Friday, October 11, 2013

THỊ TRẤN KHÂM ĐỨC



Còn đang mơ màng với cảnh rừng núi hoang vu hùng vĩ thì tấm bảng “Thị Trấn Khâm Đức” bỗng sừng sững ngay bên lề đường. Vợ chồng tôi rất vui sướng vì đây là một địa danh mà tôi rất mong muốn được đặt chân tới. Những năm trước đây tôi vẫn thường nói với bà xã về cái tên Khâm Đức này, nhưng lúc đó đâu có biết là nó xa xôi hẻo lánh và lại có một vị trí chiến lược quan trọng như thế này. Trong suốt mấy tiếng đồng hồ vừa qua, tôi cũng đã luôn miệng nhắc nhở tới nó. Lý do là vì vào khoảng đầu năm 1970, tôi đã được tham dự một cuộc hành quân trực thăng vận xuống thung lũng lịch sử này cùng với các chiến sĩ thuộc Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 6, Sư đoàn 2 Bộ Binh. Cho nên bây giờ, thực tình, tôi rất sung sướng hãnh diện về việc trước kia đã được đặt chân tới nơi đây, coi đó như là một biến cố lớn trong cuộc đời. Biết bao huynh trưởng lính chiến thứ thiệt, cuộc đời quân ngũ lâu dài gian khổ, với những chiến công oanh liệt hiển hách hơn tôi xa vời, nhưng thử hỏi dễ có mấy ai đã có cơ hội dẫn được ... em gái hậu phương thuở nào đến tận chỗ mình đổ quân ngày trước, lên đến tận đỉnh Trường Sơn, để cùng cô em thăm lại chiến trường ngày xưa. 
 –        Đây này, ngay chỗ này này, anh vừa phóng ra khỏi trực thăng thì một trái pháo rơi ở chỗ kia, anh phải nhào ngay xuống cái giao thông hào của Vi Xi đào sẵn nên mới toàn thây... VC vẫn còn đóng quân trên ngọn đồi kia kìa, khẩu đại liên từ đó nã đạn xuống đây ào ào, súng vẫn còn vang vọng chát chúa từ khu rừng trước mặt, bom nổ ầm ầm ngay sườn núi đó...

Tôi thì chỉ có thể cương với cô em đại khái như vậy, nói phét thêm là lộ tẩy ngay vì nàng đã biết quá rõ cuộc đời binh nghiệp làm... lính thành phố của tôi từ khuya rồi. Giá mà gặp phải quí vị nhỉ:

–        Anh cho Đại Đội 1 tràn lên hướng đó, Đại Đội 2 đánh bọc hướng này, còn anh thì dẫn Đại Đội Trinh Sát từ đây lao thẳng ngay tới mục tiêu, khóa họng khẩu đại liên luôn... Trung uý X bị thương tại sườn núi đó, Thiếu úy V gục chết tại chân đồi kia kìa...

Le lói và oai phong lẫm liệt biết chừng nào. 


Lúc đó Khâm Đức là một vùng rừng núi hoang vu, thâm sơn cùng cốc, nhưng ngày nay, nó đã được biến thành một thị trấn có phố xá và dân cư tụ về làm ăn buôn bán. Từ xa người ta đã nhìn thấy hai tòa khách sạn nhiều tầng, sơn phết lòe loẹt, nổi bật lên trên nền xanh của rừng núi mênh mông bao la. Đây là một trong ba thị trấn trên đường HCM, hai thị trấn kia là Hiên (P’rao) và A Lưới. 



Khâm Đức có được một số dân cư như hiện nay, vì nó là một địa danh nổi tiếng trong chiến tranh nên đã thu hút nhiều du khách ngoại quốc. Nhưng lý do chính có lẽ vì nó là một nơi duy nhất trên suốt chiều dài con đường HCM, từ Đắc Tô đến A Tép, cả hơn năm, sáu trăm cây số đường rừng, toàn là núi non hiểm trở và dốc đứng, đây là một nơi duy nhất có được một mặt bằng khá rộng. Nhờ có mặt bằng này mà người ta có thể kiến thiết các phương tiện để du khách dừng chân nghỉ ngơi trong một chuyến du lịch đường dài mệt nhọc. 

 Như nhiều người đã biết, Khâm Đức là một thung lũng hẹp, bề ngang khoảng hơn 1 cây số, bề dài khoảng 3 cây số. Vì cũng là một trong các cái chốt quan trọng án ngữ đường tiến của quân đội Bắc việt trên đường mòn HCM, nên ngay từ thời Đệ nhất cộng hòa, Khâm Đức đã được đặc biệt lưu tâm. Một sân bay dành cho phi cơ vận tải C123 đã dược xây dựng để duy trì thường xuyên một trại Lực lượng Đặc biệt tại đây. Khâm Đức lúc đó cũng là chỗ tập trung cải huấn dành cho các cậu cao bồi du đãng bị bắt tại Sài Gòn. Sau cuộc đảo chánh 1963, khi làm chỉnh lý, tướng Nguyễn Khánh cũng đã biệt giam bốn tướng “trung lập” Kim, Đôn, Xuân, Đính tại đây. Khi quân đội Mỹ ồ ạt đổ vào Việt Nam, Khâm Đức cũng đã được Lực lượng Mũ xanh Hoa Kỳ sử dụng như một tiền đồn chủ yếu, sân bay được nới rộng cho C130 lên xuống. Tuy vậy, vì là một thung lũng quá nhỏ hẹp, nên sân bay rất dễ bị địch pháo kích, phi trường chỉ được sử dụng trong các trường hợp tối cần thiết, riêng các phi vụ chuyển thư hay tiếp tế hàng ngày thì phi cơ thường chỉ lướt sát phi đạo để bung hàng hóa ra rồi vọt lên ngay chứ ít khi dám đậu lại để xuống hàng.

 Nhưng chỉ ít năm sau đó, dưới áp lực quá nặng của địch, Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ cũng phải rút khỏi Khâm Đức.

Khâm Đức giữ một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng như vậy, nhưng cũng giống như vùng A Sau, A Lưới, vì nằm qúa xa, ngoài tầm yểm trợ của pháo binh, vào mùa mưa thì sương mù dầy đặc, không quân cũng không thể tiếp cứu hữu hiệu được. Cho nên các địa điểm này, tuy là những vị trí chiến lược vô cùng quan trọng để án ngữ đường xâm nhập của Bắc quân trên đường HCM, nhưng ngay cả khi quân lực Mỹ còn trực tiếp tham chiến, các cứ điểm này cũng đã đều bị bỏ ngỏ.

Riêng với Thành Mỹ (Thường Đức), đó là một địa điển duy nhất án ngữ trên đường HCM, nhưng có thể được yểm trợ bằng pháo binh từ các cứ điểm chung quanh như Đại Lộc, Duy Xuyên, Quế Sơn…


Vũ Linh Châu.






















LLĐB KHÂM ĐỨC (A-105)

