Saturday, June 22, 2013

LỮ ĐOÀN 1 NHẢY DÙ TRONG NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG TẠI MIỀN NAM VIỆT NAM


 
                                        MŨ ĐỎ NGUYỄN VĂN ĐỈNH
                  
                                       Xin hãy coi đây như một nến hương lòng để ngậm ngùi
                                      tưởng nhớ những chiến hữu Nhảy Dù/LĐ1/ND+Thiết giáp
                                      tăng phái đã anh dũng chiến đấu, rồi hy sinh tại quê hương
                                      trong những ngày cuối để LĐ1/ND cùng một số Đồng bào
                                      và Đơn vị bạn ra đi an toàn đến bến bờ Tự Do.
                                                                                                                 NVĐ
 
Hơn một phần tư thế kỷ đã trôi qua tính từ ngày Miền Nam Việt Nam,  một số chiến hữu cũ thuộc Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù (LĐ1ND) do tôi chỉ huy trước năm 1975, có dịp gặp lại nhau tại Hoa Kỳ. Ngoài những hàn huyên mừng vui gặp lại, một số anh em vì còn ưu tư với qúa khứ “sống chết có nhau và ngày vội vả rời bỏ Đất Mẹ, mang nặng trong long đầy ấm ức ,tức tưởi”, vẫn còn một số thắc mắc nêu ra như:
 
    Đang tăng cường cho Sư Đoàn 18 Bộ Binh (SĐ18BB) phòng thủ tỉnh Long Khánh(cửa ngõ vào Sài gòn) một cách vững vàng, LĐ1ND đã chiến thắng và tiêu diệt gần 2 Trung đoàn của Công trường 7 Việt cộng (VC), tại sao lại phải rút về Phước Tuy?
    Đã bảo vệ Quốc lộ 15 (đường Sài gòn Vũng Tàu), đến khi Cộng quân chiếm Phước Tuy, với Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù (TĐND) và Chi đoàn (CĐ) Thiết quân vận(TQV) đã tái chiếm toàn bộ tỉnh lỵ, tại sao phải bỏ Phước Tuy để rút về Vũng Tàu?
  
  Vào ngày cuối cùng ở Gò Công (30-4-1975), khi không liên lạc được với Bộ tư lệnh Sư đoàn Nhảy dù.(Sài gòn) để nhận lệnh, tôi với tư cách Lữ đoàn trưởng có liên lạc được với Bộ tư lệnh Quân đoàn 4/Quân Khu IV để ngỏ hầu làm them một “cái gì” cho đất nước không?
 
   Tại sao khi cùng Lữ đoàn lên tàu để ra đi, tôi và Thiếu tá Ngô Tùng Châu, Tiểu đoàn
 trưởng TĐ1ND lại nhảy xuống một chiếc ghe nhỏ bơi vào bờ? Và… vân…vân…
 
   Những thắc mắc đó của các chiến hữu cấp dưới đối với BCH/HQ trên, tương tự như
 những thắc mắc của biết bao người Quốc gia mình tìm hiểu về số phận của từng đơn vị
nhỏ hơặc lớn hơn thuộc QLVNCH vào những ngày Miền Nam, đều rất chính đáng và
 hợp lý.
 
Riêng đối với LĐ1ND, xin các chiến hữu hiểu rằng: Trong thời gian đó, nhiều biến cố
Liên tiếp, dồn dập xảy ra trong những ngày quá ngắn, tôi không có thời giờ giải thích
Cho bất cứ ai, mà chỉ căn cứ vào tình hình hiện hữu rồi ước tính và ra lệnh hoặc phản ứng cấp thời. Xuyên qua bài viết này, các bạn đọc sẽ thấy bang bạc một số ước tính, suy luận đó. Những ước tính, suy luận  này có thể còn thiếu sót, không hoàn chỉnh, vì chỉ do một bộ óc, nhưng rất may, nhờ những lý do ngoại cảnh, đã có những kết quả tốt đẹp (đa số các chiến hữu của tôi đã đi thoát và hiện ở Miền Đất Tự Do). Cũng qua bài này, tôi xin mời các bạn đọc theo dõi những bước chân hành quân cuối cùng của một đơn vị “bế hạt tiêu”…
 
I.- LĐ1ND TẠI MẶT  TRẬN LONG KHÁNH.
 
   Vừa rời mặt trận Thường Đức và đèo Hải Vân (Đà nẳng) cuối tháng 3, 1975 về tới hậu cứ tại Sài gòn được mấy ngày, chưa kịp chỉnh đốn lại đơn vị, LĐ1ND lại nhận được lệnh của Tướng Lê Quang Lưỡng, Tư lệnh Sư đoàn Nhảy dù, phải di chuyển gấp lên Long khánh và thuộc quyền chỉ huy hành quân của Bộ tư lệnh Quân đoàn3/Quân khu III.
 
Sau hơn 8 tháng quần thảo túi bụi với các Sư đoàn 329B, 320, và 304 CS tại Quân đoàn I/Quân khu I, bây giờ lại hành quân, nhưng đối với an hem Nhảy dù chúng tôi là chuyện rất thường tình. Vì thế đôi khi bà con, bạn bè tò mò có hỏi: - một năm đi hành quân mấy lần? Mấy an hem chúng tôi trả lời gọn lỏn: - Một năm đi hành quân có một lần nhưng kéo dài đến 365 ngày. Câu trả lời này gần đúng 95% sự thật.
 
Kỳ này, LĐ1ND hành quân với 3 Tiểu đoàn Nhảy dù cơ hữu gồm Tiểu đoàn 1 Nhảy dù(TĐT Thếu tá Ngô tùng Châu,Tiểu đoàn 8 Nhảy dù ( TĐT: Trung tá Đào Thiện Tuyển)
và Tiểu đoàn 9 Nhảy dù (TĐT: Trung tá Nguyễn văn Nhỏ) và Đại độí Trinh sát Nhảy dù (ĐĐT: Phạm minh Đăng), được yểm trợ bởi Đại đội 3 Công binh Nhảy dù và ĐĐ1 Quân y Nhảy dù và Tiểu đoàn 3 Pháo binh Nhảy dù (TĐT: Thiếu tá Nguyễn văn Thông).
 
Lệnh hành quân qúa gấp rút. Ngay đêm đầu tháng tư 1975, trong khi dân Sài gòn còn yên giấc, toàn bộ LĐ1ND đã ngồi trên một đoàn Quân xa di chuyển hướng về Long Khánh. Đến nửa đêm hôm đó, các đơn vị đã hoàn tất bố trí quân sâu trong đám rừng cao su hai bên đường, Cách ấp Mẹ Bồng Con (Tỉnh Long Khánh) không bao xa.
 
 
Vào lúc đó, đường từ Long Khánh về Biên Hoà bị kẹt vì Cộng quân đã chiếm ngã ba Dầu Giây, ấp Mẹ Bồng Con và mấy ấp lân cận. Lực lượng bạn, chủ lực là Thiết Đoàn Chiến xa QĐ3 với nhiệm vụ mở đưòng lên Long Khánh, còn cách phía tây ấp Mẹ Bồng Con khoảng 500 thước. Phía đông ngã ba Dầu Giây là phòng tuyến của chiến đoàn 52/SĐ18 Bộ Binh. Quan niệm hành quân của QĐ3/QKIII lúc đó là muốn Lữ Đoàn 1ND vượt qua đơn vị bạn ở phía tây, giải tỏa các ấp bị địch chiếm, tiến vào giao tiếp với Chiến Đoàn 52/SĐ18BB. Sauk hi đến khu rừng cao su, ngay sang hôm sau, tôi xử dụng xe Jeep cùng mấy sĩ quant ham mưu đến vị trí tiền tuyến của đơn vị bạn để hỏi thăm tin tức và thám sát tình hình tại chổ. Xe của chúng tôi đã được địch chào mừng bằng hàng loạt đạn súng cối tới tấp trên đường nhưng rất may bình yên. Trở về trong ngày hôm đó, tôi xin BTL/QĐ3 cấp một chiếc trực thăng cùng các TĐT thuộc quyền bay lên thám sát chiến trường.
 
Mọi thủ tục xong xuôi và sắp sẳn trong đầu kế hoạch hành quân, chỉ còn chờ ngày N. giờ G là khởi sự. Hai ngày đóng quân trong rừng cao su êm ả. Sáng ngày thứ 3, tôi nhận được lệnh về BTL/QĐ3 họp gấp. Sau buổi họp, thi hành kế hoạch mới, ngay ngày hôm đó, toàn bộ LĐ1ND được trực thăng vận vào thẳng Long Khánh, tăng phái cho BTL/SĐ18BB với nhiệm vụ tăng cường phòng thủ tỉnh này.
Tôi cùng một số sĩ quant tham mưu đi đợt đầu để nhận lệnh, trong khi đó các đơn vị thuộc quyền tùng chuyến rồi tùng chuyến được trực thăng đổ xuống chân đồi Chuối, kế cận chi khu Xuân Lộc. BTL/SĐ18/HQ trú đóng trong một góc rừng Đông Nam kế cận ngã ba chi khu Xuân Lộc với pháo binh 155 ly và bải đáp trực thăng. Tại một căn hầm làm trung tâm hành quân/SĐ tôi được tướng Lê minh Đảo (1), Tư lệnh SĐ18BB đích thân cho tôi biết tình hình Địch và Bạn cũng như Dân chúng trong vùng, trong một tấm bản đồ cầm tay như sau:
Ba sư đoàn Cộng quân (nếu tôi nhớ không lầm) dồn nổ lực tấn công mặt Tây Bắc, Bắc và Đông Bắc tỉnh Long Khánh.
Hầu hết các lực lượng chủ lực của SĐ18BB gồm Trung đoàn Chiến đoàn 52(TrĐT: Đại tá Ngô Kỳ Dũng), Trung đoàn 43 (TrĐT: Đại tá Lê xuân Hiếu) và hai Tiểu đoàn/Trung đoàn 48 trãi dài trên phòng tuyến phía Tây Bắc, Bắc  và Đông Bắc tỉnh Long Khánh. BTL/SĐ18BB +BCH Trung đoàn 48 + 1 TĐ trừ bị, (TrĐT: Trung tá Trần minh Công)tại Xuân Lộc (phía Nam Tiểu khu Long Khánh khoảng 4 cây số). Bộ chỉ huy Long Khánh (Đại tá Phạm văn Phúc, tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Long Khánh) và các lực lượng Địa phương quân và Nghĩa quân vẫn vững vàng trong và quanh tỉnh lỵ. một tiểu đoàn BĐQ thuộc Liên đoàn 77/BĐQ bảo vệ phi trường Long Khánh (sát phía Nam tiểu khu).
 
Dân chúng trong làng tinh thần chống cộng rất cao. Mấy xóm đạo như ấp Bảo Định, ấp Bảo Bình  đều có lực lượng Dân quân Tự vệ được trang bị vũ khí, đạn dược đầy đủ.
 
Thưa Thiếu tướng, tôi hỏi, hoặc Đại tá Phúc có “năm” được dân hai ấp Bảo Định(phiá Đông BTL/HQ 3 cây số) và ấp Bảo Bình (phía Đông Nam BTL/HQ 4 cây số) không? Theo tôi nhận định đây là  hai tiền đồn rất tốt cho mình. Còn vạt rừng chồi giữa mình (BTL/HQ) và phi trường Long Khánh có quân bạn hoặc địch hoạt động gì không?
 
Giữa mình và ấp Bảo định có một chốt VC chưa “bứng” được nên Đại tá Phúc không liên lạc được với dân chúng hai ấp này. Nhưng hai ấp này còn vững vàng vì vẫn treo cờ Quốc Gia. Riêng vạt rừng này chưa có triệu chứng gì lạ. Áp lực địch nhiều ở phiá tỉnh.
 
Xin Thiếu tướng cho biết nhiệm vụ của đơn vị tôi. Em thử đề nghị kế hoạch cho em, xem thế nào? Theo kinh nghiệm của tôi, chổ lắng diệu nhất, không có hoạt động gì là chổ địch “ém”  quân và chờ làm “cú” dứt điểm. Kế hoạch của tôi được Tướng Đảo chấp thuận nhanh chóng và cho thi hành ngay sau khi đổ quân hoàn tất:
 
Tiểu đoàn 9ND trách nhiệm diệt chốt địch trên Quốc lộ 1, sau đó lục soát về phía Đông, tìm cách giao tiếp với ấp Bảo Định rồi đợi lệnh. Chỉ thị đặc biệt: Khi được bắn vào ấp. Nếu dân bắn ra, hãy bắt loa báo cho họ biết mình là quân bạn.
 
Tiểu đoàn 1ND trừ bị cho Lữ đoàn, bố trí phía Tây Liên tỉnh lộ 2.
 
