Saturday, June 25, 2016

Thuyết Âm Mưu đã đến đỉnh điểm dựng lên một ADIZ ảo

Ngày Quân Lực 19-6 năm 2016

Nếu xảy ra cuộc chiến tranh trên biển ngay bây giờ sẽ kết thúc bất lợi cho Việt Nam vì VN chưa có một Hiệp định an ninh chung với Mỹ trong mưu đồ mà soạn giả Harriman cần 1 tiền đồn gồm cả nước VN chống TQ ở cực Nam mới đủ, và cực Bắc là 1 chốt chận của nước Mông Cổ qua sách lược “Chúng Ta Cùng Thắng”. 2 nước sửng sỏ nầy dính liền với lịch sử, mới có đủ uy lực làm bàn chong chận bàn chưn khổng lồ TQ bành trướng khắp nơi. Hiện tại, Việt Nam vì chưa có một Hiệp định đồng minh với Nhật, nên Secret Society vừa dựng lên các cuộc tập trận với Mỹ, Phi, Nhựt  … trong tương lai sẽ có một Liên Minh Quân Sự với các nước khác được tác giả phỏng đoán là APTO (Asia Pacific Treaty Organisation)
   
    Nếu Mỹ, Nhật không có căn cứ pháp lý để can thiệp thì Trường Sa của Việt Nam chỉ một đêm là về tay Trung Quôć. Đó là lý do trong kịch bản có giai đoạn decent interval "roll back 2010-2020" để VN sẽ gia nhập Khối Liên Minh Quân Sự APTO.  Và một khi đã lọt vào tay Trung quốc, thì Trường Sa, Song tử Tây, Sơn Ca v.v… sẽ trở thành Đá Chữ thập, Gạc Ma, thành Vành khăn, rồi Hoàng Sa, không bao giờ còn trở về với Việt nam được nữa, nếu không có một cuộc chiến tranh chính thức và kết thúc bằng sự đầu hàng vô điều kiện của Trung Quốc (theo kịch bản ấn định) có chứng thực của LHQ, và chia TQ y chang nguyên trạng Đông Châu Liệt Quốc như trước 1949!?
   
    Bao giờ và lúc nào, Việt Nam có đủ sức đơn phương chiến tranh với Trung quốc? Sẽ đến lúc nào đó, con cháu Việt giàu có và mạnh hơn Trung Quốc! Nhật bản đang mạnh hơn Trung quốc về kinh tế và trình độ phát triển, nhưng một cuộc chiến, thì Nhật đơn phương không phải là đối thủ vì số lượng. Đó cũng là cớ sự mà Secret Society sẽ thiết lập một Khối Liên Minh Quân Sự tại đây cho tương lai khá gần.
Một cuộc chiến, dù chỉ trên biển Đông, và dù có thể kết thúc trong vài giờ, nhưng nguy cơ lây lan không thể tránh, và nguy cơ mất nước không thể không tính đến. Người Việt có thói quen dọn dẹp nhà cửa trước khi đón khách. Trước khi đối phó kẻ địch đến từ bên ngoài, phải dọn dẹp kẻ địch bên trong qua một Quốc Hội đầy quyền lực có Mỹ đứng sau lưng là việc ưu tiên phải làm và đang tiến hành một cách thận trọng tránh tắm máu để cùng Mỹ quyết liệt đối đàu với TQ bằng một thể chế VNCH tự diển biến
   
Cần gấp một cơ chế Đệ-3 Cộng Hoà để Mỹ có quyền can thiệp trong bất kỳ một hoàn cảnh khẩn cấp nào. Bởi vì nguyên tắc bất di bất dịch của Trung Quốc là bằng mọi giá tránh chiến tranh trực tiếp với Mỹ (vì đánh không thắng). Trung Quốc sẽ dừng lại ngay trước khi Mỹ tham chiến, (nó nằm trong kịch bản) để dàn xếp tay đôi với Mỹ, nếu không bị ràng buộc bằng một hiệp định, Mỹ hay bất cứ quốc gia nào đều có thể không thoát được nguyên lý, “nếu không mua được bằng lợi ích thì sẽ mua được bằng rất nhiều lợi ích” mà tác giả tự nhận thức đúng là mục tiêu "AMERICA-FIRST". Trong khi Mỹ rất cần một lý do vừa đủ quan trọng để có thể áp dụng lệnh cấm vận toàn diện với Trung Quốc, bằng cách đó làm cho Trung Quốc suy sụp, không còn sức để tham vọng bá chủ. Nếu trong tương lai không có một Hiệp định như COC/LHQ để công khai trấn áp Trung Quốc, Mỹ sẽ không can thiệp để sau đó lấy cớ trừng phạt phục hận cho kẻ thua thiệt là Việt Nam Cộng Hoà và Trung Hoa Quốc Gia bằng một lá cờ mới màu dân tộc.

Không thể để mất đảo, mất biển, vì nếu mất đảo, mất biển vào tay Trung Quốc, đảng cộng sản sẽ không gánh nổi trách nhiệm. Dân sẽ nổi dậy, chế độ cộng sản sẽ biến mất. Một Chính phủ mới lâm thời đã được lập ra theo sách lược phù hợp với khi TT Bill Clinton ký bang giao với VN 1995 đồng thời bằng sự chấp nhận “thực thể” một chánh phủ người Việt lưu vong tại Little Saigon. Phải có biểu tượng ký Hiệp định yêu cầu Mỹ, Nhật, Liên Hiệp Quốc, thậm chí cả NATO can thiệp. Đó là lý do tác giả đã quá ồn ào nhưng hoàn toàn hửu lý cần thiết cho sự ra mắt CHÍNH PHỦ QUỐC GIA VIỆT NAM LÂM THỜI dù đó chỉ là gạch nối để lót đường giành lại biển đảo với chính danh do thế hệ trẻ Fulbright được đào luyện bài bản tại Mỹ.
   
Đủ rồi, quá đủ rồi những vòng vo giải thích chống chế của lũ Dư luận viên chính thống và tự phát, của hơn 700 tờ báo cùng một Tổng biên tập, của truyền hình quốc doanh và loa phường. Đất nước này đang đứng ở cửa tử, trước bờ vực của sự diệt vong chậm rãi mà chắc chắn; giọng điệu tuyên truyền một chiều chỉ toát ra sự ngu xuẩn chứ chẳng thể đổi cái hệ thống hư thành hệ thống làm việc tốt. Nhưng sự kiện nầy sẽ phải được giải quyết qua Khoa Xả Hội Tự Diển Biến (The Social Scientists War)
Và cũng đã qua rồi cái thời dân tin “đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ, Trăng Trung Quốc tròn hơn Trăng nước Mỹ.”
Ai khóc cho dân tôi khi vài năm qua hơn hai ngàn người đã chết và mất tích trên biển, hơn bốn ngàn tàu đánh cá của ngư dân bị “tàu lạ” đâm vỡ, mới đây anh Ngày thợ lặn Formosa chết không rõ nguyên do, và nhiều, rất nhiều những cái chết của các thế hệ tương lai đến từ từ đã được chắc chắn dự báo nếu vụ nhiễm độc biển tiếp tục được che giấu và không có giải pháp khắc phục?
Đất nước thời bình mà không an là trong kịch có giai đoạn dài "hậu-chiến" postwar để có cớ chuyển biến thành VNCH.

Tại sao Mỹ không dùng cảng Cam Ranh?
      Kịch bản "Thuyết Âm Mưu" do bọn hung thần Đầu Lâu & Xương Người dựng lên. Chuyện này hoàn toàn mang tính chất chính trị toàn khu vực và toàn cầu.
Việt Nam không là nước đồng minh của Mỹ nên không phải là nơi bến đậu hậu cần của Mỹ và thay thế vào phần đất Philippines xem như thế Cảng Cam Ranh là Vịnh Subic Bay, Mỹ sẽ phải tịch thu Cam Ranh sữ dụng ngay khi xảy ra chiến tranh vì VN bản chất là CON TIN của Mỹ, lúc đó không còn úp mở.
Vì đây là kịch bản Thuyết Âm Mưu do Mỹ dựng lên: "Hôm Thứ Tư 15-6-2016 (một ngày sau khi chiến đấu cơ Su-30MK2 của Không quân VN rớt), Hoa kỳ đưa 4 chiến đấu cơ E/A-18G Growler và 120 chiến binh bảo trì tới phi trường quân sự Clark Air Base ở phía bắc Manila. Và Mỹ loan tin đó hôm Thứ Năm 16-6-2016 (ngẩu nhiên trùng ngày chiếc chiếc máy bay Rescue CASA-212 của VN rớt) và cho biết 4 chiếc E/A-18G là tôi tân nhất và là phi cơ “tác chiến điện tử” (airborne electronic attack planes). Bốn phi cơ này có khả năng gây rối loạn hệ thống radar của các nước đối thủ, và cung cấp bảo vệ điện tử cho quân lực Mỹ trong khu vực. Đây là hình thức cần có để Mỹ dàn trận trắc nghiệm nghành điện tử TQ đến đâu rồi.
Phải chăng đây là sự việc Mỹ làm bộ sợ, 2 phi cơ Việt Nam rớt vì đã bị quấy rối radar, hay bị tin tặc Bắc kinh gây rối hệ thống điều khiển!? Một cuộc tranh tài giữa TQ # Mỹ. Và khi  thấy diễn biến lạ, Hoa Kỳ lập tức đưa 4 phi cơ tối tân tới Manila vì lo sợ sẽ có những “biến cố” tương tự xảy ra cho phi cơ Mỹ và Philippines như 2 phi cơ vừa rớt của VN ? Mỹ sợ cuộc thư hùng lan qua đến Phi.
   
Mỹ dự tính gì khi tăng cường máy bay tác chiến điện tử trên Biển Đông.
Một chiếc máy bay dân sự hiện đại bay “lạc” qua đảo ngầm Viêng Chăn. Hai chiếc máy bay quân sự hiện đại nhất, với đội ngũ phi công xuất sắc nhất và đường bay cẩn thận nhất lại bị rơi … không rõ nguyên nhân. Không thể là sai sót kỹ thuật, sai sót của phi công, hay bị bắn hạ được. Chỉ có thể có là một cái gì bất thường cho các thiết bị điện tử ở Biển Đông.
Điều này không chỉ hăm dọa các phi cơ VN mà còn tất cả các nước qua lại khu vực này. Trong đó không thể không có Mỹ với hàng trăm chiếc máy bay trên Hàng không mẫu hạm đang có mặt trong khu vực. Cho nên ngay tức khắc, Mỹ tăng cường 4 máy bay khắc tinh tác chiến điện tử E/A 18G và 120 quân nhân chuyên nghiệp vào khu vực không là điều bất ngờ trong mục tiêu trù dập TQ của siêu chiến lược "Âu-Á-Sự-1"
Họ không phải tăng cường bảo vệ Phi, vì Phi hầu như không có không quân vì quá yếu, mà Mỹ đang lo lắng và bảo vệ chính Mỹ tiền đồn cực Tây Guam, Wake.
Việc Trung Cộng tác chiến điện tử không còn là giả thuyết để tranh luận nữa mà nó thành là sự thật do âm mưu Secret Society check lại khả năng điện tử TQ đến đâu rồi. Vấn đề giờ là năng lực nó tới đâu, và đối sách các nước xung quanh đối phó việc này như thế nào mà thôi!
Và Câu hỏi đặt ra, máy bay quân đội Việt Nam bị bắn? Một phần xác của chiếc CASA 212 cho thấy rằng không phải tự nhiên mà nó rơi tan tành từng mảnh, giày nổi trôi, áo phao lênh đênh và vụn vỡ, không tìm thấy người như hiện tại. Nếu bị bắn thì ai bắn? Chắc chắn rằng quân đội Mỹ, Phillipines, Ấn Độ, Brunei, Indonesia không thể bắn. Vì chiếc SU này không nằm trong vùng cấm bay của họ, chiếc CASA 212 cũng không nằm trong vùng cấm bay của họ. Nếu có một vụ bắn, khả năng do quân đội Trung Quốc bắn là rất cao.