Vũ đình Hiếu


Trại Lực Lượng Đặc Biệt Khâm Đức (A-105) nằm về hướng tây tỉnh Quảng Tín. Trong mùa Xuân năm 1968, nó là căn cứ biên phòng duy nhất còn đứng vững trong vùng I chiến thuật. Đơn vị nhận lãnh trách nhiệm yểm trợ, tiếp ứng cho trại LLĐB Khâm Đức được trao cho sư đoàn 23 (Americal) Bộ Binh Hoa Kỳ đóng trong căn cứ Chu Lai nơi bờ biển.
Liên đoàn 1 LLĐB/HK đến Việt Nam trong tháng Chín năm 1963, đưa một toán A/LLĐB đến thám sát khu vực và cho rằng, Khâm Đức đã có sẵn một phi đạo cũ, là một điạ điểm lý tưởng để theo dõi, bảo vệ đường biên giới Việt-Lào. Trại LLĐB Khâm Đức được xây dựng trong một thung lũng, trên một khu đất phẳng, với cỏ tranh, xung quanh là rừng núi âm u, dường như không có người bén mảng đến. Ngôi làng nhỏ duy nhất trong khu vực nằm bên kia phi đạo, là nơi ăn ở, sinh sống, vợ con đơn vị dân sự chiến đấu, được tuyển mộ phòng thủ căn cứ.
Về hướng tây trại LLĐB là rặng núi Ngok Peng Bum, phiá đông là rặng Ngok Pe Xar. Từ trên núi có nhiều thác, nước chẩy rất mạnh xuống suối chia đôi mầu xanh thẫm của rừng núi. Giòng sông Dak Mi, chẩy ngang qua, khu vực trại LLĐB khoảng một dặm, dưới bóng mát rặng núi Ngok Pe Xar. Dọc theo dòng sông Dak Mi khoảng năm dặm về hướng nam có một căn cứ hành quân tiền phương Ngok Tavak. tại đây có 113 dân sự chiến đấu thuộc đại đội 11 xung kích, tiếp ứng Mike Force cùng với 8 quân nhân LLĐB Việt-Mỹ và ba cố vấn LLĐB (SAS) Úc Đại Lợi trấn đóng. Vì căn cứ Ngok Tavak nằm ngoài tầm yểm trợ của pháo binh bạn, nên được tăng cường một trung đội 33 quân nhân Pháo Binh TQLC/HK, thuộc pháo đội D, tiểu đoàn 2, trung đoàn 12 TQLC với hai khẩu đại bác 105 ly.
Đại úy Christopher J. Silva chỉ huy toán A-105 LLĐB/HK đáp trực thăng vào căn cứ Ngok Tavak ngày 9 tháng Năm 1968 để xem xét lại việc phòng thủ, vì ông ta đã được biết quân đội Bắc Việt đưa thêm quân vào trong khu vực trại LLĐB Khâm Đức. Vấn đề này làm đại úy Silva lo ngại, một trận tấn công sắp xẩy ra. Hôm đó thời tiết xấu, trực thăng không vào đưa ông ta trở về trại LLĐB Khâm Đức. Tiếp theo là một trung đội dân sự chiến đấu từ Khâm Đức, đi tuần bị phục kích cũng chạy đến căn cứ Ngok Tavak. Sau này mới biết trung đội này đã bị địch quân gài người vào làm nội tuyến.
Khoảng 3 giờ 15 phút sáng ngày 10 tháng Năm, quân đội Bắc Việt mở trận tấn công căn cứ Ngok Tavak. Căn cứ bị pháo kích bằng súng cối và đại bác không dật, bắn thẳng từ những sườn núi bao quanh căn cứ. Khi địch quân bắt đầu tấn công bằng bộ binh, các dân sự chiến đấu từ trại LLĐB Khâm Đức, bỏ phòng tuyến chạy vào bên trong la lớn “Đừng bắn. Quân bạn”, rồi bất ngờ ném lựu đạn vào ụ súng đại bác 105 ly.
Bị vố bất ngờ, quân trú phòng bị tổn thất nhưng giết tất cả mấy tên nội tuyến. Quân đội Bắc Việt được lợi thế, từ trên các sườn đồi bắn đại liên xuống làm cho đơn vị xung kích Mike Force không ngóc đầu lên bắn trả được. Địch quân xử dụng súng phun lửa đốt kho chứa đạn làm cháy sáng cả đêm. Binh sĩ LLĐB/HK Harold M. Swicegood và trung đội trưởng TQLC/HK, thiếu úy Adams bị thương nặng được đưa vào hầm chỉ huy (trung tâm hành quân) của căn cứ. Đúng lúc đó y tá Blomgren chạy vào báo cáo nhân viên trong khẩu đội súng cối đã bỏ vị trí. Đại úy Silva chạy ra xử dụng khẩu súng cối 4,2 ly, sau đó bị thương. Khoảng 5 giờ sáng, trung sĩ Glen Miller chạy ra ụ súng đại bác 105 ly, bị trúng đạn vào đầu chết ngay tức khắc.
Quân đội Bắc Việt chọc thủng phòng tuyến hướng đông căn cứ Ngok Tavak, di chuyển các khẩu đại liên vào sát hàng rào phòng thủ. Trong tình thế cấp bách, căn cứ yêu cầu phi cơ “Hỏa Long” AC-47 tác xạ xung quanh tuyến phòng thủ căn cứ và ụ súng đại bác, mặc dầu có thể còn quân bạn, chỉ bị thương chưa ra khỏi ụ súng đại bác. Cuộc tấn công của địch khựng lại, hai bên chỉ nằm thủ, ném lựu đạn qua lại cho đến sáng.
Khi trời bắt đầu sáng, hai sĩ quan cố vấn LLĐB Úc Đại Lợi, Cameron, Lucas, có thêm Blomgren, chỉ huy dân sự chiến đấu (Mike Force) phản công đẩy lui địch quân ra khỏi căn cứ, chiếm lại khẩu đại bác 105 ly. Pháo binh TQLC Hoa Kỳ bắn hết chín qủa đạn còn lại rồi phá hủy khẩu súng. Sau đó trực thăng tản thương được các trực thăng võ trang yểm trợ bay đến căn cứ di tản các thương binh, trong đó có đại úy Silva và Swicegood.
Một lực lượng xung kích tiếp ứng Mike Force, khoảng 45 người thuộc đại đội 12 Mike Force do đại úy Eugene E. Makowski chỉ huy được hai trực thăng CH-46 (giống như CH-47 Chinook) của TQLC/HK đưa vào căn cứ Ngok Tavak thay thế số quân nhân bị chết và bị thương. Một chiếc trực thăng bị trúng đạn nơi ống dẫn xăng, phải đáp xuống, chiếc thứ hai trúng hỏa tiễn nổ tung, rơi trên bãi đáp. Những quân nhân bị thương còn sót lại được một trực thăng chỉ huy đang bao vùng đáp xuống căn cứ, di tản.
Binh sĩ lực lượng xung kích, xuống tinh thần, kiệt sức, đạn dược, nước uống cũng đã gần cạn, trong khi địch quân vẫn tiếp tục pháo kích bằng súng cối vào căn cứ. Cấp chỉ huy trong căn cứ yêu cầu được rút lui (di tản), nhưng được trả lời “Giữ vững phòng tuyến... Quân tiếp viện đang trên đường đến căn cứ”. Đến giữa trưa vẫn không thấy quân tiếp viện đến... Nếu tình trạng kéo dài đến tối, địch quân sẽ tràn ngập căn cứ. Một tiếng đồng hồ trôi qua, cấp chỉ huy trong căn cứ quyết định rút bỏ tiền đồn Ngok Tavak.
Thomas Perry, một y tá LLĐB, được đưa đến căn cứ lúc 5 giờ 30 phút sáng để chăm sóc thương binh. Anh ta vừa lo cho người bị thương vừa ra trám vào tuyến phòng thủ khi lệnh “rút bỏ căn cứ” được thông báo. Khi những quân nhân sống sót bắt đầu bỏ vị trí chiến đấu, di chuyển ra khỏi căn cứ, Perry được nhìn thấy lần cuối cùng bởi trung sĩ Cordell J. Matheney Jr. đứng cách Perry khoảng 20 thước. Lúc đó đại úy LLĐB Úc Đại Lợi John White đang cho quân tập họp một hàng dọc bên lớp hàng rào phòng thủ tuyến ngoài. Như vậy có thể tin là Perry sẽ nhập vào đoạn cuối đoàn quân triệt thoái.
Trước khi rút lui, quân trú phòng vội vã gom tất cả vũ khí, quân dụng nặng không mang theo được, bỏ vào hầm chỉ huy rồi đốt bỏ. Chiếc trực thăng bị trúng đạn nơi ống dẫn xăng không bay được, cũng được phá hủy bằng hỏa tiễn M-72. Xác chết trung sĩ Miller cũng phải bỏ lại.
Sau khi đoàn quân đi được khoảng một cây số, họ mới biết được không có Perry. Một toán mười một quân nhân thuộc pháo đội D được lệnh quay trở lại tìm Perry và Miller (đã chết). Toán quân mười một người này về đến chu vi phòng thủ căn cứ, bị địch tấn công, không một người trở lại, xác của họ cũng biến mất cùng với Perry và Miller. Họ gồm có: binh nhất Thomas Blackman, hạ sĩ Joseph Cook, binh nhất Paul Czerwonka, hạ sĩ Thomas Fritsch, binh nhất Harry Hempel, hạ sĩ Raymond Heyne, hạ sĩ nhất Gerald King, binh nhất Robert Lopez, binh nhất William McGonigle, hạ sĩ Donald Mitchell, và hạ sĩ James Sargent. Những người sống sót còn lại được trực thăng cứu trong một bãi đất trống khoảng giữa căn cứ Ngok Tavak và trại LLĐB Khâm Đức lúc 7 giờ tối ngày 10 tháng Năm 1968.
Trong khi tiền đồn Ngok Tavak bị tấn công, quân đội Bắc Việt đồng thời pháo kích bằng súng cối và đại bác không dật, bắt đầu từ lúc 2 giờ 45 phút sáng vào trại LLĐB Khâm Đức. Những đợt pháo kích kéo dài cả ngày. Sư đoàn Americal đã đưa lên tăng cường trại LLĐB một tiểu đoàn thuộc lữ đoàn Bộ Binh Nhẹ 196, thêm vào đó một đại đội xung kích tiếp ứng Mike Force, nhưng tình hình trại LLĐB đã trở nên bết, binh sĩ xuống tinh thần, và quân đội Bắc Việt càng ngày càng gia tăng áp lực. Quân tăng viện được đưa lên nhưng không thấy có hiệu qủa.
Trước các đợt pháo kích, nhiều binh sĩ dân sự chiến đấu sợ hãi, bỏ phòng tuyến, chạy vào bên trong các hầm trú ẩn. Họ không còn tuân theo lệnh cấp chỉ huy nữa. Hệ thống chỉ huy trại LLĐB gần như rối loạn sau khi đại úy Silva đi xuống tiền đồn Ngok Tavak rồi bị thương, được trực thăng di tản. Đến buổi tối, trực thăng Hoa Kỳ đưa một đơn vị xung kích khác (đại đội 137) từ trại LLĐB Hà Thanh lên hoán đổi cho hai đại đội 11 và 12. Hai đại đội Mike Force này được đưa về Đà Nẵng, và sau đó... (vô kỷ luật, hèn nhát...)
