Saturday, April 6, 2019

Khóa 16 trường VBQGVN

Khóa Sinh K16 trình diện nhập học tại TVBQGVN cũ

1. TỔNG QUÁT. 
Nhằm đào tạo Sĩ Quan Hiện Dịch cho cả 3 Quân Chủng: Hải, Lục và Không Quân, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã ký Sắc Lệnh số 317/QP/TT ngày 29-7-1959 cải tổ Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt thành Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (TVBQGVN) với chương trình Văn Hóa và Quân Sư 4 năm. Sinh Viên Sĩ Quan (SVSQ) Khóa 16 được tuyển chọn và huấn luyện theo tinh thần sắc lệnh này. Sau ngày mãn khóa, các tân sĩ quan có trình độ Văn Hóa tương đương năm thứ 2 Đại Học Dân Sự và trình độ Quân Sự vững chắc để chỉ huy đơn vị cấp Trung Đội và Đại Đội trong cuộc chiến tranh mới chống lại ý thức hệ cộng sản. Khóa 16 là khóa đầu tiên đặt nền móng cho chương trình huấn luyện mới, tạo tiền lệ cho các khóa sau, phải trải qua những giai đoạn thanh lọc và thử thách cam go.
- Nhập Trường: Ngày 23-11-1959.
- Số Khóa Sinh Nhập Trường: 326.
- Thời Gian Thụ Huấn: Từ ngày 23-11-1959 đến ngày 22-12-1962.
- Mãn Khóa: Ngày 22-12-1962.
- Số sĩ quan tốt nghiệp: 226.
- Vị Chủ Tọa Ngày Mãn Khóa: Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
- Tên Khóa: Khóa Ấp Chiến Lược.
- Thủ Khoa: SVSQ Bùi Quyền.

Khóa sinh K16 được các NT K14 tiếp đón tại phi trường Liên Khương
2- KHÓA 16 - THỜI GIAN THỤ HUẤN.
Năm thứ 1.
- Nhập học tại Trường Cũ, gần Hồ Mê Linh.
- Chỉ Huy Trưởng: Thiếu Tướng Lê Văn Kim.
- Trong 8 tuần sơ khởi, một số khóa sinh bị loại vì lý do sức khỏe và lý lịch.
- Ngày 5-6-1960, TT Ngô Đình Diệm đặt viên đá đầu tiên xây Trường mới trên đồi 1515.
 
Khởi đầu 8 tuần lễ sơ khởi
 
 
SVSQ K14 gắn Alpha cho TKS/K16 sau 8 tuần lễ Sơ Khởi.
 
Tổng Thống Ngô Đình Diệm đặt viên đá đầu tiên
 xây cất TVBQGVN trên đồi 1515, ngày 5-6-1960.
 
Đội hình Liên Đoàn SVSQ đầu tiên tại Trường mới
trên đồi 1515 với 2 khóa 16 và 17.

SVSQ/K16 năm thư 1, quân phục làm việc
Năm thứ 2:
- Chỉ Huy Trưởng: Tr/Tá Trần Ngọc Huyến thay thế Th/Tướng Lê Văn Kim sau biến cố Chỉnh Lý ngày 11-11-1960.
- 52 SVSQ, vì số điểm văn hóa dưới trung bình, mặc dầu điểm quân sự cao, được chuyển về thụ huấn Khóa 2 Trường Hạ Sĩ Quan tại Nha Trang, tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn Úy Hiện Dịch.
- Khóa đầu tiên được tuyển chọn về 2 Quân Chủng Hải Quân và Không Quân từ cuối năm thứ 2. Đại diện BTL/KQ lên Trường chọn 30 SVSQ, và đại diện BTL/HQ chọn 15 SVSQ. Những SVSQ này sau khi mãn khóa sẽ trình diện Quân Chủng liên hệ để theo học chương trình huấn luyện chuyên môn.
 
SVSQ/K16 năm thứ 2, quân phục dạo phố Mùa Hè.

SVSQ/K16 trong một lớp học Văn Hóa.
 
 
Phòng thí nghiệm hóa học
Năm thứ 3:
- Sau ngày Khóa 15 mãn khóa, kể từ ngày 3-6-1961, Khóa 16 đảm trách Hệ Thống Tự Chỉ Huy Liên Đoàn SVSQ/TVBQGVN (LĐ/SVSQ).
- Di chuyển sang doanh trại Trường mới. LĐ/SVSQ gồm 2 Khóa 16 và 17.
- Ngày 23/11/1961 Khóa 18 nhập học, K16 đảm trách huấn luyện TKS Khóa 18.    
- Du hành quan sát: Thăm các quân trường (Pháo Binh, Hải Quân, Biệt Động Quân, Công Binh, Truyền Tin). Thăm các BTL/TQLC, SĐ5/BB. Quan sát nhẩy dù biểu diễn tại bãi nhẩy dù Củ Chi.
- Thụ huấn khóa Rừng Núi Sình Lầy nửa tháng tại TTHL/BĐQ Dục Mỹ, Nha Trang.
 