Trả lời theo bài Khoa Học Giả Tưởng “hoả táng chiếc MH-370 trên 40.000 feet” phải lừa sự yếu kém kỹ thuật TQ vào sự phát giác của vệ tinh TQ bằng sự phĩnh gạc khói, vết dầu lan, phao cấp cứu trên Biển Đông. Sự phỉnh gạt một thời gian kéo dài trong khi các vật nổi tại Ấn Độ Dương sẽ chìm xuống đáy sâu sau khi không khí thoát hết ra ngoài..
Cả một chiếc máy bay chỉ có một nhúm nhôm kiếm được co rúm mà không có vết cháy nám đen được gọi là bị Sét đánh, còn những phần kia đâu ? Chẳng lẽ bay xà cách mặt biển để tìm kiếm chẵng bao cao như tin tức các nhân vật có thẩm quyền nói, rơi xuống mà lại vỡ tan ra như thế ? Động não một chút đi thì hiểu ngay! Thực sự mất tích của 9 người trong chiếc thám thính CASA trong tuần qua cũng cho thấy sự yếu kém không thể tha thứ được của không quân Việt Nam cũng như quân đội Việt Nam. Đó là chưa muốn nói đến một câu hỏi khác: Vì sao Việt Nam từ chối Mỹ giúp đỡ tìm kiếm các máy bay mất tích? Vì sao trước đó họ cũng từ chối Mỹ giúp đỡ điều tra vụ cá chết ở bờ biển miền Trung? (dĩ nhiên tướng Nguyễn Chí Vịnh được mật lịnh) Trong khi đó, họ lại rước vào biển Việt Nam 4 tàu hải quân, hai tàu tìm kiếm cứu nạn và hai tàu hải cảnh của Trung Quốc cùng với hai máy bay quân sự ? (để trắc nghiệm trò đọ sức điện tử)  Rõ ràng, sau vụ cá chết và máy bay gây tử nạn, có vẻ như một thế lực ghê gớm muốn trình diện những gương mặt bán nước dần lộ diện và họ cũng tự phơi bày bản chất của họ một cách thách thức, trơ tráo, coi thường nhân dân, thậm chí là xem nhân dân như một bầy cừu trong đòn roi bạo lực của họ! Thật là đáng buồn! Nhưng ngày nay tự xác quyết là một chế độ ăn cướp ngày qua người dân kêu oan và sự đàn áp đánh đập đàn bà trẻ em lột trần truồng nhan nhản trên các mạng internet lại nằm trong chiến dịch tâm lý Truyền Thông Xám.
     
Về phía dư luận trên mạng xã hội thì thấy rõ là có vẻ trầm lắng hơn. Rất ít nhắc đến vụ 9 người lính đã chết bởi (laser beam weapon) vì họ đang trăn trở nhiều vấn đề lớn hơn của đất nước. Đặc biệt vấn nạn cá chết ở miền Trung, mà đến hôm nay, đã là ngày thứ 82, nhưng nhà nước vẫn ỡm ờ, chưa dám công bố kết quả điều tra như tác giả đã tiên đoán trong những bài đầu từ vũ khí “khí tượng” (weather weaponry), “tàng hình”, “hoả tang”. Hơn nữa, chỉ có 9 người phi hành đoàn CASA chết vì công vụ, chưa tìm được xác (có giả  thuyết CASA-212 bị "sét" đánh trên độ cao 1000 mét rồi nổ tung, rồi mảnh vỡ tung bay ra trên một chu vi hơn 5 Km. Chứ giãm độ cao xuống rổi rơi xuống biển, thì mảnh vở không có bị co rúm và các mảnh vở phân tán trên một chu vi quá lớn như vậy được mà không thấy cháy nám là sao? Tất cả 4 sự kiện trên có tang vật, nhưng không tìm ra nguyên nhân, mà tác giả khá ồn ào về nguyên nhân không thể tìm thấy từ 41 khi bọn Ma Đầu Lâu & Xương Người muốn vậy) so với đời sống của khoảng 4 triệu người đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng, trong đó không biết có bao nhiêu người sẽ chết dần chết mòn vì nhiễm độc từ sau vụ Biển chết mà cụ thể có 1 thợ lặn đã chết trong âm thầm, bị báo nhà nước ếm nhẹm, vì bị nhiễm độc ở cảng Sơn Dương, Vũng Áng
    “Cho nên vấn đề là 9 người lính chết so với biển miền Trung cũng đang chết!”. Rồi mai mốt đây nguyên nhân “tai nạn” máy bay có bị “chìm xuồng” như vụ Biển chết do Formosa theo như sự phỏng đoán của tác giả trùng hợp với hoả táng 239 nạn nhân và từ một cục sắt hộp đen chảy ra nằm sâu dưới đáy biển Ấn Độ Dương vỉnh viển?
Tai nạn máy bay là do lỗi kỹ thuật? Lỗi con người? Lỗi do hậu quả tham nhũng trong binh chủng không quân? Lỗi do bị đặc tình báo Tàu cộng phá hoại? Hay, đấy là phát súng cảnh báo về một loại chiến tranh mới để thử sức chế độ nếu Hà Nội dám ngã theo phe Mỹ, như người Việt Nam đã bày tỏ chính kiến dịp đón tiếp Tổng thống Obama và TCB? Dân thắng hay đảng thắng!

Trung Quốc nêu lý do giúp Việt Nam tìm máy bay
Mảnh vỡ rúm ró, biến dạng của chiếc máy bay tuần thám CASA 212 8983 của cảnh sát biển Việt Nam mà tác giả tự cho rằng bị laser beam high energy và chia sẻ qua suy diển: Bắc Kinh nói rằng việc triển khai nhiều tàu bè và máy bay tới tìm kiếm phi cơ quân sự Việt Nam gặp nạn với tinh thần “quan hệ hữu hảo” nhưng sự thật là mục tiêu gián điệp và tìm kiếm nghiên cứu qua sự ngầm ý của Mỹ thúc đít tưởng Nguyễn Chí Vịnh mở đường mai mối để trắc nghiệm Trò đố vui để học để coi trình độ ăn cắp kiểu đến đâu rồi có vượt qua khỏi lần trước không ghi tiếng nổ mà chỉ âm thanh như bánh tráng bể.,

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh mới cho biết rằng chính quyền nước này đã “ngay lập tức triển khai 9 tàu thuộc lực lượng hải quân và tuần duyên tới Vịnh Bắc Bộ giúp Việt Nam ngay sau khi nhận được đề nghị của Hà Nội”.
Bà Hoa cho biết thêm rằng ngày 18/6/2016, Trung Quốc triển khai thêm “4 máy bay, cũng như 8 tàu đánh cá tới tham gia công tác cứu hộ”.

Tới nay, theo nữ phát ngôn viên này, các tàu của Trung Quốc đã gần 40 lần ra khơi, trong khi máy bay của nước này đã thực hiện ít nhất 6 chuyến bay tìm kiếm.
Bà Hoa nói thêm trong buổi họp báo thường kỳ: “Trên tinh thần thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị với Việt Nam, cũng như vì lý do nhân đạo, Trung Quốc sẽ tiếp tục dốc hết sức lực để giúp tìm kiếm những chiếc máy bay mất tích và những người trên khoang”.

Bắc Kinh cũng đồng ý cho phép tàu thuyền của Việt Nam tiến vào phía vùng biển của Trung Quốc để thực hiện công tác cứu hộ.
Thông qua Đại sứ Mỹ tại Hà Nội, Hoa Kỳ hôm 17/6/2016 cho biết “sẵn sàng hỗ trợ” Việt Nam. Hiện chưa rõ phía Việt Nam trả lời như thế nào trước đề nghị của Mỹ. Một trò chơi âm mưu chinh trị do Mỹ chủ trương.
Chiếc máy bay tuần thám CASA 8983 của lực lượng cảnh sát biển gặp nạn phía đông nam đảo Bạch Long Vỹ, khi đi tìm phi công lái máy bay chiến đấu Su-30 MK2 mất tích trước đó là do robot submarine cướp tay lái điều khiển đến mục tiêu vùng tranh chấp để làm thịt gây nên tình hình rối rắm chơi, để còn có cơ hội chơi thêm trò thử vũ khí trọng tài nữa qua vùng ADIZ ảo .

Tin mới nhất từ báo chí trong nước cho biết rằng lực lượng cứu hộ hôm nay đã “xác định chính xác vị trí của một động cơ máy bay CASA gặp nạn ở độ sâu khoảng 60m.” Ngoài ra, hai thi thể đã được phát hiện tại nơi tìm kiếm chiếc máy bay của cảnh sát biển, và Bộ phận pháp y của Bộ Quốc phòng Việt Nam đang giám định.

Mỹ đã cảnh báo Trung Quốc chớ có tiến hành “thêm các hành động khiêu khích” sau khi Tòa quốc tế ra phán quyết về Biển Đông. Có nhiều dự báo tòa sẽ bác bỏ phần lớn các tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh.(Nó nằm hoàn toàn trong đáp số của soạn giả Harriman, TQ có ngon thì cải lịnh LHQ là biết ngay thế nào là lể độ)
Tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông hiện diễn ra gay gắt nhất giữa các nước Việt Nam, Trung Quốc và Philippines. Các bên khác cũng có tranh chấp gồm Malaysia, Brunei và Đài Loan.


                                        QUEENBEE-1`

PS: Cho những ai thắc mắc QUEENBEE cùng Toán STRATA trang bị vũ khí súng tiểu liên bá xếp Tiệp Khắc không số, sung lục Browning 9 ly, kẹp đạn 13 viên, và Browning tự sát 6, 35 ly, mà PHĐ/219 không được trang bị qua hình ảnh links dưới. Thời buổi siêu vi tính khó ba xạo lắm khi viết kèm theo chứng liệu, hình ảnh, videos …

-    Nhảy Toán Nha Kỹ Thuật / Họ là ai ?: Hình Ảnh Nhảy Tóan ...
nhaytoan.blogspot.com/2010/05/hinh-anh-nhay-toan-nha-ky-thuat.html
Strata / Thượng Sĩ ... Nhay Toan Pictures. Trang Bị ... Nhảy Toán Nha Kỹ Thuật phải nói đến nhũng Chiến Sĩ đã âm thầm viết lên trang ...

-    Lôi Hổ Nha Kỹ Thuật: Toán Strata đột nhập Trường Sơn Tây
nktloiho.blogspot.com/2011/04/toan-strata-ot-nhap-truong-son-tay.html
... bây giờ tới hoạt động dưới đất cũa Toán trưởng Strata Cao ... đến nổi ông phải toan tự sát 2 lần nhưng ... Nha Ky Thuat View my ...

-    Lịch Sử Nha Kỹ Thuật / Bộ Tổng Tham Mưu / QLVNCH
http://lichsunhakythuat.blogspot.com
Các Toán này được gọi là các Toán Strata, ... Hinh Anh Nhay Toan Nha Ky Thuat. ... NHA KY THUAT THE STRATEGIC TECHNICAL DIRECTORATE AND REPUBLIC OF ...

-    Nha Kỹ Thuật / Special Operations Blog : Nha Kỹ Thuật Bộ ...
http://nhakythuatblog.blogspot.com

1967 strata team 111 xâm nhập nam lào ... republic of vietnam special operation forces - *nha ky thuat* *the strategic technical directorate ...