Trời mờ sáng ngày 12 tháng Năm, trung đoàn 1, sư đoàn 2 Bắc Việt bắt đầu xiết chặt vòng vây trại LLĐB Khâm Đức. Khoảng 4 giờ 15 phút đến 4 giờ 30 phút sáng, địch quân bắt đầu các tiền đồn xung quanh căn cứ. Tiền đồn 7 bị tấn công, tràn ngập nhanh chóng, các tiền đồn 1, 3, 5 được quân thuộc lữ đoàn 196 vào trấn đóng, cầm cự được đến 9 giờ 30 phút.
Tiền đồn 1 có binh nhất Harry Coen, binh nhất Andrew Craven, trung sĩ Joseph Simpson và hạ sĩ Julius Long thuộc đại đội E, tiểu đoàn 2. Tiền đồn này bị tấn công từ lúc 4 giờ 15 phút sáng, binh nhất Coen và hạ sĩ Long xử dụng khẩu đại bác không dật 106 ly bắn chận địch, sau đó bị trúng đạn súng B-40. Những quân nhân sống sót từ tiền đồn này chạy về báo cáo, hầm của họ bị bắn xập bằng đại bác không dật ngay từ lúc đầu.
Binh nhất Craven cùng với hai đồng đội rút khỏi tiền đồn lúc 8 giờ 30 phút. Khi ra khỏi chừng 50 thước họ nghe được tiếng nói địch quân đã tràn vào tiền đồn. Đến khoảng 11 giờ sáng, họ về gần đến tuyến phòng thủ của tiểu đoàn, đụng phải địch quân. Craven là người đi đầu nổ súng, địch quân bắn trả lại trúng Craven mấy viên vào ngực, ngã gục. Hai người còn lại không đủ thì giờ lấy xác bạn, bỏ chạy. Lần cuối cùng họ trông thấy Craven, gục ngã trong vị thế nằm ngửa gần chu vị trại LLĐB.
Trong tiền đồn 2 có trung úy Frederick Ransbottom, hạ sĩ Maurice Moore, binh nhất Roy Williams, binh nhất Danny Widner, binh nhất William Skivington, binh nhất Imlay Widdison, binh nhất Lloyd và hạ sĩ nhất John Stuller. Những quân nhân sống sót trở về kể lại, có lẽ binh nhất Widdison và hạ sĩ nhất Stuller đã tử trận, tuy nhiên điều này không được kiểm chứng chứng xác.
Chỉ có tin tức về trung úy Ransbottom, hạ sĩ Moore, binh nhất Lloyd, và binh nhất Skivington. Trung úy Ransbottom liên lạc trên vô tuyến với binh nhất Widner, binh nhất Williams đang thủ trong căn hầm thứ ba, nói rằng, ông ta bắn gục mấy tên định xung phong vào căn hầm của ông ta.
Hạ sĩ Juan Jimenez, một khinh binh trong đại đội A, bị thương nặng ở lưng trong tuyến phòng thủ vì đạn súng cối. Anh ta được báo cáo tử trận bởi y sĩ tiểu đoàn vào lúc sáng sớm hôm 12 tháng Năm, sau đó được đem ra bãi trực thăng chờ di tản. Tuy nhiên vì bãi đáp nhỏ hẹp, nên chỉ ưu tiên cho những quân nhân bị thương nặng và xác của Jimenez bị bỏ quên...
Đến trưa, quân Bắc Việt mở đợt tấn công lớn vào căn cứ chính trại LLĐB. Đợt tấn công của địch bị chận lại bởi các phi tuần thả bom Napalm, và bom chống biển người (cluster) ngay trên lớp hàng rào phòng thủ cuối cùng của căn cứ. Sau đó, bộ tư lệnh sư đoàn Americal quyết định di tản trại LLĐB Khâm Đức ngay tức khắc.
Ngay khi lệnh di tản vừa được ban ra, tình hình trong căn cứ rất phức tạp, gần như hỗn loạn. (Bộ Binh, LLĐB, Dân Sự Chiến Đấu, Mike Force, vợ con dân sự chiến đấu). Chiếc trực thăng đầu tiên bay vào căn cứ trúng hỏa tiễn, nổ tung trên phi đạo làm binh sĩ công binh thuộc đại đội A, tiểu đoàn 70 công binh phải dùng xe ủi đất để khai thông phi đạo cho phi cơ đáp xuống. Thêm tám phi cơ đủ loại bị bắn rơi trong cuộc di tản.
Binh nhất Richard E. Sands thuộc đại đội A, tiểu đoàn 2, lữ đoàn 196 Bộ Binh Nhẹ, được trực thăng Chinook CH-47 vào “bốc”. Chiếc trực thăng mang số (67-18475) lúc bay lên cao khoảng 1500, 1600 bộ (feet) bị trúng nhiều đạn đại liên 50. Sand ngồi gần xạ thủ đại liên nơi cửa bị trúng một viên vào đầu. Chiếc trực thăng bị hư hại, bốc cháy và phải đáp xuống khẩn cấp trong rừng. Trong lúc mọi người vội vã chạy ra khỏi chiếc trực thăng đang bốc cháy, bốn người và một y tá xác nhận Sands đã chết ngay tức khắc khi bị trúng viên đạn đại liên vào đầu. Xác của binh nhất Sands bị bỏ lại trong chiếc trực thăng đang bốc cháy, xắp nổ tung. Những người sống sót được một trực thăng khác đến cứu.
Vấn đề di tản gặp rất nhiều khó khăn, quân đội Bắc Việt đem súng phòng không vào bố trí trong các tiền đồn đã chiếm được. Khó chỉ huy binh sĩ dân sự chiến đấu (họ là người Thượng, chỉ nghe lệnh của “cấp chỉ huy” của họ. Một đại đội dân sự chiến đấu bị ép buộc bằng vũ khí ra nằm nơi giao thông hào vì sợ họ chạy vào gây hỗn loạn trên phi đạo.
Theo chương trình di tản, đại đội A, tiểu đoàn 1/46 được đi trước. Binh sĩ Bộ Binh xố đẩy thường dân, vợ con binh sĩ dân sự chiến đấu qua một bên để lên máy bay C-130. Nhiều binh sĩ khác cũng thuộc sư đoàn Americal cũng tràn lên. Điều này làm quân nhân LLĐB nổi nóng nhưng cũng chẳng làm được gì.
Phi hành đoàn trên chiếc C-130 mang số (60-0297) của Không Lực Hoa Kỳ gồm có: phi công trưởng, thiếu tá Bernard Bucher, trung sĩ cơ khí Frank Hepler, thiếu tá John McElroy phi hành (navigator), trung úy Steven Moreland phi công phụ, George Long vận chuyển, đại úy Warren Orr hành khách đi theo và một số thường dân đồng bào Thượng, vợ con binh sĩ dân sự chiến đấu.
Khi cất cánh chiếc máy bay bị trúng nhiều đạn phòng không. Máy bay quan sát (FAC) đang bao vùng báo cáo, chiếc C-130 nổ tung trên bầu trời, rơi xuống như qủa cầu lửa cách trại LLĐB khỏang một dặm. Tất cả mọi người trên chiếc phi cơ trúng đạn, kể cả phi hành đoàn đều tử nạn. Chiếc máy bay bị thiêu rụi nhanh chóng, không thâu hồi được tử thi.
Đại úy Orr là hành khách đi theo máy bay, quân đội Hoa Kỳ không xác nhận chắc chắn về ông ta. Có người kể lại trông thấy đại úy Orr nơi đuôi phi cơ, giúp đỡ thường dân lên máy bay. Một thường dân Việt Nam cho biết ông ta có trên máy bay, người này nhận diện đúng tấm ảnh của vị đại úy xấu số. Vấn đề tiếp cứu, thâu hồi tử thi nạn nhân đi trên chiếc máy bay, lúc đó không thể thực hiện được vì địch quân vẫn tiếp tục pháo kích vào trại LLĐB và phi đạo.
Sau khi lệnh di tản được ban ra, hạ sĩ Julius Long đang cùng với Coen và Simpson. Cả ba đều bị thương, tìm cách rút ra đến phi đạo chỉ cách đó khoảng 350 thước. Khi họ đến được phi đạo, chứng kiến chiếc C-30 cuối cùng cất cánh rời phi đạo. Binh nhất Coen, bị thương nơi bụng lúc đó hốt hoảng, vừa chạy trên phi đạo vừa bắn lung tung. Hạ sĩ Long cố gắng giữ anh ta lại nhưng không kịp, đó cũng là lần cuối cùng trông thấy anh ta. Sau đó Long cõng trung sĩ Simpson (bị thương nặng) lên một ngọn đồi gần đó, tạm trú qua đêm.
Đêm hôm đó, các phi tuần phản lực Hoa Kỳ được điều động lên đánh bom phá hủy phi đạo. Hạ sĩ Long bị trúng thêm hai mảnh bom nữa vào lưng và trung sĩ Simpson đã chết trong đêm. Sau đó hạ sĩ Long để xác đồng đội lại, tìm đường đi về căn cứ Chu Lai. Anh ta bị quân đội Bắc Việt bắt sống và được trả tự do vào năm 1973.
Lực Lượng Đặc Biệt là nhóm quân nhân vẫn giữ được kỷ luật, di tản cuối cùng. Khi chiếc trực thăng cuối cùng đến “bốc” họ, bay thoát lên trời xanh, quân đội Bắc Việt tràn vào căn cứ lúc 4 giờ 33 phút chiều ngày 12 tháng Năm 1968. Trại LLĐB Khâm Đức, tiền đồn cuối cùng của LLĐB ngoài vùng I chiến thuật bị tiêu hủy.
LLĐB Hoa Kỳ (MACV-SOG) mở hai cuộc hành quân xâm nhập, tìm kiếm, thâu hồi tử thi vào khu vực tiền đốn 1, tiền đồn 2 và những ngọn đồi xung quanh phi đạo Khâm Đức ngày 18 tháng Bẩy và ngày 17 tháng Tám năm 1970. Các toán biệt kích SOG tìm được, đem về mấy xác chết (đã rữa) của các quân nhân Hoa Kỳ, được phòng nhận diện xác nhận đó là xác của các quân nhân: hạ sĩ Bowers, binh nhất Lloyd, trung sĩ Sisk, binh nhất Guzman Rios, và trung sĩ Carter. Tuy nhiên quân đội Hoa Kỳ, các toán biệt kích SOG không thể trở lại tiếp tục tìm kiếm thêm vì tình hình chiến trường.
Vẫn còn nhiều quân nhân Hoa Kỳ bị báo cáo mất tích trong cuộc di tản trại LLĐB Khâm Đức. Người duy nhất bị bắt làm tù binh và được trả về là hạ sĩ Long.
Dallas, TX. March 28, 2010