Doanh trại TVBQGVN trên đồi 1515
 

TVBQGVN chiếm giải Nhất Diễn Hành Quốc Khánh,
ngày 26/10/1961, với 2 khóa 16 và 17 tại Sài Gòn.
 
Du hành quan sát Lữ Đoàn Dù
 
Du hành quan sát TTHL/HQ Nha Trang
 
Năm thứ 4.
- Ngày 21-11-1962 K19 nhập học, LĐ/SVSQ có 4 khóa: 16, 17, 18 và 19.                    
- Hoàn tất chương trình thụ huấn 4 năm thu gọn trong 3 năm 1 tháng theo chỉ thị của TT Ngô Đình Diệm vì tình hình chiến sự.
- Tuyển chọn đơn vị.  Các tân thiếu úy được phân phối:
 
TT Ngô Đình Diệm và Đại Tướng Lê Văn Tỵ duyệt đội hình SVSQ/K16
 
  
TT Ngô Đình Diệm và Tr/Tá CHT Trần Ngọc Huyến
gắn cấp bậc Th/Úy cho Thủ Khoa Bùi Quyền
 
Tân Th/Úy K16 diễn hành qua khán đài
 
 
Tân Thiếu Úy K16 chụp hình lưu niệm
 
TT Diệm ăn trưa sau Lễ Mẵn Khóa 16
Lục Quân.
- Lưu dụng tại Trường: Vì muốn duy trì các hệ thống chỉ huy và huấn luyện theo tinh thần cải tổ của TVBQGVN, 15 tân sĩ quan K16 được BCH Trường đề nghị, Bộ TTM cho lưu giữ sau khi tốt nghiệp, để đảm nhiệm các chức vụ chỉ huy trong LĐ/SVSQ và huấn luyện viên quân sự. Sau đó, số sĩ quan này đã được thuyên chuyển về các đơn vị. Thời gian sau lại có một số khác từ các đơn vị tác chiến được thuyên chuyển về Trường .
- Nhẩy Dù: 3 tân sĩ quan được tuyển chọn. Sau này  được thuyên chuyển về thêm 2 sĩ quan K16.
- Thủy Quân Lục Chiến: 10 tân sĩ quan được tuyển chọn. 3 SQ/K16 khác cũng đã được thuyên chuyển về Binh Chủng.
- Biệt Động Quân: 13 tân sĩ quan được tuyển chọn..
- Lực Lượng Đặc Biệt: Không ai được tuyển chọn. Về sau, 3 SQ/K16 được thuyên chuyển về.
- Các Sư Đoàn Bộ Binh: 166 tân sĩ quan chọn phục vụ 9 SĐ/BB.
Không Quân:
- 30 tân sĩ quan được chọn, tuy nhiên 2 người vì lý do an ninh nên BTL/KQ chỉ nhận 28. Trong số này có 11 sĩ quan theo khóa hoa tiêu trực thăng và 2 sĩ quan theo khóa hoa tiêu khu trục tại Hoa Kỳ. Số còn lại theo học khóa hoa tiêu trực thăng tại phi trường Tân Sơn Nhất. Gần cuối khóa, 2 sĩ quan qua ngành quan sát. Sau có 1 sĩ quan từ TQLC thuyên chuyển về TTHL/KQ Nha Trang, một thời gian lâu sau lên giữ chức Liên Đoàn Trưởng LĐ/SVSQ/KQ, và một sĩ quan bộ binh được tuyển về KQ phục vụ tại đơn vị phòng thủ căn cứ.
Hải Quân:
15 tân Th/Úy được thực tập trên các chiến hạm trong thời gian chờ nhập học Khóa 13/HQ vào tháng 5-1963. Nhưng vì không đồng ý đeo Alpha trở lại, 8 SQ/K16 xin đổi Quân Chủng được bộ TTM chấp thuận, chỉ còn 7 SQ/K16 nhập học Khóa 13/HQ và tốt nghiệp ngành chỉ huy vào tháng 12-64.
3- KHÓA 16 - THÀNH TÍCH TỔNG QUÁT.
Sĩ quan Khóa 16 mang cấp bậc cao nhất: 6 Đại Tá, trong đó 1 Đại Tá tử trận, 1 Đại Tá bị bức tử trong trại tù lao động khổ sai CS tại Hoàng Liên Sơn năm 1976, và  1 Trung Tá tử trận được truy thăng Đại Tá.
SQ đảm nhiệm các chức vụ quân sự tại:
- Trường VBQGVN: Các sĩ quan cán bộ Trung Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn Trưởng, và Đại Đội Trưởng của Trung Đoàn SVSQ; Trưởng Phòng Điều hành quân sự vụ, và các SQ/HLV các bộ môn quân sự.
- Không Quân: 1 Không Đoàn Trưởng, 1 Không Đoàn Phó, 6 Phi Đoàn Trưởng, 1 Tham Mưu Phó An Phi SĐ, 1 Trưởng Phòng kế hoạch BCH/Liên Đoàn Kiểm Báo, 1 Trưởng Phòng Thống Kê & Huấn Luyện  BCH/HQ/KQ, 1 sĩ quan phòng thủ căn cứ, 1 Liên Đoàn Trưởng LĐ/SVSQ thuộc TTHL/KQ Nha Trang.
- Hải Quân: 3 Hạm Trưởng, 1 CHT của BTL/HQ, 1 CHT/Căn Cứ HQ Nha Trang, 1 sĩ quan Đại Diện HQ tại Bộ TTM, 1 sĩ quan đại diện HQ tại  TT/Phát Triển Khả Năng Tác Chiến.
- Bộ TTM: Trưởng Ban các Phòng, Sở và Tổng Hành Dinh, ĐĐT/ĐĐ1/Quân Cảnh.
- Nhẩy Dù: 2 Lữ Đoàn Trưởng (LĐT), 1 LĐ Phó, 1 Tiểu Đoàn Trưởng.
- Thủy Quân Lục Chiến: 2 LĐT, 2 LĐP, 3 Trưởng Phòng BTL/SĐ/TQLC, 5 TĐT, 1 LĐT và 1 LĐP mất tích, 1 LĐT chết trong trại tù lao động khổ sai của CS tại Bắc Việt.
- Lực Lượng Đặc Biệt: 1 CHT Đoàn Công Tác 11 thuộc Sở Công Tác Nha Kỹ Thuật TTM, 1 Phụ tá B Trưởng KonTum, 1 HLV/LLĐB tại Long Thành, 1 Chỉ Huy Toán.
- Biệt Động Quân: 1 Liên Đoàn Trưởng và một số TĐT.
- Bộ Binh: 7 Tr/Đoàn Trưởng (2 tử trận và 1 bị CS Hà Nội sát hại trong trại giam ở Miền Bắc) và  một số Trưởng Phòng cấp SĐ, Tr/Đoàn Phó, Liên Đoàn Trưởng Địa Phương Quân.
   * Nha Quân Pháp: 1 Giám Đốc Quân Lao, 1 CHT Trại Giam tù phiến cộng.
   * Chức vụ hành chánh: 2 Tỉnh Trưởng, và 27 Quận Trưởng (6 QT đã hy sinh)
      Một số Trưởng ty các Bộ trong chính phủ. BTL Cảnh Sát, và  4QT Cảnh Sát.
- Chức vụ Dân Cử: 3 Nghị Viên.
- Bằng cấp đại học: 3 người, 1 đậu Cao Học Khoa Học vi tính (mất cuối năm 1992), 1 thương binh loại 2 giải ngũ, đậu KS Công Nghệ tại TT/KT Phú Thọ, đậu thêm Cao Học Đông Y tại HK, và 1 đậu bằng cử nhân Luật Công Pháp, năm thứ nhất cao học.
 4- KHÓA 16 - HY SINH 1, 2 NĂM ĐẦU.
Vì tình hình chiến sự do CSBV gây ra từ đầu thập niên 1960, Bộ TTM/QLVNCH theo lệnh của Tổng Thống, đã cho rút ngắn chương trình huấn luyện, khởi đầu từ Khóa 16, giảm từ 4 xuống 3 năm, và các Khóa 17,18,19,20,21 và nửa Khóa 22 xuống 2 năm. Mấy năm đầu sau khi mãn khóa, các sĩ quan Khóa 16 đã hứng chịu nhiều thương vong. Sau đây là một số hy sinh đáng nhớ:
 