Tiểu đoàn 9Nhảy Dù xuất phát khỏang nửa tiếng sau thì có nhiều tiếng súng nổ ở phiá Đông. Với chiến thuật diệt chốt tinh xảo rút tỉa từ những kinh nghiệm ở các chiến trường Quảng trị  và Thường đức, chỉ hơn nửa tiếng đồng hồ sau, Tr. Tá Nhỏ Tiểu đoàn trưởng báo cáo về BCH/LĐ: ĐĐ93 (ĐĐT Đại Úy Đinh văn Tường, con gà cứng cựa của Cửu Long, biệt danh của Tiểu đoàn 9ND) đã bứng rể chốt địch với 12 tên nằm tại chổ, 1 súng cối 61 ly và 9 vũ khí cá nhân, một số địch chạy về hướng Đông Bắc, Tiểu đoàn đang đến ấp Bảo Định.
 
Tiểu đoàn 8ND xuất phát sau đơn vị trên 1 giờ, vừa rời Quốc lộ 1 khỏang 600 thước về phía Bắc thì chạm súng với một số tiền đồn của địch trong đám rừng chồi. Tôi rất vui mừng báo cáo tin này với Tướng Đảo. Như vậy ước tính không sai. Tôi tiếp tục cho lệnh TĐ8ND: Đại đội nào chạm đíchcứ tiếp tục xấn tới, tiến được bao nhiêu hay bấy nhiêu, hảy xử dụng một Đại Đội khác bọc bên phải, thêm một Đại Đội khác nửa  bọc bên trái. Hai Đại Đội này nếu chạm địch, cũng xân tới như vậy.
 
Kết qủa đúng như ý muốn, theo kiểu điều quân tương tự. Tiểu đoàn 8ND đã phải tung đến Đại Đội tác chiến thứ 4 cũng chạm địch luôn. Trung tá Tuyển nói với tôi:
 
    Tôi không còn trừ bị(2)
Anh đừng lo tôi còn cả thằng 1 (TĐ1ND) bây giờ mình đã nhận diện được đội hình của địch. “Thông Gìa” sẽ làm việc.(3) Thiếu Tá Thông lúc nào cũng sẳn sang hang trăm qủa đạn pháo binh 105 ly đã rớt xuống đội hình của địch. Trung đội này chạm sung thì trung đội khác bọc phải hoặc bọc trái tiến tới. Các đại đội của Tiểu đoàn 8ND dàn hàng ngang để tiến tới, đội hình chung của tiểu đoàn như một hình vòng cung, hai đầu hai bên khép lại từ từ thành thế bao vây địch.
Cánh quân đầu của TĐ9ND khi còn cách ấp Bảo định cách khoảng 500 thước thì dân trong ấp báo động, súng bắt đầu nổ , đạn các loại bay rào rào về phía quân Dù. Vì không có tần số lien lạc được với dân, tiếng sung nổ kể cả sung cối 60 ly từ trong ấp bắn ra, át cả tiếng loa kêu gọi, nên an hem binh sĩ Dù đành núp và chờ đợi. Trung tá Nhỏ TĐT/TĐ9ND và hai binh sĩ bị thương vì miếng đạn sung cối từ trong ấp bắn ra. Ông bị một vết thương nơi bụng khá nặng nên Trung Tá Nhỏ được chuyển về phía sau để tản thương và Thiếu tá Lê Mạnh Đường Tiểu Đoàn Phó được cử xử lý chức vụ TĐT.
Khoảng 15 phút sau, bắn ào ào nhưng thấy địch (Dù) im lặng, không phản ứng gì, dân trong ấp cũng ngưng bắn và quan sát. Nhảy dù tiếp tục bắc loa kêu gọi đừng bắn và ra khỏi chỗ núp từ các gốc cây để họ thấy rỏ quân phục rằn ri. Sauk hi gặp nhau, TĐ9ND về hoạt động bung quân lục soát sâu về phía Tây Chi Khu Xuân Lộc. TĐ1ND lên thay thế, bố trí phía Đông ấp Bảo Định. Trong thời gian TĐ8ND đang hình thành đội hình khép vòng vây địch thì một buổi chiều, địch pháo kích từ hướng Đông Bắc khoảng 30 qủa đạn loại 130 ly vào khu vực Chi Khu Xuân Lộc, chủ yếu là vào BTLSĐ18BB+BCH/Tr48BB và Pháo đội 155 ly. BCH/LĐ1ND nằm trong vòng đai đó cũng đành chịu trận. Nhưng thiệt hại các đơn vị không đáng kể, chỉ cháy mấy khẩu Pháo binh 155 ly.
Ngay buổi tối hôm đó, tôi đề nghị với Tướng Đảo nên rời các cơ sở chỉ huy ngay trong đêm, tránh sang bên, lệch hướng địch pháo kích khoảng 500 thước là đủ, vì các sĩ quan  tham mưu(không phải sĩ quan tác chiến) cần bình tỉnh, không bị địch quấy rầy để làm việc. Sau đó vì nghĩ rằng các đơn vị “chung một chuyến tàu” nên tôi thẳng thắng viết lên một trang giấy học trò. Những công việc nên làm đối với BTL/HQ nếu muốn tử thủ Long Khánh, trong đó tôi còn nhớ vài điểm thăng chốt như sau:
1/- BTL/HQ không nên đóng chung với Pháo Binh.
2/-Hạn chế trực thăng chở các phái đoàn Quốc hội và Báo chí (gần như hang ngày) lên xuống gần BTL/HQ, nếu được nên thiết lập 2 hoặc 3 bãi đáp phòng hờ và luân phiên, cách xa BTL/HQ. Kể cả thượng cấp đến thăm HQ, đều được đem xe ra đón tại bãi đáp rồi được đưa vào BTL/HQ. Nếu không làm như vậy, tất cả Qúy vị thăm xong đơn vị rồi về, chúng tôi ở lại vùng hành quân lảnh đủ.
3/- Vị trí BTL/HQ nên tránh xa các đặc điểm địa hình như ngã ba, ngã tư đường, cầu cống. Nhà Thờ, Chùa, v.v… Nếu cần chui vào rừng để địch không biết chính xác ta ở đâu.(4)

Wednesday, June 5, 2013

Ninh Đờ Gôn (De Gaulle)


 
Cái biệt danh “Đờ Gôn” (De Gaulle) mà bạn bè đặt cho anh thật là đúng với vóc dáng của một người Việt Nam to lớn ngoại khổ. Anh cao khoảng 1m75 với đôi vai rộng thật rộng làm cho bộ đồ bay mầu xám, dù là cỡ lớn nhất, trông cũng ngắn cũn cỡn. Cặp vai rộng làm cho người đứng sau lưng nhìn anh tưởng như là anh mặc áo bay mà quên chưa lấy cái móc áo ra vậy.

Tôi không dám gọi anh là Ninh Đờ Gôn vì khi tôi là Thiếu Úy mới về nước, anh đã mang lon Đại Úy được 3, 4 năm rồi. Anh là Sĩ Quan An Phi của Phi Đoàn, một nhiệm vụ xem ra hiền hòa nhất trong một cuộc chiến đang trong thời kỳ gay go. Anh rất hiền, thật là hiền làm đôi khi tôi thầm nghi ngờ về tài đánh giặc của anh. Anh ít đùa dỡn, không bài bạc, rượu chè, ăn chơi như những bạn bè đồng trang lứa. Những lần đi bay các phi vụ hành quân chung với anh, tôi mới thấy mình đã nhận xét lầm; vì trong cái bề ngoài hiền hòa ấy, anh xông pha, vùng vẫy một cách rất dũng cảm và chính xác mỗi khi tấn công mục tiêu.

Tôi làm quen với anh rất mau, có thể vì cùng giọng nói ...Bắc Kỳ với nhau, hoặc là vì tôi thường được sắp xếp đi bay chung phi tuần với anh trong nhiều phi vụ yểm trợ quân bạn, đặc biệt là trong vùng Tây Bắc hoặc phía Bắc của phi trường Biên Hòa: tôi bay phi cơ số hai và anh là người bay phi cơ số một.

Những lúc chúng tôi “sánh vai” ra đi từ phòng trực Phi Đoàn, đến phòng nai nịt áo lưới, đai dù và những dụng cụ cứu nạn, rồi phòng Hành Quân Chiến Cuộc nhận tọa độ mục tiêu, rồi ra bãi đậu phi cơ, ai nhìn anh và tôi đi bên nhau chắc cũng phải nực cười, vì anh và tôi trông cứ như một đôi đũa lệch: anh cao hơn tôi đến một cái đầu.

Tôi bay theo anh Ninh đến những mục tiêu nóng bỏng nhất, nơi quân bạn dưới đất cần yểm trợ: Lộc Ninh, An Lộc, Kà Tum, Tống Lê Chân, Chơn Thành, Lai Khê, Xa Cam, Minh Thạnh, Bến Cát, Tân Khai, Đức Hòa, Đức Huệ, v.v... Sau mỗi phi vụ, anh đều vội vã lái chiếc xe du lịch cũ kỹ trực chỉ về Khu Cư Xá Sĩ Quan với vợ con. Anh có hai cháu gái, chị Ninh đang mang thai và anh chị thì hy vọng làm thế nào có được một đứa con trai.

Không biết từ thời nào mà hình như những người mang nghiệp bay rất hay tin dị đoan. Dù theo đạo Công Giáo, anh Ninh cũng có vẻ ăn ở không yên khi thấy việc mang thai của vợ mình là một trong những điềm xui truyền khẩu, ngoài việc săn bắn chim, đi bay thế chỗ cho nhau và ...vợ có bầu, v.v... Rồi một tai nạn xẩy đến làm anh Ninh càng thêm lo nghĩ và có vẻ tin vào những điều xui truyền khẩu của nhân gian.

Hôm ấy, anh Ninh và tôi đi yểm trợ quân bạn mở đường tại Rừng Lá, Phan Thiết đang bị Cộng Quân đắp mô, chặn đường quấy phá. Đến mục tiêu chúng tôi bay xuống thấp và nhìn rõ hai đoàn xe bị kẹt hai bên mục tiêu và đồng bào tràn xuống đầy hai bên đường lộ chờ đợi. Ninh gọi tôi trên tần số:

- Phi Long 42, đây 41 gọi.
- Hai nghe!
- Cẩn thận nghe hai. Đồng bào và xe cộ rất sát mục tiêu. Đừng để tai nạn nào xẩy ra nghe không, hai!
- Hai nghe! Tôi đi skip Napalm sát đọt cây nghe!
- Ok! Nhưng đừng xuống thấp quá kẻo vướng xe đò, cột đèn thì phiền nghe!
- Hai nghe rõ!

Mục tiêu chỉ cách Quốc Lộ 1 chừng 100 mét và quân bạn đang dàn hàng ngang đẩy Cộng quân ra xa khỏi Quốc Lộ. Chúng tôi bay thật thấp trên đoàn người và nhìn thấy họ nhảy lên vẫy tay chào. Tôi lắc đôi cánh nẵng trĩu 6 trái bom Napalm cồng kềnh đáp lễ. Ninh mang 10 trái bom nổ 500 pounds nên anh đánh từ 3 ngàn bộ xuống, từng trái một theo sự chỉ dẫn của phi cơ quan sát L-19 trên mục tiêu. Còn tôi đánh từng trái Napalm sát ngọn cây, tạo ra một hàng rào lửa phân cách giữa bạn và thù. Mỗi lần đến sát mục tiêu, tôi đều nhìn thấy những vệt đạn lửa của địch quân bắng những vũ khí cá nhân hạng nhẹ nhắm bắn vào phi cơ của mình. Xong việc, Ninh gọi tôi:

- Hai, đây Một gọi!
- Hai nghe!
- Tôi còn kẹt hai trái bom không chịu rơi. Tôi sẽ vào mục tiêu một lần nữa. Anh bắn cà-nông bảo vệ cho tôi nhé!
- Hai nghe rõ!

Ninh nhào xuống mục tiêu một lần nữa, vẫy vùng, nhả từng loạt đạn cà-nông, nhưng hai trái bom bị kẹt vẫn không chịu rơi xuống. Tôi bay sau Ninh và khi anh bắt đầu kéo lên khỏi mục tiêu, tôi xả hết 800 viên cà-nông 20 ly dọc theo hàng rào lửa do bom Napalm đang cháy ở bên phía địch quân. Nhìn về phía đám đông và đoàn xe bị kẹt trên Quốc Lộ, tôi thấy dân chúng vỗ tay nhảy mừng. Tôi lắc đôi cánh vẫy chào và phóng theo sau phi cơ của Ninh. Ninh gọi tôi:

- Hai, đây Một gọi!
- Hai nghe!
- Theo tôi về khu oanh kính tự do để mình giải tỏa mấy trái bom này!
- Hai nghe rõ. Tôi đang bay sau lưng bạn!

Trước khi tới khu giải tỏa, Ninh thông báo và xin phép đài kiểm báo Paris tại phi trường Tân Sơn Nhứt. Sau khi được phép, Ninh nhào 5, 6 lần xuống mục tiêu tự do, vận dụng hết mọi phương pháp, vùng vẫy, giằng co, cố làm cho 2 trái bom lìa ra khỏi cánh phi cơ, nhưng mãi mà chỉ có một trái chịu rơi, còn một trái vẫn đeo chặt vào cánh phải của máy bay. Mệt qúa, Ninh gọi đài kiểm soát phi trường Biên Hòa để xin về đáp.