Thursday, October 3, 2013

Tường Trình Họp Báo Tổng Kết Đại Nhạc Hội Cảm Ơn Anh Kỳ 7

(Tin San Jose, 10/01/13) Theo thư mời tham dự họp báo tường trình kết quả Đại Nhạc Hội Cảm Ơn Anh- Người Thương Binh VNCH Kỳ 7 được tổ chức ngày 28 tháng 7 vừa qua.  Người viết tường thuật này đã đến Thư Viện Tully, 880 Tully Road, San Jose, CA 95111,  lúc 1 giờ chiều ngày 29 tháng 9 năm 2013 cùng một số đồng hương Việt Nam tham dự  buổi họp báo đăc biệt này.  Có mặt trong phòng họp khoản hơn năm mươi quan khách.   Mở đầu buổi họp báo là nghi lễ chào Quốc Kỳ Việt-Mỹ và phút mặc niệm. 

 photo HopBao6_zps423184d9.jpg
Ông Bùi Ty thay mặt Ban Tổ Chức giới thiệu quan khách tham dự là đại diện các đơn vị truyền thông, báo chí trong vùng như SBTN, Vietoday TV, Calitoday, Viet Tribune….., đại diện truyền hình SBTN là nhà văn Huy Phương, ông Nguyễn Phán Phó Chủ Tịch Hội Tuơng Trợ TPB & Cô Nhi Qủa Phụ, và cô Thanh Hà, thủ quỹ.  Phần đông còn lại là các vị thiện nguyện viên giúp sức trong ngày Đại Nhạc Hội CƠA kỳ 7, như  là  đại diện Quốc gia Nghĩa Tử, Liên đoàn Hướng Đạo Ra Khơi, Hội cựu tù trại Ái tử - Bình điền, Liên trường Quảng Đà, đại diện một số hội Đồng hương VN như An Giang, Cà Mau, Sóc trăng, Bình Định, Quảng Nam… đại diện những hội đoàn cựu Quân Nhân Bắc Cali và Ban Tổ chức Đại Nhạc Hội Cảm Ơn Anh kỳ 7, ông Nguyễn Hồng Tuyền, ông Lê Văn Chính, Thái Văn Hoà, Tony Đinh, Lê Đình Thọ, Bùi Ty, Trần Đức Túc, Trần Bích Nga, TrầnVinh Hiển, Nguyễn Văn Khôi...