Nồi Chè Của Ông Tướng

Thiếu Tướng Lê Minh Đảo những ngày đầu tại Hoa Kỳ


Nồi Chè Của Ông Tướng.
 
Tác giả: Khôi An
Năm nay, Fathers Day của nước Mỹ là 19 tháng 6, trùng với Ngày Quân Lực VNCH trước 1975, xin mời đọc bài mới của Khôi An, chuyện ông Tướng mà cũng là chuyện Người Cha. Tác giả từng phải rời bố mẹ vượt biển năm 1983 khi còn tuổi học trò và là một kỹ sư có hơn hai mươi năm làm việc cho Intel tại tại miền Bắc California. Dự Viết Về Nước Mỹ từ 2008, cô đã nhận giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ 2013. Sang năm 2015, thêm giải Việt Bút Trùng Quang, dành cho những nỗ lực bảo vệ, phát huy văn hóa Việt trên đất Mỹ.
 
* * *
 blank
Ảnh của Richard Stayner from the Internet: Cần Thơ năm 1972.
 
Không hiểu chị tôi đã nghe tin về ông bằng cách nào.
Thời đó, đầu thập niên tám mươi, mọi phương tiện truyền thông đều thuộc về nhà nước Cộng Sản, quanh năm suốt tháng báo chỉ đăng tin “nước ta đang trong thời kỳ quá độ…” Kiểu dùng chữ như vậy mọi người phải chịu đựng mãi nên đỡ thấy quái đản. Người đọc cứ tự điền vào chỗ trống thành “nghèo quá độ”, “đói quá độ” hay “láo quá độ”… tùy theo câu.

Vậy mà, một buổi tối, đột nhiên chị tôi nói “Em có biết Tướng Lê Minh Đảo không? Ông tướng đánh trận Xuân Lộc đó. Nghe nói ổng mới chết trong tù rồi! Tội quá, ổng còn trẻ lắm!”

Trước ngày miền Nam thất thủ tôi không biết ông Lê Minh Đảo. Sau đó, tôi có nghe loáng thoáng người lớn rỉ tai nhau về trận đánh ác liệt bảo vệ ngõ vào Sài Gòn trong những ngày đầu tháng Tư, 1975 tại Xuân Lộc. Tôi cảm phục những người chiến đấu đến cùng, nhưng điều đó sớm chìm vào những hỗn độn của cuộc đổi đời. Vả lại tôi còn nhỏ quá, chẳng biết nghĩ gì hơn.

Cũng như thế, tối hôm đó, sau khi nghe chị tôi nói, chúng tôi chỉ biết nhìn nhau trong niềm xót thương lặng lẽ.

Một thời gian sau, tôi lại nghe một người bạn nói “Ông Lê Minh Đảo còn sống. Ổng chỉ bị mù thôi.”

Ở trong tù mà bị mù thì chắc còn khổ hơn chết. Tôi thở dài – trẻ con Việt Nam sớm biết thở dài – rồi thầm đọc một lời cầu nguyện. Cho ông và những người tù chính trị đang bị đọa đày.
*

Đến năm 1993, khi đang ở Mỹ, nghe tin Tướng Lê đã sang theo diện HO và mắt vẫn sáng, tôi ngạc nhiên và vui lắm. Mừng cho ông cuối cùng cũng có những ngày bình an sau gần hai thập niên tù ngục.

Nhiều năm sau, khi internet cung cấp mọi tin tức mà ngày trước không dễ kiếm, tôi đã lên mạng tìm xem mặt Tướng Lê và nghe ông nói. Tôi muốn biết về ông. Không phải qua những lời kể, mà bằng cảm nhận của chính tôi.

Và tôi đã gặp được đoạn phim buổi nói chuyện của Thiếu Tướng Lê Minh Đảo với Việt Dzũng. Buổi phỏng vấn khá dài nhưng tôi nhớ nhất là khi ông nói về sự hy sinh của người lính. Giọng ông hơi lạc đi khi nhắc đến tình bạn của hai người lính trẻ và sự đơn sơ, không hận thù trước bờ sinh tử của họ.

Phút nghẹn ngào của Tướng Lê đã làm tôi bồi hồi. Tôi ngỡ tim ông đã cứng và nước mắt ông đã kiệt sau mấy chục năm ngang dọc trên chiến trường và mười bảy năm trong tù. Tôi ngỡ ông sẽ nói nhiều về những chiến công và những đóng góp của ông trong hai mươi năm gìn giữ miền Nam. Nhưng ông nói về các điều khác, như cái chết của người lính trẻ và sự hy sinh của chiến binh. Hơn hai mươi năm đã qua, ông vẫn tự trách mình, môi ông run run khi nói “…chúng tôi cũng không lo được cho họ một cách đầy đủ…” Có lẽ chưa bao giờ ông ngưng buồn về chuyện đó. Tài làm tướng của ông đã làm tôi phục. Nhưng vết thương mấy chục năm trong lòng ông mà tôi vừa chứng kiến đã làm tôi quý mến ông.

Đầu tháng Tư, 2015 tôi viết lại chuyện của những sinh viên Việt Nam du học ở Mỹ bốn mươi năm trước. Họ tụ tập tại một chung cư cũ kỹ ở Houston, khắc khoải nhìn về miền Nam đang vuột mất. Người sinh viên năm xưa cứ nhắc đi nhắc lại niềm hy vọng bùng lên khi đám người Việt trẻ theo dõi sự anh dũng của những chiến sĩ Xuân Lộc, dù bị dồn tới chân tường.

Vì thế, tôi tìm xem lại những khúc phim của tháng Tư xưa. Tôi thấy lại khói lửa điêu tàn. Tôi gặp lại các chiến sĩ anh hùng. Và Tướng Lê Minh Đảo, mắt nảy lửa, nghiến răng thề quyết chiến.

Rồi tôi giật mình, nhận ra rằng những người trai dũng mãnh ấy nay đã già, và tôi cũng đang già. Mai này khi chúng tôi ra đi, đàn con gốc Việt còn biết gì về quê cha đất tổ? Phải chăng điều đó tùy thuộc vào những gì chúng tôi làm hôm nay?
Thế hệ trẻ cần nghe những điều thật từ những người thật. Sẽ tốt biết bao nếu họ được gặp gỡ những nhân vật lịch sử như Tướng Lê Minh Đảo.

Thế là tôi lần mò đi tìm Tướng Lê.

Tôi không có mối quen biết xa gần nào với ông, cũng chẳng có chức tước ở bất cứ hội đoàn nào. Vậy mà tôi thấy chuyện mời ông đến vùng Thung Lũng Điện Tử thật tự nhiên, nhẹ nhàng. Có lẽ tôi linh cảm rằng vị tướng, người sau hơn hai mươi năm vẫn khóc cho lính, rất quan tâm tới lớp trẻ.

Sau hai tuần hỏi thăm nhiều người, cuối cùng tôi may mắn có được sự giúp đỡ tận tình của một người chị làm báo. Tôi được một cái hẹn nói chuyện với Tướng Lê. Mười giờ sáng, một ngày đầu tháng Tư, 2015.

Gần tới giờ hẹn, tôi thấy hơi hồi hộp. Thật tình tôi sẽ buồn chút thôi nếu Tướng Lê từ chối sang California nói chuyện. Nhưng tôi sẽ buồn nhiều nếu thực tế quá khác với những cảm nghĩ ở trong lòng.
*

Ông đến San Jose chiều 27 tháng Tư, 2015 trên chuyến bay từ Arizona. Từ xa, tôi thấy ông trong chiếc áo sơ mi kiểu Hawaii màu vàng nhạt có hoa xám, đang dáo dác nhìn quanh.

“Thưa Bác! Con là Kh.A.”

Ông cười. Chúng tôi bắt tay nhau. Giản dị như đã quen từ trước.

Ông cho biết đã lên máy bay ngay sau khi dự buổi lễ kỷ niệm bốn mươi năm miền Nam bị cưỡng chiếm với cộng đồng Việt-Mỹ ở Pheonix, Arizona. Tôi hỏi ông có mệt không, ông nói 
“Không sao đâu. Bác giờ như một kho sách cũ, chỉ lo không đủ giờđể trao lại kiến thức cho những người đi sau…”

Tối hôm đó, chúng tôi mời ông ghé chơi nhà một người bạn. Khi bước vào nhà, trên salon có một cây đàn guitar kiểu mới, chỉ có khung sắt mà không có thùng đàn. Tôi thấy mắt ông ngời lên một sự thích thú gần như trẻ thơ. Ông bước nhanh tới, nâng cây đàn lạ mắt, vuốt nhẹ lên những sợi dây.

Khi chúng tôi mời ông đánh một bài, ông xòe bàn tay ra nhìn, cười nhẹ rồi nói:

- Ở tù bị thương, hư tay rồi. Giờ lại già nữa, đánh kém lắm.

Chúng tôi không nài ép, chỉ lẳng lặng nhìn ông vừa nói chuyện vừa lơ đãng lướt tay trên cần đàn. Một lúc sau, như hứng khởi, ông hát

“Trùng dương dâng sóng, biển khơi như thét gào. Cuốn đi cánh hoa đào dạt trôi nơi nao… “

Bài hát đó ông sáng tác trong tù, ngày nghe tin người bạn cùng trại mất hết vợ con trên đường vượt biển.
“Còn sống tôi còn khóc, tôi còn thương quê hương tôi …”(*)

Giọng ông nhẹ và buồn. Tôi nghe, và nghĩ rằng ông đang nói những điều tận đáy lòng.
*

Sáng 29 tháng Tư, Tướng Lê bắt tay vào chuẩn bị cho buổi nói chuyện ngay sau ly cà phê sớm. Ông sắp xếp ý nghĩ, soạn phần trả lời cho các câu hỏi các sinh viên đã gởi đến, và ghi xuống một loạt các quyển sách nói về chiến tranh Việt Nam để giới thiệu đến các sinh viên.

Mãi tới giờ ăn trưa tôi mới có dịp nói chuyện với ông. Vì có quá nhiều điều muốn hỏi, tôi buột miệng:

- Bác ơi, có bao giờ Bác hối hận đã làm cho các con Bác kẹt lại với Cộng Sản sau ngày mất miền Nam không? Các con Bác có bao giờ trách Bác không?

Nói xong, tôi hơi bối rối vì đã hỏi một câu khá nặng nề trong lúc ông đang nghỉ ngơi. Nhưng ông trả lời ngay:

- Đó là một quyết định rất đau lòng, nhưng Bác chưa bao giờ hối hận. Bác ra lệnh cho anh em binh sĩ quyết đánh, gia đình của họ đều ở lại, có lẽ nào Bác lo cho con Bác ra đi? Bác có thể thu xếp cho gia đình mình, nhưng làm sao thu xếp được cho mọi gia đình của những người đang tin vào Bác? Nếu Bác cho vợ con đi trước, lính của Bác biết là giờ chót Bác có thể lên máy bay đi bất cứ lúc nào. Như vậy họ còn tin tưởng để đánh hay không? Như vậy Bác có công bằng với họ hay không? Bác chấp nhận định mệnh của Bác và gia đình, nếu có phải chết thì chết cùng nhau. Bác muốn đối xử công bằng để sau này con bác không phải xấu hổ với con em của những người từng nghe lời Bác mà liều chết. Bác muốn con bác sau này không phải nhìn Bác mà nghĩ ông già mình ngày xưa từng gạt lính.
Trầm ngâm vài giây, rồi ông tiếp:

- Năm 1979, lúc Bác đang bị Cộng Sản đày đọa, nghe tin gia đình đi thoát hết sau năm lần vượt biên bị tù, Bác trút được gánh nặng khủng khiếp trong lòng. Bác tạ ơn trời đã cho Bác ân huệ được lương tâm yên ổn, được trọn vẹn mọi bề. Từ đó, Bác không còn phải lo lắng, đau khổ cho số phận của vợ con trong nanh vuốt của kẻ thù nữa. Bác không sợ kẻ thù dùng các con thơ để khống chế mình nữa. Bác được tự do.

