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và các lực lượng du kích của Việt Cộng bắt đầu hoạt động mạnh tại các vùng nông thôn. Trong thời gian này đã có những trận đánh lớn cấp Tiểu Ðoàn trở lên giữa QLVNCH và Việt Cộng. Thêm vào đó, qua những tin tức tình báo, qua các cung từ của tù binh là bộ đội Bắc Việt, cùng với những tin tức thu lượm được từ vệ tinh và không ảnh, hai chính phủ VNCH và Hoa Kỳ đều nhận thấy rằng Bộ Ðội Cộng Sản Bắc Việt đã gia tăng sự xâm nhập vào miền Nam theo hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh, xuyên qua lãnh thổ Lào và hải cảng Kongpong Cham (Sihanouk Ville) tại Campuchia. Bắc Việt đã thiết lập một số căn cứ địa dọc biên giới Lào-Việt và Miên-Việt. Tồn trữ rất nhiều vũ khí, đạn dược cùng quân trang quân dụng và thực phẩm tại các căn cứ này. Ngoài ra, còn có một ống dẫn dầu từ Bắc vào Nam để tiếp tế nhiên liệu cho các quân xa và thiếp giáp của Cộng Sản Bắc Việt sau này.
Ðể theo dõi và khám phá các đường dây xâm nhập hầu ngăn chận những hoạt động quân sự của Bắc Việt, đồng thời đánh phá cùng khuấy rối hậu phương của địch tại miền Bắc Việt Nam trên cả hai địa bàn chính trị và quân sự, chính phủ Hoa Kỳ và VNCH, nhất là Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ và Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH đã chấp thuận cải danh Sở Kỹ Thuật thành Nha Kỹ Thuật (Strategic Technical Directorate), nhưng vẫn trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu. Danh xưng Nha Kỹ Thuật chỉ là tên vỏ bọc (cover name) của một cơ quan tình báo chiến lược tối mật của VNCH. Các hoạt động của cơ quan này chỉ được báo cáo cho Ðại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH mà thôi. Vị Giám Ðốc đầu tiên của Sở Kỹ Thuật/Nha Kỹ Thuật là Ðại tá Trần Văn Hổ và vị Giám Ðốc cuối cùng của Nha Kỹ Thuật là Ðại tá Ðoàn Văn Nu (1969-1975).
Sau khi cải danh Sở Kỹ Thuật thành Nha Kỹ Thuật, Bộ Tổng Tham Mưu cho thành lập các đơn vị sau đây để hoạt động, kể từ ngày 1/4/1964. Ðó là: Sở Liên Lạc, Sở Phòng Vệ Duyên Hải và Sở Tâm Lý Chiến. Cũng cần nói thêm ở đây rằng vào mùa Hè năm 1962, Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ (CIA) đã đồng ý chuyển giao những chương trình hoạt động của CIA tại Ðông Nam Châu Á (Southeast Asian Program) cho quân đội trong vòng 18 tháng. Tuy nhiên, chương trình chuyển giao này mãi cho đến đầu tháng 2 năm 1964 mới được thực hiện.
Song song với việc thành lập Nha Kỹ Thuật/BTTM, chính phủ Hoa Kỳ cũng thành lập một cơ quan đối nhiệm (counterpart organization), lấy tên là SOG (Studies and Observations Group). Cơ quan này có nhiều chương trình khác nhau gọi là OPLAN. Các hoạt động tình báo chiến lược dài hạn tại miền Bắc Việt Nam nằm trong chương trình OPLAN-34. Những hoạt động tại biên giới Lào-Việt và Miên-Việt sau này được đặt trong chương trình OPLAN-35, v.v. Vị Chỉ Huy Trưởng (hay Chief SOG) đầu tiên của cơ quan này là Ðại tá Clyde Russel. Cơ quan SOG không trực thuộc MACV (Military Assistance Command Vietnam) mà trực thuộc Bộ Tham Mưu Liên Quân (Joint General Staff) ở Pentagon. Riêng các hoạt động của SOG chỉ được thuyết trình về các công tác tối mật cho 5 giới chức cao cấp của MACV sau đây mà thôi:
1. Thống tướng Westmoreland (hay vị kế nhiệm)
2. Tham Mưu Trưởng (Chief of Staff)
3. Trưởng Phòng 2 (J-2)
4. Tư Lệnh Ðệ Thất Không Lực Hoa Kỳ (Seventh Airforce Commander)
5. Tư Lệnh Hải Quân Hoa Kỳ tại Việt Nam (U.S. Naval Forces, Vietnam).
Từ năm 1964 cho đến năm 1972, SOG được đặt dưới quyền chỉ huy của các vị Chỉ Huy Trưởng sau đây:
1. Ðại tá Clyde Russel (1964)
2. Ðại tá Donald D. Blackburn (1965-1966)
3. Ðại tá John K. Singlaub (1966-1968)
4. Ðại tá Steve Cavanaugh (1968-1970)
5. Ðại tá John Sadler (1970-1972).
Các Ðơn Vị Trực Thuộc Nha Kỹ Thuật / BTTM / QLVNCH

A) Sở Liên Lạc (Liaison Service / OPLAN-35- MACSOG)


Đại tá Hồ Tiêu (đứng bên trái).
Ðầu năm 1964, để chuẩn bị thành lập Sở Liên Lạc/NKT, Ðại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng/QLVNCH đã bổ nhiệm Ðại tá Hồ Tiêu cùng một số sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc Lữ Ðoàn Dù thành lập Bộ Chỉ Huy và Ðại Ðội Công Vụ. Song song với sự thuyên chuyển này, BCH/NKT và Sở Liên Lạc (SLL) đã phối hợp để tuyển chọn một số sĩ quan (SQ) của trường Võ Bị Ðà Lạt, trường Sĩ quan Trừ Bị Thủ Ðức, cùng một số hạ sĩ quan (HSQ) của trường Hạ sĩ quan Ðồng Ðế (Nha Trang) do Phòng 1/SLL tuyển chọn về phục vụ tại SLL. Ngoài ra, SLL cũng xúc tiến việc tuyển mộ một số Biệt Kích Quân (BKQ) để thành lập các toán thám sát và các Chiến Ðoàn Xung Kích.

Hầu hết các SQ, HSQ, Binh sĩ và BKQ vừa mới tuyển mộ đều được gởi ra Trung Tâm Huấn Luyện Yên Thế (sau này là Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng) để thụ huấn các lớp học căn bản về thám sát và nhảy dù. Sau khi hoàn tất việc huấn luyện, tất cả các khóa sinh phải trở về đơn vị để thành lập các toán thám sát. Về phía Việt Nam, mỗi toán gồm 12 toán viên, do một sĩ quan cấp bậc Chuẩn úy hoặc Thiếu úy làm Toán Trưởng. Các toán viên là HSQ, Binh sĩ và BKQ. Toán sẽ được gởi đi thực tập hành quân sau khi thành lập. Mỗi toán phải trải qua 2 cuộc thực tập hành quân tại ngoại biên và 2 cuộc thực tập hành quân tại các mật khu của Việt Cộng tại nội địa. Sau khi toán được đánh giá, sẽ tham dự các cuộc hành quân chính thức. Tùy theo nhu cầu chiến trường, mỗi toán có thể được tách ra làm 2. Do đó, khi đi hành quân mỗi toán có thể chỉ có 6 toán viên mà thôi.

Ban đầu, SLL/NKT được tổ chức như sau:

A) BỘ CHỈ HUY VÀ ÐẠI ÐỘI CÔNG VỤ
Ðồn trú ở Sài Gòn, đặt tại doanh trại cũ của SLL/PTT, cạnh sân bay quân đội và Bộ Tổng Tham Mưu.
a) Chiến Đoàn I Xung Kích
• Bộ Chỉ Huy
• 10 Toán Thám Sát (mỗi toán có 12 toán viên, do cán bộ Việt Nam làm Toán Trưởng)
• 3 Ðại Ðội Xung Kích (mỗi đại đội có 150 người, do cán bộ Việt Nam và cố vấn Hoa Kỳ đồng chỉ huy).
Chiến Ðoàn I Xung Kích đồn trú tại Ðà Nẵng. Vùng hành quân là biên giới Lào-Việt, thuộc Quân Khu I. Chiến Ðoàn I có tiền doanh (Forward Operation Base – FOB) đặt tại Phú Bài và các căn cứ xuất phát (CCXP) lưu động (Mobile Launching Team – MLT) tại Khâm Ðức, A-Shau, A-Lưới, Quảng Trị, Mai Lộc, v.v.
b) Chiến Đoàn II Xung Kích
• Bộ Chỉ Huy
• 10 Toán Thám Sát (mỗi toán có 12 toán viên, do cán bộ Việt Nam làm Toán Trưởng)
• 3 Ðại Ðội Xung Kích (mỗi đại đội có 150 người, chia thành Ban Chỉ Huy và 4 Trung Ðội, kể cả 1 Trung Ðội súng nặng, do cán bộ Việt Nam và cố vấn Hoa Kỳ đồng chỉ huy).
Chiến Ðoàn II Xung Kích đồn trú tại Kontum. Chiến Ðoàn này có 1 Ðài Tiếp Vận Truyền Tin, đặt trên một đỉnh núi tại biên giới Lào-Việt và được đặt tên là G.5 hay Leghorn, và các CCXP lưu động tại Dakto, Ðức Cơ, Ðức Lập, v.v. đặt cạnh các trại biên phòng của Lực Lượng Ðặc Biệt (LLÐB). Vùng hành quân của Chiến Ðoàn II Xung Kích là vùng biên giới Lào-Việt, thuộc Quân Khu II và nhất là vùng 3 biên giới (tam biên).
c) Chiến Đoàn III Xung Kích
• Bộ Chỉ Huy
• 10 Toán Thám Sát (mỗi toán có 12 toán viên, do cán bộ Việt Nam làm Toán Trưởng)
• 3 Ðại Ðội Xung Kích (mỗi đại đội có 150 người, chia thành Ban Chỉ Huy và 4 Trung Ðội, kể cả 1 Trung Ðội súng nặng, do cán bộ Việt Nam và cố vấn Hoa Kỳ đồng chỉ huy).
Chiến Ðoàn III Xung Kích đồn trú tại Ban Mê Thuột. Vùng hành quân là vùng biên giới Miên-Việt, thuộc lãnh thổ Quân Khu III. Chiến Ðoàn này cũng có các căn cứ xuất phát lưu động tại Quản Lợi, Sông Bé, Tống Lê Chân, Kà-Tum, v.v.
Thêm vào đó, mỗi Chiến Đoàn đều có một Đại Đội An Ninh, có trách nhiệm canh gác và phòng thủ. Cơ cấu tổ chức này có từ năm 1968 đến 1970, và sau đó giảm dần quân số cho đến năm 1972 thì chấm dứt. Như đã trình bày ở trên, mỗi Chiến Đoàn đều có 1 đến 2 Căn Cứ Xuất Phát và nhiều căn cứ yểm trợ. Tùy theo nhu cầu của mục tiêu, các CCXP và yểm trợ này cũng lưu động theo mục tiêu hành quân.
Ngoài ra, cơ quan đối nhiệm của Nha Kỹ Thuật (MACSOG) cũng thành lập cạnh mỗi Chiến Ðoàn Xung Kích của SLL/NKT một bộ phận tương ứng gọi là “Command and Control”, như cạnh CÐ I Xung Kích là “Command and Control North – CCN”, cạnh CÐ II Xung Kích là”Command and Control Center – CCC” và cạnh CÐ III Xung Kích là “Command and Control South – CCS”. Ngoài Bộ Chỉ Huy, phía Hoa Kỳ cũng có 20 toán hỗn hợp (Hoa Kỳ + Việt Nam + Thượng hoặc Nùng). Các toán trưởng, toán phó và hiệu thính viên đều là các SQ và HSQ nhiều kinh nghiệm của LLÐB Hoa Kỳ tình nguyện. Mỗi toán đều có 1 thông dịch viên và 2 toán viên người Việt, Thượng hoặc Nùng. Các Ðại Ðội Xung Kích hỗn hợp được gọi là “Exploitation/Reactionary Company”. Các Ðại Ðội Trưởng đều là SQ Hoa Kỳ (cấp đại úy). Tùy theo nhu cầu, tại mỗi Chiến Ðoàn còn có các Ðại Ðội Dân Sự Chiến Ðấu (DSCÐ) Nùng đảm trách việc canh gác và phòng thủ doanh trại. Tại các tiền doanh (FOB) hay căn cứ xuất phát cũng đều có các SQ và HSQ Hoa Kỳ hoạt động chung với SQ và HSQ cán bộ Việt Nam Cộng Hòa.
Ðể đáp ứng nhu cầu hành quân của SLL/NKT, Bộ Tổng Tham Mưu và Bộ Tư Lệnh Không Quân tăng phái thường xuyên cho SLL/NKT 1 máy bay C-47 và 1 phi đoàn trực thăng (Phi Ðoàn 219), và đồng thời biệt phái một số phi cơ quan sát (U-17) thuộc Phi Ðoàn 110 để bay không thám (Visual Recon). Hai Phi Ðoàn 219 và 110 đều đồn trú tại Ðà Nẵng. Hằng ngày, các phi đoàn này đều có một số máy bay trực thăng hoặc U-17 túc trực tại các phi trường hoặc tại các Chiến Ðoàn liên hệ. Vị Chỉ Huy Trưởng đầu tiên của Phi Ðoàn 219 là Ðại úy Ðặng Văn Phước. Vị Chỉ Huy Trưởng cuối cùng của PÐ-219 là Trung tá Nguyễn Văn Nghĩa (chết trong tù của CS tại Cao Bắc Lạng, Bắc Việt Nam năm 1977). Kể từ ngày 1/1/1971, SLL/NKT được tái tổ chức như sau:
• Bộ Chỉ Huy và Ðại Ðội Công Vụ đồn trú tại Sài Gòn (trụ sở cũ).
• Ðoàn 1 Liên Lạc do Thiếu tá Tống Hồ Huấn làm Chỉ Huy Trưởng và đồn trú tại Biên Hòa. Ðoàn 1 Liên Lạc được tăng phái cho Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn III/Quân Khu 3 và hoạt động trong vùng lãnh thổ của QK3.
• Ðoàn 2 Liên Lạc do Thiếu tá Lê Minh làm Chỉ Huy Trưởng. Ðoàn này trước tiên đồn trú tại Kontum rồi sau đó dời qua Pleiku (1973). Ðoàn 2 Liên Lạc được tăng phái cho BTL/QÐII/QK2 và hoạt động trong vùng lãnh thổ của QK2.
• Ðoàn 3 Liên Lạc do Trung tá Vũ Mạnh Cường và sau đó là Thiếu tá Ðoàn Kim Tuấn làm Chỉ Huy Trưởng. Ðoàn 3 Liên Lạc đồn trú tại Ban Mê Thuột và được tăng phái hành quân cho BTL/QÐII/QK2.
Vị Chỉ Huy Trưởng cuối cùng của Sở Liên Lạc/NKT là Ðại tá Nguyễn Minh Tiến. Sở Liên Lạc/NKT và các đơn vị trực thuộc vẫn tiếp tục hành quân cho đến sáng ngày 30 tháng Tư năm 1975, sau khi Tổng Thống Dương Văn Minh, Tổng Tư Lệnh tối cao của QLVNCH tuyên bố đầu hàng CSBV mới chấm dứt!


Trung tá Trần Bá Tuân.
B) SỞ PHÒNG VỆ DUYÊN HẢI (Coastal Security Service)
Kể từ ngày thành lập, Sở Bắc, ngoài những bộ phận không vận có trách nhiệm tổ chức các cuộc xâm nhập Bắc Việt bằng đường hàng không còn có 2 chi cục trực thuộc, đó là Chi Cục Atlantic, chuyên trách việc tuyển mộ, huấn luyện và tổ chức các chuyến công tác xâm nhập lãnh thổ Bắc Việt bằng đường bộ, xuyên qua Lào và vùng Phi Quân Sự. Chi cục này đồn trú tại Huế và do Trung úy Trần Bá Tuân làm Chi Cục Trưởng.
Ðôi lúc vì nhu cầu, chi cục này cũng cho toán xâm nhập Bắc Việt bằng đường thủy qua sự phối hợp và phương tiện chuyển vận của Chi Cục Pacific. Chi Cục Pacific đồn trú tại Ðà Nẵng. Chi cục này có nhiệm vụ tuyển mộ, huấn luyện và tổ chức những chuyến xâm nhập Bắc Việt bằng đường biển. Chi cục này được trang bị một số thuyền máy gọi là Nautilus. Chi Cục Pacific do Ðại úy Hà Ngọc Oánh rồi đến Trung úy Nông An Pang làm Chi Cục Trưởng. Kể từ ngày thành lập cho đến tháng 4 năm 1964, cả hai chi cục này đều được CIA tài trợ dưới danh nghĩa của cơ quan Combined Studies Division (CSD), đồn trú tại Ðà Nẵng. Ðầu năm 1964, hai chi cục này được lệnh giải tán và toàn bộ sĩ quan, hạ sĩ quan được đưa vào Ðà Nẵng (trại Mỹ Khê) để chuẩn bị thành lập đơn vị mới.
Theo sự gia tăng cường độ của chiến tranh, Hoa Kỳ dự trù đưa sang Việt Nam một số chiến đỉnh tối tân để hoạt động tại vùng biển Bắc vĩ tuyến 17. Do đó, Sở Phòng Vệ Duyên Hải/Nha Kỹ Thuật (SPVDH/NKT – Coastal Security Service) được chính thức thành lập kể từ ngày 1/4/1964. Thiếu tá Ngô Thế Linh, Phó Giám Ðốc Nha Kỹ Thuật được đề cử giữ chức vụ Chỉ Huy Trưởng đầu tiên của SPVDH/NKT. Sở Phòng Vệ Duyên Hải/NKT được chính thức thành lập như sau:
a) Bộ Chỉ Huy
• Chỉ Huy Trưởng và văn phòng CHT (Ban Văn Thư)
• Chỉ Huy Phó
Ngoài ra còn có:
• Phòng 1 (Nhân Viên)
• Phòng 2 (Tình Báo)
• Phòng 3 (Hành Quân & Huấn Luyện)
• Phòng 4 (Tiếp Liệu & Tiếp Vận)
• Phòng An Ninh (An Ninh Quân Ðội – ANQÐ)
• Phòng 5 (Chiến Tranh Chính Trị – CTCT)
• Phòng 6 (Truyền Tin)
• Phòng Tài Ngân (Tài Ngân Ngoại Lệ)
b) Đại Đội An Ninh
Ðại Ðội này chịu trách nhiệm về an ninh cho toàn thể doanh trại của SPVDH.
c) Cù Lao Chàm gồm 2 trại:
• Trại Phượng Hoàng (Phoenix) – Nơi giam giữ và khai thác tù nhân. Người tù nhân cuối cùng rời Trại Phượng Hoàng vào ngày 22/10/1968.
• Trại DoDo – Do Sở Tâm Lý Chiến/Nha Kỹ Thuật (STLC/NKT) dùng để cho cơ quan bạn (Hoa Kỳ) ra công tác và các Toán Thẩm Vấn của STLC khai thác và thu thập các tin tức có liên quan đến chính trị, xã hội và tôn giáo tại miền Bắc để cho Ðài Gươm Thiêng Ái Quốc/STLC và Ðài Tiếng Nói Tự Do/STLC sử dụng. Ðây cũng là nơi huấn luyện các mật báo viên dài hạn (Sleeping Agent) về chủ trương và đường lối hoạt động của Phong Trào Gươm Thiêng Ái Quốc.
d) Lực Lượng Biệt Hải (Sea Commandos Force)
Song song với việc thành lập Bộ Chỉ Huy SPVDH, Sở cũng xúc tiến việc tuyển mộ, huấn luyện và trang bị cho các Toán Biệt Hải để đảm trách các công tác được giao phó. Lực Lương Biệt Hải (LLBH/SPVDH) được tổ chức thành các toán và đồn trú tại các trại được xây dựng riêng rẽ từ chân núi Non Nước đến chân núi Sơn Trà như sau:
• Trại 1 – Toán Romulus gồm 50 sĩ quan & hạ sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến/QLVNCH do Thiếu úy Dương Văn Hưng và Nguyễn Văn Ngộ chỉ huy.
• Trại 2 – Toán Athena gồm 50 SQ & HSQ thuộc Lực Lượng Người Nhái/Hải Quân VNCH do Hải Quân Ðại úy Lâm Nhựt Ninh chỉ huy.
• Trại 3 – Toán Nimbus gồm 45 SQ & HSQ/QLVNCH do Thiếu úy Nguyễn Hữu Hà (Hoàng) chỉ huy.
• Trại 4 – Toán Cumulus gồm có khoảng 40 quân nhân và Biệt Kích