Photo
  photo HopBao7_zps42743167.jpg
A. Ông Lê Văn Chính người điều hợp ĐNH Cảm Ơn Anh kỳ 7 thuật lại rằng ” những cú điện thoại từ các nơi gọi về gởi lời khen ĐNH COA kỳ 7 với lượng khán  giả đông, hình ảnh đẹp, hùng dũng, nhiều ca sĩ hát hay, bài hát Người Thương Binh gây cảm động.”  Như quý vị đã thấy hình ảnh, lời ca tiếng hát Đại Nhạc Hội Cảm Ơn Anh đã được truyền hình đi các nơi có người Việt định cư, ở Hoa Kỳ, Canada và Úc Châu.  Nghi lễ khai mạc, những ca khúc, hình ảnh là lời kêu gọi người Việt lưu vong nhớ về và cùng san sẻ của ít lòng nhiều góp phần trương trợ Thương Phế Binh VNCH, là những người đã hy sinh cả phần thân thân thể chống lại Việt cộng tham tàn, đã bảo vệ chúng ta được sống.  Họ đang chịu đựng đau nhức khi trái nắng trở trời, bịnh hoạn không có thuốc men;  chẳng những thế còn bị giặc cộng miệt thị đối xử hà khắc đã tạo cho họ nỗi đau tinh thần suốt 38 năm qua.   Nhờ hảo tâm của bà con cộng đồng VN chúng ta thương người lính chiến năn xưa mang thương tật mà chung tiền giúp Đại Nhạc Hội Cảm Ơn Anh kỳ 7 đạt được kết quả tài chánh ngoài dự đoán.  Điều này là món ăn tinh thần cho BTC; nghĩa cử này sẽ an ủi và làm ấm lòng những TPB VNCH.
B. Ông Nguyễn Hồng Tuyền trưởng Ban Tổ Chức chân thành cảm ơn tất cả bà con đồng hương Việt Nam tại San Jose, và vùng Bắc Californi; tất cả khán giả VN xa gần xem và yểm trợ Đại Nhạc Hội Cảm Ơn Anh người Thương Binh VNCH kỳ 7.
Cảm ơn tất cả quý ân nhân, quý mạnh thường quân.  Cảm ơn các hệ thống truyền thanh truyền hình Việt ngữ tại San Jose như Quê Hương Media, Calitoday, Phố Đêm, Viettoday TV, Viet Nam AM, EM Radio…, và tất cả nhật báo, tuần báo Việt ngữ… đã giúp đăng tải tin tức.  Cảm ơn tất cả anh chị em thiện nguyện và sinh viên thanh niên hậu duệ, điển hình là Bryan Bửu Trần âm thầm làm việc như con ong mật giúp từ  ĐNH CƠA kỳ 3 cho đến kỳ7.  Cảm ơn tất các Hội đoàn đồng hương, các cựu Quân nhân xông xáo đi bán vé dùm.  Liên Hội Cựu Quân Nhân đã tạo nên khung cảnh hình ảnh buổi lễ khai mạc Đại Nhạc Hội thật trang nghiêm hùng tráng. Cảm ơn tất cả anh chị em Nghệ Sĩ, Trung tâm Văn Học Võ Đạo Hùng Vương, các em vừa ôm thùng xin tiền vừa trách nhiệm tiết mục biểu diễn; cảm ơn anh chị em Biệt Đoàn Văn Nghệ Lam Sơn đã cùng SV cờ vàng, Võ sinh võ đường Hùng Vương, Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu với tiết mục văn nghệ Lá Cờ Thiêng mang tinh thần chính huấn.  Cảm ơn toàn thể khán giả xem văn nghệ ĐNH COA kỳ 7 đến chiều tối mà vẫn ở lại xem còn đông, còn đầy, và còn giúp thu dọn, xếp ghế thành hàng giao trả lại cho nhà thầu trước khi ra về.  Tất cả với tinh cộng tác thể hiện đoàn kết vì TPB VNCH, biết lời nào mà cảm ơn toàn thể quý vị cho đủ.

 photo HopBao2_zpsbf53868a.jpg
Từ hình thức cho đến nội dung những hoạt cảnh, những ca khúc trình bày bỡi thành phần ca sĩ không những đông mà còn hát hay, được khán giả lượng giá là khá xuất sắc lẫn phẩm và lượng.  Đó cũng là lý do chú ý thu hút lòng thương cảm của khán giả người Mỹ gốc Việt đối với TPB VNCH.  Điều cần nêu lên sau thành qủa tổ chức Đại Nhạc Hội CƠA kỳ 7, vì TPB VNCH là tài chánh.
C. Về Tài chánh thu được
Theo Ông Tony Đinh cho biết:
         Tiền bán vé thu được:                                                        $82,080
         Tiền Quảng Cáo bảo trợ                                                    $18,060
         Tiền bà con gởi cho trong ngày ĐNH (28/7/13)                $184,298.12
         Tiền bà con cho trước và sau ĐNH                                    $43,023.44
Tổng cộng tiền thu được tại Bắc Cali                                         $327, 461.56 (1)
Nam Cali Hội H.O và Tương Trợ TPB VNCH đã nhận được
     Đài SBTN thu chuyển sang                                                  $114,419
     Tiền yểm trợ bằng Credit Card qua điện thoại V247             $131, 092
     Tiền gởi trực tiếp đến hội H.O.                                            $170,165
Tổng cộng tiền Hội H.O & Tương trợ TPB Nam Cali thu         $415,676 (2) 
Số tiền ĐNH Cảm Ơn Anh kỳ 7 tổng thu: (1)+(2) =  $327, 461.56 + $415,676
                                                                              =   $743,137.56
Số tiền chi trong ĐNH Cảm Ơn Anh kỳ7                   $111,499
Tổng số tiền thực thu                                                  $631,638.21
   