Còn các con Bác, tụi nó cũng hiểu và không trách Bác. Trong bốn năm kẹt lại, tụi nó đã học được rất nhiều. Những kinh nghiệm sống đó làm cho chúng biết thương người, biết khiêm nhường, biết quý những điều tưởng như là tầm thường. Các con của Bác có thể tự hào rằng mình đã hiểu biết về Cộng Sản và đã vượt thoát khỏi ngục tù của họ. 
Đó là một tài sản mà Bác nghĩ các con Bác nên hãnh diện đã có được.

Tôi uống một ngụm trà, nuốt xuống cái nghèn nghẹn ở cổ. Tôi nghĩ, trước khi tử chiến ở Xuân Lộc, nếu ông lo cho gia đình đi thì đó cũng là chuyện thường tình. Không ai trách được ông. Nhưng Tướng Lê không phải là người làm những chuyện thường tình...

Thời vừa bị chiếm, mạng sống của người miền Nam rất nhỏ, thêm dịch bệnh hoành hành làm trẻ con chết rất nhiều. Nếu chỉ một trong chín người con ông có mệnh hệ nào, nỗi dằn vặt sẽ ám ảnh ông suốt đời. Nhưng Thượng Đế đã gìn giữ gia đình ông vẹn toàn. Cám ơn Thượng Đế, Tướng Lê cần và xứng đáng với ơn huệ của ngài.

Hôm sau, ngày 30 tháng 4, 2015, ông và người thông dịch miệt mài chuẩn bị cho buổi nói chuyện lúc 6 giờ chiều. Trưa đến, tôi nhắc ông đi ăn nhưng ông dùng dằng mãi vẫn chưa đứng lên được. Thấy vậy tôi đành khuân về mấy ổ bánh mì thịt nguội. Ông gặm bánh mì, uống beer và cười nói vui vẻ, hài lòng vì buổi nói chuyện được chuẩn bị chu đáo.

Cuôc gặp gỡ với sinh viên diễn ra thành công và cảm động. Tướng Lê đã nhắn nhủ lớp trẻ bằng những điều ông đúc kết suốt nửa cuộc đời trong chiến tranh cộng với mười bảy năm trong tù ngục. Những chia sẻ của ông thiết tha, sâu sắc nhưng cũng rất thực tế, phù hợp với tâm hồn và đời sống của giới trẻ.

Buổi họp kết thúc khá trễ nên chúng tôi chỉ ghé tiệm kem ăn tráng miệng rồi về.

Mãi đến đêm, tôi mới chợt nhận ra rằng bữa ăn “đàng hoàng” nhất của Tướng Lê ngày hôm đó là ổ bánh mì. Vì ông đã không đụng đến đĩa thức ăn do các em sinh viên mời lúc chiều, ông nói muốn tập trung để nói chuyện với các em.
*

“Con gián làm mồi câu tốt lắm, con à.”

Buổi chuyện trò của tôi và Tướng Lê ngày hôm sau bắt đầu bằng câu chuyện đời thường như thế. Ông kể thời ông ở Cần Thơ, ông thường bắt gián ở đằng sau một tiệm ăn ở gần nhà rồi đem ra bến Ninh Kiều câu cá.

Biết rằng lúc đó ông đã lên tới cấp Tá, tôi hỏi:

- Chắc Bác câu cá cho vui hả Bác?

- Câu cá về ăn chớ! Nhà Bác đông con, lương của Bác thì khá so với lính, nhưng chẳng dư dả gì đâu, con. Lính mình hồi đó cực lắm con à, một tháng lương mua được một tạ gạo. 
Còn lương Bác cũng chỉ tạm đủ lo cho vợ con.
Hoàn cảnh lính và những hy sinh của gia đình lính thì không nói sao cho xiết, con à. Gần một triệu người đã chết và bị thương trong cuộc chiến, còn số người chịu mất mát sau lưng họ thì không biết đếm bằng cách nào! Bác cứ nghĩ con người ta ai cũng bằng xương bằng thịt, nếu Bác chết trận, mười người trong gia đình Bác đau đớn bao nhiêu thì những cái chết trong gia đình lính cũng đau bấy nhiêu. Hồi ở Chương Thiện, có một người lính đi phục kích, vợ con bị địch câu pháo trúng vô nhà, chết hết. Anh ta về, ngồi gục mặt trước đống gạch nát, Bác đứng đó mà chỉ biết đặt tay lên vai anh ta, không tìm được lời nào an ủi. Vậy mà hai bữa sau, anh ta trở lại đơn vị, tiếp tục đánh giặc…

Cái nhíu mày của ông làm tôi nghĩ ruột ông đang thắt lại, nên tôi chuyển qua đề tài khác:

- Thời Bác ở trong quân đội, di chuyển nhiều nơi, cả nhà đều đi theo hả Bác?

Nụ cười nhẹ làm những vết nhăn trên trán ông dãn ra.
- Ờ! Bác bận rộn quá nên đi đâu Bác cũng cố gắng đem gia đình theo để được ở gần càng nhiều càng tốt. Khi nào có dịp nghỉ, Bác dắt vợ con đi chơi. Nhưng sau này, Bác ở đóng quân ở Long Bình thì tụi nhỏ đi học ở Sài Gòn, cuối tuần nếu Bác không đi hành quân thì mới được gặp. Có một lần Bác dắt tụi nhỏ đi coi chiếu bóng về, tụi nó than đói bụng. Ở tỉnh lỵ đâu có hàng quán ban đêm, Bác lại không muốn sai lính nên tự nấu chè cho tụi nó ăn. Nấu nước sôi, đập vô một củ gừng, quậy đường cát, rồi xé bánh tráng bỏ vô. Bánh tráng mà mình hay ăn đồ cuốn đó. Bánh tráng coi mặn mặn vậy mà nấu chè ngon lắm! Bữa nào con làm thử đi!

Ông vừa nói vừa gật đầu để thêm phần… thuyết phục. Tôi tròn mắt nhìn ông. Chỉ là một kỷ niệm vui, không màu mè, bóng bẩy, nhưng ông làm tôi cảm động lẫn ngạc nhiên. Một vị Tư Lệnh tự nấu chè cho con ăn khuya? Nồi chè mà tôi không cần thử cũng biết là không thể ngon. Nhưng nó làm tôi thương người cha ở trong ông, và tự hào vì quân lực VNCH đã có một vị chỉ huy như ông. Ôi, nồi chè của ông Tướng!

Càng nói chuyện với ông, tôi càng thấy ông rất “không thuờng tình”. Ông không dè dặt, thận trọng như thường thấy ở những người từng chứng kiến nhiều mưu mô, tráo trở. Ông không có cái trầm ngâm, chán chường của một người nếm quá nhiều đau thương. Ông nhiệt tình, hăng hái, và thật. Như thể cuộc đời ông chưa từng bị dập vùi, như thể ông còn rất trẻ và còn tin tưởng rất nhiều vào con người.

Và, ông hoàn toàn không có cái xa cách của người xem mình là quan trọng. Vì thế, tôi đã hỏi ông một câu mà trước khi gặp ông tôi không nghĩ là mình dám hỏi:

- Bác ơi, ngày 30 tháng Tư 1975, sau khi miền Nam thất thủ, Bác có bao giờ nghĩ đến chuyện tự sát hay không?

- Lúc đó, mỗi người có một quyết định riêng, không ai đúng ai sai. Riêng Bác, Bác không có ý định tự tử. Các con Bác đã mất quá nhiều, Bác không muốn chúng phải mất cha. Nếu bị giặc Cộng giết, Bác chấp nhận nhưng Bác không tự mình làm điều đó với các con. Hơn nữa, Bác không có cái uất ức, đau khổ của một bại tướng vì 
Bác chưa bao giờ nghĩ là mình thua. Mình chỉ tạm thời khó khăn vì những thế lực quốc tế đẩy mình tới đó, nhưng Bác muốn sống để xem mọi sự xoay vần tới đâu.
*

Nếu chỉ được dùng một từ để diễn tả Tướng Lê, tôi sẽ chọn “lãng mạn”.

Những quyết định cực kỳ cứng rắn, những hành động hết sức can đảm của ông đều bắt nguồn từ những tình cảm sâu xa. Chỉ có người rất lãng mạn mới đủ tin yêu để làm những điều phi thường như ông đã làm. Ông để vợ con cùng ở lại đương đầu với Cộng quân là vì ông yêu sự “công bằng” mà ông đã nhắc đến mấy lần trong câu trả lời ngắn.
Ông tử chiến vì ông hết lòng tin vào sứ mạng gìn giữ miền Nam. Ông không sợ chết vì ông không muốn phụ lòng những người lính đã nằm xuống và những người lính đã dựa vào ông mà đứng lên từ những căn nhà cháy ra tro của họ.

Cống hiến của ông cho đời giống như những viên kim cương, tuyệt sáng và tuyệt cứng. Nhưng chúng đã được hun đúc từ phần lõi là những tình cảm tinh tuyền, và những giọt nước mắt. Sẽ không có kim cương nếu không có phần lõi đó.

Lịch sử Việt Nam có Tướng Phạm Ngũ Lão gạt nước mắt, chia tay mẹ già đi đánh giặc. Có Tướng Trần Khánh Giư bỏ gánh than, từ giã đời ở ẩn để trở về cứu nước. Có biết bao chuyện nhờ dân gian ghi lại mà ngày nay chúng ta được biết.

Cho nên, tôi muốn ghi lại nồi chè bánh tráng của Tướng Lê Minh Đảo. Ghi lại lúc ông chấp nhận để các con ông cùng chung số phận với gia đình lính. Ghi lại lòng thương yêu và quý trọng vô bờ của ông với binh sĩ và vợ con của họ. Về lời ông nói, đùa mà rất thật “nếu trời cho sống đến hơn trăm tuổi, tôi vẫn muốn 
cống hiến thời giờ và sức lựccho Việt Nam tới phút cuối.”

Năm nay Tướng Lê đã tám mươi ba. Vinh, nhục, yêu, ghét, thăng hoa, đày đọa … ông đều đã trải. Vì thế, tôi viết bài này không phải cho ông. Mà để lưu lại vài mẩu chuyện về Ông Tướng Lãng Mạn cho mai sau. Để góp một chút tin yêu bởi vì làm người Việt Nam rất buồn. Để cho chính tôi nhớ gương của Tướng Lê, lạc quan trong khó khăn và cố gắng làm những điều tốt đẹp nhất trong khả năng của mình, hầu mong mai sau con cháu không phải ngần ngại nhận mình là Việt.
Khôi An

Friday, June 24, 2016

Đại tá TQLC Hoa Kỳ gốc Việt William H. Seely III được đề cử thăng cấp Chuẩn tướng

 Hình Đại tá William H. Seely III, chỉ huy trưởng trường tình báo TQLC Hoa Kỳ năm 2013 (USMC photo).

Theo nguồn tin từ các bản thông báo của Bộ quốc phòng (U.S. Department of Defense) và Quốc hội Hoa Kỳ (CONGRESS.GOV). Đại tá Thủy quân lục chiến William H. Seely III đã được vinh dự đề nghị thăng cấp Chuẩn tướng.
Đại tá William H. Seely III được Tổng thống đề cử thăng cấp Chuẩn tướng vào ngày 22 tháng 2 năm 2016, hồ sơ được chuyển đến Quốc hội và đã được Thượng viện chấp thuận vào ngày 26 tháng 5 năm 2016. Ông là một trong mười Đại tá TQLC được Tổng thống đề cử thăng cấp Chuẩn tướng năm 2015-2016.