Quân (BKQ – Dân Sự) do Thiếu úy Nguyễn Tử Nha (Trang) chỉ huy.
• Trại 5 – Toán Mercury gồm 40 BKQ Dân Sự do Thiếu úy Nguyễn Bá Lộc chỉ huy.
• Trại 6 – Toán Vega gồm 35 nhân viên hải thuyền do Hải Quân Ðại úy Trịnh Hào Hiệp thuộc Lực Lượng Người Nhái/Hải Quân VNCH chỉ huy.
• Trại 7 – Bộ Chỉ Huy Ðại Ðội An Ninh, bãi thực tập phá hoại và bãi thực tập nhảy dù của SPVDH, kho đạn, kho chất nổ và hồ tắm (huấn luyện bơi lội và lặn bình hơi).
• Trại 8 – Toán Cancer gồm 6 nhân viên người nhái do Thiếu úy Nguyễn Thanh Hoài kiêm nhiệm.
• Trại Mỹ Khê (Trung Tâm Huấn Luyện 6)
• Bộ Chỉ Huy LLBH
• Cư xá của Huấn Luyện Viên Hoa Kỳ
• SEAL và TQLC
• Cư xá Sĩ quan và Hạ sĩ quan độc thân của QLVNCH
• Thông Dịch Viên
• Câu Lạc Bộ và nhà ăn của các cán bộ Việt-Mỹ
• Kho tiếp liệu, đạn dược, vũ khí, máy đẩy tầu, kho để thuyền cao su, tầu ngầm cá nhân, v.v.
• Trại Huấn Luyện Chim Bồ Câu Truyền Tin
• Trung Ðội An Ninh & Phòng Thủ.
• Trại 9 – Khu Cấm

Cuối năm 1966 và đầu năm 1967, khi toàn thể doanh trại của LLBH được bàn giao lại cho Ðệ Tam Lực Lượng Thủy Bộ TQLC Hoa Kỳ (III MAF) thì toàn thể LLBH về đồn trú chung tại một doanh trại, được xây cất ở chân núi Sơn Trà (Black Rock).
e) Lực Lượng Hải Tuần (Naval Patrol Force)
Lúc còn Chi Cục Pacific và được sự tài trợ của cơ quan CSD, vào khoảng cuối năm 1962 và đầu năm 1963, phía Hoa Kỳ đem sang Ðà Nẵng 3 chiến đỉnh “SWIFT” để thay thế cho các thuyền máy của chi cục này. Các thuyền trưởng đều là người Na Uy (Norway) và còn được gọi là “Vikings”, nhận công tác theo hợp đồng của CSD. Thủy thủ đoàn là các thủy thủ Việt Nam của các thuyền máy Nautilus. Các chiến đỉnh này đã thực hiện và hoàn tất một số công tác được giao phó một cách tốt đẹp.

Kể từ tháng 4 năm 1964, song song với việc thành lập Bộ Chỉ Huy SPVDH, phía Hoa Kỳ cũng thành lập một cơ quan đối nhiệm của Sở này, lấy tên là Naval Advisory Detachment (CSS/NAD), do Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương (CINPAC) bổ nhiệm. Vị Chỉ Huy Trưởng đầu tiên của NAD là Hải Quân Trung tá Owens. Vị Chỉ Huy Trưởng NAD cuối cùng là Hải Quân Trung tá Olson.

Ban đầu, cả 2 cơ quan CSS và NAD tạm thời đồn trú tại Số 52 Bạch Ðằng, Ðà Nẵng (White Elephant). Sau khi đã hoàn tất việc bàn giao giữa cơ quan CSD và NAD, một phần Bộ Chỉ Huy SPVDH gồm có: CHT, Ban Văn Thư, Phòng 1, Phòng 4, Phòng Tài Chánh, Phòng 5, Phòng An Ninh đều tạm thời đồn trú tại Camp Fay (tên của vị Chỉ Huy Trưởng NAD tử nạn xe hơi năm 1967), Sơn Trà. Các phòng tương đương của NAD cũng đồn trú tại doanh trại này. Riêng văn phòng CHP, Phòng 2, Phòng 3 và Phòng Truyền Tin thì đồn trú tại Lower Base chung với các phòng tương ứng của NAD.

Cũng kể từ tháng 4 năm 1964, phía Hoa Kỳ (NAD) đem sang cho SPVDH một số chiến đỉnh có tốc độ nhanh gọi là Patrol Torpedo Fast (PTF) từ căn cứ Subic ở Phi Luật Tân. Tổng số chiến đỉnh có khi lên đến 12 chiếc. Cũng trong thời gian này, BTL Hải Quân QLVNCH tăng phái cho SPVDH một số thủy thủ đoàn gồm SQ & HSQ thuộc Hải Quân/QLVNCH để điều khiển các chiến đỉnh này. Lực Lượng Hải Tuần gồm có từ 12 đến 14 Thủy Thủ Ðoàn. Mỗi Thủy Thủ Ðoàn có từ 12 đến 16 SQ & HSQ. Lực lượng này đồn trú tại Trại Trần Hưng Ðạo (còn gọi là Upper Base). Vị Chỉ Huy Trưởng đầu tiên của LLHT là Hải Quân Thiếu tá Diệp Quang Thủy. Ngoài ra, SPVDH còn có một toán bảo trì và sửa chữa chiến đỉnh gọi là MST (Mobil Support Team) do Ðại úy Cơ Khí Nguyễn Văn Quang, Sĩ quan Cơ Khí của SPVDH làm Toán Trưởng. Toán này có nhiệm vụ bảo trì và sửa chữa cấp 1 cho các chiến đỉnh mà thôi. Các tu bổ đại kỳ thì phải gởi chiến đỉnh sang Subic Bay tại Phi Luật Tân.

Kể từ tháng 6 năm 1966, Ðại tướng Cao Văn Viên, TTMT/QLVNCH đề cử Hải Quân Trung tá Hồ Văn Kỳ Thoại làm Chỉ Huy Trưởng SPVDH, thay thế Thiếu tá Ngô Thế Linh trở về BCH/NKT đảm nhận lại chức vụ Phó Giám Ðốc NKT. Cũng kể từ đó, toàn thể BCH/SPVDH di chuyển về đóng chung tại Lower Base. Kể từ ngày thành lập (1/4/1964) cho đến ngày 1/11/1968, khi Hoa Kỳ ngưng oanh tạc Bắc Việt, SPVDH/NKT đã thực hiện các loại hành quân sau đây:

• Những Cuộc Hành Quân lấy tên là LOKI:


Những cuộc hành quân này có mục đích bắt tù binh kể cả ngư dân và cán bộ Cộng Sản đưa về trại Phoenix để khai thác tin tức và cung cấp các mục tiêu quân sự tại Bắc vĩ tuyến 17 cho Hạm Ðội 7 Hoa Kỳ oanh tạc. Theo khả năng thì các chiến đỉnh PTF của SPVDH chỉ hoạt động lên tới vĩ tuyến 20 (Thanh Hóa), nhưng có đôi lần các chiến đỉnh này đã hoạt động lên đến tận Bạch Long Vỹ.

Trong suốt thời gian hoạt động, SPVDH đã bắt hơn 500 ngư dân, công an hoặc cán bộ các Hợp Tác Xã (HTX) ngư nghiệp tại miền Bắc. Sau khi đem về trại Phoenix để khai thác tin tức, cán bộ SPVDH tuyển chọn trong số này những người thù ghét chế độ Cộng Sản để huấn luyện họ làm mật báo viên dài hạn (Sleeping Agent), chờ ngày giải phóng miền Bắc. Sau khi hoàn tất việc huấn luyện, cách thu thập tin tức, cách viết mật thư, v.v. những người này được chuyển sang trại DoDo để nơi đây huấn luyện (indoctrination) về chủ trương và đường lối của Phong Trào Gươm Thiêng Ái Quốc do các cán bộ của STLC/NKT hướng dẫn dưới danh nghĩa Mặt Trận Giải Phóng Miền Bắc. Ngoài ra, các cán bộ STLC còn khai thác thêm các tin tức liên quan đến chính trị, xã hội và tôn giáo tại miền Bắc để hoạch định các công tác Tâm Lý Chiến của Ðài Tiếng Nói Tự Do và Ðài Gươm Thiêng Ái Quốc thuộc STLC/NKT.

Sau một thời gian, tất cả những người bị bắt đều được trả về miền Bắc và mỗi người đều được tặng một gói qùa gồm radio, mùng, mền, lưới cá và cước, v.v. do STLC/NKT thực hiện. Mỗi lần thả, họ đều được PTF chở ra vùng họ ở và cho xuống một chiếc thuyền thúng tròn, đan bằng tre để họ chèo vào bờ. Hầu hết những người được thả khi về đến địa phương đều bị Cộng Sản Bắc Việt tịch thu hết các qùa tặng, gây nhiều căm phẫn cho nhân dân và gia đình. Ðặc biệt, có người sau một thời gian lại cố ý ra biển để được bị bắt lại, bởi lẽ đời sống của người dân miền Bắc, đặc biệt là ngư dân, rất cực khổ và đói kém. Khi vào trại của Phong Trào Gươm Thiêng Ái Quốc (PTGTAQ) được ăn uống no đủ, áo quần mới và được đối xử tử tế, nên mặc dù trong thâm tâm vẫn nghĩ PTQGAQ là của miền Nam Việt Nam, nhưng họ rất có cảm tình, và đã cung cấp nhiều tin tức quân sự có giá trị cao.

• Những Cuộc Hành Quân lấy tên là CADO:

Do các toán Biệt Hải đổ bộ vào bờ để đột kích hoặc bắn phá các đồn Công An Biên Phòng tại các cửa biển hoặc các cơ sở trên đất liền. Cũng vào năm 1964, toán Biệt Hải Cumulus đã đổ bộ và bắn phá nhà máy nước tại Bầu Tró (Ðồng Hới), gây nhiều thiệt hại đáng kể cho nhà máy này. Nhiều lần khác, các toán Biệt Hải đã đổ bộ và bắt cóc cán bộ Bắc Việt trong các làng ven biển tại Ðồng Hới và Quảng Bình.

• Những Cuộc Hành Quân lấy tên là MINT:

Trong suốt thời gian Hoa Kỳ phong tỏa hải phận Bắc Việt và thả mìn ở cửa biển Hải Phòng, SPVDH liên tục hành quân từ vùng vĩ tuyến 17 đến Thanh Hóa. Trong thời gian này, SPVDH đã chận đánh các đoàn ghe máy Bắc Việt tiếp tế cho các hải đảo ngoài khơi duyên hải. Ðặc biệt là các chiến đỉnh của SPVDH đã đánh tan một đoàn tiếp tế của Bắc Việt cho đảo Hòn Cọp, tich thu rất nhiều vũ khí và quân dụng, trong đó có một khẩu 82ly không giật của Nga Sô, loại vũ khí được tịch thu lần đầu tiên tại chiến trường Việt Nam lúc bấy giờ.