- Biên Hòa đài, Phi Long 41 gọi!
- Biên Hòa đài nghe bạn!
- Phi tuần 2 phi cơ A-1 xin đáp. Phi cơ số 1 kẹt một trái bom 500 pounds.
- Ok. Thuận cho bạn về đáp “straight in” (bay thẳng từ xa vào) phi đạo 09, gió từ hướng 120 độ, mạnh 10 knotts. Sẽ có xe cứu hỏa và xe cứu thương túc trực sẵn cho bạn.

Rồi Ninh ra lệnh cho tôi:

- Phi Long 42, tactical formation (Bay xa tôi ra!). Trông chừng trái bom và phi cơ của tôi nghe!
- Phi Long 42 nhận 5!

Đài Kiểm Soát Biên Hòa lại gọi Ninh:

- Phi Long 41, Biên Hòa đài gọi!
- Biên Hòa nghe bạn!
- Bạn phải bay tuyến downwind (hướng gió xuôi) ở phía Bắc của phi trường, trước khi vào final approach, không được bay vào khu dân cư phía Nam là thành phố Biên Hòa. Nghe rõ trả lời!
- Phi Long 41 nhận rõ!

Theo lệnh của Đài Kiểm Soát, Ninh và tôi cẩn thận nhẹ nhàng đem hai chiếc máy bay men dọc theo hướng Bắc của phi trường, song song với phi đạo. Tôi bay xa xa phía sau Ninh vừa để ý nhìn phía trước, vừa để ý nhìn trái bom còn kẹt bên cánh phải của Ninh. Bất thình lình, tôi thấy trái bom rớt ra khỏi cánh máy của Ninh, dù phi cơ Ninh vẫn bình phi nhẹ nhàng ở 1,500 bộ. Tôi bấm máy la lên:

- Phi Long 41, trái bom của anh rớt rồi!
- Ok, hai! Tách xa tôi ra! Theo dõi kỹ trái bom xem sao!

Tôi dõi mắt nhìn theo trái bom, nhưng mầu olive của nó mau mắn mất hút hòa lẫn theo mầu cỏ cây dưới đất . Phía Bắc phi trường là những đồng ruộng bao la bát ngát, ở trên nhìn xuống chỉ thấy lác đác vài căn nhà nằm giữa những lùm dừa, lùm cau nho nhỏ. Thế mà đúng là “họa vô đơn chí”, trái bom rớt trúng vào một trong những lùm cau nhỏ ấy. Trong chớp mắt, tôi thấy một nhoáng lửa, một cái rùng mình thật mạnh của phi cơ, rồi bụi mù và khói lửa bùng lên từ xóm nhà nhỏ bé ấy.

- Phi Long 41, đây Hai gọi!
- Nghe Hai!
- Chết rồi! Bom rớt trúng nhà dân rồi Một ơi!
- Tôi thấy rồi! Trời ơi! Sao xui quá! Biên Hòa Đài, Phi Long 41 gọi!
- Biên Hòa Đài nhận rõ vấn đề! Xin bạn cho biết vị trí!
- Tôi đang ở 1,500 bộ, khoảng 5 miles hướng Bắc của phi trường. Xin bạn cho phi cơ tản thương gấp!
- Biên Hòa Đài nhận rõ! Sẽ điều động các phương tiện Emergency liền cho bạn!

Ninh và tôi cùng bay vòng lại phía mấy căn nhà nhỏ. Lửa và khói bay ngút trời. Người ta chạy túa ra những con đường đất, tay cầm vải trắng phất qua phất lại như ra hiệu đầu hàng xin chúng tôi đừng thả bom nữa. Ruột tôi thắt lại. Tim tôi đập liên hồi. Đau xót đến tận cùng! Chừng 5 phút sau, một phi cơ trực thăng cấp cứu của Mỹ, danh hiệu Pedro, vẫn túc trực thường xuyên trong phi trường Biên Hòa bay tới và đáp xuống cạnh đám cháy. Ninh gọi tôi trên tần số và bảo tôi về đáp.

Suốt đoạn đường từ bãi đậu phi cơ vào tới Phi Đoàn, Ninh không nói với tôi một lời. Anh đăm chiêu, mắt nhìn xa xăm. Tôi nghĩ anh đang vô cùng khổ tâm nên cũng không muốn bắt chuyện với anh làm gì. Sau khi trút bỏ đai dù và các thiết bị an toàn xong, tôi lấy Honda phóng thẳng đến Bệnh Xá, vừa đúng lúc chiếc trực thăng Pedro đáp xuống thả những nạn nhân vào phòng cấp cứu: hai người đàn bà, ba đứa trẻ con và một em bé mình mẩy băng bó, máu me đỏ thắm. Tôi rùng mình chạy Honda vội về Phi Đoàn. Trong phòng trực hành quân, Ninh đang ngồi viết Tờ Tự Khai. Tôi nói cho Ninh những điều tôi nhìn thấy ở Bệnh Xá. Ninh gục đầu xuống bàn viết, khóc nức nở.

* * *



Ít tháng sau, vào một buổi chiều tháng Tư năm 1973, trong một phi vụ yểm trợ cho Sư Đoàn 7 Bộ Binh tại Cai Lậy, hai chiếc phi cơ thuộc Phi Đoàn 514 và hai chiếc thuộc Phi Đoàn 518 là hai phi tuần Skyraider được điều động từ phi trường Biên Hòa xuống trợ lực. Ninh và Thiếu Úy Toàn (Toàn Cu-Li) với danh hiệu Phi Long 61, cất cánh sau hai phi cơ của Phi Đoàn 514. Như thường lệ, Ninh đeo 10 trái bom nổ 500 pounds và Toàn mang 6 trái napalm nặng nề, cồng kềnh.

Bầu trời Miền Tây hôm đó khá nhiều mây, cộng thêm những màn khói mịt mù do nông dân đốt cỏ cây bên dưới bay lên làm cho tầm nhìn xa của phi công cũng bị giới hạn phần nào. Trần mây lơ lửng cao chừng 4 ngàn bộ và những cụm mây cumulus đầy hơi nước với độ dầy cả ngàn bộ. Dù tầng mây có những lỗ hổng lác đác, nhưng cũng đủ bắt buộc phi công phải bay dưới 4 ngàn bộ để quan sát cho rõ mục tiêu.

Theo lời Toàn kể thì lúc hai phi cơ còn ở xa xa là đã nhìn thấy hỏa lực phòng không của địch “dàn chào” rất kỹ hai chiếc Skyraider của Phi Đoàn 514 Phượng Hoàng đến trước đang quần thảo trên mục tiêu. Nào là đạn 23 ly, nào là đạn 37 ly phòng không nổ tung tóe xung quanh hai chiếc Skyraider lì lợm. Ninh lên tiếng cảnh giác Toàn:

- Phi Long 62, Một gọi!
- Hai nghe!
- Bọn nó bắn rát lắm. Cẩn thận nghe Hai! Đi ra xa mục tiêu một chút chờ Phượng Hoàng làm việc xong thì mình sẽ vào.
- Hai nghe rõ!
- Vùng này có rất nhiều (hỏa tiễn tầm nhiệt) SA-7. Anh bay xa tôi ra. Trông chừng cho nhau. Có gì la lên liền nghe Hai!
- Hai nhận 5!

Ninh và Toàn làm vòng chờ xa xa theo sự hướng dẫn của phi cơ quan sát tại hiện trường. Bỗng Toàn thấy một vệt lửa mầu cam từ dưới đất bay lên nhắm thẳng về hướng phi cơ của Ninh, lúc đầu chậm rãi rồi vụt nhanh như chớp nổ tung vào ống khói ở vùng đầu máy bay của Ninh. Toàn vừa há miệng định la lên thì đã thấy Ninh bay vụt ra khỏi phi cơ và chiếc dù hai mầu trắng đỏ bung ra với Ninh lơ lửng bên dưới. Chiếc Skyraider đầy bom đạn bốc lửa, quay tròn như con vụ được hai vòng rồi đâm xuống đất nổ tung. Mặc dù đeo trên thân tầu 6 trái napalm nặng nề, Toàn vẫn lì lợm và cố gắng lượn theo sát chiếc dù để xác định là Ninh còn sống và đã thoát ra khỏi chiếc phi cơ lâm nạn.

Rồi Toàn đưa chiếc máy bay vút lên trên tầng mây để che khuất tầm nhìn của địch quân. Toàn đổi tần số và báo cho Trung Tâm Kiểm Báo Paris tại phi trường Tân Sơn Nhứt:

- Paris đây Phi Long 62!
- Paris nghe bạn.
- Thông báo cho bạn: phi cơ số 1 của tôi bị trúng SA-7 và rớt ở Cai Lậy.
- Xin bạn cho biết tọa độ!
- Phòng không bắn nhiều quá, và trời rất nhiều mây nên tôi không thể xác nhận được tọa độ ngay bây giờ bạn!
- Tình trạng phi công ra sao?
- Phi công đã bung dù ra. Bạn liên lạc với phi cơ quan sát L-19 tại mục tiêu, có thể sẽ có tọa độ chính xác cho bạn. Tôi về đáp tại phi trường Biên Hòa nghe bạn.
- Nhận 5, Phi Long 62 về đáp Biên Hòa! Bạn yên chí! Chúng tôi sẽ liên lạc và chuyển lệnh điều động cấp cứu Phi Long 61!

Cho đến tối, vẫn không có tin tức gì của Ninh, mặc dù Toàn thề độc là nó đã bay vòng quanh dù của Ninh trước khi chui lên mây né đạn phòng không. Tôi được Thiếu Tá Phi Đoàn Trưởng (PĐT) Nguyễn Quan Vĩnh giao nhiệm vụ đi đến nhà báo tin cho chị Ninh. Tôi gõ cửa và bước vào căn nhà lính thô sơ. Chị Ninh đang ngồi ẵm đứa con gái nhỏ. Trên bàn ăn, mâm cơm đạm bạc đã dọn sẵn và chừng như đã nguội. Thấy tôi, chị uể oải, nặng nề đứng dậy. Bụng chị đã lớn lắm. Chị mỉm cười hỏi:

- Có chuyện gì đấy chú?
- Dạ, Thiếu Tá PĐT sai em đến báo tin cho chị hay là tối nay anh Ninh không về được.
- Sao thế hả chú?
- Dạ, anh ấy bị hư máy bay, phải đáp khẩn cấp ở dưới Cần Thơ. Phi trường mình đã gởi chuyên viên xuống để sửa chữa, hy vọng một hai bữa nữa thì anh ấy sẽ về đến.

Nét mặt chị Ninh lộ vẻ lo lắng. Vài giọt lệ tủi thân trào lăn trên má. Chị ôm chặt lấy đứa con gái nhỏ vào lòng, trong khi đứa gái lớn e thẹn bám lấy chân chị. Chị thở dài lẩm bẩm với các con, lớn vừa đủ để tôi nghe thấy:

- Thôi, đi ăn cơm các con. Bố không về được thì ba mẹ con mình ăn vậy!

Tôi chào chị Ninh từ giã, bước vội ra khỏi cửa. Một mặc cảm tội lỗi tràn ngập tâm tư tôi vì tôi biết tôi đã nói dối chị Ninh. Tôi chỉ biết là Ninh không về, nhưng tôi biết rõ không phải vì máy bay của Ninh hư và càng không phải là Ninh đáp xuống phi trường Cần Thơ!

Ngày hôm sau, cả phi đoàn vẫn chờ đợi tin tức của Ninh. Bặt vô âm tín từ các phi vụ quan sát và trực thăng tìm kiếm chung quanh khu vực mục tiêu. Vì quá nóng lòng, Thiếu Tá PĐT đã lấy xe pick up của Phi Đoàn, đích thân chở Thiếu Úy Toàn xuống tận Bộ Tư Lệnh của Sư Đoàn 7 Bộ Binh để yêu cầu đơn vị này phụ một tay trong công tác đi tìm kiếm Ninh. Theo Toàn cho biết, hai người đã được một sĩ quan trung cấp tiếp đón, dùng xe Jeep của đơn vị chở hai người đi loanh quanh đến một vài địa danh gần mục tiêu thăm hỏi, nhưng cuối cùng không được kết quả gì và hai người đã thất vọng trở về Biên Hòa.

Cuối cùng Đại Úy Nguyễn Khoa Hoài trong Phi Đòan đã nẩy ra một ý kiến. Sau khi hội ý với Phi Đoàn Trưởng, Đại Úy Hoài lấy điện thoại xin tổng đài nối liên lạc với văn phòng Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Khi tướng Nguyễn Khoa Nam lên tiếng bên kia đầu máy, Đại Úy Hoài nói:

- Chào chú, cháu là Hoài đây.