Đại tá William H, Seely III là người Mỹ gốc Việt, mang họ và tên Mỹ, sinh tại Sàigòn. Ông được thăng cấp Thiếu tá năm 2000, Trung tá năm 2006 và Đại tá năm 2010. Ông đã từng giữ những chức vụ chi huy quan trọng như: Trung tá tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3 viễn thám, Sư đoàn 3 TQLC; Đại tá chỉ huy trưởng trường tình báo TQLC; và hiện nay đang là Đại tá tham mưu trường, Bộ tư lệnh an ninh không gian mạng TQLC Hoa Kỳ (U.S. Marine Corps Forces Cyberspace) và là Đại tá trưởng phòng 2 (tình báo) thuộc Bộ tư lệnh các lực lượng hỗn hợp bộ chiến tại Irag (J-2 Combined Joint Forces Land Component Command-Iraq).

https://i2.wp.com/bloximages.chicago2.vip.townnews.com/militarynews.com/content/tncms/assets/v3/editorial/6/f4/6f47f71a-5484-52be-906b-12b4df002c5a/51e80dc139bcf.image.jpg
Hình Đại tá William H, Seely III trao quân kỳ lại cho Dave W Burton, trong buổi lễ bàn chức vụ chỉ huy trưởng trường tình báo TQLC vào tháng 7 năm 2013 (USMC photo).


https://i0.wp.com/bloximages.chicago2.vip.townnews.com/militarynews.com/content/tncms/assets/v3/editorial/5/8c/58caebcb-3853-53ba-931b-dbcaf7cc9f05/51e80ea74c34d.image.jpg
Hình Phu nhân Đại tá  William H. Seely III nhận hoa trong buổi lễ bàn giao chức vụ chỉ huy trưởng trường tình báo TQLC vào tháng 7 năm 2013 (USMC photo).

Đại tá William H. Seely III đã lập gia đình có vợ và 2 con nhỏ, một trai và một gái.

Đại tá William H. Seely III sẽ được chính thức thăng cấp Chuẩn tướng trong thời gian sắp tới. Ông là vi tướng Hoa Kỳ gốc Việt thứ ba sau Chuẩn tướng lục quân Lương Xuân Việt và Chuẩn tướng Châu Lập Thể Flora.

Trần Anh tổng hợp.



Colonel William H. Seely III, USMC, 
Saigon born, was nominated for Brigadier General.
 http://www.defense.gov/News/News-Releases/News-Release-View/Article/671680/general-officer-announcements
 General-officer-abbouncements

Tuesday, June 14, 2016

Thiệp Mời Dạ Hội "Ngày ghi dấu 44 năm Chiến Thắng An Lộc"



An-Lộc Foundation kính mời Quý Vị hỗ trợ 
"Ngày ghi dấu 44 năm Chiến Thắng An-Lộc"
(Thiệp Mời attached file).

QUỐC-NAM, Chủ Tịch

An-Lộc Foundation


P.S.

Trực thăng và xe Jeep Quân Đội sẽ chào đón quý vị tham dự Dạ Hội “Ngày ghi dấu 44 năm Chiến Thắng An-Lộc”.


Sau ngày Độc Lập July 4 của Hoa Kỳ, Dạ Hội "Ngày ghi dấu 44 năm Chiến thắng An-Lộc" quy mô và đầy sáng tạo, sẽ chào đón quý chiến hữu QLVNCH & gia đình, từ 5:30G chiều Thứ Sáu ngày 8 tháng 7 năm 2016. Quý Vị khắp hải ngoại hãy chuẩn bị tham dự một chương trình văn nghệ về Người Lính VNCH được An-Lộc Foundation dàn dựng mới lạ và hấp dẫn từng phút hội diễn trên sân khấu Seafood Palace Restaurant 800 ghế ngồi ở Thủ đô tị nạn Westminster (miền Nam Cali, Hoa Kỳ). Bản tin về sự kiện họp mặt quý chiến hữu các Quân Binh Chủng và văn nghệ về Người Linh QLVNCH "độc nhất vô nhị" như vậy, tại Link sau đây:



Để về thăm Thủ đô tị nạn Little Saigon (Nam California) và gặp gỡ những Chiến Sĩ Anh Hùng sống sót cuối cùng của mặt trận An-Lộc 93 ngày đêm tử chiến với Bắc Quân (CSVN), quý vị hãy ủng hội vé 30 Mỹ-kim bằng cách dùng Thẻ Tín Dụng mua ngay tại www.bolsatickets.com. Bời số ghế ngồi trong "Ngày ghi dấu 44 năm Chiến thắng An Lộc lần đầu tiên tại Hoa Kỳ" tháng 7/2016 hạn chế, nên Quý Vị vui lòng giữ chỗ ngay hôm nay.

An-Lộc Foundation hân hạnh kính mời.

Monday, June 13, 2016

Tưởng Nhớ Cha Người Chiến Sĩ Biệt Động Quân VNCH

Nhân Ngày Quân Lực 19-6, nhìn lại sự tham chiến của Mỹ tại VN

Trong bối cảnh của cuộc chiến trạnh lạnh từ 1947-1973, người Mỹ gần như đã thất bại, khi đối đầu để ngăn chận ảnh hưởng của Nga Sô Viết, cho dù đã sử dụng rất nhiều chiến lược hoàn cầu, từ chủ thuyết Containment sang Domino, hết phản du kích tới trực diện tham chiến. Rốt cục mọi hy sinh, nổ lực, bạc tiền và mạng lính của Mỹ, Ðồng Minh và VNCH thành vô ích, khi Hoa Kỳ tới Paris vào tháng 1-1973, cúi mặt để nhận tờ giấy lộn của cái được gọi là “Hiệp định hòa bình ngưng bắn VN” .Tóm lại, trong cuộc chiến VN, chỉ có bọn đại tư bản lái súng Mỹ và các con buôn trung gian liên hệ khắp thế giới, làm giàu mà thôi.

          Sự bội tín của người Mỹ tại VNCH, còn là dây chuyền giúp Nga chiếm ảnh hưởng tại Iraq, Libya, Angola, đưa các đảng xã hội lần lượt nắm quyền tại Tây Âu. Ở Trung Mỹ, dưới sự tiếp tay của Nga và Cu Ba, đảng CS Sandinista chiếm Nicaragua, cùng đe dọa các nước quanh vùng, nhất là El Salvador. Ðó là chưa nói tới dịch khủng bố quốc tế, lợi dụng sự thất thế uy tín của người Mỹ, gieo rắc máu lửa chết chóc khắp nơi cho nhân loại.

          Vì vậy đã không có đại chiến thứ ba, mà chỉ có cuộc chiến khu vực. Cũng vì Bắc Cao và Bắc Việt lúc đó là chư hầu của Ðệ tam Cộng Sản quốc tế, đã xung phong nhận lãnh trách nhiệm làm tên lính tiền phong của đế quốc đỏ trong khu vực. Nên Liên Xô - Trung Cộng, đã chọn bán đảo Triều Tiên và Ðông Dương, làm hai CHIẾN TRƯỜNG thí điểm, để hai khối thanh toán, đồng thời cũng là nơi mà các cường quốc, dùng để tiêu thụ số bom đạn thặng dư sau thế chiến và thử nghiệm những loại vũ khí mới vừa chế tạo.

          Chỉ tội nghiệp cho các dân tộc nhược tiểu trong vùng chiến cuộc bỗng dưng bị họa lây, gồm Cao Ly, Việt Nam, Lào, Campuchia ..  do hai đảng Cộng Sản Bắc Cao và Bắc Việt, rước voi về giày mả tổ, tàn phá quê hương và hủy diệt dân tộc mình. Vì nếu không có sự xuất hiện của đảng Cộng Sản Ðệ Tam Quốc Tế, chắc chắn các quốc gia trên, trong đó có Việt Nam cũng sẽ như các nước trong vùng như Ấn Ðộ, Pakistan, Tích Lan, Miến Ðiện, Mã Lai, Tân Gia Ba, Nam Dương.. thuộc địa cũ của Anh-Pháp hay Phi Luật Tân thuộc Mỹ, cũng độc lập mà không cần phải gây ra cuộc kháng chiến chín năm (1946-1954), làm tốn biết bao máu xương của đồng bào, lại còn hủy hoại tài nguyên và nhiều công trình kiến tạo của tiền nhân để lại .

          Ðó là thực chất của cái, được thế giới gán cho danh từ hào nhoáng “Chiến Tranh Giải Phóng Việt Nam” . tuy chỉ là một giai đoạn ngắn ngủi nhưng lại bi thảm nhất trong dòng sông lịch sử Hồng-Lạc, với sự yểm trợ của khối Cộng Sản Ðệ Tam Quốc Tế và sự tham chiến của Hoa Kỳ, giúp Người Việt hai bên chiến tuyến, chém giết nhau một cách tận tuyệt.

          Theo Kenneth E.Sharpe trong “The Post Vietnam Formula under Siege và Political Science Quarterly”, thi giai đoạn 1960 tới cuối năm 1971, được coi như là thời kỳ “Giải Kết” của Mỹ. Chính Tiến sĩ Henry Kissinger đã chủ trương, đưa Trung Cộng về lại với Thế Giới Tự Do bằng sự đánh đổi  Bỏ Rơi Tiền Ðồn Chống Cộng tại Á Châu là VNCH . “Hành động giải kết trên, tuy có tạo được cho đương sự một tầm vóc quốc tế nhưng kết quả đã đưa đến sự bại trận nhục nhã” cho nước Mỹ, bởi vì Kissinger đã lẫn lộn giữa chính trường và khuôn viên trường đại học. Tóm lại chỉ vì ngu muội, Kissinger đã tự mình đưa nước Mỹ vào một thời kỳ suy thoái nhất trong lịch sử Hoa Kỳ (1973-1980), dưới sự lãnh đạo của đảng Dân Chủ toàn phần.

           Tóm lại, sau bốn mươi mốt năm VNCH bị sụp đổ nhưng ngày nay vẫn còn nhiều tác giả ngoại quốc, mỗi khi có dịp nói-viết về cuộc chiến trên, vẫn cứ dựa vào các tài liệu tuyên truyền của cộng sản, nên thường lý luận một chiều, đôi lúc thật hàm hồ bừa bãi. Chính những cuốn sách và cái máy nói này, đã khiến cho ai đọc hay nghe tới, cũng đều có cảm tưởng là những người lãnh đạo nước Mỹ lúc đó, toàn ngu xuẩn hay điên rồ, cho nên mới bị sa lầy và tháo chạy khỏi miền Nam, vào ngày 30-4-1975 một cách nhục nhã .

          Với người Mỹ qua thói quen tự cao tự đại, sau khi tháo chạy khỏi chiến trường để bị mang tiếng bội tín với thế giới tự do, vì không giữ được lời hứa, bảo đảm quyền sống tự do của đồng bào Việt-Miên-Lào trên Bán đảo Ðông Dương, nên vẫn cứ phải loay hoay giữa tự ái và lương tâm, khi muốn giải đáp trước công luận quốc tế và trong nước, lý do tại sao một cường quốc bách chiến bách thắng như Mỹ lúc đó và hiện tại, lại có thể bị thua trước một đối phương nhỏ bé, lạc hậu như cộng sản Bắc Việt ? dù chúng đã được toàn khối Cộng Sản viện trợ, hay rất lỳ lợm, dã man, tham tàn, coi mạng sống của đồng bào VN và cán binh thua cỏ rác.