• Các Cuộc Hành Quân Tâm Lý Chiến:

Sở Tâm Lý Chiến/NKT thực hiện các loại truyền đơn dưới danh nghĩa của PTGTAQ và các gói qùa tặng. Truyền đơn do STLC thực hiện gồm có 2 loại. Một loại thả theo các gói qùa. Loại kia do súng cối 81ly đặt trên các PTF bắn vào bờ. Số truyền đơn và qùa tặng được chuyển từ STLC ra cho SPVDH. Sở này dùng các chiến đỉnh PTF để thả các gói qùa trên biển về phía Bắc vĩ tuyến 17, hoặc dùng súng cối 81ly bắn vào bờ.

• Cuộc Hành Quân Ðặc Biệt tên là LURE:

Truyền đơn thả theo các gói qùa trên biển của Phong Trào Gươm Thiêng Ái Quốc kêu gọi các tầu của Bắc Việt trốn vào miền Nam Việt Nam. SPVDH dùng một ghe máy có tên là Nautilus (NI) thả neo túc trực tại phía Nam vĩ tuyến 17. Trường hợp tầu của Hải Quân Bắc Việt vượt tuyến vào Nam đầu thú sẽ được cán bộ và thủy thủ đoàn của chiếc NI đón tiếp. Ngoài phần thưởng đặc biệt dành cho thuyền trưởng và thuyền phó, mỗi thủy thủ đều được Chính Phủ VNCH lo cho chỗ ăn, chỗ ở và mỗi người đều được thưởng 100 (một trăm) lượng vàng để sinh sống. Cuộc hành quân này kéo dài gần 3 tháng mới chấm dứt.

Sau ngày Hoa Kỳ ngưng oanh tạc Bắc Việt vào năm 1968, SPVDH được tăng phái hành quân cho Quân Ðoàn II và Quân Ðoàn IV – Quân Khu IV, hoặc tham dự những công tác cứu phi công Hoa Kỳ bị bắn rơi trong và ngoài lãnh thổ VNCH. Kể từ tháng 4 năm 1972, sau khi có lệnh thượng cấp Hải Quân hóa toàn bộ SPVDH thì các SQ và HSQ Lục Quân được thuyên chuyển về BCH/NKT và các Sở/Ðoàn trực thuộc. Riêng các BKQ Dân Sự thì một số tình nguyện cải tuyển qua QLVNCH và vẫn phục vụ tại các Sở/Ðoàn nói trên. Một số khác không tình nguyện cải tuyển thì được trả về đời sống dân sự.

Qua những thành tích hoạt động và chiến tích của SPVDH, Sở này đã được 2 lần tuyên dương công trạng trước Quân Ðội, được ân thưởng 2 Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu và đơn vị được mang dây Biểu Chương mầu Anh Dũng Bội Tinh. Ngoài ra, năm 1967, SPVDH cũng được BTL Hải Quân Hoa Kỳ ân thưởng 1 huy chương “MERITERIOUS SERVICE”. Khi HQ Trung tá Hồ Văn Kỳ Thoại được vinh thăng Ðại tá và được bổ nhiệm chức vụ Tư Lệnh Vùng I Duyên Hải thì HQ Ðại tá Nguyễn Viết Tân thay thế cho đến ngày 30/4/1975.

Cũng xin nói thêm ở đây là sau khi chính phủ Hoa Kỳ ngưng oanh tạc Bắc Việt vào ngày 1/11/1968 thì mọi hoạt động của SPVDH tại Bắc vĩ tuyến 17 đều chấm dứt. Từ đó, Sở này được tăng cường phối hợp hành quân với các đơn vị bạn tại QÐ I và QÐ IV cho đến ngày 30/4/1975. Các chiến đỉnh SWIFT và PTF cũng được phía Hoa Kỳ chuyển về Subic Bay ở Phi Luật Tân trước ngày 30/4/1975.

Nói chung, kể từ ngày thành lập cho đến ngày Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam, SPVDH đã cùng các đơn vị khác của Nha Kỹ Thuật đóng góp nhiều chiến tích oai hùng và cũng là một nét son trong quân sử QLVNCH.
C) Sở Tâm Lý Chiến (Psychological Warfare Service)

Ðể đáp ứng nhu cầu đòi hỏi, Sở Tâm Lý Chiến/NKT đã sử dụng 3 hình thái chiến tranh sau đây trong cuộc chiến tranh ngoại lệ, hay chiến tranh bất qui ước (unconventional warfare) tại Việt Nam:
1. Chiến Tranh Tình Báo (Sở Liên Lạc, Sở Phòng Vệ Duyên Hải, Sở Công Tác)
2. Chiến Tranh Phá Hoại (Sở Liên Lạc, Sở Phòng Vệ Duyên Hải, Sở Công Tác)
3. Chiến Tranh Khuynh Ðảo.

Song song với sự hình thành của Sở Liên Lạc, Sở Phòng Vệ Duyên Hải, Nha Kỹ Thuật cũng thành lập Sở Tâm Lý Chiến (STLC/NKT). Ngoài những Phòng, Ban theo tổ chức của QLVNCH như Phòng Chính Huấn, Phòng Tâm Lý Chiến, Phòng Xã Hội, v.v. STLC/NKT còn tổ chức những cơ sở sau đây:
a) Ðài Tiếng Nói Tự Do (VOF – Tuyên Truyền Xám)
b) Ðài Gươm Thiêng Ái Quốc (SSPL Radio – Tuyên Truyền Ðen)
c) Phòng Công Tác – Phòng này có nhiệm vụ thực hiện các truyền đơn, giấy tờ giả, bạc giả và các gói qùa tâm lý chiến như: quần áo, mùng, mền, lưới cá, cước, lưỡi câu, radio, v.v. Những loại truyền đơn được bỏ vào đạn súng cối 81ly và các chiến đỉnh của SPVDH bắn vào bờ. Các gói qùa tâm lý chiến thì cũng do các chiến đỉnh thả dọc theo bờ biển trong vùng hành quân Bắc vĩ tuyến 17.
Ngoài ra, Phòng Công Tác/STLC cũng có các toán thẩm vấn gồm SQ và HSQ nhiều kinh nghiệm ra công tác tại trại DoDo (Cù Lam Chàm) để sang trại Phượng Hoàng (Phoenix) thẩm vấn các tù nhân về các tin tức liên quan đến chính trị, xã hội, tôn giáo và văn hóa, v.v. tại miền Bắc để cung cấp cho Ðài Tiếng Nói Tự Do (TNTD) và Ðài Gươm Thiêng Ái Quốc (GTAQ) trong các bản tin và bình luận của 2 đài này. Trong số tù nhân, nếu có những thành phần hợp tác và có tinh thần chống Cộng Sản, họ được tuyển mộ làm mật báo viên nằm vùng cho PTGTAQ và Mặt Trận Giải Phóng Miền Bắc. Sau khi được huấn luyện về tình báo, họ được chuyển sang trại DoDo để học tập về chủ trương và đường lối hoạt động của PTGTAQ, và tuyên thệ xin gia nhập Phong Trào trước khi được phóng thích trở về nguyên quán. Phía cơ quan đối nhiệm Hoa Kỳ cũng có các toán thẩm vấn tương tự và cũng công tác tại trại DoDo mà thôi. Những nhu cầu tin tức của họ đều được dịch ra Việt ngữ và được các toán thẩm vấn viên tại trại Phượng Hoàng thỏa mãn các nhu cầu đòi hỏi.

Trụ sở của STLC/NKT và 2 Ðài TNTD và Ðài GTAQ đều được đặt tại Số 7 Hồng Thập Tự, Sài Gòn. Ngoài ra, còn có các Trung Tâm Phát Tuyến ở Thủ Ðức, Thanh Lam (Huế), Cồn Tè (Thuận An, Huế) phát sóng bao phủ toàn miền Bắc cho đến tận biên giới Trung Hoa. Vị Chánh Sự Vụ đầu tiên của STLC/NKT là Thiếu tá Phạm Thế Phiệt. Vị Chánh Sự Vụ sau cùng là Trung tá Ðăng Xuân Thoại. Trung tá Thoại đã anh dũng tuẫn tiết bằng súng Colt-45 tại bệnh viện Saint Paul, Sài Gòn vào sáng ngày 30/4/1975, trước khi Cộng Sản Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam! Vị Quản Ðốc Ðài TNTD là Ðại úy Vũ Quang Ninh. Vị Quản Ðốc Ðài GTAQ là Ðại úy Ðỗ Bá Tư.

Sau khi MACSOG (Military Assistance Command – Studies and Observations Group) giải tán vào tháng 4/1972, một phần nhân viên của STLC/NKT được thuyên chuyển về Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị/QLVNCH (Cục Tâm Lý Chiến) và thành lập Ðài Mẹ Việt Nam kể từ tháng 7/1972. Phần SQ và HSQ còn lại của STLC/NKT thì di chuyển về trụ sở mới, cạnh BCH Sở Liên Lạc/NKT và sinh hoạt những công tác chính huấn, tâm lý chiến và xã hội của QLVNCH.

D) Trung Tâm Huấn Luyện Yên Thế (Camp Long Thanh Training Center)

Vì lý do an ninh, đầu năm 1961, Bộ chỉ huy Sở Khai Thác Ðịa hình/ Phủ Tổng Thống (Tiền thân của BTL/LLÐB sau này) quyết định dời Trại Huấn Luyện Biệt Kích Nhảy Dù Thủ Ðức - Ðồn trú cạnh sân bắn 25 của Liên Trường Võ Khoa Thủ Ðức - và cạnh xa lộ Thủ Ðức - Biên Hòa - lên đồn trú tại Long Thành. Trung Tâm được xây dựng cạnh đồn điền cao su Long Thành. Ở đó, có một sân bay do đồn điền cao su không sử dụng từ lâu. Sân bay này khiển dụng cho các loại máy bay C-119, C-47, C-123,và C-130, rất thuận tiện cho hoạt động của Sở. Trung Tâm được xây dựng trong một khu vực rộng lớn, có tường bao bọc chung quanh, và có thêm một hệ thống gồm 9 pháo đài phòng thủ, dọc theo các bức tường là các vị trí chiến đấu cá nhân. Trung Tâm có đầy đủ tiện nghi làm nơi ăn ở cho các HLV Việt-Mỹ, phòng học và nơi ở cho khóa sinh, nhà ăn, câu lạc bộ sĩ quan, hạ sĩ quan, nhà kho và nhà xếp dù, v.v. Trung Tâm có 2 Ðại Ðội Dân Sự Chiến Ðấu (DSCĐ) Nùng bảo đảm việc an ninh, phòng thủ và canh gác ngày đêm.