Chẳng hiểu hai chú cháu tướng Nguyễn Khoa Nam nói chuyện gì, chỉ thấy Đại Úy Nguyễn Khoa Hoài vâng dạ lia lịa bằng giọng Huế của anh. Cả Phi Đoàn quây quần xung quanh Đại Úy Hoài, hồi hộp chờ đợi. Sau cùng, Đại Úy Hoài nói:

- Cháu cần nhờ chú một việc. Cần lắm!
- ???
- Cháu có người bạn rất thân, hôm qua bay yểm trợ cho quân bạn trong vùng trách nhiệm của chú, bị bắn rớt, có nhảy dù ra mà mấy toán cấp cứu của Không Quân kiếm mãi không thấy. Chú ra lệnh cho thuộc cấp đi hành quân tìm nó dùm cháu được không?
- ???
- Dạ đúng rồi! Tại mặt trận Cai Lậy ngày hôm qua đó chú! Khi có tin gì chú báo ngay cho cháu ở Phi Đoàn nghe. Cảm ơn chú!

Đại Úy Hoài gác điện thoại xuống. Mọi người đều mừng vì may mắn có cháu ruột của Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh bay chung trong Phi Đoàn. Hai ngày qua, rồi ba ngày, vẫn không có tin tức gì của Ninh. Và mỗi ngày, tôi đều được phái đến Khu Cư Xá Sĩ Quan để ...nói dối chị Ninh. Không ai có can đảm nói sự thật cho chị. Sau ngày thứ ba, chị nói với tôi:

- Mong sao anh ấy về kịp. Chỉ còn có vài ngày nữa là tôi sanh rồi chú ạ!

Đến ngày thứ tư thì tin dữ về đến Phi Đoàn: Ninh đã chết! Cả Phi Đoàn bàng hoàng khi hung tín được Bộ Tư Lệnh Không Quân điện thoại lên. Cùng lúc ấy, Tướng Nguyễn Khoa Nam gọi điện thoại cho Đại Úy Hoài than phiền rằng vì đi vào tìm và lấy được xác của Ninh, ông đã mất một vài quân nhân dưới quyền. Nhưng ông cũng thông cảm vì sự yểm trợ của Không Quân mấy hôm trước và vì Ninh bị bắn rơi trong phi vụ yểm trợ cho đơn vị Bộ Binh trong vùng trách nhiệm của ông.

Thiếu Tá PĐT lái xe đưa tôi và Đại Úy Trương Phùng là Ủy Viên Xã Hội của Phi Đoàn xuống Bộ Tư Lệnh KQ nhận xác Ninh. Con đường từ Biên Hòa về đến Sài Gòn dài thật dài, dù chiếc xe pick up của Phi Đoàn Trưởng đã chạy hết tốc lực. Chúng tôi đi thẳng đến Nhà Vĩnh Biệt trong phi trường Tân Sơn Nhứt. Hệ thống máy lạnh có lẽ không làm việc tốt lắm, nên vừa mở cửa ra là cả ba chúng tôi bị dội ngược lại vì mùi hôi thối của Ninh xông ra. Xác Ninh với khổ người cao lớn trong bộ đồ bay lấm bùn chương lên thật to nằm trên bàn.

Tôi không thể ngờ rằng đời sống con người lại có thể qua mau được như vậy. Một người mà mọi người quen biết đang yêu mến, đang trông chờ có thể đến nỗi như thế này sao?! Bất chợt, tôi lại nhớ đến thân phận mình, đến thân phận những bạn bè, chiến hữu khác đang bay vào lửa đạn khắp bốn Vùng Chiến Thuật, đang đùa dỡn với tử thần, đang vì Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm mà quên đi sự an lành cho chính mình. Tôi nhìn xác anh Ninh, lại nhớ đến chị Ninh và hai cháu gái nhỏ ở nhà và bật khóc.

Phải khó lòng lắm, Thiếu Tá PĐT, Đại Úy Trương Phùng và tôi mới moi được cái bóp trong túi áo bay trên ngực của Ninh ra. Đúng là Ninh rồi! Thẻ bài, giấy tờ tùy thân, hình vợ con và Thẻ Chủ Quyền của chiếc xe cũ kỹ anh vẫn lái hằng ngày. Tôi để ý không thấy sợi dây chuyền vàng với cây thánh giá Ninh đeo trước ngực và chiếc cà rá pilot anh vẫn đeo trên tay cũng không còn.

Chúng tôi phải xem xét kỹ như vậy vì khuôn mặt của Ninh không giống như lúc Ninh còn sống nữa. Da mặt Ninh đen như than vì nằm phơi nắng ba bốn ngày ngoài ruộng. Những con trùng sống dưới nước vẫn còn bò lổm ngổm bên xác Ninh. Theo lệnh của Thiếu Tá PĐT, tôi lấy tờ báo cuộn cái bóp của Ninh lại và bỏ vào túi áo bay dưới ống quần phải để mang về trao lại cho chị Ninh.

Dùng hết sức lực, cả ba chúng tôi vần nghiêng được xác Ninh, cố tìm xem nguyên nhân nào đã gây ra cái chết cho anh. Chẳng mấy khó khăn, chúng tôi thấy một vết đạn xuyên từ sau gáy trổ thẳng lên phía sau đầu của Ninh. Lúc đó, chúng tôi đoán biết là Ninh đã bị bắn chết khi đang treo lơ lửng trên trời. Chiếc dù hai mầu đỏ trắng của phi công khi rơi xuống ruộng nước đã bị hòa lẫn với mầu bùn đất làm cho nỗ lực tìm kiếm Ninh của các máy bay quan sát và trực thăng trong những ngày đầu đã không đưa đến kết quả nào.

Chúng tôi trở về Biên Hòa sau khi liên lạc và trao cái bóp của Ninh cho gia đình vợ anh ở Sài Gòn. Thiếu Tá PĐT bảo chúng tôi ra ngồi phía sau, để dành cabin chiếc xe pick up cho thân nhân của chị Ninh cùng đi lên Khu Cư Xá Sĩ Quan để đưa chị Ninh về Sài Gòn chăm sóc. Khi tôi thúc giục mau ra xe, chị Ninh tỏ vẻ nghi ngờ và phân vân, hỏi tôi:

- Tại sao tôi phải về Sài Gòn hả chú Chuyên?
- Dạ, vì phi cơ anh Ninh vẫn còn hư ở dưới Cần Thơ, mà chị thì sắp sanh, nên cần có người nhà phụ giúp chị và các cháu.

Rồi chị Ninh và các cháu lên chiếc xe du lịch cũ kỹ đi về Sài Gòn trước. Khi thấy chúng tôi đến sau bằng những chiếc xe pick up chở đồ đạc lỉnh kỉnh của nhà chị dọn từ Biên Hòa về, chị đoán già đoán non sự thể và òa lên khóc. Tôi nhìn thân hình nhỏ và cái bụng to của chị, miệng chị lẩm bẩm gì đó tôi nghe không rõ, rồi tự nhiên nước mắt tôi cũng dâng trào và tôi bật khóc thành tiếng. Cả nhà chị cùng những người hàng xóm hiếu kỳ đang vây quanh cũng không cầm được nước mắt và khóc theo. Chị hỏi tôi:

- Anh Ninh chết rồi hả chú Chuyên?
- ???
- Trời ơi! Sao chú lại nói dối tôi? Dẫn tôi đến thăm chồng tôi đi chú! Trời ơi! Anh ơi! Nỡ lòng nào anh bỏ em và các con thế này?!

Chị khóc lóc rên rỉ. Cái bụng quá lớn làm chị khó xoay xở. Chị không thể vật vã như những góa phụ khác. Chị ngồi bệt xuống chiếc phản gỗ, gương mặt bỗng tái nhợt đi, rồi bất tỉnh. Người thì lo bôi dầu gió, người thì quạt cho chị tỉnh lại. Không ai đồng ý chi chị đi thăm anh Ninh cả vì hai lý do: Ninh đã chương lên to và nặng mùi lắm rồi. Chị lại sắp sanh tới nơi có thể bất lợi cho thai nhi.

Sau một hồi được người thân “phù phép” bằng dầu gió, chị Ninh tỉnh lại. Chỉ chỉ ngồi yên mà không khóc nữa, tuy hai hàng nước mắt vẫn tuôn trào. Trước khi ngất xỉu đi lần thứ hai, chị mơ màng nói với theo:

- Chú Chuyên à, nếu chú không cho tôi đến nhìn mặt anh Ninh lần chót, ...”tôi sẽ không đẻ cho mà coi”!

Hai ngày sau, tôi và một vài chiến hữu trong Phi Đoàn được đưa xuống Nhà Vĩnh Biệt để đứng gác quan tài của Ninh, trước khi anh được an táng tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Buổi tối trước ngày tiễn biệt Ninh, người ta mới đưa chị Ninh và hai cháu bé đến. Chị Ninh và hai cháu đều mặc bộ đồ tang vải màn thưa trắng, riêng chị còn có thêm một cái khăn trào mào trùm kín đầu và mặt. Ba mẹ con bước vào phòng để quan tài, đang khóc lóc ồn ào nhưng bỗng nín bặt. Chị lẩm bẩm lớn đủ cho mọi người nghe thấy:

- Tôi đã hứa rồi, tôi đã hứa rồi! Tôi sẽ không khóc. Tôi sẽ không khóc lóc, không vật vã đâu! Ninh ơi, em đến thăm anh lần cuối, rồi em sẽ về đi sanh đây anh! Sao anh lừa dối em? Sao anh lừa dối các con hả anh? Anh hứa anh sẽ về nhà ngay với em và các con sau phi vụ mà sao đã cả tuần lễ rồi mà anh vẫn còn nằm đây? Sao anh chẳng nói một lời, Ninh ơi! Em khổ quá Ninh ơi, anh có biết không, Ninh ơi?!

Chị Ninh cứ lẩm bẩm như thế và cả hai cháu gái nhỏ cùng bám lấy chân mẹ đi vòng quanh ve vuốt cỗ quan tài. Những người có mặt không ai cầm được nước mắt và tất cả cùng khóc theo chị Ninh.

Lúc ấy, một sĩ quan cao cấp thuộc Bộ Tư Lệnh Không Quân đến cử hành nghi thức gắn lên chiếc gối nhỏ bằng nhung đỏ trên quan tài của Ninh một Bảo Quốc Huân Chương, một Phi Dũng Bội Tinh và truy thăng Đại Úy Nguyễn Văn Ninh lên ...Cố Trung Tá. Lý do là vì Ninh đã có Nghị Định lên Thiếu Tá, nhưng khi Ninh tử trận, Nghị Định thăng cấp của Ninh chưa kịp về đến Phi Đoàn. Người ta trao cho chị Ninh chiếc gối nhỏ mầu máu đỏ tươi ấy với những huy chương được cài cẩn thận cạnh hai bông mai bạc. Chị ôm lấy nó, nức nở và khuỵu gối xuống bất tỉnh trong vòng tay thân nhân.

Đêm hôm ấy, chị Ninh hạ sanh một cháu trai, đúng như nguyện ước của chị và anh Ninh Đờ Gôn.

* * *


Lời người viết:

Đã 40 năm qua kể từ ngày Ninh anh dũng hy sinh, không biết chị Ninh, hai cháu gái và cháu trai bây giờ ra sao, sau sự mất mát đớn đau tuyệt đỉnh ấy?! Trong những tháng năm khói lửa của cuộc chiến sau khi anh hy sinh và rồi qua những thăng trầm dâu bể của đất nước, cầu mong chị và các cháu vẫn được Ơn Trên và anh linh của Ninh phù trợ, để có can đảm và hy vọng trong đời sống. Dù đớn đau, dù cay đắng, dù bạc bẽo, mong rằng chị và các cháu lúc nào cũng có thể tự nhủ được trong lòng mình rằng, sự chiến đấu anh dũng và hy sinh cao cả của anh Ninh cho quê hương dân tộc Việt Nam sẽ vẫn mãi mãi được quê hương và dân tộc tri ân. Kính.

Nguyễn Văn Chuyên

__._,_.___

Sunday, June 2, 2013

Hậu quả của khủng bố và đức hạnh của hy vọng


Cuốn sách Đức: "A reporter's love for a wounded people" của tác giả Uwe Siemon-Netto đã được viết xong và đang chờ một số người viết "foreword" và endorsements.