          Ngày nay nhờ những khai quật từ các văn khố khắp thế giới, nhất là sự sụp đổ của gần hết khối xã hội chủ nghĩa trong đó có Liên Xô và các nước Ðông Âu nhưng quan trọng nhất vẫn là những bản tự khai của các chóp bu tại Bắc Bộ Phủ, cho ta nhận rõ phần nào giải đáp trên, về thực chất của cuộc chiến Việt Nam (1955-1975). Như Pháp năm 1954, người Mỹ đã thua cộng sản trong mặt trận ý chí tại thủ đô Hoa Thịnh Ðốn và ngay trên đất nước mình, chứ không phải ở chiến trường Ðông Dương. Cũng từ đó, người Mỹ thường nhắc nhớ tới thành ngữ  “No more Việt Nam” như một thứ mặc cảm tội lỗi, luôn đè nặng đất nước Hoa Kỳ, cho tới lúc Tổng thống Reagan vào ngày 21-5-1982, khai sinh một nước Mỹ mới, khi tuyên bố chiến lược tấn công, để ngăn chận sự bành trướng của khối cộng sản quốc tế

          Tất cả không phải vì QLVNCH không chịu chiến đấu trước kẻ thù, hoặc Miền Nam không có tướng tài và cấp lãnh đạo xứng đáng sau khi Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị sát hại hay Chính Phủ VNCH không có chính nghĩa như Thượng Nghị Sĩ Mỹ là Mc.Cain vừa tuyên bố lếu láo vô trách nhiệm trên báo chí, mà là NƯỚC MẮT NHƯỢC TIỂU VN, hay nói đúng hơn chúng ta đã bị Thực Dân Mới nhân danh là Liên Hiệp Quốc, bán đứng trong canh bài phân chia ranh giới chính trị, quân sự giữa hai khối tư bản và cộng sản, đã sắp xếp sẵn sau khi Ðệ Nhị Thế Chiến kết thúc. Nhiều nước Ðông Âu kể cả Ðức cũng chịu chung số phận nhược tiểu như VN và Cao Ly, khi nằm trong thế cờ quốc tế đã định đoạt sẵn. Nhưng may thay Họ đã tự mình tháo gỡ được gông cùm nô lệ cộng sản vào đầu năm 1990, khi Liên Bang Sô Viết và phần lớn khối cộng sản đệ tam quốc tế tan rã.

          Tại VN trước năm 1975, dù không bị sa lầy, Hoa Kỳ vẫn tháo chạy vì mục đích nối kết với Trung Cộng, phá vỡ thế liên hoàn Nga-Hoa, đã hoàn thành từ 1972. Sự bất lương của người Mỹ là " ăn không đưọc thì đạp đổ " và phá hủy những thứ gì còn lại của người khác cho tan nát. Đó cũng là lý do Mỹ vô duyên vô cớ, đem quần đảo Hoàng Sa của VNCH giao cho Trung Cộng ngày 19-1-1974 vì sợ VC sẽ đem bán cho Liên Sô sau khi chiếm đưọc miền Nam. Hành động vô trách nhiệm này đã giúp Tàu đỏ có cơ hội độc chiếm gần như toàn bộ biển Đông ngày nay, trong đó phần lớn của VN..

1- Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam
          Theo luật pháp hiện hành, thì Tổng Thống Mỹ là Tổng Tư Lệnh quân đội, cố vấn bởi Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia, để ban hành các quyết định quân sự, được thi hành bởi Bộ Trưởng Quốc Phòng, xuống tới các Bộ Tham Mưu Liên Quân và các Bộ Tư Lệnh Hải Ngoại, trong số này có BTL Thái Bình Dương chỉ huy trực tiếp các BTL Không Quân, Lục Quân, Hạm Ðội 7 và Cơ Quan Viện trợ Quân Sự Mỹ tại VN (MACV).

          Từ năm 1965 khi Hoa Kỳ bắt đầu đổ quân ào ạt vào VNCH. Ðể đáp ứng nhu cầu chiến lược, Mỹ lập Lực Lượng Lục Quân Hoa Kỳ tại VN (US Army VN - USARV), bao gồm tất cả các đơn vị bộ binh Mỹ đang tham chiến ở đây, trực thuộc cả hai BTL Lục quân và cơ quan MACV Thái Bình Dương. Theo hệ thống tổ chức trên, lực lượng tham chiến của Mỹ tại VN còn có Hải quân + Quân đoàn III Thủy bộ TQLC và Quân đoàn 7 Không quân.

          Sự hiện diện của người Mỹ tại VNCH sau Hiệp định Geneve 1954, đầu tiên là Phái bộ Cố vấn Viện trợ Quân sự Ðông Dương (MAAG - Indochina) rồi đổi thành Phái Bộ CVVTQS -VN (MAAG - VN) với nhiệm vụ cố vấn và huấn luyện QLVNCH và chấm dứt ngày 8-2-1962 bằng Cơ quan MACV, duới quyền chỉ huy của các tướng lãnh :
- Trung tướng S.William, Tư lệnh MAAG từ 11/1955 - 9/1960.
- Trung tướng LMcGarr , TL MAAG từ 9/1960 - 2/1962.
- Ðại tướng P.Harkins , TL MACV từ 2/1962 - 6/1964.
- Ðại tướng W.Westmoreland, TL MACV, từ 6/1964 - 7/1968.
- Ðại tướng C Abram, TL MACV từ 7/1968 - 6/1972.
- Ðại tướng F. Weyand, TL MACV từ 6/1972 - 3/1973.
- Thiếu tướng J Murray , TL DAO, từ 3/1973 - 8/1974
- Thiếu tướng H Smith, TL DAO, từ 8/1974 - 4/1975.

          Tại VN, Hoa Kỳ thành lập Quân Ðoàn 1 (1 Field Force US) ngày 15-3-1966, có BTL đóng tại Nha Trang, chỉ huy tất cả các đơn vị Hoa Kỳ tham chiến tại Vùng 2 Chiến thuật của VNCH tới ngày giải tán về nước 30-4-1971, gồm có SĐ4BB, Lữ đoàn 3/SĐ25BB, Lữ đoàn1/SĐ101 Dù, Lữ đoàn 173 Nhảy dù, Liên đoàn 41 và 52 Pháo Binh .

          Cùng lúc Quân Ðoàn II (II Field Force US) cũng được thành lập, có BTL đóng tại Biên Hoà, chỉ huy các đơn vị Mỹ tham chiến tại Vùng 3 Chiến Thuật của Nam VN tới ngày giải tán 2-5-1971, gồm SĐ1BB, SĐ1Kỵ Binh Không Vận, SÐ9BB, SĐ25BB, SĐ101Dù, Lữ đoàn 173 Dù, Trung đoàn 11 Kỵ binh, Liên đoàn 23 và 54 Pháo binh.

          Tại Vùng 1 Chiến thuật của VNCH, Hoa Kỳ thành lập Quân đoàn III Thủy Bộ TQLC (III Marinne Amphibious Force), có BTL đóng tại Ðà Nẵng, chỉ huy SĐ1 và 3 TQLC, 2 Trung đoàn đổ bộ, Không đoàn 1 TQLC cùng Quân đoàn XXIV.

          Về quân số tham chiến của Hoa Kỳ, khởi đầu 760 (1959), 

900 (1960), 
3205 (1961), 
11.300 (1962), 
16300(1963), 
23300 (1964), 
184.300 (1965), 
383.300 (1966), 
485.600 (1967), 
536.100 (1968), 
475.200 (1969), 
334.600 (1970). 
156.800 (1971), 
24.200 (1972) và 
50 (1973). 


Như vậy từ sau Hiệp Ðịnh Ba Lê ra đời, QLVNCH một mình ngăn chận và chống trả với toàn Khối Xã Hội Chủ Nghĩa, cho tới ngày Miền Nam mất theo lệnh đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh, vào trưa ngày 30-4-1975.

- Các Vị Tướng Lãnh Hoa Kỳ Tử Thương Tại VN

THIẾU TƯỚNG WILLIAM JOSEPH CRUMM:
Sinh ngày 20-9-1919, Scarsdale New York, nguyên Tư Lệnh Sư Đoàn 3 Không Quân thuộc Bộ Tư Lệnh Không Quân Chiến Lược, Mỹ. Ngày 7-7-1967, tướng W. J. Crumm đích thân lái một chiếc B.52 dẫn đầu một hợp đoàn gồm 3 chiếc B.52 đến yểm trợ chiến trường ở miền Nam Việt Nam. Lúc còn cách ngoài khơi tỉnh Vĩnh Bình (vùng 4 chiến thuật) khoảng 32km, tai nạn xảy ra khi hai chiếc B.52 chạm cánh vào nhau và rớt xuống biển đông VNCH. Có sáu người bị chết (không tìm được xác) và bảy người được cứu sống. Trong số người tử nạn có thiếu tướng W. J. Crumm. Ông là sĩ quan cấp tướng đầu tiên của quân đội Mỹ chết tại chiến trường Việt Nam .

THIẾU TƯỚNG ROBERT FLANKLIN WORLEY:
Sinh ngày 10-10-1919, Riverside California . Nguyên Tư Lệnh Phó Không Lực 7, Không Lực Thái Bình Dương. Ngày 23-7-1968, tướng R.F. Worley tự mình lái chiếc máy bay phản lực loại RF-4C Phantom, đến yểm trợ một đơn vị bạn ở hướng tây-nam Huế thì máy bay bị trúng đạn phòng không của Cộng sản Bắc Việt. Chiếc Phantom được ghi nhận đâm vào một sườn núi, khoảng 85km tây-bắc phi trường Đà Nẵng.

THIẾU TƯỚNG BRUNO ARTHUR HOCHMUTH:
Sinh ngày 10-5-1911 Houston, Texas, nguyên Tư Lệnh Sư Đoàn 3 Thuỷ Quân Lục Chiến, hoạt động trong hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị. Vào ngày 14-11-1967, tướng B.A. Huchmuth đang trên đường đến thăm chuẩn tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh SĐI/BB thì trực thăng của ông bỗng dưng phát nổ trên không tại hướng tây bắc thành phố Huế. Trong số những quân nhân Mỹ tử nạn trên chiếc trực thăng còn có thiếu tá Nguyễn Ngọc Chương là sĩ quan liên lạc SĐI/BB cạnh Bộ Tư Lệnh SĐ3/ TQLC Mỹ.
Thiếu tướng B.A.Hochmuth là vị tướng duy nhất của TQLC Mỹ chết tại chiến trường Việt Nam .

THIẾU TƯỚNG KEITH LINCOLN WARE:
Sinh ngày 23-11-1915, Denver Colorado , nguyên Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh (Sư đoàn Anh Cả Đỏ, The Big Red One Division). Ngày 13-9-1968, trong lúc đang chỉ huy đơn vị cơ hữu chạm súng với VC, chiếc trực thăng chỉ huy của ông bị trúng đạn phòng không của VC, và bị rơi ở địa điểm khoảng 6km tây-bắc Lộc Ninh tỉnh Bình Long.