Trung úy Nguyễn Văn Vinh
(Cố Trung tá, người ngồi giữa hàng đầu, chắp tay, đeo kính trắng).
Toàn thể cán bộ Việt-Mỹ, các HLV, các toán hành quân của LÐ 77 (Lôi Vũ), các Trung Ðội Beo gấm, các đại đội Biệt Kích 1, 2, 3, 4 và gia đình đều đồn trú tại Trung Tâm này (có trại gia binh riêng). Trung Tâm được đặt tên là “Trung Tâm Huấn Luyện YÊN THẾ” để vinh danh Cụ Hoàng Hoa Thám, người được mệnh danh là “Con Hùm Xám YÊN THẾ”. Cụ Hoàng Hoa Thám xây dựng mật khu YÊN THẾ trong cuộc kháng chiến chống Pháp vào cuối thế kỷ thứ 19. Riêng phía Hoa Kỳ, họ vẫn giữ tên là: “CAMP LONG THÀNH TRAINING CENTER” cho đến khi triệt thoái vào tháng 4/1972. Trung Tâm được chỉ huy bởi Ðại úy Lê Ngọc Linh, Trưởng Trại Huấn Luyện Biệt Kích Nhảy Dù Thủ Ðức.

Trung Tâm Huấn Luyện cũng dành riêng một khu vực riêng biệt, có tường bao bọc chung quanh cho Sở Bắc. Khu vực này do Trung úy Nguyễn Văn Vinh (bí danh Dũng) đảm trách. Ðây cũng là nơi đồn trú cho các toán dài hạn của Sở Bắc để thay thế các nhà an toàn (Safe House) ở Sài gòn, Ðà Nẵng, Huế v.v., vừa tốn kém tiền thuê mướn, vừa bất tiện về vấn đề an ninh. Khu vực này là nơi đồn trú của Ðoàn Công Tác 68 sau này. Ngoài những môn học về tình báo do các cán bộ điều khiển (Case Officer) phụ trách, các môn học về Truyền Tin, Mật Mã (do Phòng Truyền Tin Sở Bắc đảm trách), các môn học khác như phá hoại, vũ khí cá nhân, cộng đồng của hai khối Tự Do & Cộng Sản, nhảy dù, v.v. đều do các HLV Việt-Mỹ của Trung Tâm đảm trách. Những Sĩ quan Huấn Luyện Viên về môn Phá Hoại sau đây là những người đầu tiên phục vụ tại Trung Tâm này:
1. Nguyễn Phan Tựu
2. Nguyễn Ngọc Trâm
3. Nguyễn Văn Lai
4. Nguyễn Phi
5. Nguyễn Ngọc Hòa (sau đổi qua binh chủng Biệt Ðộng Quân và đã anh dũng đền nợ nước).
Khi Sở Khai Thác Ðịa Hình/PTT chuyển hướng hoạt động về phía biên giới Lào-Việt, Tchepone, Khe Sanh, Lao Bảo và đường số 9 (Nam Lào), thì toàn bộ Trung Tâm này di chuyển ra Ðà Nẵng và đồn trú tại Trung Tâm Huấn Luyện Hòa Cầm. Toàn thể Trung Tâm Huấn Luyện Yên Thế bàn giao lại cho Sở Bắc và Nha Kỹ Thuật sau này. Ðại úy Nguyễn Văn Hy, thuộc Sở Bắc được đề cử giữ chức vụ CHT Trung Tâm. Trung Tâm Huấn Luyện Yên Thế được đổi tên là Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng cho đến cuối tháng 4/75. Vị CHT cuối cùng của Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng là Ðại tá Ngô Thế Linh. Năm 1969, người viết có tham dự một khóa hội luận (Seminar), tổ chức tại Trung Tâm để thảo luận về đề tài Ðiều Không Tiền Tuyến, hay Ðiều Khiển Oanh Kích (FAG – Forward Air Guide). Các sĩ quan tham dự gồm:
• Ðại úy Nguyễn Tử Nha (BCH/NKT)
• Ðại úy Nguyễn Phan Tựu (Ðoàn 68)
• Đại úy Trần Kim Khánh (Ðoàn 11)
• Và một số SQ/HLV của Trung Tâm (không nhớ tên).
Cuộc hội luận này nhằm đặt nền tảng cho bài học “Ðiều Khiển Oanh Kích” của Chương Trình Huấn Luyện căn bản thám sát (RT) sau này. Khi BTL Lực Lượng Ðặc Biệt di chuyển ra đồn trú tại Nha Trang thì Trung Tâm Huấn Luyện Hòa Cầm bàn giao lại cho BTL/QÐI/QK1 và về đồn trú tại Ðộng Ba Thìn, gần thị xã Cam Ranh cho đến ngày giải tán (31/12/1970).

E) Sở Không Yểm (Air Support Service)

Ngay sau khi Sở Bắc kiện toàn tổ chức, đào tạo các cán bộ và tuyển mộ được một số nhân viên công tác sẵn sàng hoạt động tại miền Bắc, kể từ năm 1961, Bộ Tư Lệnh Không Quân/QLVNCH đã biệt phái một phi đoàn vận tải (Phi Ðoàn Thần Phong 83) cùng với phi hành đoàn để hoạt động theo nhu cầu của Sở Liên Lạc/PTT (Sở Bắc). Một trong những phi công thả Toán Castor năm 1961 là Thiếu tá Nguyễn Cao Kỳ. Sau chuyến công tác thả tiếp tế cho Toán Castor do Trung úy Phan Thanh Vân lái bị bắn rơi ở Tô Hiệu, Bắc Việt vào đêm 3/7/1961 thì Sở Liên Lạc/PTT không còn dùng loại phi cơ C-47 để thả các toán Biệt Kích xuống miền Bắc nữa mà sử dụng các loại máy bay khác như C-46, C-54, v.v. do các phi công của Trung Hoa Quốc Gia (Ðài Loan) lái theo hợp đồng với cơ quan CSD của Hoa Kỳ.


Các phi công thuộc phi đoàn 219 (Sở Không Yểm/NKT).
Một trong những sĩ quan của BTL Không Quân/QLVNCH làm sĩ quan liên lạc cạnh Sở Bắc là Ðại úy Dư Quốc Lương. Sở Không Yểm/NKT được chính thức thành lập kể từ ngày 1/1/1971 cùng với sự cải tổ của Nha Kỹ Thuật và do Ðại tá Dư Quốc Lương làm Chỉ Huy Trưởng. Theo sơ đồ tổ chức, Sở Không Yểm/NKT gồm có:
• Bộ Chỉ Huy
• 1 Phi Ðoàn Vận Tải C-123
• 1 Phi Ðoàn Vận Tải C-130
• 1 Phi Ðoàn Quan Sát (O-1 hay V-17)
• 1 Phi Ðoàn Trực Thăng (Phi Ðoàn 219)
Ngoài ra, Hoa Kỳ cũng dự trù trang bị cho Phi Ðoàn 219 một số trực thăng võ trang loại Cobra, nhưng vì Chính Phủ Hoa Kỳ thay đổi chính sách đối với VNCH và chuẩn bị rút quân khỏi miền Nam Việt Nam nên việc chuyển giao các loại phi cơ nói trên cho Sở Không Yểm/NKT đã không được thực hiện.

Cũng xin nói thêm rằng: Kể từ đầu năm 1964, khi Sở Liên Lạc/NKT được thành lập và bắt đầu các cuộc hành quân ngoại biên, ngoại trừ PÐ-219 và PÐ-110 cung cấp một số phi cơ, phía Hoa Kỳ đảm nhận mọi vấn đề không vận cho các Chiến Ðoàn Xung Kích Việt-Mỹ, như máy bay quan sát O-2 để bay không thám (visual recon) và để tìm bãi đáp cùng hướng dẫn các trực thăng (Slick) thả và vớt toán, trực thăng võ trang (gunships), máy bay quan sát O-1 để tiếp vận truyền tin (radio relays), v.v. Phi cơ O-2 thường đồn trú tại sân bay Pleiku, phi cơ trực thăng thì đồn trú tại Nha Trang và phi cơ quan sát O-1 đồn trú tại Ban Mê Thuột, v.v. Khi cần, các phi cơ OV-10 ở Thái Lan (Nakhon Phanom và Udon) cũng như các phi cơ oanh kích của Hạm Ðội 7 Hoa Kỳ sẽ can thiệp ngay sau khi có sự yêu cầu. Ðó là về phía Hoa Kỳ.

Về phía VNCH thì Phi Ðoàn 219 (trực thăng) được tăng phái thường xuyên cho NKT và đồn trú tại Ðà Nẵng để cùng với phía Hoa Kỳ phụ trách các công tác xâm nhập (thả – insert) và triệt xuất (vớt – extract) các toán Biệt Kích. Ngoài ra, Phi Ðoàn Quan Sát 110 (đồn trú tại Ðà Nẵng) cũng biệt phái mỗi ngày một máy bay U-17 (Cessna) cho mỗi Chiến Ðoàn Xung Kích để bay không thám (visual recon – VR) và liên lạc với các toán đang hoạt động dưới đất. Thêm vào đó, BTL Không Quân VNCH cũng biệt phái cho NKT 4 máy bay khu trục loại A1-E, từ Biên Hòa lên túc trực tại sân bay Holloway (Pleiku) để can thiệp khi cần.

Những năm sau này, khi MACSOG giải tán và Hoa Kỳ rút quân không còn yểm trợ nữa thì các cuộc hành quân ngoại biên của NKT cũng chấm dứt. Riêng các cuộc hành quân nội địa thì ngoại trừ Phi Ðoàn 219, Không Quân VNCH còn tăng phái thêm các trực thăng của Phi Ðoàn 233 và 235 cùng các phi cơ quan sát của Phi Ðoàn 118 và 120, v.v. tùy theo vùng hành quân của Sở Liên Lạc/NKT và Sở Công Tác/NKT, hoạt động tại nội địa mà thôi.


Trung tá Đỗ Văn Tiên.