Bản dịch cũng đã xong, được phép của tác giả chúng tôi xin giới thiệu đoạn kết rất xúc động mà tác giả đã nói lên ước muốn cùng với người Việt Nam nuôi dưỡng niềm hy vọng một ngày không xa Tự Do Dân Chủ sẽ trở lại với quê hương khốn khổ của chúng ta:
Đoạn kết
Hậu quả của khủng bố và đức hạnh của hy vọng

Hơn 40 năm đã trôi qua kể từ khi tôi giã biệt Việt Nam. Vào năm 2015, thế giới sẽ chứng kiến kỷ niệm lần thứ 40 chiến thắng của Cộng sản và nhiều người sẽ gọi đó là ngày "giải phóng." Ga xe lửa Huế, nơi một đầu máy và một toa hành lý khởi hành chuyến tầu tượng trưng 500 thước mỗi buổi sáng vào lúc 8 giờ sẽ không còn đáng đi vào kịch trường của sự phi lý nữa. Nó đã được phục hồi đẹp đẽ và sơn phết lại mầu hồng. Một lần nữa, tương tự như những ngày dưới sự thống trị của người Pháp, nó là nhà ga xe lửa đẹp nhất vùng Đông Dương và tài xế tắc-xi không phải chờ đợi vô ích bên ngoài. Mười chuyến tầu thong dong chạy qua mỗi ngày, năm chuyến xuôi Nam và năm chuyến ra Bắc. Gộp chung lại chúng được mệnh danh một cách không chính thức là Tàu Tốc Hành Thống Nhất. Chẳng lẽ nào tôi lại không mừng vui? Chuyện này có khác nào bên Đức khi bức tường Bá Linh đổ xuống và những bãi mìn biến mất, và nay những chuyến tầu cao tốc phóng ngược xuôi giữa hai xứ nguyên là Cộng sản bên Đông và Dân chủ bên Tây với tốc độ lên tới 200 dặm một giờ?
Hiển nhiên là tôi rất vui khi chiến tranh kết thúc và Việt Nam được thống nhất và phát triển, những chuyến xe lửa đã hoạt động trở lại và các bãi mìn đã được tháo gỡ. Nhưng đến đây thì sự tương đồng với nước Đức chấm dứt. Nước Đức hoàn thành sự thống nhất, một phần nhờ người dân tại Đông Đức đã lật đổ chế độ độc tài toàn trị bằng những cuộc biểu tình và phản kháng ôn hòa, một phần nhờ vào sự khôn ngoan của các nguyên thủ quốc tế như các vị Tổng thống Ronald Reagan và George G.W. Bush, của Thủ tướng Helmut Kohl, của lãnh tụ Sô Viết Mikhail Gorbachev, và cũng phần khác vì sự sụp đổ có thể đoán trước được của hệ thống xã hội chủ nghĩa sai lầm trong khối Sô Viết. Không có ai bị thiệt mạng trong tiến trình này, không một ai bị tra tấn, chẳng có ai phải vào trại tù và cũng không có ai bị buộc phải trốn chạy.
Có một khuynh hướng khó hiểu, ngay cả trong số các vị học giả đáng kính của phương Tây đã diễn tả sự kiện Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam như là một cuộc "giải phóng." Điều này đặt ra một câu hỏi:
giải phóng cái gì và cho ai? Có phải miền Nam đã được "giải phóng" khỏi sự áp đặt một nhà nước độc đảng toàn trị được xếp hạng chung với những chế độ vi phạm tồi tệ nhất thế giới về các nguyên tắc tự do tôn giáo, tự do phát biểu, tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do báo chí? Một cái thứ giải phóng gì đã làm chết 3,8 triệu người dân Việt từ 1954 đến 1975 và đã buộc hơn một triệu người khác phải trốn ra khỏi đất nước, không những từ miền Nam bại cuộc mà cả từ những bến cảng miền Bắc và làm từ 200.000 đến 400.000 người gọi là thuyền nhân bị chết đuối?
Có phải là hành động giải phóng không khi xử tử 100.000 người lính miền Nam và viên chức chính phủ sau ngày Sài Gòn thất thủ? Phải chăng chỉ là một màn trình diễn nhân đạo của bên thắng cuộc bằng cách lùa từ một triệu đến 2 triệu rưỡi người miền Nam vào các trại tù cải tạo, trong đó có khoảng 165.000 người mất mạng và hàng ngàn người khác đã bị tổn thương sọ não lâu dài và bị các vấn đề tâm thần do hậu quả của tra tấn, theo một cuộc nghiên cứu của một nhóm học giả quốc tế do Bác sĩ tâm thần Richard F. Molina của đại học Harvard dẫn đầu?
Từ giữa những năm 1960, những tay bịa đặt chuyện huyền thoại về chính trị và lịch sử của phương Tây, hoặc ngây thơ hoặc bất lương, đã chấp nhận lời giải thích của Hà Nội rằng cuộc xung đột là một cuộc "chiến tranh nhân dân." Cũng đúng thôi nếu chấp nhận định nghĩa của Mao Trạch Đông và Võ Nguyên Giáp về cụm chữ đó. Nhưng theo luật văn phạm về sở hữu tự theo cách Saxon Genitive qui định thì "chiến tranh nhân dân" phải được hiểu là cuộc "chiến tranh của nhân dân." Thực tế không phải như vậy.
Ðã có khoảng 3,8 triệu người Việt Nam đã bị giết giữa các năm 1954 và 1975. Khoảng 164.000 thường dân miền Nam đã bị thủ tiêu trong cuộc tru diệt bởi Cộng sản trong cùng thời kỳ, theo nhà học giả chính trị Rudolf Joseph Rummel của trường Đại học Hawaii. Ngũ Giác Ðài ước tính khoảng 950.000 lính Bắc Việt và hơn 200.000 lính VNCH đã ngã xuống ngoài trận mạc, cộng thêm 58.000 quân Hoa Kỳ nữa. Đây không thể là một cuộc chiến tranh của nhân dân mà chính là chiến tranh chống nhân dân.
Trong tất cả những lập luận đạo đức giả về cuộc chiến Việt Nam ta gặp quá thường trong vòng 40 năm qua, cái câu hỏi quan trọng nhất đã bị mất dấu hay AWOL, nếu dùng một từ ngữ viết tắt quân sự có nghĩa là "vắng mặt không phép," câu hỏi đó là: Dân Việt Nam có mong muốn một chế độ Cộng sản hay không? Nếu có, tại sao gần một triệu người miền Bắc đã di cư vào Nam sau khi đất nước bị chia cắt năm 1954, trong khi chỉ có vào khoảng 130.000 cảm tình viên Việt Minh đi hướng ngược lại?
Ai đã khởi đầu cuộc chiến tranh? Có bất kỳ đơn vị miền Nam nào đã hoạt động ở miền Bắc hay không? Không. Có du kích quân miền Nam nào vượt vĩ tuyến 17 để mổ bụng và treo cổ những người trưởng làng thân cộng, cùng vợ và con cái họ ở đồng quê miền Bắc hay không? Không. Chế độ miền Nam có tàn sát cả một giai cấp hàng chục ngàn người trên lãnh thổ của họ sau năm 1954 bằng cách tiêu diệt địa chủ và các đối thủ tiềm năng khác theo cách thống trị theo lối Sô Viết của họ hay không? Không. Miền Nam có thiết lập chế độ độc đảng toàn trị hay không? Không.
Với cương vị một người công dân Đức, tôi không can dự gì đến cuộc chiến này, hay nói theo lối người Mỹ là "I have no dog in this fight" (tôi chẳng có con chó nào trong vụ cắn lộn này cả). Nhưng, nhằm chú giải cho cuốn sách "Lời nguyện của nhà báo", tương tự như các phóng viên kỳ cựu có lương tâm, lòng tôi đã từng và vẫn còn đứng về phía dân tộc Việt Nam nhiều đau thương. Lòng tôi hướng về những người phụ nữ tuyệt vời với tính tình rất thẳng thắn và vui vẻ; hướng về những người đàn ông Việt Nam khôn ngoan và vô cùng phức tạp đang theo đuổi giấc mơ tuyệt hảo theo phong cách Khổng giáo; hướng về các chiến binh giống như trẻ con đi ra ngoài mặt trận mang theo cái tài sản duy nhất là một lồng chim hoàng yến; hướng về các góa phụ chiến tranh trẻ với cơ thể bị nhào nặn méo mó chỉ vì muốn bắt một tấm chồng lính Mỹ nhằm tạo một ngôi nhà mới cho con cái và có thể cho chính họ, còn hơn là đối mặt với độc tài Cộng sản; hướng về nhóm trẻ em bụi đời trong thành thị cũng như ngoài nông thôn săn sóc lẫn nhau và những con trâu đồng. Với trái tim chai cứng còn lại, lòng tôi thuộc về những người trốn chạy khỏi lò sát sinh và vùng chiến sự, luôn luôn đi về hướng Nam mà không bao giờ về hướng Bắc cho đến tận cùng, khi không còn một tấc đất nào vắng bóng Cộng sản nữa để mà trốn. Tôi đã chứng kiến họ bị thảm sát hay bị chôn sống trong những ngôi mồ tập thể và mũi tôi vẫn còn phảng phất mùi hôi thối của những thi thể đang thối rữa.
Tôi không có mặt vào lúc Sài Gòn thất thủ sau khi toàn bộ các đơn vị Quân Lực VNCH, thường xuyên bị bôi bẩn một cách ác độc bởi truyền thông Hoa Kỳ, giờ đây bị những đồng minh người Mỹ của họ bỏ rơi, đã chiến đấu một cách cao thượng, biết rằng họ không thể thắng hay sống sót khỏi trận đánh cuối cùng này. Tôi đang ở Paris, lòng sầu thảm khi tất cả những chuyện này xẩy ra và tôi ước gì có dịp tỏ lòng kính trọng năm vị tướng lãnh VNCH trước khi họ quyên sinh lúc mọi chuyện chấm dứt, một cuộc chiến mà họ đã có thể thắng: Lê Văn Hưng (sinh năm 1933), Lê Nguyên Vỹ (sinh năm 1933), Nguyễn Khoa Nam (sinh năm 1927), Trần Văn Hai (sinh năm 1927) và Phạm Văn Phú (sinh năm 1927).
Khi tôi viết đoạn kết này, một ký giả đồng nghiệp và một loại học giả sinh năm 1975 khi Sài Gòn bị thất thủ, đã tự tạo cho bản thân một thứ tên tuổi bằng cách bêu xấu tội ác chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Vâng, họ thật đáng bị bêu xấu. Đúng, đó là sự thật. Mỹ Lai có thật. Tôi biết, tôi đã có mặt trong phiên tòa mặt trận khi Trung úy William Calley bị kết án là có tội. Tôi biết cái tiêu chuẩn đếm xác chết được tôn sùng bởi đầu óc méo mó của các cấp chỉ huy quân sự cũng như dân sự thời đại Mc Namara tại Washington và bản doanh Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã làm tổn hại hàng ngàn mạng sống của người dân vô tội.
Nhưng không có hành vi tàn ác nào của các đơn vị rối loạn Hoa Kỳ và VNCH có thể sánh bằng cuộc tàn sát do lệnh nhà nước giáng xuống đầu người miền Nam nhân danh Hồ Chí Minh. Những tội ác mà cho đến ngày nay những kẻ kế thừa thậm chí vẫn không thừa nhận vì không ai có cái dũng cảm hỏi họ: Tại sao các anh thảm sát tất cả những người vô tội mà các anh rêu rao là đi chiến đấu để giải phóng họ? Với tư cách một người Đức, tôi xin được thêm một đoạn chú thích như sau: tại sao các anh giết người bạn của tôi là Hasso Rüdt von Collenberg, tại sao lại giết các bác sĩ người Đức ở Huế, và anh Otto Söllner tội nghiệp mà "tội ác" duy nhất là dạy trẻ em Việt Nam cách điều khiển một ban nhạc hòa tấu? Tại sao các anh bắt cóc những thanh niên thiện nguyện Knights of Malta, làm cho một số bị chết trong rừng rậm và số khác thì bị giam cầm tại Hà Nội? Tại sao các anh không bao giờ tự xét lương tâm về những hành động đó, theo cách những người Mỹ chính trực trong khi họ đã được xác định một cách đúng đắn là họ thuộc về phía lẽ phải trong cuộc Đại Chiến Thứ Hai, vẫn bị dằn vặt bởi cái di sản khủng khiếp để lại vì đánh bom rải thảm những khu dân cư trong nước Đức và tấn công bằng bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki?
Hồi tưởng lại cuộc thử thách trên con đường mòn Hồ Chí Minh trong tạp chí Der Spiegel, cô y tá Tây Đức Monika Schwinn nhớ lại cuộc gặp gỡ với các đơn vị chiến đấu Bắc Việt trên đường xuống phía Nam như là một trong những kinh nghiệm khủng khiếp nhất. Cô diễn tả cái cường độ của mối hận thù trên khuôn mặt của những tên lính đó và cô viết chính những tên Việt Cộng canh chừng phải khó khăn lắm mới ngăn chận họ không giết những người Đức ngay tại chỗ. Không có ai sinh ra là biết hận thù cả. Sự thù hận chỉ có thể có được do dậy dỗ. Nuôi dưỡng tính giết người trong lòng thanh niên là một khuôn phép huấn luyện chỉ có trường phái chủ nghĩa toàn trị là giỏi nhất. Trong cuốn tiểu sử rất hay nói về tay chỉ huy SS Heinrich Himmler, sử gia Peter Longerich diễn tả là ngay cả gã sáng lập viên cái lực lượng tàn độc gồm những tên côn đồ mặc đồ đen cũng khó lòng buộc thuộc hạ vượt qua sự kiềm chế tự nhiên để thi hành lệnh thảm sát Holocaust (Longerich. Heinrich Himmler. Oxford: 2012). Chính cái ánh mắt thù hận của những tên sát nhân Bắc Việt tại Huế làm ám ảnh những người tôi phỏng vấn hơn cả. Nhưng dĩ nhiên phải dành nhiều thời gian với họ, chịu sự đau khổ cùng họ, tạo niềm tin và trò chuyện với họ thì mới khám phá ra cái cốt lõi của một phần nhân tính con người, một hiểm họa về mặt chính trị và quân sự vẫn còn quanh quẩn bên chúng ta từ bốn thập niên qua. Chỉ phán ý kiến về nó từ trên tháp ngà đài truyền hình New York hay các trường đại học Ivy League thì không bao giờ đủ cả.
Trong một cuốn sách gây chú ý về đoàn quân Lê Dương Pháp, Paul Bonnecarrère đã kể lại cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đại tá đầy huyền thoại Pierre Charton và Tướng Võ Nguyên Giáp sau khi Pháp thất trận tại Điên Biên Phủ (Bonnecarrère. Par le Sang Versé. Paris: 1968). Charton là tù binh trong tay Cộng sản Việt Minh. Giáp đến thăm Charton nhưng cũng để hả hê. Cuộc gặp gỡ xẩy ra trong một lớp học trước mặt khoảng 20 học viên đang tham dự một buổi tuyên truyền chính trị. Cuộc đối thoại giữa hai nhân vật đối chọi nhau đã xẩy ra như sau:
Giáp: "Tôi đã đánh bại ông, thưa Đại tá!"
Charton: "Không, ông không đánh bại tôi, thưa Đại tướng. Rừng rậm đã đánh bại chúng tôi... cùng sự hỗ trợ các ông đã nhận được từ người dân bằng các phương tiện khủng bố."
Võ Nguyên Giáp không ưa câu trả lời này và cấm các học viên không được ghi chép nó. Nhưng đó là sự thật, hay chính xác hơn: đó là một nửa của sự thật. Cái nửa kia là các nền dân chủ như Hoa Kỳ đúng là không được trang bị về chính trị và tâm lý để theo đuổi một cuộc chiến trường kỳ. Sự nhận thức này, cùng với cách sử dụng các phương tiện khủng bố đã trở thành trụ cột trong chiến lược của Võ Nguyên Giáp. Hắn đã đúng và hắn đã thắng. Thậm chí nguy hiểm hơn nữa là ngày nay các chế độ toàn trị đang chú ý đến điểm này.
Cho đến tận ngày hôm nay tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi cái kết luận tôi bắt buộc phải rút ra từ kinh nghiệm về Việt Nam là: khi một nền văn hóa bê tha hủ hóa đã mệt mỏi về lòng hy sinh, nó sẽ có khả năng vứt bỏ tất cả. Nó đã chín mùi để bỏ rơi một dân tộc mà đáng lẽ nó phải bảo vệ. Nó còn thậm chí sẵn sàng xóa đi những mạng sống, sức khoẻ về thể chất và tinh thần, nhân phẩm, trí nhớ và danh thơm của những thanh niên đã được đưa ra mặt trận. Điều này đã xẩy ra trong trường hợp các cựu chiến binh Việt Nam. Tác động của sự khiếm khuyết đã ăn sâu trong các nền dân chủ tự do này rất đáng sợ vì cuối cùng nó sẽ phá hỏng chính nghĩa và tiêu diệt một xã hội tự do.
Tuy nhiên tôi không thể kết thúc câu chuyện ở đây bằng điều tăm tối này được. Là một người quan sát về lịch sử, tôi biết là lịch sử, mặc dù được khép kín trong quá khứ, vẫn luôn luôn mở rộng ra tương lai. Là một Ki-Tô hữu tôi biết ai là Chúa của lịch sử. Chiến thắng của Cộng sản dựa vào những căn bản độc ác: khủng bố, tàn sát và phản bội. Hiển nhiên tôi không biện minh cho chuyện tiếp tục đổ máu nhằm chỉnh lại kết quả, cho dù có khả thi đi chăng nữa. Nhưng là một người ngưỡng mộ tính kiên cường của dân tộc Việt Nam, tôi tin là họ sẽ cuối cùng tìm ra phương cách ôn hòa và các lãnh tụ chân chính để họ có thể thoát khỏi những tay bạo chúa. Có thể sẽ phải mất nhiều thế hệ, nhưng điều đó sẽ xẩy ra.
Trong ý nghĩa này, tôi bây giờ chỉ muốn xếp hàng vào đoàn xích-lô bên ngoài ga xe lửa Huế vào năm 1972, nơi chẳng có người khách nào quay trở lại. Chỗ của tôi ở đâu bây giờ? Tôi còn lại gì
nữa ngoài niềm hy vọng?