 photo HopBao1_zps9db237a7.jpg             
Đã có tiền rồi, giờ thì Ban Tổ chức đang tìm cách phân phối gởi tiền tương trợ tận tay TPB VNCH tại quê nhà.  Phân phối dựa trên điều kiện nào, tương trợ được bao nhiêu, tương trợ bằng cách nào thì việc này do các Hội Đoàn Cựu Quân Nhân VNCH Bắc Cali đảm trách.
D. HỒ SƠ TPB VNCH
Ông Lê Đình Thọ, Tổng Thư Ký Liên Hội Cựu Quân Nhân, “Anh em chúng ta chịu vất vả đi xin tiền giúp đồng đội mình đã là một khó khăn rồi, nhưng khi xét thư, phân loại và biểu quyết mức tương trợ giúp TPB lại càng khó khăn hơn! “
Theo ông Thọ, khó khăn vì khi nhìn hình ảnh đồng đội bị thương ở lưng, ở mông.  Bị liệt nằm một chỗ.  Tới giờ này vết thương vẫn chưa lành, ngồi không được nằm ngửa không xong, trăn trở khó khăn trên chiếc gường tre với chiếc chiếu lác lót ẩm ướt do vết thương bài tiết, ở một vùng quê xa xôi, trông thật đau khổ.  Mức thương tật như thế thì không biết quyêt định tương trợ bao nhiêu cho xứng đáng sự hy sinh ghê gớm của người lính VNCH năm xưa chịu đựng cho tới giờ này.  
Nhiều người nghĩ rằng chúng ta là Bộ Cựu Chiến Binh và Hưu Bỗng, có bổn phận phải làm, phải giúp người này phải giúp người kia; mà quên đi là giúp chung TPB VNCH.  Ít ai nghĩ  rằng tiền này là tiền đi xin nhờ hảo tâm của bà con còn đồng hương, tiền xin được không nhiều so với số HS trên dưới 16000 TPB cả 2 miền Nam, Bắc Cali đang giữ.  Nên khi xét tương trợ một số tiền nào cũng phải họp nhau lại, đắn đo, không để TPB của chúng ta bị thiệt; không để ai lợi dụng danh nghĩa TPB VNCH và đặc biệt là không để lương tâm chúng ta áy náy vì đã thiếu sót trách nhiệm của mình đối với một TPB chịu quãng đời khổ đau còn lại. Họ đã hạ mình đi xin chúng ta, những người mà họ nghĩ rằng từng là đồng đội của họ.
Căn cứ theo điều kiện tài chính và thoả thuận chung, mức tương trợ cũng chỉ được $200 là tối đa. Tối đa ấn định mức tương trợ là A1, tối thiểu là A2, $100. 
Chúng tôi dựa trên Bản Cáo Tri của Cục Quân Y, Trung Tâm Miễn Dịch của chính phủ  VNCH, A1có nghĩa là bị thương 80% trở lên, còn dưới đó là A2. Có nhiều trường hợp TPB không còn chứng từ do chạy loạn, thất lạc, bị thương giờ thứ 25 không bịnh viện không bác sĩ nào chứng nhận thì chúng tôi căn cứ trên tấm hình chụp hiện tại và thư trình bày của chiến hữu TPB đó mà xét.
Để giúp chúng tôi dễ dàng xét, dễ dàng thoả thuận mức tương trợ một hồ sơ TPB chúng tôi cần có những thông tin sau đây: Họ và Tên TPB, năm sinh, số quân, một tấm hình hiện tại, đơn vị cuối, thời gian và nơi bị thương, bản cáo tri, chứng chỉ giải ngũ, giấy tờ liên quan xác định là TPB, địa chỉ cư ngụ hiện nay. Nếu có điện thoại thì càng tốt. Qua những dữ liệu này chúng tôi đã phát giác nhiều hồ sơ giả, hoặc VC lợi dụng và chúng tôi đã ngăn chận kịp thời.
E. Cách chuyển tiền tương trợ: Ban Tổ Chức  ĐNH CƠA, Hội Tương Trợ TPB và LH Cựu Quân Nhân Bắc Cali đã phối hợp với một công ty chuyển tiền lệ phí tượng trưng, $1/100. Họ giao tiền tận tay TPB, vì cần TPB đó đọc đúng số quân trước khi được giao tiền; đây là cách để xác định TPB đó còn sống.  Giữ kín danh tánh TPB.  Hoàn toàn không qua trung gian.  Cty chuyển tiền này đã thực hiện đúng những điều đã hợp đồng trong vài năm vừa qua. 
Kết quả của việc chuyển tiền tương trợ TPB trong thời gian sau 9/2009 tức là sau ĐNH Cảm Ơn Anh kỳ 3 tại Bắc Cali, đến 6/2012 là:
Tổng Số Hồ Sơ TPB: 5348 HS
Số Hồ Sơ bị trùng lập: 2304 HS
Số Hồ Sơ Còn lại: 3044 HS
Số Hồ Sơ do các Hội Đoàn chuyển qua, thiếu chi tiết: 175 HS
Số Hồ Sơ hợp lệ để nhận quà: 2869 HS
Trong số này, Nam Cali đã tương trợ: 1371HS
LH CQN Bắc Cali đã gởi:                     1498 HS
Nam Cali nhờ Bắc Cali chuyển dùm       200 HS A2
Tổng Cộng : 1698 TPB, gồm có 519 HS A1, 1049 HS A2
F. Hồ Sơ TPB sau ĐNH Cảm Ơn Anh kỳ 7.
Cũng theo LH Cựu Quân Nhân cho hay có hơn 1600 thư gồm giấy tờ liên quan QLVNCH, Bản Cáo Tri, CC Giải ngũ, thẻ TPB, trợ cấp hưu bỗng. Sau khi đối chiếu với database của Bắc Cali, rồi đối chiếu với database từ Hội Tương trợ TPB Nam Cali, tìm thấy là
-         Khoảng 70% HS là trùng lập (đã gởi tương trợ và có HS trong database) 
-         Khoảng 25% HS là những TPB mới mẻ vì họ ở mãi nơi thôn xóm, làng quê xa xôi, nay họ biết tin "có nơi giúpTPB", nên họ mới tìm gởi, tuy nhiên cũng có nhiều TPB gởi thiếu nhiều yếu tố, may là có số điện thoại, nên chúng tôi gọi đt để tìm hiểu và minh xác có đúng sự thật không.
-         Khoảng 1% HS là Cô Nhi Quả Phụ, những trường hợp này LHCQN Bắc Cali không lo được, chuyển về Hội Tương trợ TPB & Cô Nhi Quả Phụ Nam Cali. 
-         Khoảng 4% hồ sơ là của những nhà thờ, con chiên không hề là TPB, gởi nhà thờ xin giúp nhân đạo, mấy Linh mục này lại “bán cái” cho LH CQN, hoặc do người trung chuyển nhận chuyển thư TPB mà giấy tờ không đủ yếu tố chứng minh là TPB VNCH, xin trợ cấp nghèo khó.
Như trong họp báo thông báo thì LH CQN BắC Cali đang xét số lượng HS TPB nêu trên, và tìm cách gởi quà vào ngày15/10/2013, cho đến khi hết tiền. LH CQN ngưng nhận HS vào ngày 31 tháng 10 năm 2013. Những HS gởi lẻ tẻ đến sau đó sẽ chuyển về Hội Tương trợ TPB Nam Cali.
 photo HopBao3_zps35e8c741.jpg
 G. Chất vấn
Trước khi vào phần thắc mắc cũng cần ghi lại ý kiến của:
Ông Huy Phương, đại diện SBTN cho rằng, “Chúng ta không còn chính phủ, không còn bộ Cựu Chiến Binh, nhưng chúng ta làm việc quyên góp xin tiền tương trợ TPB VNCH là điều đáng hoan nghênh,  TPB họ chịu đựng khổ đau suốt đời mang vết thương trên người, không đi đứng được, hay đi được thì cũng đi khập khiễn khó khăn, đừng nói chi đến việc mưu sinh; trong khi họ còn bị giặc Cộng khinh miệt đó là nỗi đau tinh thần của họ. Đài SBTN đã đưa ra kế hoạch xin mỗi ân nhân bảo trợ một TPB VNCH, nhưng cuối cùng không thực hiện được. Riêng tôi, tôi cảm phục sự hy sinh của qúy vị, hy sinh của quý vị là nghĩa cử cao đẹp!” 