Sau cuộc đảo chánh quân sự của các tướng lãnh trong QLVNCH, cả hai chính phủ VNCH và Hoa Kỳ phát giác ra rằng Cộng Sản Bắc Việt đã gia tăng các hoạt động quân sự tại vùng phi quân sự từ Bắc vĩ tuyến 17 ra đến Ðồng Hới, chiếu theo tin tức tình báo nhận được từ không ảnh và vệ tinh chụp được cùng đối chiếu với cung từ của tù binh bộ đội CSBV. Do đó, NKT và MACSOG thành lập một chương trình lấy tên là STRATA (Short Term Road Watch And Target Acquisition), hoạt động ngắn hạn tại Bắc vĩ tuyến 17.

Chương trình này khởi động từ cuối năm 1966 với một vài toán đặc biệt do sự điều động trực tiếp của Bộ Chỉ Huy Nha Kỹ Thuật. Các toán này tạm thời đồn trú tại TTHL Yên Thế (Long Thành). Ðến cuối năm 1967 và đầu năm 1968, BCH/NKT đề cử Ðại úy Ðỗ Văn Tiên làm Chỉ Huy Trưởng và thành lập Ðoàn 11.

Song song với việc thành lập Ðoàn 11, phía Hoa Kỳ cũng thành lập một cơ quan đối nhiệm (counterpart organization) lấy tên là Monkey Mountain Forward Operations Base (MMFOB), trực thuộc MACSOG và đồn trú tại trại Fay (Camp Fay). Cơ quan này yểm trợ trực tiếp cho Ðoàn 11. Vùng hoạt động chính của Ðoàn 11 là Bắc vĩ tuyến 17. Mặc dù Ðoàn 11 đã sát nhập vào Sở Công Tác/NKT kể từ ngày 1/1/1971, tuy nhiên vì nhu cầu công tác, đôi lúc Ðoàn 11 cũng hành quân tại biên giới Lào-Việt (Praire Fire) và Miên-Việt (Salem House) theo sự điều động trực tiếp của BCH/NKT cho đến đầu năm 1972. Vị Chỉ Huy Trưởng cuối cùng của Ðoàn 11 là Thiếu tá Lê Hữu Minh.

G) Ðoàn 68

Trong năm 1968, BCH/NKT và MACSOG thành lập Ðoàn 68 do Trung tá Hà Ngọc Oánh làm Chỉ Huy Trưởng và đồn trú tại Sài Gòn. Công tác chính của Ðoàn 68 là tuyển mộ và huấn luyện các hồi-chánh-viên và tù binh của bộ đội CSBV trong các công tác tình báo đặc biệt, như xâm nhập vào các đơn vị bộ đội CSBV đang đóng quân tại Lào và Kampuchia để thu thập các tin tức quân sự, bắt tù binh, đánh cắp tài liệu và đặc lệnh truyền tin cùng bản đồ hành quân, phá hoại quân xa và quân dụng của địch, v.v. và nhất là chỉ định rõ các vị trí đóng quân của địch để Không Quân Hoa Kỳ oanh tạc. Những cán binh Cộng Sản nào tỏ ra hợp tác và hoàn tất được công tác giao phó sẽ nhận được các phần thưởng đặc biệt bằng hiện kim và được tiếp tục sử dụng trong những công tác tình báo khác. Các cán binh nào phản lại những cam kết hoặc tìm cách lẩn trốn thì sẽ được Ðoàn 68 sử dụng trong các công tác “lừa địch” (deception). Ðoàn 68 ngưng những hoạt động này khi Hiệp Ðịnh Paris được ký kết và chuẩn bị trao đổi tù binh.

Kể từ ngày thành lập cho đến khi MACSOG giản tán vào tháng 4 năm 1972, Ðoàn 68 hoạt động dưới sự giám sát trực tiếp của BCH/NKT, mặc dù trên danh nghĩa Ðoàn này nằm trong tổ chức của Sở Công Tác kể từ ngày 1/1/1971. Tiếp theo sau đó, Ðoàn 68 di chuyển về đồn trú tại TTHL Long Thành và được bổ sung thêm một số SQ & HSQ và được tăng phái cho BTL Quân Ðoàn III & Quân Khu III, hành quân trong vùng lãnh thổ của Quân Khu này cho đến khi bộ đội Cộng Sản chiếm Biên Hòa và Long Thành vào những ngày cuối tháng 4/1975. Vị Chỉ Huy Trưởng cuối cùng của Ðoàn 68 là Trung tá Trương Duy Tài.

H) Sở Công Tác (Special Mission Service)

Sở Công Tác/NKT được chính thức thành lập kể từ ngày 1/1/1971 để thay thế Sở Bắc. Vùng hoạt động của SCT/NKT là toàn lãnh thổ Bắc Việt, từ vĩ tuyến 17 lên đến biên giới Trung Hoa. Nhiệm vụ chính gồm có:
1) Xâm nhập, tuyển mộ, huấn luyện, trang bị và phát triển các căn cứ du kích trên toàn miền Bắc Việt Nam theo chỉ thị của BCH/NKT.
2) Thu thập các tin tức tình báo liên quan đến tình hình chính trị, quân sự, văn hóa, xã hội và tôn giáo trên toàn lãnh thổ miền Bắc.
3) Tấn công, đột kích hoặc phá hoại các cơ sở hạ tầng của CSBV như: đường giao thông, đường xe lửa, cầu cống, bến phà, bến tầu, sân bay, các kho tàng, các nơi đồn trú và các cơ sở quân sự của bộ đội CSBV.
4) Thi hành những công tác khác do BCH/NKT ấn định, căn cứ vào nhiệm vụ chính và vùng hoạt động.
Ðể thi hành nhiệm vụ của thượng cấp giao phó, Sở Công Tác/NKT được tổ chức như sau:
a) Đơn Vị Yểm Trợ
• Bộ Chỉ Huy
• Ðại Ðội Yểm Trợ & Công Vụ và Phân Ðội Tiếp Tế Thả Dù
• Phân Ðội Truyền Tin (Ðại Ðội Truyền Tin/NKT biệt phái)
• Phân Ðội Quân Y & Bệnh Xá (Ðại Ðội Quân Y/NKT biệt phái)
b) Đơn Vị Chiến Đấu
• Ðoàn Công Tác 11 (đã có sẵn, chỉ tăng thêm quân số)
• Ðoàn Công Tác 68 (đã có sẵn, chỉ tăng thêm quân số)
• Ðoàn Công Tác 71 (tân lập)
• Ðoàn Công Tác 72 (tân lập)
• Ðoàn Công Tác 75 (tân lập)
Mỗi Ðoàn Công Tác gồm Bộ Chỉ Huy Ðoàn như: B1, B2, B3, B4, Ban Chiến Tranh Chính Trị và 4 Liên Toán. Mỗi Liên Toán có 3 Toán Công Tác. Liên Toán Trưởng với cấp bậc Thiếu tá sẽ được học bổ túc về nghiệp vụ và sẽ trở thành Trưởng Công Tác (Case Officer) của mỗi công tác được giao phó. Theo nhiệm vụ và vùng hoạt động, mỗi Ðoàn Công Tác có thể cho xâm nhập từng Toán, một Liên Toán hoặc cả Ðoàn Công Tác. Khi đảm nhận công tác chính thức, SCT/NKT sẽ hoạt động dưới danh nghĩa của “Phong Trào Gươm Thiêng Ái Quốc”, nằm trong “Mặt Trận Giải Phóng Miền Bắc”. Ðể các Ðoàn của SCT/NKT hoạt động tại hậu phương địch một cách hiệu quả, mỗi Toán Công Tác gồm 12 SQ & HSQ được tổ chức như sau:
• Toán Trưởng – Ðại úy
• Toán Phó kiêm SQ/CTCT – Trung úy
• HSQ Tình Báo – Từ Thượng sĩ I đến Chuẩn úy
• HSQ Hành Quân – Từ Thượng sĩ I đến Chuẩn úy
• 2 HSQ Vũ Khí (vũ khí nặng) – Từ Thượng sĩ I đến Chuẩn úy
• 2 HSQ Phá Hoại – Từ Thượng sĩ I đến Chuẩn úy
• 2 HSQ Y Tá – Từ Thượng sĩ I đến Chuẩn úy
• 2 HSQ Truyền Tin & Mật Mã – Từ Thượng sĩ I đến Chuẩn úy

Trung tá Nguyễn Thanh Văn, CHT/ĐCT-75/SCT/NKT.

Ðầu tiên, tất cả các SQ & HSQ đều phải trải qua phần huấn luyện của một toán viên Lực Lượng Ðặc Biệt (dựa theo phần huấn luyện của LLÐB Hoa Kỳ) và nhảy dù. Sau đó, ngoại trừ SQ Toán Trưởng và Toán Phó sẽ được học bổ túc về nghiệp vụ, các toán viên khác sẽ được thụ huấn về chuyên môn như: tình báo, vũ khí (kể cả vũ khí nặng của hai khối Tự Do và Cộng Sản), phá hoại, truyền tin và mật mã, v.v. tại TTHL Quyết Thắng (Long Thành) hoặc gởi đi thụ huấn tại các quân trường chuyên môn khác của QLVNCH (tương đương với bằng B1 chuyên môn). Lúc trở về đơn vị sẽ được bổ sung và thành lập Toán. Mỗi Toán sẽ sống và sinh hoạt chung với nhau. Khi các Toán thi hành nhiệm vụ chính ở Bắc Việt Nam thì quy chế đặc biệt sẽ được BCH/NKT và BCH/SCT ấn định sau.

Song song với việc thành lập Sở Công Tác/NKT, cơ quan MACSOG cũng thành lập một cơ quan đối nhiệm của Sở này, lấy tên là “Special Mission Service Advisory Group – SMSAG”. Trên nguyên tắc, cơ quan này có nhiệm vụ phối hợp soạn thảo kế hoạch, yểm trợ về huấn luyện, phương tiện hành quân, tài chánh ngoại lệ và các trang bị hành quân đặc biệt theo nhu cầu của SCT/NKT khi cần.

Trên đây là theo kế hoạch tổ chức và sự thảo luận giữa BCH/NKT và MACSOG. Tuy nhiên, vì chính phủ Hoa Kỳ thay đổi chính sách về Việt Nam (Việt Nam hóa chiến tranh, Hoa Kỳ chuẩn bị rút quân khỏi miền Nam, Hiệp Ðịnh Paris ra đời, v.v.) nên nhiệm vụ chính của Sở Công Tác/NKT đã không thực hiện được. Từ giữa năm 1971 và cả năm 1972, các Ðoàn Công Tác của SCT/NKT cũng chỉ đảm nhận các cuộc hành quân nội địa và ngoại biên giống như các Ðoàn của Sở Liên Lạc/NKT mà thôi! Vào một ngày thượng tuần tháng 2/1972, cơ quan SMSAG thông báo cho BCH Sở Công Tác/NKT biết là kể từ ngày 20/2/1972, Hoa Kỳ sẽ không còn cung cấp phương tiện hành quân (Air Asset) cho SCT/NKT nữa. Tất cả mọi phương tiện hành quân của SCT phải xin phía chính phủ VNCH. Vào khoảng cuối tháng 2/1972, BCH Sở Công Tác/NKT được lệnh di chuyển BCH và Ðại Ðội Yểm Trợ Công Vụ ra đồn trú tại Ðà Nẵng vào ngày 31/3/1972 bằng tầu của Hải Quân VNCH!