DUC: A Reporter's Love For a Wounded People

My new book, DUC - A Reporter's Love for A Wounded People, has received some stunning endorsements:
-->
This brilliant book reminds me of Theodore White's In Search of History. Duc is a compelling and elegantly-written memoir.  But it is much more than that.  Uwe Siemon-Netto challenges facets of our flawed historical memory of  the Vietnam War.  He exposes the false virtue of Vietnamese Communist forces  that brutalized innocents in their quest to impose their totalitarian system on the South Vietnamese people.  And he sheds fresh light and understanding on the experiences of those who endured thatbrutality, wartime reporters, and South Vietnamese and American troops as well as the interactions between them.

                                - Maj. Gen. H.R. McMaster, Ph.D. Author of Dereliction of Duty: Lyndon Johnson, Robert McNamara, the Joint Chiefs and the Lies That Led to Vietnam 

-->
          Uwe Siemon-Netto, the distinguished German journalist, has written a masterful memoir of his many years covering the Vietnam War.  He captures, as very few others have, the pathos and absurdities, the combat, cruelties and human cost of a conflict which – as he unflinchingly and correctly argues -- the wrong side won. From the street cafés of Saigon to Special Forces outposts in the central highlands, from villages where terror comes at night to the carnage and war crimes visited on the city of Hue at Tet, 1968, Uwe brings a brilliant reportorial talent and touch.  Above all, Uwe writes about the Vietnamese people: street urchins and buffalo boys, courageous warriors and hapless war victims, and the full human panoply of a society at war.  As a German, Uwe had, as he puts it, "no dog in this fight", but he understood the rights and wrongs of this war better than almost anyone and his heart, throughout the powerful and moving volume, is always and ardently with the Vietnamese people.

- Peter R. Kann, Pulitzer laureate 1972
Former publisher of the Wall Street Journal
and CEO of Dow Jones
         Uwe Siemon-Netto’s memoir about his years as a war correspondent in Vietnam is one of the most touching and moving books I have read in a long time. It is also hilarious. This renowned journalist, a longtime war correspondent for various German newspapers, made me both sad and happy. I did cry at times, but I also laughed. He took me on a splendid journey from Saigon to Hue and back again, always captivating me with his memorable talent and his unique way with engaging words and phrases. I couldn't get enough of his anecdotes about his little friends, a group of street urchins. They slept in his ramshackle car at night, protesting they were doing him a favor by guarding it. His vivid writing brings alive all kinds of unusual cosmopolitan "characters" he met, as well as the innocent victims and brave survivors of this war, in particular the everyday people of Vietnam. His genuine sympathy for the Vietnamese and his understanding of the war that engulfed them help to make this a powerful read.

- Barbara Taylor
Bradford. Author of
A Woman Of Substance and
 Secrets From The Past
Uwe Siemon-Netto, a reporter experienced but still young, German and so not naive about communism, arrived in Saigon to report the Vietnam War at its height. He fell in love with Vietnam and the Vietnamese. But he found Saigon to be a clubroom of armchair reporters, praising each other's idealistic dissent on the war, and followed the fighting into the countryside. There he found different truths -- the horror of the North Vietnamese massacre of young mothers dressed for the festival of Tet, the self-sacrifice of GIs and South Vietnamese troops, the heroic comedy of two WWII veterans -- a German and an English reporter -- bringing order to the chaos of resistance to a Vietcong attack. Every page has an eccentric or brave or charming or cowardly or villainous individual -- Vietnamese, American or European -- brought to life on it. Duc is an angry account of a betrayal of a nation. But there is hope about people on every page too.
- John O’Sullivan, Executive Editor
Radio Free Europe/Radio Liberty, 2008-2011
Editor-in-Chief, UPI, 2001-2004
Editor, National Review, 1988-2007
It seems appropriate that this meaningful and poetic book written from well ingrained memories going back 40 plus years comes to our attention just as we prepare to celebrate and honor the hundreds of thousands surviving Vietnam veterans who were sent away to defeat communism only to come home abandoned and mistreated by the country that sent them into this hellish war. I had the great pleasure of supervising Uwe during his tenure at the St Cloud, MN Veterans Affairs Medical Center early in my career as a Clinical Psychologist treating combat veterans with PTSD. His earlier book The Acquittal of God helped many of our veterans overcome longstanding painful spirituality issues and this current release will certainly help my generation to better fully understand the horrifying mindset and trauma enforced upon a culture and people by their fellow countrymen.
- James R. Tuorila, Ph.D., L.P.VFW Surgeon General, 2012-2013



Uwe Siemon-Netto’s account of the Vietnam War provides many new details and important insights. It is impossible to read the book without being reminded of Graham Greene's The Quiet American and Bernard B. Fall's Street Without Joy. It is beautifully written, relates very captivating stories and has been superbly translated into Vietnamese by Quy V. Ly and Hien Nguyen.
- Col. (ret.)  Duong Nguyen, MC,
Former Division Surgeon,
1st Armored Division U.S. Army
Former captain, ARVN Medical Corps
            Every reader will gain much from this book’s empathetic portrait of the countless tragedies the freedom-loving South Vietnamese suffered during and after the Viet Nam war, a war that still haunts many Americans who do not know or remember that their leaders, with the compliance of the American public, opted to enter this war with the commitment of protecting and saving the South Vietnamese from the Communist Viet Cong.  Uwe Siemon-Netto, a German war correspondent for five years in Viet Nam, shows, how Americans at home, unwilling to support their soldiers in a protracted war, together with their throw-away disposition, jettisoned their commitment.  They withdrew their forces, enabling Communists to slaughter millions in pursuit of “liberation,” a duplicitous term the new journalists, as social-advocates, a byproduct of the Viet Nam war, did not question.
- Rev. Alvin J. Schmidt, Ph.D.
Professor of sociology emeritus, Illinois College,
and Lutheran pastor

In this captivating memoir of his time in South Vietnam, Uwe Siemon-Netto describes what that country was really like. Having served there as a U.S. diplomat at about the same time, I can thoroughly vouch for the accuracy of his observations. The book abounds in incidents and episodes amusing, heartwarming, heartbreaking, depressing, frightening and thought provoking. Uwe did not shun danger and witnessed some fierce combat, notably at the bloody1965 Ia Drang battle.
He demonstrated both physical courage and the courage of his convictions, not hesitating to expose and condemn the Communist enemy regime as cruel and intrinsically evil. This was most dramatically illustrated by the notorious 1968 Hue massacre, which he depicts in detail. When Communist forces captured the old imperial capital of Hue during the Tet Offensive they came with prepared lists of leading citizens and foreigners whom they systematically executed. After the enemy was driven out, a mass grave with nearly 3,000 bodies was found, some buried alive.
Uwe has rendered a useful service in bringing attention to this greatest atrocity of the war, which many in our media minimized. Throughout, Uwe demonstrates an abiding affection for and understanding of the Vietnamese people. He fittingly begins the book by noting it ”has been written in the memory of the countless victims of the Communist conquest in South Vietnam,” and then lists them. A word of note: when one begins to read this book, it is hard to put down.

- William Lloyd Stearman, PhD., Director
White House National Security Council
Indochina Staff, 1973-1976  
Forty years ago at the time of this writing, Henry Kissinger - then America's secretary of state - shook hands with his North Vietnamese counterpart in Paris and signed the agreement that seemed to guarantee the long-awaited peace in Indochina ending the bitter war between North and South Vietnam. Prior to signing, Washington told Saigon not to worry. Should the Communists strike again, the United States would respond, immediately and rigorously.
But, of course, this promise was not kept. Two years later, Hanoi attacked with massive conventional armed force, just as it had in the spring of l972. Then the South's valiant soldiers threw back the Communist assault. But in April 1975, South Vietnam fell to Communism, spawning hundreds of thousands of "boat-people" a large part of who found refuge in the United States while many others drowned.
Throughout much of the Vietnam War, Germany's Axel Springer Verlag in Berlin, Europe's largest publishing house with dozens of magazines and papers, had relied on Uwe Siemon-Netto's splendid reporting for general and specialized coverage of the armed and political conflict in Vietnam.
The Vietnamese called him Đức, meaning the German. Now he has chosen this nickname as title of his memoir. This fine book is the proclamation of "A Reporter's Love for a Wounded People," as its subtitle states. It wraps up a rare distinguished career in the trenches.