Ông Nguyễn Phán, “Nói là tương trợ TPB chứ quý vị nghĩ xem chúng ta gởi về 100 dollar nghe cũng to, có khi một năm, năm rưỡi mới được một lần.  Liệu có mua đủ thuốc giảm đau cho họ không? Nhất là họ phải sống dưới điều kiện sống thiếu thốn khắc nghiệt của chế độ cộng sản; trong khi TPB đã chiến đấu vì nước vì dân, họ hy sinh phần thân thể của họ để rồi chịu đựng đau nhức suốt đời. Chúng ta tương trợ chẳng qua chỉ để an ủi tinh thần họ có thêm chút nghị lực chịu đựng mà thôi.”
Ông Nguyễn Xuân Nam, ”Phải nói là chúng tôi khâm phục sự hy sinh “ăn cơm nhà làm việc quan” của Ban Tổ Chức, của quý vị.  Khi tiếp xúc, talk show với quý vị qua chương trình phát thanh Phố Đêm của chúng tôi, tôi hiểu quý vị làm việc đến mức nào rồi.  Ai cũng còn công ăn việc làm mà quý vị quên cả ăn. Mấy vị cựu quân nhân đã rời xa quân ngũ mấy chục năm rồi, mà vẵn hăm hở không hề kêu ca tập họp lại để tập cơ bản thao diễn chỉ vì mong xin được tiền giúp đồng đội mình là TPB VNCH.  Quá khâm phục!”
Câu hỏi 1: Trong khi ở đây tổ chức Đại Nhạc Hội Cảm Ơn Anh kỳ 7, thì tại quốc nội, Hoà thượng Thích Không Tánh phối hợp cùng dòng Chúa Cứu Thế tổ chức vinh danh TPB VNCH. Vậy qúy vị có yểm trợ tài chánh cho các vị đó giúp TPB hay tổ chức vinh danh TPB hay không?
Ban Tổ chức: Ông Nguyễn Hồng Tuyền, BTC Đại Nhạc Hội Cảm Ơn Anh Kỳ 7 không hề yểm trợ họ về tài chánh, không hề qua một tổ chức trung gian nào ở trong nước để nhờ họ gởi quà tương trợ TPB VNCH. Việc dòng Chúa Cứu Thế và Hoà thượng Thích Không Tánh tổ chức vinh danh TPB VNCH đồng hành với chúng ta là tấm lòng của những công dân VNCH là chứng nhân lịch sử nhìn VC cai trị hiện nay là lũ bán nước, phi nghĩa; còn TPB VNCH là người vì nước hy sinh, hy sinh có chính nghĩa. Người dân nghĩ đến và thương sự hy sinh cao cả của người lính VNCH giờ trở thành tàn phế, là do lòng của người dân.  Đoàn thể tôn giáo hay người dân ngưỡng mộ vinh danh TPB VNCH cũng đúng thôi, không liên quan gì đến ĐNH Cảm Ơn Anh kỳ 7.
Câu hỏi 2: Tại sao hồ sơ TPB cả 2 miền Nam Bắc Cali không gom chung thành một nơi cho dễ quản trị?  Quý vị  không nhận những hồ sơ TPB ở Sacramento, ở San Jose hay sao, mà Sacrament lại tổ chức gây quỹ TPB nữa, San Jose cũng lại tổ chức gây quỹ TPB nữa, trong tháng 10 này?
Ban Tổ Chức: Về hồ sơ là những chứng cứ văn kiện giấy tờ liên quan TPB VNCH (hard copy) thì Nam Cali,và Bắc Cali lập nên lưu giữ riêng chỉ vì vấn đề vận chuyển.  Danh sách với các cột chi tiết như họ tên TPB, năm sinh, số quân, đơn vị cuối, thời gian và nơi bị thương, bản cáo tri, chứng chỉ giải ngũ, giấy tờ liên quan xác định là TPB, hình, địa chỉ cư ngụ hiện nay, điện thoại, ghi chú... Tất cả đều được ghi vào Excel và data base để giúp nhau theo dõi quản trị, thì giữa Hội Tương trợ TPB Nam Cali và Hội Tương trợ TPB Bắc Cali là một. Nhờ vậy mà khi cần truy tìm TPB, thân nhân thắc mắc, thì lục ra đối chiếu dễ dàng, chỉ thông báo nhau cho nhau số quân thôi, trong vòng 1 giờ (vì ai cũng còn phải lo job cho của mình trước đã) là hai bên sẽ thông báo lại dữ liệu, thông tin. Cũng nhờ đó mà chúng tôi đã ngăn chặn những HS gian lận hay giả mạo TPB, và ngưng tương trợ.
Chúng tôi tiếp nhận tất cả thư từ TPB từ VN, hay qua người định cư tại HK trung chuyển, ngay cả thư xin gởi mấy ông linh mục, mấy ông linh mục “bàn giao” cho chúng tôi; chúng tôi đều đọc.  Nếu xét không đủ điều kiện, không hợp lệ vẫn được chúng tôi lưu giữ; giữ đầy thùng rồi không biết chất ở đâu.  Còn những nơi này, nơi kia tổ chức thêm gây quỹ giúp TPB là quyền của họ, ai làm gì được giúp đồng đội TPB chúng ta thì chúng ta mừng rồi, đây là việc nghĩa. Chúng ta không còn chính phủ, thì không thể đồng nhất chỉ huy.  Hỏi ai lấy quyền gì mà ngăn cản? Miễn sao lương tâm của mình không ngăn cản là được rồi. 
  photo HopBao5_zps9fdd007b.jpg
H. Cảm ơn bế mạc. Ông Nguyễn Hồng Tuyền, “qua việc tổ chức ĐNH CƠA kỳ 7 không sao tránh khỏi thiếu sót, chúng tôi biết nhiều thiếu sót từ tổ chức, cung cách tiếp đón, phục vụ một lựợng khách cả chục ngàn người tất nhiên không thể nào tránh được sơ sót, thưa quý vị.  Sơ sót là hoàn toàn ngoài ý muốn của BTC, chúng tôi xin tất cả quý vị lượng thứ.  Một lần nữa chúng tôi gởi lời chân thành cảm ơn tất cả quý vị”
Gần ba giờ đồng hồ của buổi họp báo, Ban Tổ Chức trình bày phần tài chánh ĐNH CƠA kỳ 7 thu được số tiền gọi là khá lớn, con số $631,638.21, nói lên lòng thương mến của của đồng hương Việt Nam đối với TPB VNCH.  Vì muốn góp phần an ủi TPB VNCH mà hầu như tất cả đồng hương San Jose và Bắc Cali hưởng ứng tham dự Đại Nhạc Hội Cảm Ơn Anh kỳ7.  Gần 70 Hội đoàn hợp lực vì TPB VNCH đang sống đau khổ trong địa ngục Cộng sản;  nghĩ đến TPB là nghĩ đến đồng bào nghĩ đến dân tộc bị Cộng sản đoạ dày. Chính vì thế mà họ cùng ngồi chung, lo chung và làm việc chung với nhau; làm sao không hoan nghinh tinh thần đoàn kết của họ?  Nếu như ai ai cũng đều có lòng, có tinh thần giống như tinh thần đùm bọc tương trợ TPB VNCH cũng là vì tương lai dân chủ, tự do cho dân tộc thì cộng đồng người Mỹ gốc Việt chúng ta không thể nào bị kẻ thù xúc xiểm tạo nghi kỵ để ly gián, gây hiềm khích thậm chí thù hằn nhau vì cái “nón cối”. Vậy thì đừng quăng nón cối cho nhau mới phải. Đàng này vẫn có người nghe theo, làm theo. Tại sao?
Nguyễn Lê tường trình từ San Jose