Kể từ tháng 4/1972, BCH Sở Công Tác/NKT và các Ðoàn 11, 71 và 72 tăng phái cho BTL/QÐI hành quân tại lãnh thổ QK1. Ðoàn Công Tác 75 tăng phái hành quân cho BTL/QÐII và hành quân tại vùng lãnh thổ QK2. Ðoàn Công Tác 68 tăng phái cho BTL/QÐIII và hành quân tại lãnh thổ QK3. Sau cuộc rút quân từ Ðà Nẵng và Pleiku về Sài Gòn, SCT/NKT vẫn tăng phái cho BTL/QÐIII, hành quân ở vùng Biên Hòa và Ðồng Nai cho đến chiều ngày 29/4/1975.


Lữ Triệu Khanh (CVP/GÐ/NKT), 2 Sĩ Quan MACVSOG, Ðại Tá Ðoàn Văn Nu (Giám Ðốc NKT)
(Hình chụp tại Bộ Chỉ Huy MACVSOG của Thiếu Tá Lữ Triệu Khanh).

Vị Chỉ Huy Trưởng đầu tiên của SCT/NKT là Ðại tá Ngô Thế Linh và vị Chỉ Huy Trưởng cuối cùng của SCT/NKT là Ðại tá Ngô Xuân Nghị. Vì nhu cầu chiến lược, Sở Công Tác được thành lập để đảm nhận công tác thay thế Sở Bắc. Vùng hoạt động là Bắc vĩ tuyến 17, bao gồm toàn lãnh thổ Bắc Việt cho đến biên giới Trung Hoa. Tuy nhiên, vì chính phủ Hoa Kỳ thay đổi chính sách về Việt Nam nên các Ðoàn Công Tác của SCT/NKT không thực hiện được nhiệm vụ chính của mình đúng theo qui định của thượng cấp. Dù vậy, chiến sĩ các cấp của SCT/NKT cũng đã góp một phần không nhỏ, kể cả máu xương của mình, trong những chiến tích của NKT nói riêng và các Quân Binh Chủng bạn nói chung, đã chiến đấu rất anh dũng chống lại các lực lượng của Cộng Sản Bắc Việt để bảo vệ miền Nam Việt Nam cho đến những giờ phút sau cùng.

Như đã trình bày ở trên, Nha Kỹ Thuật được hình thành và phát triển do nhu cầu chiến lược của hai chính phủ VNCH và Hoa Kỳ. Do đó, kể từ đầu năm 1964 cho đến hết ngày 31/12/1970, tổ chức và danh xưng được thay đổi theo tình hình chính trị và quân sự đòi hỏi. Vào tháng 6/1970, theo văn thư chính thức của Bộ Tổng Tham Mưu/QLVNCH phổ biến thì Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Ðặc Biệt và các đơn vị trực thuộc sẽ chính thức giản tán vào ngày 31/12/1970. BTL/LLÐB sẽ chuyển cho Nha Kỹ Thuật/BTTM 1650 quân nhân gồm sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ của BTL/LLÐB, Ðại Ðội Tổng Hành Dinh LLÐB, Ðại Ðội Truyền Tin, Ðại Ðội Quân Y, các Toán C, các Toán B và Biệt Ðội Quân Cảnh 207.

Căn cứ vào số 1650 quân nhân các cấp do LLÐB chuyển, BCH/NKT tái tổ chức đơn vị kể từ ngày 1/1/1971 như sau:

BỘ CHỈ HUY / NKT
• Giám Đốc – Đại tá Đoàn Văn Nu
• Phó Giám Đốc – Đại tá Ngô Thế Linh (kiêm nhiệm)
• Phụ Tá Điều Hành – Đại tá Trần Xuân Đức
• Văn Phòng Giám Đốc – Đại úy Nguyễn Đình Phong
• Sở Hành Quân & Tình Báo
• Phòng Tình Báo
• Phòng Hành Quân & Huấn Luyện
• Phòng Truyền Tin
• Sở Hành Chánh & Tiếp Vận
• Phòng Nhân Viên
• Phòng Tài Chánh
• Phòng Tiếp Vận
• Sở Tâm Lý Chiến
• Phòng Chính Huấn
• Phòng Tâm Lý Chiến
• Phòng Xã Hội
• Phòng An Ninh
• Ðài Tiếng Nói Tự Do
• Ðài Gươm Thiêng Ái Quốc
• Phòng Công Tác
• Đại Đội Công Vụ/NKT
• Đại Đội Truyền Tin/NKT
• Đại Đội Quân Y/NKT
• Biệt Đội Quân Cảnh 207

a) Sở Liên Lạc / NKT
• Bộ Chỉ Huy
• Ðại Ðội Yểm Trợ & Công Vụ
• Ðoàn 1 / Liên Lạc
• Ðoàn 2 / Liên Lạc
• Ðoàn 3 / Liên Lạc
b) Sở Phòng Vệ Duyên Hải / NKT
• Sở Phòng Vệ Duyên Hải / NKT
• Bộ Chỉ Huy
• Ðại Ðội An Ninh
• Lực Lượng Biệt Hải
• Lực Lượng Hải Tuần
• Toán Bảo Trì & Sửa Chữa I Nhất Cấp
c) Sở Không Yểm / NKT
• Bộ Chỉ Huy
• Phi Ðoàn Vận Tải C-130
• Phi Ðoàn Vận Tải C-123
• Phi Ðoàn Quan Sát
• Phi Ðoàn Trực Thăng

Ghi Chú: Vì lý do Hoa Kỳ thay đổi chính sách về Việt Nam và chuẩn bị rút quân về Mỹ nên đã không bàn giao các loại phi cơ nói trên cho Sở Không Yểm. Chỉ có Phi Ðoàn 219 Trực Thăng là vẫn tăng phái cho Sở Không Yểm/NKT cho đến ngày 30/4/1975 mà thôi.
d) Sở Công Tác / NKT
• Bộ Chỉ Huy
• Ðại Ðội Yểm Trợ & Công Vụ
• Ðoàn 11/SCT
• Ðoàn 68/SCT
• Ðoàn 71/SCT
• Ðoàn 72/SCT
• Ðoàn 75/SCT
e) Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng (Long Thành)
• Bộ Chỉ Huy
• Khối Hành Quân & Huấn Luyện
• Khối Hành Chánh & Tiếp Vận
• Khối Chiến Tranh Chính Trị
Vào tháng 7/1970, Ðại tá Ðoàn Văn Nu, Giám Ðốc/NKT lên Dinh Ðộc Lập thuyết trình cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Tổng Tư Lệnh Tối Cao của QLVNCH về cơ cấu tổ chức của Nha Kỹ Thuật, được Tổng Thống chấp thuận và đặt tên cho NKT là Bộ Tư Lệnh Chiến Tranh Ngoại Lệ.

Cấp bậc và quyền hạn của Giám Ðốc NKT ngang với Tư Lệnh của Sư Ðoàn Bộ Binh cấp Thiếu tướng. Tuy nhiên, Ðại tá Giám Ðốc NKT xin Tổng Thống cho phép vẫn giữ danh xưng Nha Kỹ Thuật mà thôi vì lý do bảo mật công tác. Nha Kỹ Thuật BTTM QLVNCH vẫn duy trì các công tác của đơn vị cho đến sáng 30/4/1975 khi cùng các Quân Binh Chủng bạn bị bức tử mới chấm dứt./.

“Sự hy sinh của các chiến sĩ Nha Kỹ Thuật thực sự không thể diễn tả được bằng lời nói hay bằng ngòi viết. Họ là những anh hùng vô danh mà quốc gia Việt Nam đã không hề biết đến, vì họ đã hoạt động trong bóng tối, ngoài sự hiểu biết của mọi người. Họ đã âm thầm bảo vệ đất nước mà chính đất nước cũng chưa có một lời nào nhắc nhở hay vinh danh họ. Bây giờ, tuy đã trễ đối với đất nước Việt Nam, nhưng chúng ta hiện còn sống sót hôm nay không thể không nhắc nhở và vinh danh họ, ít nhất là trong tâm hồn và ý nghĩ của chúng ta.” (Trích đoạn từ Ðặc San NKT 2004 – Thiếu tá Lữ Triệu Khanh / CVP Giám Ðốc NKT / BTTM / QLVNCH).


Trần Kim Khánh / NKT BTTM / QLVNCH & Bùi Thượng Khuê Thế Hệ 2 NKT.