CHUẨN TƯỚNG WILLIAM ROSS BOND:
(Chúng tôi tạm dịch chức vụ Brigadier General, tướng một sao của quân đội Mỹ là chuẩn tướng) Sinh ngày 4-12-1918, Portland , Maine , nguyên Tư Lệnh Lữ Đoàn 199 Bộ Binh. Ngày 1-4-1970, lúc nhận được tin một đơn vị của mình là Chi đội 2, Chi đoàn D, Thiết đoàn 17 Kỵ Binh bị địch tấn công khi đang hộ tống một đoàn xe tiếp tế trên tỉnh lộ 15, phía nam Võ Xu tỉnh Long Khánh. Tướng W.R. Bond đã đáp trực thăng của mình xuống ngay trận địa để đôn đốc chiến sĩ. Khi ông chạy khỏi máy bay độ vài thước thì bị trúng đạn ngay vào ngực. Trực thăng khẩn cấp đưa ông khỏi trận địa, nhưng ông đã tắt thở lúc còn trên không. Chuẩn tướng W.R. Bond là vị tướng thứ nhất của quân đội Mỹ tử trận ngay trên mặt đất Việt Nam, không phải trên máy bay.

THIẾU TƯỚNG ALBERT BROADUS DILLARD, JR: Sinh ngày 1-9-1919, Lake Charles , Louisiana , nguyên Tư Lệnh Công Binh Mỹ ở Việt Nam . Ông bị tử thương ngày 12-5-1970 lúc từ Pleiku bay trực thăng đến trại Biên Phòng Plei D'Jreng để thám sát Tỉnh lộ 509. Trực thăng của tướng J.B. Dillard bị trúng đạn phòng không của CS và phát nổ. Địa điểm xảy ra khoảng 16 km hướng tây-nam thị xã Pleiku.

THIẾU TƯỚNG GEORGE WILLIAM CASEY: Sinh ngày 9-3-1922, Allston Massachusetts , nguyên Tư Lệnh Sư Đoàn I Không Kỵ (The First Air Calvary Division). Ngày 7-7-1970, tướng G.W. Casey từ Phước Vinh tỉnh Tuyên Đức, dự tính đến thăm thương binh ở bệnh viện dã chiến Cam Ranh. Trên đường bay, trực thăng chở ông bị trúng đạn phòng không của CS Bắc Việt và đâm xuống đất.

Hải quân Đề đốc Rembrandt C. Robinson: Hải quân Đề đốc  Rembrandt C. Robinson
Sinh ngày 2-10-1924 Clearfield Pennsylvania . Nguyên Hạm Trưởng (Soái Hạm) Khu Trục Hạm USS Flotilla 11, kiêm Tư Lệnh Chiến Đoàn Khu Trục Hạm thuộc Hạm Đội 7. Vào buổi tối ngày 8-5-1972, sau khi dự họp trên một chiến hạm gần đó, ông dùng trực thăng trở về soái hạm thì tai nạn xảy ra lúc máy bay không đáp đúng vị trí trên tàu. Trực thăng lao xuống biển và vỡ tan làm chết tất cả những người trên trực thăng. Nơi xảy ra tai nạn nằm ngoài khơi biển đông Việt Nam, gần bán đảo Đồ Sơn thành phố Hải Phòng, Bắc Việt. Đề đốc R.C. Robinson là vị tướng Hải quân duy nhất của quân đội Mỹ bị chết trong chiến cuộc Việt Nam .

CHUẨN TƯỚNG RICHARD JOSEPH TALLMAN: Sinh ngày 28-3-1925, Honesdale Pennsylvania , nguyên Tư Lệnh Phó Bộ Tư Lệnh Vùng 3 Yểm Trợ (Third Regional Assistance Command: TRAC). Ngày 9-7-1972, tướng R.J. Tallman đáp trực thăng xuống An Lộc, tỉnh Bình Long để họp với thiếu tá Joe Hallum thuộc toán cố vấn Trung đoàn 48/BB và đại uý Willbanks, toán cố vấn Trung đoàn 43 SĐ 18/BB. Cuộc họp bàn thảo về sự phối hợp yểm trợ cho lực lượng phòng thủ ở thị xã An Lộc. Lúc trực thăng sắp cất cánh thì quân VC tập trung pháo kích dữ dội vào khu vực bãi đáp làm chết tại chổ bốn người. Chuẩn tướng Tallman bị thương nặng, được tản thương về bệnh viện 3 dã chiến tại Saigon, và chết lúc còn trên bàn mổ.

Có tất cả 11 vị tướng Mỹ chết ở Việt Nam . Ngoài ra còn 2 vị tướng chết vì bạo bệnh.
( tham khảo tài liệu của BĐQ Đỗ Như Quyên)

2-Hoa Kỳ Có Bị Sa Lầy Tại Chiến Trường VN Không ?

         Sau khi " Bức Điện Tín " của CS Bắc Việt gửi Hoa Kỳ xin đầu hàng Mỹ vô điều kiện vào cuối tháng 12/1972 đưọc bạch hóa và công bố rộng rãi vào năm 2015, thì chúng ta có quyền trả lời là quân đội Mỹ không bịsa lầy tại chiến trường, mà Họ đã tự ý tháo chạy để có lý do Bán Đồng Minh VNCH cho giặc Cộng.

          Năm 1977, Ngoại trưởng kiêm cố vấn an ninh quốc gia Kissinger, nhân vật mang tiếng đã manh tâm bán đứng VNCH cho khối cộng sản đệ tam quốc tế mất chức, sau đó đã lần lượt xuất bản nhiều tập hồi ký chính trị như : Những năm tháng ở Bạch Cung (1979), Niên Đại Sóng Gió (1982) và Bí Lục Kissinger.. hé mở nhiều bí ẩn lịch sử cận đại về các thời kỳ chiến tranh lạnh giữa Mỹ-Liên Xô-Trung Cộng, Chiến tranh VN và cuộc thăm viếng Trung Cộng của Tổng thống Mỹ Richard Nixon vào tháng 2-1972, trước khi Hà Nội mở cuộc tấn công mùa hè vào các tỉnh Quảng Trị, Bình Long, Kon Tum và Bình Ðịnh của VNCH.

          Cũng nhờ những tiết lộ này, mà ngày nay ta mới biết được bộ mặt thật của cặp Nixon-Kissinger, chỉ vì lợi lộc của riêng mình, đã bán đứng đồng minh bạn bè cho kẻ thù. Vì muốn kéo Trung Cộng vào phe cánh, Hoa Kỳ qua Nixon-Kissinger đã chủ động đề nghị viện trợ tối đa cho Tàu, tất cả những quân dụng vũ khí chiến lược, kể cả cung cấp vệ tinh để Tàu thu lượm tin tức tình báo từ Liên Xô. Theo Bill Burr, chuyên gia nghiên cứu các vấn đề ngoại giao của Mỹ, thuộc Ðại Học Washington, cũng là chủ biên hồi ký Bí lục Kissinger, cho biết cuộc đi đêm bí mật của Kissinger tại Bắc Kinh, khởi đầu từ năm 1971 qua đề nghị Hoa Kỳ sẽ thiết lập một chương trình vệ tinh tình báo, để tặng Trung Cộng. Sau đó tại trụ sở LHQ ở New York vào tháng 12-1971, Kissinger đã cho Ngoại trưởng Hoàng Hoa nhiều tin tức liên quan tới quân sự của Liên Xô, để chuyển về Tàu. Tuy vậy để che mắt Liên Xô và thế giới, Hoa Kỳ cũng như Trung Cộng luôn đóng kịch kình chống nhau tại bàn hội nghị.

          Tóm lại, giống như trường hợp VN, trước khi Tổng thống Nixon chính thức thăm Trung Cộng và sau này, Kissinger đã bí mật tới Bắc Kinh rất nhiều lần, để gặp cả Mao-Chu và Trung Cộng cũng đã đáp ứng cho Mỹ thiết lập một trạm tình báo-quân sự, dọc theo biên giới Nga-Hoa, để thu lượm tin tức, theo dõi tình hình chuyển động của Liên Xô. Tháng 7-1973, một điệp viên CIA tên James Lilley được cử giữ chức trưởng trạm tình báo này, cũng là người trực tiếp phụ trách đường dây liên lạc Trung-Mỹ. Tháng 4-1975, theo yêu cầu của Ðặng Tiểu Bình, Tổng thống G.Ford đã viện trợ cho Trung Cộng rất nhiều quân trang dụng chiến lược, trong đó có nhiều thiết bị điện tử dùng để chế tạo vũ khí bom đạn hiện đại. Kissinger còn tiết lộ nội dung cuộc họp thượng đỉnh giữa Nga-Mỹ cho Trung Cộng. Tất cả cho thấy mức độ khả tín của người Mỹ, trong lúc cùng hợp tác đồng mình, để từ đó chúng ta mới nhận diện rõ ràng về ý nghĩa của sự sa lầy tại VN, mà các sử gia trong và ngoài nước thường hay gán ghép cho Hoa Kỳ.

          Người Việt tị nạn CS đã sống ở Hoa Kỳ trong bốn mươi mốt năm qua, nên đâu còn lạ gì bản chất ngoại giao môi miệng của họ, hoàn toàn khác biệt với hành động thực tế. Tại A Phú Hãn và Iraq, nguời Mỹ lấy “nhân quyền” cùng cớ “Saddam Hussein có Weapons of Mass Destruction và tiêu diệt khủng bố”  làm bình phong để che đậy hành động quân sự và dành thị trường cho tư bản Mỹ-Anh tiêu thụ hàng hóa, cùng dịch vụ khai thác dầu khí trên lãnh thổ của hai quốc gia Hồi Giáo này.

          Ðọc lịch sử nước Mỹ, ta thấy dù dân chủ hay cộng hòa, thì quyền lợi của tư bản Mỹ vẫn là ưu tiên số một .Tóm lại, dù Mỹ với tổng thống hèn kém như Carter hoặc cứng rắn cỡ Reagan, thì mục tiêu hành động của chính phủ, đều do quốc hội quyết định, cũng vẫn là làm sao cho dân chúng Hoa Kỳ được hưởng thụ nhiều hơn trước. Còn tất cả chỉ là phương tiện , để đảng nọ đảng kia mới còn cơ hội tái đắc cử cầm quyền tiếp. Hiểu thêm điều này nữa, mới cảm thấy bớt uất nghẹn khi biết Tổng thống Johnson đã đưa vào VN tới 550.000 quân + 80.000 người của các nước Ðồng Minh và 150 tỷ đô la chiến phí. Rồi đang lúc VNCH sắp đạt được chiến thắng cuối cùng, qua các trận đại chiến vào Tết Mậu Thân 1968, các cuộc hành quân Toàn Thắng vượt biên giới sang Kampuchia 1970 và nhất là trận Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972.. thì Tổng Thống Mỹ là Nixon, kế thừa chiến lược của TT.Johnson lại ký Hiệp ước ngưng bắn Paris 1973, tháo chạy khỏi VNCH, bỏ mặc cho Miền Nam bị toàn khối cộng sản đệ tam quốc tế cưỡng đoạt vào trưa ngày 30-4-1975.

          Ngày nay nhờ Quốc Hội Mỹ đã thông qua đạo luật  “Quyền tự do tư liệu và thông tin”, nên Thư Viện Quốc Gia Mỹ đã giải cấm những văn kiện tuyệt mật, có liên hệ tới cuộc chiến Ðông Dương lần 2 (1945-1975), qua nhiều đời Tổng Thống Mỹ liên hệ, từ Truman cho tới Carter.. Nhờ vậy người ngoài mới biết được những bi hài kịch đã diễn ra suốt thời gian Mỹ tham chiến tại VN, ngay trong hậu trường của những chóp bu tại Tòa Bạch Ốc, mà những nhân vật quyết định vận mệnh của VN , phần lớn là Dân Sự hay Chuyên Viên Hành Chánh, trong đó hầu hết chưa một ngày ở trong quân ngũ hay trốn quân dịch, như trường hợp của Tổng Thống Bill Clinton sau này. Ðó là việc quân lực Mỹ chưa bao giờ được phép sử dụng hết khả năng chiến đấu, nhất là hai quân chủng Không và Hải quân Hoa Kỳ, chủ nhân ông của bất cứ chiến trường nào, rất được thế giới nể sợ.