Wednesday, October 2, 2013

Biệt-Hải Nguyễn Văn Kiệt

Ông Nguyễn Văn Kiệt gia nhập khóa 4 Người Nhái, năm 1970. Qua được một nửa chương trình thụ huấn, vì lý do gia đình, Ông xin rút lui. Khi trở lại nhập học khóa 5 Người Nhái, ông Kiệt đã khởi sự lại từ đầu với “Tuần lễ địa ngục” và tốt nghiệp năm 1971.
Biệt-Hải Nguyễn Văn Kiệt đã phục vụ tại những đơn vị sau đây:
  • Biệt-Hải thuộc Sở Phòng-Vệ Duyên-Hải, Nha Kỹ-Thuật.
  • Toán Năm Căn, phối hợp với người Nhái Hoa-Kỳ, xâm nhập và phá vỡ công binh xưởng Việt-Cộng và giải thoát tù binh.
  • Toán sưu tầm tin tức tình báo.
  • Đội Xung-Kích Biệt-Hải, toán Hải-Cẩu.
Những ân thưởng của Quân-Lực V.N.C.H. và Quân Đội Hoa-Kỳ:
  • Chiến-Công Bội-Tinh
    (Meritorious Unit Commendation)
  • U.S. Navy Cross
  • Biệt-Công Bội-Tinh
  • Ba Anh-Dũng Bội-Tinh với ngôi sao đồng
  • Hai Chiến-Thương Bội-Tinh
  • Bằng khen của Tư-Lệnh Đệ Thất Hạm-Đội Hoa-Kỳ
Những hoạt động đáng kể nhất:
  • 72 lần đổ bộ ra Bắc
  • Giải thoát hai phi công Hoa-Kỳ
  • Cứu phi công Việt-Nam trên đường di tản – từ HQ 502
Ngoài sự việc cứu sống phi công Việt-Nam trước mấy ngàn đôi mắt thán phục của đồng bào trên HQ 502, Người Nhái Nguyễn Văn Kiệt còn có những hoạt động âm thầm được William C. Anderson viết thành sách và được đạo diễn Peter Markle thực hiện thành phim, với tựa đề BAT 21, do Gene Hackman, Danny Glover, Jerry Reed và Michael Ng – trong vai người đàn ông Việt-Nam – thủ diễn.
Chuyện phim BAT 21 được quay tại Sabah, Borneo và Malaysia, dựa theo những dữ kiện có thật sau đây – ngoại trừ đoạn kết bị đạo diễn thay đổi vài chi tiết:
Đầu tháng 4 năm 1972, một phi cơ Hoa-Kỳ bị bắn rơi trong vùng kiểm soát của Việt-Cộng. Phi công thoát chết. Trong gần một tuần lễ, toán cứu vớt Hoa-Kỳ thực hiện hai cuộc hành quân chớp nhoáng, với mục đích cứu viên phi công, nhưng đều thất bại; vì quanh khu vực đó Việt-Cộng đặt rất nhiều hỏa tiễn SAM. Cuối cùng, Biệt-Hải và Người Nhái Việt-Mỹ tuyển chọn tình nguyện quân để đảm nhiệm phần việc cứu tù.
Ông Kiệt, ông Trâm, ông Châu và ông Tất, thuộc toán Hải-Cẩu, tình nguyện. Đại-Úy Thọ là trưởng toán. Phía Người Nhái Hoa-Kỳ có Đại-Úy Thomas R. Norris và một sĩ quan cao cấp liên lạc tình báo.
Sáng 11 tháng 4 năm 1972, khỏang 9 giờ, Toán cứu cấp được đưa đến bãi đáp trực thăng thuộc Căn-Cứ Yểm-Trợ Đà-Nẵng. Tại đây, hai chiếc trực thăng đưa Toán ra Quảng-Trị. Đến Quảng-Trị, tất cả đến phòng họp của Quân-Đoàn I. Đại-Úy Thọ, Đại-Úy Norris và sĩ quan tình báo Mỹ vào họp.
Bấy giờ là ngày thứ bảy sau khi người phi công bị bắn rơi.
Vì hệ thống phòng không của Việt-Cộng dày đặc, Toán cứu cấp không thể xử dụng phi cơ mà phải dùng quân xa để vào vị trí đã định. Sau 30 phút, Toán rời quân xa, sang M113. Khoảng một giờ sau, M113 đưa Toán đến vùng giáp tuyến với địch. Tại đây, Toán vào một hầm trú ẩn bằng xi-măng trên ngọn đồi nhỏ, cạnh quốc lộ 9 và sông Cam-Lộ.
Tối 11 tháng 4, Toán chia làm hai tổ, đi sâu vào lòng đất địch khoảng 25 dậm. Nửa đêm Tổ của ông Kiệt, ông Trâm và ông Tất hướng về quốc lộ 9. Tổ của Đại-Úy Thọ, ông Châu và hai người Mỹ đến sát bờ sông Cam-Lộ. Nhiệm vụ của mọi người là yên lặng, lắng nghe và chờ đợi ông phi công tìm về hướng của họ.
Trong sự im lặng rợn người, tất cả nghe tiếng nước khua nhẹ.
Gần sáng, sương còn dày đặc, ông phi công đã lần dò ra khỏi vùng mà suốt đêm qua hai tổ đã đợi chờ. Vì vậy, tổ của ông Kiệt nhận trách nhiệm lục soát, tìm cho ra ông phi công.
Để thi hành lệnh một cách tốt đẹp, tổ của ông Kiệt quay về hướng Nam, dọc sông Cam-Lộ. Đại-Úy Thọ chỉ định ông Kiệt làm tiền-sát-viên.
Sau khi vượt khỏi ngọn đồi, nơi đóng quân của một đơn vị bạn, tổ của ông Kiệt thấy ông phi công đang đứng dưới nước, sát bờ, mang áo phao màu cam, đầu trùm một cái nón có lưới để ngụy trang và tay lăm lăm khẩu P.38.
Khi ông Kiệt và ông phi công thấy nhau, ông Kiệt nhanh trí gọi Đại-Úy Thọ và Đại-Úy Norris để tránh ngộ nhận. Đại-Úy Norris đến gần, trao đổi mật hiệu với ông phi công. Sau đó, tổ của ông Kiệt được lệnh đưa ông phi công về đơn vị bạn, nơi ngọn đồi.
Trưa 12 tháng 4, dường như đã nhận biết ông phi công đã vượt thoát vùng kiểm soát của mình, Việt-Cộng ào ạc pháo kích lên ngọn đồi, khiến Đại-Úy Thọ, sĩ quan tình báo Mỹ và nhiều quân nhân bị thương. Tất cả được tản thương bằng M113. Trong chuyến tản thương đó, không ai hiểu tại sao hạ sĩ nhất Châu lại theo Đại-Úy Thọ về hậu cứ.
Còn lại ông Kiệt, ông Trâm, ông Tất và Đại-úy Norris.
6 giờ chiều, những người còn lại bàn thảo kế hoạch cho công tác kế tiếp: Cứu một phi công Hoa-Kỳ khác – Lt. Col. Hambleton – cũng bị bắn rơi trong vùng đất địch.
Ông Trâm và ông Tất từ chối tham gia chuyến công tác đó, vì không muốn bị một sĩ quan Hoa-Kỳ chỉ huy. Ông Kiệt chấp nhận, vì nhận thấy đó là công tác khẩn thiết, đầy nhân đạo. Về sau, ông Trâm trở lại với ông Kiệt; ông Tất trở lên ngọn đồi.
Tối 12 tháng 4, Đại-Úy Norris đề nghị xuống bờ sông Cam-Lộ chờ, với hy vọng Trung-Tá Hambleton sẽ men ra bờ sông như ông phi công đã được cứu thoát. Suốt đêm chờ đợi. Hoài công.
Sáng sớm 13 tháng 4, ông Kiệt, ông Trâm và Đại-Úy Norris dùng thuyền nan chèo sâu vào đất địch. Đi được khoảng ba cây số, ông Trâm tỏ ra thất vọng vì nghĩ rằng chuyến công tác này có vẻ ít gay cấn. Cả ba người phải trở lại ngọn đồi để ông Trâm trở lên hầm trú ẩn.
Sau đó, ông Kiệt và Đại-Úy Norris chèo về hướng Nam thêm vài cây số nữa thì bị đơn vị Thiết-Giáp ngộ nhận, quạt hằng loạt đại liên 50! Đại-Úy Norris liên lạc ngay với đơn vị Thiết-Giáp để xác nhận. Ông Kiệt và Đại-Úy Norris quay trở ra vì ngại bị bắn nhầm nữa.
12 giờ đêm 13 tháng 4, Đại-Úy Norris và ông Kiệt tiếp tục kế hoạch, chỉ với một chiếc xuồng nhỏ, hai chiếc dầm, hai áo phao và một cái mền. Cả hai chèo xuồng theo dòng Cam-Lộ về hướng Bắc. Suốt đoạn đường, Đại-Úy Norris và ông Kiệt nghe tiếng quân xa di chuyển và tiếng người.
Hừng đông 14 tháng 4,  bên phải là đồng ruộng bên trái là rừng rậm, ông Kiệt và Đại-Úy Norris phát hiện cầu Đùi lờ mờ trong sương. Nhìn kỷ một lúc, ông Kiệt và Đại-Úy Norris  thấy ba tên Việt-Cộng đang đi qua đi lại canh gác. Ông Kiệt và Đại-Úy Norris tấp xuồng vào bờ trái, cách cầu Đùi khoảng 150 thước. Nhờ sương mờ, địch không phát hiện được sự hiện diện của hai Biệt-Hải.
Ông Kiệt và Đại-Úy Norris tấp xuồng váo bờ và quay mũi xuồng về hướng Nam. Bất ngờ ông Kiệt và Đại-Úy Norris thấy Trung-Tá Hambleton đang đứng dưới sông, khoát nước rửa mặt, cách chỗ hai người độ 50 thước. Cùng lúc đó Trung-Tá Hambleton cũng thấy Đại-Úy Norris và ông Kiệt. Ông Kiệt vội ra dấu cho Trung-Tá Hambleton giữ yên lặng rồi cho xuồng cặp sát mé nước, cạnh Trung-Tá Hambleton.
Trong khi ông Kiệt lao nhanh xuống nước, chụp lấy bản đồ hành quân mà Trung-Tá Hambleton để cạnh mé nước thì Đại-Úy Norris dìu Trung-Tá Hambleton đến xuồng, tròng áo phao vào và đặt Ông nằm xuống, phủ mền lên. Lúc đó trong người Trung-Tá Hambleton chỉ còn một máy liên lạc, một bản đồ và một la-bàn. Trung-Tá Hambleton bị thương nhẹ nơi tay.
Trời sáng hẳn. Ông Kiệt và Đại-Úy Norris hối hả xuôi Nam theo dòng Cam-Lộ. Chèo theo dòng sông được một đoạn, cả hai thấy một đại bác 76 ly 2 bên bờ, nòng súng hướng vế phía Nam.
Đang chèo bên bờ phải, gặp cồn cát, ông Kiệt và Đại-Úy Norris vội lách sang bờ trái để khỏi mắc cạn thì nghe tiếng gọi: “Ê, lại đây!” giọng Bắc. Đại-Úy Norris và ông Kiệt quay lui và thấy ba tên Việt-Cộng đang đi bộ bên bờ trái, về hướng Đông. Người đi đầu và người đi cuối mang AK47. Ông Kiệt và Đại-Úy Norris ra dấu sẵn sàng ứng chiến. Nhưng nhờ thân người của Đại-Úy Norris không cao lớn lắm và cũng nhờ cả hai đều ngụy trang bằng bà ba đen cho nên ba tên Việt-Cộng đi luôn, không nghi ngờ gì cả.
Vừa thoát khỏi ba tên Việt-Cộng, xuồng lại vào vùng hỏa lực mạnh của địch. Ông Kiệt và Đại-Úy Norris tấp xuồng vào bờ. Trong khi Đại-Úy Norris liên lạc truyền tin xin Không-Quân Hoa-Kỳ yểm trợ, ông Kiệt lấy lá cây ngụy trang cho Trung-Tá Hambleton.
Chỉ vài phút sau, bốn Phantom đến oanh kích ngay tọa độ Đại-Úy Norris đã cho. Phòng không của địch bắn lên dữ dội. Trước khi rời vùng oanh kích, một Phantom thả hai trái khói mù xuống ngay địa điểm mà ông Kiệt, Đại-Úy Norris và Trung-Tá Hambleton đang ẩn trốn.
Sau đợt không tập, Pháo-Binh được gọi, cày vùng đất địch. Lẫn trong khói mù, Đại-Úy Norris và ông Kiệt chèo nhanh về hướng Nam.
Xế trưa 14 tháng 4, ông Kiệt, Đại-Úy Norris và Trung-Tá Hambleton về đến ngọn đồi trong sự hân hoan của các đơn vị Thiết-Giáp, Biệt-Động-Quân Biên Phòng, Biệt-Kích 81 Dù và hai Biệt-Hải Trâm và Tất.
Tân Sơn Hòa chuyển