Trần Kim Khánh / NKT BTTM / QLVNCH &
Bùi Thượng Khuê Thế Hệ 2 NKT


Cùng hợp soạn
Mùa Hội Ngộ 2010


Lực lượng Đặc biệt
Việt Nam Cộng hòa


Huy hiệu.
Hoạt động19561970
Quốc giaFlag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Phục vụFlag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực VNCH
Quân chủngbiệt kích
Phân loạiQuân thường trực
Bộ phận củaARVN Joint General Staff Insignia.svg Bộ Tổng Tham mưu
Khẩu hiệu-Danh dự
-Dũng cảm
Tham chiếnchiến tranh phi quy ước
Các tư lệnh
Chỉ huy
nổi tiếng
-Lê Quang Tung
-Phan Đình Thứ
-Đoàn Văn Quảng
-Phạm Văn Phú
Lực lượng đặc biệt (Tiếng Anh: Army of the Republic of Vietnam Special Forces, ARVNSF) - viết tắt: LLDB - là một đơn vị quân sự tinh nhuệ đặc biệt của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Khởi đầu là các toán biệt kích được huấn luyện để hoạt động sâu trong vùng kiểm soát của đối phương, chủ yếu để làm các nhiệm vụ thu thập thông tin tình báo, bắt cóc, phá hoại các mục tiêu quân sự. Về sau, lực lượng này phát triển thêm thành đơn vị tác chiến, có vai trò như một binh chủng đặc biệt tinh nhuệ trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Tổ chức tiền thân

Tháng 2 năm 1956, sau khi tiếp nhận căn cứ GCMA (Groupement de Commandos Mixtes Aéroportés, Lực lượng Biệt kích Không vận Hỗn hợp)' của Pháp tại Nha Trang, với sự trợ giúp của Phái bộ Cố vấn Quân sự (Military Assistance Advisory Group-MAAG) Mỹ tại Việt Nam, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã cho thành lập Trung tâm Huấn luyện Biệt động đội, nhằm xây dựng cơ sở huấn luyện biệt kích cho Việt Nam Cộng hòa. Về tổ chức, Trung tâm này được đặt dưới quyền quản lý của Nha Tổng Nghiên Huấn, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
Cuối năm 1956, theo khuyến cáo của Cơ quan Tình báo Hoa Kỳ, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã giải thể Nha Tổng Nghiên Huấn[1]. Các bộ phận Tình báo Chiến lược và Phản gián được chuyển về cho Sở Nghiên cứu Chính trị Xã hội. Bộ phận Biệt kích được chuyển về cho một tổ chức mới là Sở Liên lạc, trực thuộc Phủ Tổng thống, ngân sách do Mỹ đài thọ. Đại tá Rogers là người đầu tiên được cử đến làm cố vấn cho Sở này, sau đó Đại tá Floyld Parker đến thay thế. Giám đốc và Phó giám đốc Nha Tổng Nghiên Huấn là Trung tá Lê Quang Tung và Đại úy Trần Khắc Kính được bổ nhiệm làm Giám đốc và Phó giám đốc Sở Liên lạc[1]. Tháng 4 năm 1960, Sở Liên lạc được đổi tên thành Sở Khai thác Địa hình. Tuy nhiên, chức năng, tổ chức và nhân sự của Cơ quan này vẫn không có gì thay đổi.

Hình thành Lực lượng Đặc biệt

Trên thực tế, Sở Khai thác Địa hình tập trung vào công tác tuyển mộ, huấn luyện biệt kích. Chính do nhiệm vụ này, trong các phòng chuyên môn, Phòng 45 hay Sở Bắc, phụ trách các hoạt động tung gián điệp biệt kích ra miền Bắc; và Phòng 55 hay Sở Nam, phụ trách các hoạt động biệt kích trong lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa, đóng một vai trò rất quan trọng. Ngoài ra, từ năm 1961, Sở còn thành lập thêm một số đại đội biệt kích dù biệt lập để làm thành phần hỗ trợ, ứng cứu cho những toán nhảy qua Lào hay ở những vùng biên giới nguy hiểm.
Bên cạnh đó, một nhiệm vụ khác, tuy không chính thức, nhưng được xem là ưu tiên nhất của Sở Liên lạc là chỉ huy lực lượng cơ động tinh nhuệ chuyên dùng để bảo vệ Phủ Tổng thống chống những cuộc đảo chính. Chính vì vậy, mặc dù các hoạt động tung gián điệp biệt kích ra miền Bắc tỏ ra kém hiệu quả, quân số của Liên đoàn Quan sát số 1 vẫn phát triển không ngừng. Tháng 11 năm 1961, Liên đoàn Quan sát số 1 được đổi tên thành Liên đoàn 77. Tháng 2 năm 1963, Liên đoàn 31 được thành lập. Ngày 15 tháng 3 năm 1963, Tổng thống Diệm ra quyết định thành lập Lực lượng Đặc biệt trên cơ sở bộ máy của Sở Khai thác địa hình và 2 đơn vị tác chiến là Liên đoàn Biệt kích 77 và 31. Về nguyên tắc, Lực lượng Đặc biệt được chuyển thuộc Bộ Quốc phòng, có quy mô tương đương cấp lữ đoàn, nhưng trên thực tế, Tổng thống có toàn quyền điều động đơn vị này thông qua một cơ quan chỉ huy trực tiếp là Phòng Liên lạc Phủ Tổng thống, mà thực chất chính là Bộ chỉ huy Lực lượng Đặc biệt, do Đại tá Lê Quang Tung làm Chỉ huy trưởng.

Năm biến cố 1963

Được xem là một đơn vị tinh nhuệ và tuyệt đối trung thành với Tổng thống, trong Biến cố Phật giáo, 1963, Lực lượng Đặc biệt được cố vấn Ngô Đình Nhu sử dụng như lực lượng xung kích tấn công các chùa, đặc biệt là chùa Xá Lợi. Mặc dù vậy, Lực lượng Đặc biệt hoàn toàn bị vô hiệu hóa trong đảo chính năm 1963 khi Chỉ huy trưởng Lê Quang Tung bị giết chết ngay khi cuộc đảo chính vừa nổ ra. Trước đó, bằng một thủ pháp nhỏ, các tướng lãnh tham gia đảo chính đã điều các đơn vị thuộc Lực lượng Đặc biệt ra khỏi Sài Gòn. Mất đi lực lượng cơ động trung thành và tinh nhuệ này, Tổng thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu không còn cách nào khác ngoài việc đào tẩu khỏi Dinh Độc Lập. Cả hai ông đều bị giết chết trong hoàn cảnh bí ẩn không lâu sau đó.

Trở thành Binh chủng

Sau đảo chính, Phòng Liên lạc Phủ Tổng thống bị giải tán. Lực lượng Đặc biệt cũng được phân chia thành nhiều đơn vị khác nhau. Sở Bắc được tách riêng để hình thành một cơ quan độc lập trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu. Phòng ban khác cũng được giải thể và phân bổ vào các cơ quan thuộc Bộ Quốc phòng. Riêng các đơn vị tác chiến được tập hợp để hình thành một đơn vị độc lập với bộ chỉ huy riêng.
Tháng 7 năm 1964, Liên đoàn 31 được đổi tên thành Liên đoàn 111 và Liên đoàn 77 được đổi tên thành Liên đoàn 301. Tất cả đều đặt dưới quyền Chỉ huy trưởng Lực lượng Đặc biệt.
Ngày 19 tháng 6 năm 1965, Liên đoàn Biệt kích 111 và 301 bị giải tán. Các đơn vị chiến đấu được sắp xếp lại để chính thức hình thành Binh chủng Lực lượng Đặc biệt, gồm một Bộ Tư lệnh, một Đại đội Tổng Hành dinh, một Trung tâm Huấn luyện, và 4 Bộ Chỉ huy (C) ở 4 Quân khu. Mỗi C có một số B và mỗi B có một số toán A quân số vào khoảng 12 người. Ngoài ra, các đại đội biệt kích dù độc lập cũng được tập hợp thành Tiểu đoàn 91 Biệt cách Dù, cũng được đặt dưới quyền điều động của Bộ Tư lệnh Lực lượng Đặc biệt. Tổng cộng quân số Lực lượng Đặc biệt vào khoảng 5.000 trong thời điểm đó.
Cũng từ thời điểm này, các đơn vị Lực lượng Đặc biệt của đồng minh Hoa Kỳ là Liên đoàn 1, sau đó là Liên đoàn 5 tham chiến tại chiến trường miền Nam. Lực lượng Đặc biệt của Việt Nam Cộng hòa cũng tổ chức các toán biệt kích nhỏ phối hợp với các toán biệt kích Mỹ hỗ trợ cho các trại Dân sự Chiến đấu dọc theo vỹ tuyến 17 và ranh giới giữa Nam Việt Nam với Lào, Campuchia. Từng toán một, được trang bị vũ khí hiện đại với chiến thuật trinh sát và đột kích các đơn vị của đối phương trong nhiệm vụ bảo vệ biên giới.
Ngày 1 tháng 4 năm 1968, Tiểu đoàn 91 Biệt cách Dù được đổi tên thành Tiểu đoàn 81 Biệt cách Dù. Một cơ quan tham mưu là Trung tâm Hành quân Delta được thành lập để giúp Bộ Tư lệnh Lực lượng Đặc biệt chỉ huy hành quân các toán biệt kích và đơn vị Biệt cách Dù.

Bị giải thể

Cuối tháng 12 năm 1970, do các hoạt động tung biệt kích ra miền Bắc hoặc các vùng biên giới do phía Quân đội Nhân dân Việt Nam kiểm soát không có hiệu quả, Lực lượng Đặc biệt bị giải tán. Các sĩ quan và binh lính được chuyển sang các đơn vị khác, chủ yếu về Lực lượng Biệt động quân. Riêng Trung tâm Hành quân Delta và Tiểu đoàn 81 Biệt cách Dù được sáp nhập lại để hình thành Liên đoàn 81 Biệt cách Dù. Huy hiệu của Lực lượng Đặc biệt cũng trở thành huy hiệu của Liên đoàn 81.

Danh sách các tư lệnh qua các thời kỳ

Stt Họ và tên Cấp bậc Tại chức Chú thích
1
Lê Quang Tung[2]
Võ khoa Thủ Đức K3p[3]
Đại tá[4]
3/1963-11/1963
Tư lệnh đầu tiên. Bị sát hại trong Đảo chính ngày 1/11/1963
2
Lê Văn Nghiêm
Võ bị Lục quân Pháp
Trung tướng
11/1963-2/1964

3
Phan Đình Thứ
Võ bị Lục quân Pháp
Đại tá
2/1964-8/1964
Tư lệnh lần thứ 1
4
Đoàn Văn Quảng
Võ bị Lục quân Pháp
Đại tá
8/1964-7/1969

5
Phan Đình Thứ
Đại tá
7/1969-1/1970
Tư lệnh lần thứ 2
6
Phạm Văn Phú
Võ bị Đà Lạt K8
Chuẩn tướng
1/1970-8/1970

7
Hồ Tiêu[5]
Võ bị Địa phương
Trung Việt K2 (Đập Đá Huế)
Đại tá
8/1970-12/1970
Tư lệnh cuối cùng

Chú thích

  1. ^ a ă Lữ Giang, "Ai đã giết anh em Đại tá Lê Quang Tung? Những câu hỏi và trả lời 47 năm sau".
  2. ^ Đại tá Lê Quang Tung, sinh năm 1919 tại Hương Trà, Thừa Thiên.
  3. ^ Xuất thân từ Trường Sĩ quan.
  4. ^ Cấp bậc khi nhậm chức.
  5. ^ Đại tá Hồ Tiêu, sinh năm 1922 tại Quảng Trị.

Xem thêm


Liên kết

  • Tucker, Spencer C. (2000). Encyclopedia of the Vietnam War. ABC-CLIO. ISBN 1-57607-040-9.
  • Lữ Triệu Khanh, "Lịch sử Nha Kỹ thuật"
  • Vũ Đình Hiếu, "Cuộc chiến bí mật"

Tham khảo

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.