          Còn một bí mật khác cũng không kém phần bi thảm, đó là khi Mỹ đưa quân đội mình tới chiến đấu ở VN, thì cũng đồng lúc tư bản Mỹ tha hồ xuất cảng quân trang dụng sang Nga, các nước Ðông Âu lẫn Tàu. Sau đó các nước này thay nhãn đổi hiệu, rồi lại chuyển tiếp tới Hà Nội, để Bắc Việt chuyển vận vào Miền Nam cho bộ đội Cộng Sản có phương tiện dồi dào, bắn giết chẳng những QLVNCH mà cả quân Mỹ và các nước đồng minh đang chiến đấu tại chiến trường. Nói chung dù có thái độ cứng rắn như Tổng thống Truman, trước chủ nghĩa bành trướng sắt máu của Trùm Ðỏ Staline vào năm 1947 hay to miệng nhảy múa chống cộng cùng mình như Tổng thống Nixon, thì cuối cùng cũng vẫn là cùng thỏa thuận với nhau để chia chiến lợi phẩm trên xác chết của con mồi.

          Riêng về câu hỏi, tại sao siêu cường Mỹ với một bộ máy chiến tranh ghê gớm, lại để cho 58.000 quân sĩ thiệt mạng và mấy trăm ngàn người khác bị thương ? cuối cùng tháo chạy, sau khi chỉ lấy được về nước, một số tù binh bị Bắc Việt cầm tù. Ðô đốc Grant Sharp, cựu tư lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, đã giải thích “cuộc chiến thất bại không phải vì chống không lại địch quân, mà vì chính sách của Hoa Thịnh Ðốn đã đẻ ra quá nhiều chiến lược, nào leo dần tới đáp ứng, rồi đang mềm dẻo đột nhiên dội bom, sau đó tự ý ngưng và thương thuyết tại bàn hội nghị để đạt chiến thắng”.

          Cuối cùng tự mình trói tay đầu hàng, rồi tháo chạy khỏi chiến trường, dù chẳng hề bị sa lầy hay bị lâm vào tuyệt lộ..  Ðây cũng là kết quả như lời cảnh giác của Tướng Maxwell Taylor, nguyên cố vấn quân sự của Tổng Thống J.Kennedy, từ năm 1961 “Nếu Hoa Kỳ tới VN với mục đích tối hậu, là giúp cho nước này chống lại sự xâm lăng của cộng sản, thì cuộc chiến sẽ không có giới hạn, nên chúng ta không thể không đánh thẳng ra Hà Nội, để tiêu diệt sào huyệt của chúng”.Nhưng tiếc thay đất Bắc, nơi phát sinh ra cuộc chiến VN, lại là vùng đất bảo đảm an toàn nhất, mà các tổng thống Mỹ dành cho Cộng Sản Bắc Việt..

          Ðã vậy TT Johnson còn cấm quân Mỹ không được tấn công hay truy sát quân Bắc Việt, tại lãnh thổ Lào và Campuchia giáp ranh với VN. Trong khi đó ai cũng biết trên phần đất này, Hà Nội đang mở đường mòn HCM, lập các khu hậu cần, mật khu, tích trữ lương thực quân dụng và tập trung quân để tấn công vào lãnh thổ VNCH.. Chính cựu Tổng thống Eisenhower cũng lên tiếng thắc mắc là tại sao TT. Johnson lại không dám tấn công thẳng vào đầu não của quân Bắc Việt tại Hà Nội, trong lúc đó hầu hết tướng lãnh Mỹ thì phẫn nộ, vì nhận được lệnh đánh nhau với VC phải đạt chiến thắng nhưng hai tay họ thì bị trói chặt bởi các luật lệ không biết đâu mà mò.

          Tóm lại như Nixon đã nhận biết từ năm 1954, cộng sản dùng chiêu bài “chiến tranh giải phóng”, để mà xâm nhập và khuynh đảo chính trị tại Nam VN, chứ không bao giờ công khai vượt tuyến như tại Triều Tiên năm 1950. Thêm một điểm đặc biệt khác, là lúc đầu những người trí thức và khoa bảng Mỹ gần như thờ ơ không ngó tới việc Hoa Kỳ tham chiến tại VN. Nhưng từ giai đoạn 1967 về sau, nhất là sự kiện cộng sản bị thảm bại trong trận tổng công kích Tết Mậu Thân 1968, thì giới trên nhập cuộc qua phong trào phản chiến trên đất Mỹ, chống đối và đánh phá chính phủ dữ dội, còn hơn VC thứ thiệt ở VN, cũng chưa thấy hoạt động công khai dữ dằn như phong trào phản chiến tại Mỹ. Ðây là một nghịch lý nổi bật và mai mỉa nhất của Mỹ, trong cuộc chiến VN.
Ðó là sự kiện công dân Mỹ (như đào hát Jane Fonda chẳng hạn), hay sĩ quan John Kerry (hiện là ngoại trưởng) đã công khai đứng hẳn về phía Hà Nội, cổ võ cho giặc chống lại quân đội và chính phủ mình, qua các cuộc biểu tình phản chiến, cầm cờ máu đốt cờ Mỹ, phủ nhận huy chương, lên đài phát thanh truyền hình chửi bới hay tới tận Hà Nội để hoan hô HCM

          Khi than rằng “Chúng ta đã đánh bại chính ta”, đó là nhận xét của Tổng Thống Johnson về nước Mỹ và ngay cả bản thân mình, trong suốt thời gian cầm quyền với một sức mạnh quân sự vô địch, nhưng đầu óc lại chỉ nghĩ tới chiến thắng VC bằng chính trị, một chiến lược giá rẻ, mà không một nhà lãnh đạo nào của thế giới nghĩ tới sự kỳ quặc này, nhất là khi phải đối mặt với những kẻ sát nhân khủng bố thâm độc như cộng sản quốc tế.

          Năm 1967 Nixon nhậm chức tổng thống, khiến ai cũng nghĩ tới nước Mỹ sẽ leo thang chiến tranh, vì ông ta là một nhân vật diều hâu có môn bài. Về lý thuyết, Nixon cũng giống như TT Kennedy và Johnson, có chung mục tiêu là cả ba đều cương quyết không muốn VNCH phải sụp đổ vì Bắc Việt xâm lăng. Nhưng cả ba đã lầm lẫn chiến lược lúc nhập cuộc. Với TT Kennedy và Johnson, cả hai cùng chủ trương tham chiến trong giới hạn, để không gây xáo trộn tại chính quốc, nên nói ngăn chận nhưng vẫn không cản nổi sự xâm nhập của bộ đội từ miền Bắc xâm nhập vào Nam và sự khuynh đảo chính trị tại VNCH. Khi Nixon lên cầm quyền, cũng là lúc nước Mỹ qua vai trò của Kissinger, đang đi đêm để nhúm nhen sự nối kết Mỹ-Hoa, phá thế liên hoàn Nga-Trung, trong thế cờ thời chiến tranh lạnh giữa ba nước Hoa Kỳ-Liên Xô và Trung Cộng. Bởi vậy Nixon không bao giờ dám leo thang chiến tranh tại VN, vì sợ phản lại lời hứa “rút quân” khi ứng cử, lại vừa làm mất sự thân thiện với Trung Cộng lẫn Nga đang cổ võ và ủng hộ VC cưỡng chiếm miền Nam. Ðó là lý do Nixon trao lại cuộc chiến đang tiếp diễn ác liệt tại chiến trường Nam VN, cho VNCH tự lo liệu, qua danh từ hào nhoáng “Việt Nam Hóa Chiến Tranh”.

          Sau này qua các hồi ký chính trị của những nhân vật thân cận cao cấp của Chính Phủ VNCH như Nguyễn Văn Ngân, Nguyễn Phú Ðức, Nguyễn Tiến Hưng, Hoàng Ðức Nhã.. ta mới biết được gánh nặng của các nhà lãnh đạo VNCH suốt 20 năm tồn tại, từ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm tới TT Nguyễn Văn Thiệu và Trần Văn Hương.. tất cả đều bị Hoa Kỳ dùng viện trợ và sinh mệnh, để áp lực, khống chế, ép bắt hăm dọa VNCH phải thi hành theo đường hướng của Mỹ, nhất là sự ký kết hiệp ước ngưng bắn ngày 27-1-1973, ngày nay bị đánh giá như tờ giấy lộn không hơn không kém, đối với sự giải quyết hòa bình tại VN lúc đó.

          Ngoài ra những bức thơ viết tay của Tổng Thống Nixon và Ford, gửi mật cho TT .Nguyễn Văn Thiệu, với sự trang trọng cam kết, đã nói lên cái gọi là “thực chất của sự mưu tìm hòa bình trong danh dự” và trên hết đã phần nào lột trần hai nhân vật “Nixon-Kissinger”, trong vai trò chủ động tháo chạy khỏi Miền Nam, để khỏi bị sa lầy.

          Không được đáp ứng theo nhu cầu đòi hỏi, TT J.Kennedy đạo diễn tấn tuồng binh biến ngày 1-11-1963 hạ sát Tổng Thống hợp pháp của VNCH là Ngô Ðình Diệm, để gây xáo trộn chính trị suốt ba năm, rồi kết luận miền Nam thiếu lãnh đạo

          TT Nixon và cố vấn an ninh quốc gia Kissinger, dùng đủ mọi thủ đoạn, kể cả hành động đê tiện là đe doạ ám sát TT Nguyễn Văn Thiệu, để hoàn thành cho được bản hiệp ước ngưng bắn Paris 1973, mới có cớ hợp thức cho phép bộ đội miền Bắc có mặt tại miền Nam, tiếp tục xâm lăng thôn tính Miền Nam, như Kissinger đã hứa với Mao-Chu tại Bắc Kinh năm 1972, mà mới đây trong hồi ký có nhắc tới.

          Nói là “Việt Nam Hóa Chiến Tranh” nhưng lại cắt viện trợ, ngưng cung cấp quân trang dụng như lời hứa, khiến cho QLVNCH lâm vào tình trạng kiệt quệ, phải bỏ nhiều phần lãnh thổ vì không có phương tiện để phòng thủ. Rồi trong lúc Bắc Việt xua hết lực lượng, tấn công cưỡng chiếm VNCH, thì người Mỹ tháo chạy trong danh dự, suốt đêm trên nóc nhà bằng trực thăng, qua sự đùm bọc bảo vệ an ninh của QLVNCH lúc đó. Cuối cùng từ ấy đến nay, vẫn không ngớt đổ tội cho QLVNCH là không chịu chiến đấu, nên quân đội Mỹ phải sa lầy và Miền Nam mới bị sụp đổ, khi kẻ thù đang hấp hối chờ đầu hàng vào cuối năm 1972, qua những trận mưa bom tàn khốc trên đất Bắc.

          Thực chất của người Mỹ khi tham chiến tại VN là thế đó !

          Câu nói của cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nay đã đi vào lịch sử " các ông (người Mỹ) triệt hạ tiền đồn chống cộng VNCH. Điều này không quan trọng vì còn có nhiều tiền đồn chống cộng khác. Nhưng nếu các ông để mất Miền Nam VN vào tay cộng sản quốc tế Bắc Việt, thì sớm muộn, đất nước và dân tộc VN cũng bị diệt vong trong tay việt cộng ",

          Lời tiên tri đã trở thành hiện thực sau 41 năm người Mỹ tháo chạy khỏi Sài Gòn sáng ngày 30-4-1975.


Viết từ Xóm Cồn Ha Uy Di
Tháng 6-2016
MƯỜNG GIANG