-  H. Joachim Maitre, former editor of
Die Welt/Welt am Sonntag
Brookline, Mass., March 2013
I was a so-called "'68er," part of the rebellious youth movement of the sixties. In those days my knowledge derived largely from the media of the time. By reading Duc, I now realize this was insufficient to give me a real picture of the conflict. What has not changed, and was underpinned by Uwe Siemon-Netto’s  book, are my feelings about the cruelties and absurdities of war in general."
- Wolfgang Drautz,
Former Consul General of Germany, Los Angeles





                                                      
***

IN MEMORIAM

This book has been written in the memory of the countless innocent victims of the Communist conquest in South Vietnam, notably: 

  •             The hundreds of thousands of men, women, and children massacred in villages and cities, especially Hué;  
  •            The hundreds of thousands of South Vietnamesesoldiers and officials who were executed, tortured or imprisoned after the end of the war;
  •         The millions who were driven from their country and the hundreds of thousands who drowned in the process;
  •            The brave ARVN soldiers who fought on when all was lost, and their valiant generals who took their own lives in the end;
  •              The young South and North Vietnamese conscriptswho died in this so-called war of liberation, which brought no liberty;
  •              The 58,272 American, 4,407 South Korean, 487 Australian,
  • 351 Thai and 37 New Zealand soldiers who made
  • the ultimate sacrifice in Vietnam;
  •              My German compatriots who were murdered by the VietnameseCommunists, notably Dr. Horst-Günther and Elisabetha Krainick, Dr. Alois Alteköster, Dr. Raimund Discher, Prof. Otto Söllner, Baron Hasso Rüdt von Collenberg and many others, who came as friends and paid for it with their lives.


UWE SIEMON-NETTO


 

Epilogue

The fruit of terror and the virtue of hope


                        More than forty years have passsed by since I paid Vietnam my farewell visit.  In 2015, the world will observe the 40th anniversary of the Communist victory, and many will call it “liberation.” The Hué railway station, where a locomotive and a baggage car left on a symbolic 500-yard journey every morning at eight, no longer qualifies as Theater of the Absurd. It has been attractively restored and painted pink. Once again, as in the days of French dominance, it is the most beautiful station in Indochina, and taxi drivers do not have to wait outside in vain. Ten comfortable trains come through every day, five heading north, five going south. Collectively they are unofficially called Reunification Express. Should I not rejoice? Is this not just as in Germany, where the Berlin Wall and the minefields have gone, and now high speed trains zoom back and forth between the formerly Communist East and the democratic West at speeds up to 200 miles an hour?

                        Obviously I am glad that the war is over and Vietnam is reunified and prosperous, that the trains are running, and most of the minefields cleared. But this is where the analogy with Germany ends. Germany achieved its unity, in part because the Germans in the Communist East toppled their totalitarian government with peaceful protest and resistance, and in part thanks to the wisdom of international leaders such as Presidents Ronald Reagan and George G.W. Bush, Chancellor Helmut Kohl, and Soviet leader Mikhail Gorbachev, and partly because of the predictable economic collapse of the flawed socialist system in the Soviet Bloc. Nobody died in the process, nobody was tortured, nobody ended up in camps, nobody was forced to flee.

                        There is an incomprehensible tendency, even among respectable pundits in the West, to refer to the Communist takeover of the South as “liberation.” This begs the question: liberation from what and to what? Was South Vietnam “freed” for the imposition of a totalitarian one-party state that ranks among the world’s worst offenders against the principles of religious liberty, freedom of expression, freedom of speech, freedom of assembly, and freedom of the press? What kind of liberation was this that cost 3.8 million Vietnamese lives between 1955 and 1975 and has forced more than one million Vietnamese to flee their country, not only from the vanquished South, but even from ports in the North, causing between 200,000 and 400,000 of the so-called boat people to drown?

                        Was it an act of liberation to execute 100,000 South Vietnamese soldiers and officials after the fall of Saigon? Was it meant to be a display of generosity by the victors to herd between one million and 2.5 million South Vietnamese to reeducation camps, where an estimated 165,000 perished and thousands more have sustained lasting brain injuries and mental health problems resulting from torture, according to a study by an international team of scholars led by Harvard psychiatrist Richard F. Molina?

                        Since the mid-1960s, political and historical mythographers in the West have either naively or dishonestly accepted Hanoi’s line that this conflict was a “People’s War.” Well it was, if one accepts Mao Zedong’s and Vo Nguyen Giap’s interpretation of the term. But the Saxon Genitive implies that a “People’s War” is supposed to be a war of the people. In truth, it wasn’t. Some 3.8 million Vietnamese were killed between 1955 and 1975. Approximately 164,000 South Vietnamese civilians were annihilated in a Communist democide during that same period, according to political scientist Rudolf Joseph Rummel of the University of Hawaii. The Pentagon estimated that 950,000 North Vietnamese and more than 200,000 South Vietnamese soldiers fell in combat, in addition to 58,000 U.S. troops. This was no war of the people; it was a war against the people.

                        In the all too often hypocritical rhetoric about the Vietnam War over the last 40 years, the key question has gone AWOL, to use a military acronym meaning absent without leave, and the question is: Did the Vietnamese people desire a Communist regime? If so, how was it that nearly one million northerners moved south following the division of their country in 1954, while only about 130,000 Vietminh sympathizers went in the opposite direction?

 Who started this war? Were there any South Vietnamese units operating in North Vietnam? No. Did South Vietnamese guerillas cross the 17th parallel to disembowel and hang pro-Communist village chiefs, their wives and children in the northern countryside? No. Did the South Vietnamese regime massacre an entire class of people by the tens of thousands in is territory after 1954 the way the North Vietnamese had liquidated landowners and other potential opponents of their Soviet-style rule? No. Did the South Vietnamese establish a monolithic one-party system? No.

                        As a German citizen, I had no dog in this fight, as Americans would say. But to paraphrase the Journalists’ Prayer Book, such as hardened reporters have hearts, mine was, and still is, with the wounded Vietnamese people. It belongs to these sublime women who can often be so blunt and amusing; it belongs to the cerebral and immensely complicated Vietnamese men trying to dream the perfect dream in a Confucian way; to the childlike soldiers going to battle carrying their only possessions – a canary in a cage; to young war widows who had their bodies grotesquely modified just to catch a GI husband and create a new home for their children and perhaps for themselves, rather than face a Communist tyranny; to those urban and rural urchins minding each other and water buffalos. What a hardened heart I had, it belonged to those I saw running away from the butchery and the fighting – always in a southerly direction, but never ever north, until at the very end there was no VC-free square inch to escape to.   I saw them slaughtered or buried alive in mass graves, and still have the stench of putrefying corpses in my nostrils.

                        I wasn’t there when Saigon fell after entire ARVN units, often so maligned in the U.S. media and now abandoned by their American allies, fought on nobly, knowing that they would neither win nor survive this final battle. I was in Paris, mourning, when all this happened, and I wish I could have paid my respects to five South Vietnamese generals before they committed suicide when the game was over that they should have won: Le Van Hung (born 1933), Le Nguyen Vy (born 1933), Nguyen Khoa Nam (born 1927), Tran Van Hai (born 1927) and Pham Van Phu (born 1927).

                        As I write this epilogue, a fellow journalist and scholar of sorts, a man born in 1975 when Saigon fell, is making a name for himself, pillorying American war crimes in Vietnam. Yes, they deserve to be pilloried. Yes, they were a reality. My Lai was reality; I know, I was at the court martial where Lt. William Calley was found guilty. I know that the body count fetish dreamed up by the warped minds of political and military leaders of the McNamara era in Washington and U.S. headquarters in Saigon cost thousands of innocent civilians their lives.

                       But no atrocity committed by dysfunctional American or South Vietnamese units ever measured up to the state-ordered carnage inflicted upon the South Vietnamese in the name of Ho Chi Minh. These crimes his successors will not even acknowledge to this very day because nobody has the guts to ask them: why did your people slaughter all these innocents whom you claimed to have fought to liberate? As a German, I take the liberty of adding a footnote here: why did you murder my friend Hasso Rüdt von Collenberg, the German doctors in Hué, and poor Otto Söllner, whose only “crime” was to have taught young Vietnamese how to conduct an orchestra? Why did you kidnap those young Knights of Malta volunteers, subjecting some to death in the jungle and others to imprisonment in Hanoi? Why does it not even occur to you to search your conscience regarding these actions, the way thoughtful Americans, while correctly laying claim to have been on the right side in World War II, wrestle with the terrible legacy left by the carpet bombing of residential areas in Germany and the nuclear attacks on Hiroshima and Nagasaki?

                        Reminiscing on her ordeal on the Ho Chi Minh Trail in the news magazine Der Spiegel, the West German nurse Monika Schwinn recalled her encounter with North Vietnamese combat units on their way south as one of her most horrifying experiences. She described the intensity of hatred in the facial expressions of these soldiers and wrote that her Vietcong minders had great difficulty preventing them from killing the Germans on the spot. Nobody is born hating. Hate must be taught. Fostering murder in the hearts of young people involved a teaching discipline at which only the school of totalitarianism excels. In his brilliant biography of SS leader Heinrich Himmler, historian Peter Longrich relates that even this founder of this evil force of black-uniformed thugs did not find it easy to make his men overcome natural inhibitions to execute the holocaust (Longerich. Heinrich Himmler. Oxford: 2012). It was the hatred in the eyes of the North Vietnamese killers in Hué that many of the survivors I interviewed considered most haunting. But of course one did have to spend time with them, suffer with them, gain their confidence and speak with them to discover this central element of a human, political and military catastrophe that is still with us four decades later. Opining about it from the ivory towers of a New York television studio or an Ivy League school does not suffice.

                        In a stirring book about the French Foreign Legion, Paul Bonnecarrère relates the historic meeting between the legendary Col. Pierre Charton and Gen. Vo Nguyen Giap after France’s defeat at Dien Bien Phu (Bonnecarrère. Par le Sang Versé. Paris: 1968).  Charton was a prisoner of war in the hands of the Communist Vietminh. Giap came to pay his respects to him but also to gloat. The encounter took place in a classroom in front some 20 students attending a political indoctrination session. The dialogue between the two antagonists went thus:

                        Giap: “I have defeated you, mon colonel!

                        Charton: “No you haven’t, mon general. The jungle has defeated us… and the support you received from the civilian population -- by means of terror.”

                        Vo Nguyen Giap didn’t like this answer, and forbade his students to write it down. But it was the truth, or more precisely: it was half of the truth. The other half was that democracies like the United States seemed indeed politically and psychologically ill equipped to fight a protracted war. This realization, alongside the use of terror tactics, became a pillar of Giap’s strategy. He was right and he won. Even more dangerous totalitarians are taking note today.

                        To this very day I am haunted by the conclusion I was forced to draw from my Vietnam experience: when a self-indulgent throwaway culture grows tired of sacrifice it becomes capable of discarding everything. It is prepared to dump a people whom it set out to protect. It is even willing to trash the lives, the physical and mental health, the dignity, memory and good name of the young men who were sent to war. This happened in the case of the Vietnam Veterans. The implications of this deficiency endemic in liberal democracies are terrifying because in the end it will demolish their legitimacy and destroy a free society. 

However, I must not end my narrative on this dark note. As an observer of history, I know that history, while closed to the past, is always open to the future. As a Christian I know who is the Lord of history. The Communist victory in Vietnam was based on evil foundations: terror, murder and betrayal. Obviously, I do not advocate a resumption of bloodshed to rectify this outcome, even if this were possible. But as an admirer of the resilient Vietnamese people, I know that they will ultimately find the right peaceful means and the leaders to rid themselves of their despots. It might take generations, but it will happen.

             In this sense, I will now join the queue of the pedicab drivers outside the Hué railway station where no passenger arrived back in 1972. Where else would my place be? What else do I possess but hope?

Saturday, June 1, 2013

Hẹn một ngày về

Anh đứng ngàn năm thao diển nghỉ
Em nằm xỏa tóc đợi chờ anh
Người yêu ơi câu ước hẹn chưa thành
Mà chinh chiến ngăn đôi mình đôi ngã
Đà Nẳng Nha trang cách nhau xa quá
Em ở phố phường còn nhớ anh không
Đây Nha Trang sóng vổ cạnh Hòn Chồng
Trường Đồng Đế những chiều êm nắng đổ
Đêm di hành nghe trùng dương sóng vổ
Lẩn tiếng buồn vang từ rặng thùy dương
Em ở phương xa trong buổi tan trường
Về đơn lẻ xin đừng buồn em nhé
Anh ra đi xả thân vì quê mẹ
Câu ước thề xin hẹn lại mai sau
Nếu sau nầy em còn nhớ thương nhau
Xin đọc lại cánh thư xanh anh gởi
Lời nhắn nhủ cùng em nầy em hởi
Nơi tuyến đầu còn vang tiếng đạn thù
Anh miệt mài trong khói lửa biên khu
Tan chinh chiến anh về cùng em nhé

SVSQ Lê Chiến khóa 8/72


Huyền thoại Hòn Khô

Anh một sớm rời Trường Sơn quê mẹ
Vào Nha Trang theo nhịp bước quân hành
Sương chiều về ước mái tóc ai xanh
Da sạm nắng hiên ngang hồn lộng gió
Em một sáng trường tan về trước ngỏ
Chiều Ba Làng thuyền xa bến nhấp nhô
Mắt em buồn nhìn vọng hướng Hòn Khô
Có cô gái nghìn năm nằm xỏa tóc
Anh tay trắng nhưng vòng tay ngà ngọc
Em diểm kiều nhưng mơ mộng bình thường
Ngày gặp nhau nghe thương quá là thương
Em gái sắc anh trai tài lưu luyến
Tay trong tay đưa em về trên biển
Nụ hôn đầu ngây ngất buổi bên nhau
Trùng dương ơi cơn sóng vổ xanh màu
Màu hy vọng một ngày tròn mộng ước
Rời quân trường miền xa anh dấn bước
Đêm từng đêm súng thù vọng nẻo xa
Ngày hành quân trên quốc lộ mười ba
Anh anh dũng hy sinh đền nợ nước
Từ phương xa tin buồn em biết được
Chiến hào thành nấm mộ phủ đời anh
Khăn tang nào che mái tóc em xanh
Người cô phụ khóc thương hồn tử sỉ
Rồi từ đó anh đứng thao diển nghỉ
Để em nằm xỏa tóc đợi chờ anh .
Nghia trang buồn tan vở mộng ngày xanh
Anh đứng đó ngẩn ngơ trong huyền thoại

SVSQ Lê Chiến khóa 8/72
Chi Đoàn 2/15 TK Lử Đoàn III KB



Em vẫn còn xõa tóc đợi chờ
Phạm Hùng, TX
Riêng tặng Thiếu úy Vũ nhật Minh Khoá 10B/72 Ðồng Ðế Nha Trang

Anh bỏ đi không còn thao diễn nghĩ
Em vẫn nằm xõa tóc đợi chờ anh
Ngày lại ngày..mỏi mắt hướng biển xanh
Người chiến sĩ năm xưa đâu chẳng thấy..!

Chàng biền biệt từ tháng Tư năm ấy
Thuỡ giặc tràn cướp mất đất quê hương
Ðồng Ðế buồn cây cỏ phủ tang thương
Lưng chừng núi sương vương thành mây trắng

Những buổi trưa hàng dương buồn trong nắng
Ðứng im lìm ủ rủ nhớ thương ai
Thoáng ngày nào làm bạn những chàng trai
Xếp sách vở chọn đường mang cung kiếm

Ðường Ba Làng lâu nay đã tắt lịm
Vắng tiếng ca vang theo nhịp bước đều
“Tàn trong bóng chiều ..” sao thấy quạnh hiu!
Chàng chiến sĩ phương nào anh có biết ..?

Ðường Bãi Tiên non cao nước biếc
Núi hòn Khô da diết nhớ mong anh
Em vẫn nằm xõa tóc ngắm biển xanh
Nghe sóng vỗ tưỡng như lời anh nhắn

Chàng chiến sĩ năm xưa anh tắm nắng
Gội sương sa Ðồng Ðế đậm màu da
Anh ở đâu .. để ngăn cách tình ta?
Em vẫn đợi, vẫn nằm đây xõa tóc…
Phạm Hùng 10B72

Em trach anh nhung nguoi trai dung si
Chang giu gin trinh tiet cua doi em !!!!
Nao sung guom,nao chi khi hao hung
Anh bo lai: Em,Que huong, Dan toc....

Em trach anh nhung anh chang Dong De
Mang guom thieng nghao nghe anh mat troi
Khuc hung ca ,chan buoc chang ra roi
Anh dau nhi Hung, Hoa ,Minh Vu ?

Trần Quang Lan 10B72



Đợi người tôi yêu

Tôi có người yêu về Đồng Đế
Mùa hè đỏ lửa bảy mươi hai
Nên có những ngày trên phố Huế
Mình tôi ngơ ngẩn bóng trang đài
Tôi có người yêu thơ không gởi
Thao trường mệt mỏi lội đèo cao
Nên có những đêm mòn mỏi đợi
Cánh nhạn đường xa nhớ dạt dào
Tôi có người yêu là lính chiến
Ba lô súng đạn bước quân hành
Nên có những chiều về trên biển
Mình tôi thơ thẩn bóng mây xanh
Tôi có người yêu xa phố củ
Về Nha Trang rợp bóng thùy dương
Nên có tiếng chuông chùa Thiên Mụ
Ru tôi tròn giấc ngủ đêm trường
Tôi có người yêu chưa trở lại
Nụ hôn đầu mải ngọt đầu môi
Nên có cơn mê về ái ngại
[Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi ?]

SVSQ Lê Chiến khóa 8/72
Chi Đoàn 2/15 TK Lử Đoàn III KB


Thư người em gái

Chiều nay có ai về Nha Trang
Biển vắng người quen nhạt nắng vàng
Nhắn với anh tôi mùa lúa chín
Mẹ nhờ người gặt độ thu sang

Chiều nay có ai về đường xa
Thao trường còn vọng tiếng quân ca
Nhắn với anh tôi đừng khóc nửa
Quán trọ đường xa buổi nhớ nhà

Chiều nay có ai về biển Đông
Bầy chim én liệng đinh Hòn Chồng
Nhắn với anh tôi thuyền cập bến
Không có khách về quạnh bến sông

Chiều nay có ai về Bải Tiên
Dỏi mắt mờ xa một bóng thuyền
Nhắn với anh tôi mau trở lại
Giặc về quê mẹ hết bình yên

Chiều nay có ai về trong đêm
Đạn rơi tiếng pháo vọng bên thềm
Nhắn với anh tôi đừng ngại bước
Mẹ già hôm sớm sống bên em .

Lê Chiến khóa 8/72
Chi Đoàn 2/15 TK LĐ III KB

Thư gởi người em gái

Chiều hôm nay có ai về quê cũ
Tìm dùm tôi người con gái tên Duyên
Nhắn với em tôi giữ trọn lời nguyền
Em gắng đợi chờ ngày về tao ngộ

Nay quê nhà chắc đến muà lúa trổ
Cánh đồng làng rộn rã tiếng hò khoan ..
Tôi ở đây ngày vẫn bước nhịp nhàng
Cất tiếng hát quân trường vang tiếng gọi

Thao trường .. đổ mồ hôi lên cát sõi
Mai chiến trường bớt đổ máu đào rơi!
Ðời chiến binh phiêu bạt bốn phương trời
Mang chí cả tung hoành muôn vạn nẽo

Chiều Bải Tiên ngồi nhìn từng đợt sóng
Nghe rì rào tôi ngỡ tiếng em trao
Thì thầm nhau câu hẹn ước hôm nào
Yêu nhau mãi cho dù mình xa cách ..

Ðêm Nha Trang tôi đứng nhìn biển rộng
Ngắm ngân hà tôi mơ mộng vu vơ
Có vì sao rơi rớt thật xa bờ
Chợt cảm thấy lòng buâng quơ xao xuyến ..

Em yêu hởi! Những ngày xưa quyến luyến
Kẻ phương nầy, phương đó nhớ thương nhau
Cầu mong ngày đất nước hết binh đao
Mình sẽ mãi bên nhau em yêu dấu ..

Phạm Hùng 10b/72


Bài thơ kỷ niệm

Thân tặng các bạn đồng môn khóa 10B/72.
Huynh Trưởng Vĩnh Thao khóa 9 B/72

Ba mươi lăm năm ngày ấy ta chia tay,
Cung kiếm bên mình ta bỏ dở.
Tàn cuộc chiến về ôm mối hận,
Mộng chinh nhân dang dở cả cuộc đời,
Còn chi nữa lý tưởng cả đời trai,

Ba mươi lăm năm ngày ấy ta xa nhau,
Bốn phương là nhà ta tung cánh,
Cho tròn thỏa sức chí làm trai,
Anh biên giới, tôi vùng sông nước,
Anh cao nguyên, tôi băng rừng lội suối,
Cả cuộc đời nguyện hiến tặng non sông.

Ba mươi lăm năm ngày ấy đã xa,
Ba mươi lăm năm ngày ấy, ta lại gặp,
Bạc con tim, bạc cả mái đầu,
Cười trong nước mắt nuốt thương đau,
Mang kỷ niệm lý tưởng cả đời trai,
Men rượu đắng nuốt cả hận đời,
Tình chiến hữu say tình huynh đệ.

Ba mươi lăm năm ngày ấy đã xa,
Ba mươi lăm năm ngày ấy, ta lại gặp,
Huynh đệ chi binh vui mừng lắm,
Nâng chén cạn ôm cả vòng tay,
Kỷ vật đó đời trai nhớ quá,
Bạn bè dăm đứa chỉ còn đây,
Uống cạn ly này nữa anh bạn,
Ấm lòng chiến sỹ nay đầu bạc,
Buồn nhớ sưởi ấm thêm tình chiến hữu,

Ba mươi lăm năm ấy ta lại gặp,
Đừng quên nhé, ta lại gặp,
Đủ bạn bè thương nhớ lại đầy vơi…

26/10/1973 – 26/10/2008
Alfa Hoàng cúc


Nhớ người tình xa .

Ngày hôm ấy nắng vàng rơi rất nhẹ
Bến sông Hàn em buồn tiển anh đi
Tay trong tay nghe lệ nóng vành mi
Mai tan học em về ai trông ngóng

Ngày đi phép xe dừng cầu Xóm Bóng
Anh sinh viên lể phục dáng oai hùng
Trên Tháp Bà nhìn cơn nước mông lung
Trôi về biển lặng lờ nghe nhớ quá

Biển Nha Trang hàng thùy dương rủ lá
Âm điệu buồn cơn sóng vổ mênh mông
Anh đời trai phiêu bạt giử non sông
Chưa trở lại trên vai còn nặng gánh

Thu qua rồi đông về nghe thấm lạnh
Anh chưa về em có nhớ có thương
Mới hôm nao mà chín tháng quân trường
Rời Đồng Đế anh ra vùng hỏa tuyến

Viết cho em bài thơ từ trận chiến
Khi súng thù vang vọng nẻo sơn khê
Vì quê hương anh lở hẹn chưa về
Nhớ em quá những ngày trên chốn lạ

SVSQ Lê Chiến khóa 8/72
Chi Đoàn 2/15 TK LĐ III KB


Tiếc Thương
Kính tặng hương hồn Thiếu Úy Trương Văn Thông CĐ 2/18 TK đả tử trận tại Khiêm Hanh .
Mình rời Nha Trang về đơn vị mới
Về trường Long Thành gió bụi chiều mưa
Tao ở miền Trung về không ai đợi
Mầy ở Tuy Hòa đi chẳng ai đưa
Mình gần bên nhau những ngày lận đận
Mấy tháng học hành trả nợ non sông
Mản khóa ra trường mặc cho số phận
Về Lử Đoàn ba [III] thỏa chí tang bồng
Ngày đến Tân Uyên Thiết Đoàn mười tám
Chiến xa lên đồi đạn nổ tứ tung
Những buổi hành quân rừng khô cháy nám
Thiết Giáp Binh ta Dũng Liệt Kiên Hùng
Ngày rời An Điền xa vùng lửa đạn
Tao về mười lăm [ TĐ 15] trở lại An Điền
Biết nói sao đây đổ thừa số mạng
Đôi lần gặp nhau tâm sự hàn huyên
Chiều ở Khiêm Hanh chiến xa dừng lại
Người lính thân quen đến báo tin mầy
Anh dũng hy sinh chia buồn ái ngại
Khóc mải Thông ơi giọt lệ nồng cay
Một thằng còn đây một đời lửa đạn
Một thằng đi rồi một cỏi bình an
Ngày về Biên Hòa mềm môi rượu cạn
Khóc ai hôm nào chiều xuống nghia trang.

SVSQ Lê Chiến khóa 8/72 Đồng Đế
Chi Đoàn 2/15 TK Lử Đòan III Kỵ Binh



NHẬP CUỘC
Rồi cũng xong những nắng mưa gian khổ
Đã xa rồi thời ứng chiến, gát đêm
Ngày mai rực ánh hồng trên quang lộ
Vung gươm thiêng, khua ánh thép vang rền.

Mang hào khí của bao đời lịch sử
Súng trên tay nhập cuộc với binh đao
Bạn và tôi theo gương của anh hào
Mang tuổi trẻ dấn thân vì sông núi.

Bước giang hồ sá gì thân gió bụi
Gánh quê hương chia xẻ với Cha, Anh
Dường như có tiếng Người xưa vang vọng
Gọi Ta đi theo từng bước quân hành.

Rồi cũng đến lúc lìa xa Trường Mẹ
Bạn và Tôi dong ruổi bốn phương trời
Thanh kiếm bạc vẻ trang đời Bạn nhé
Cho vầng dương muôn thuở rạng trùng khơi.

Chào Đồng Đế, Nha Trang. Ta nhập cuộc!
Chào đêm mưa, sương muối, nắng quân trường.
Bạn cùng tôi lên đường vì đất nước
Mang hùng tâm tuổi trẻ đến biên cương.

HUY VĂN
(Nha Trang 28-08-1973 ) [B]
[B]