* Th/Úy NHỮ VĂN HẢI, SĐ21/BB, SQ tử trận đầu tiên của Khóa 16. Đêm 21 tháng 3 năm 1963, Th/Úy Hải, đại đội phó một ĐĐ thuộc Tr/Đoàn 48/SĐ21/BB trú đóng tại đồn Biện Nhị, quận Thới Bình, An Xuyên, bị Tiểu Đoàn U Minh VC bao vây tấn công và tràn ngập, Th/Úy Hải bị trọng thương, bị bắt, nhưng không chịu quy hàng, bị tra tấn cho đến chết, lúc đó mới 23 tuổi. Do gương can đảm cao độ, Tr/Tá CHT Trần Ngọc Huyến, đã đặt tên cho CLB trước cổng Trường là CLB Nhữ Văn Hải.
* Th/Úy LÝ VĂN QUẢNG TĐ8/ND, tử trận tháng 4-1963 lúc 26 tuổi.
* Th/Úy NGUYỄN TẤN MỸ Tr/Đoàn 44/SĐ23/BB tử trận giữa năm 1963.
* Th/Úy HỒ XUÂN QUANG Tr/Đoàn 45/SĐ23/BB tử thương giữa năm 1963.
* Th/Úy NGUYỄN THẾ ĐỨC tử thương ngày 1-4-1963.
* Th/Úy TRẦN THIỆN GÁI, SĐ1/BB, tử trận tháng 5-1963 lúc vừa qua 24 tuổi, tại Căn Cứ A Lưới, phía Tây Thành Phố Huế. Vài năm sau, một con đường trong Thành Nội được đặt tên: Đường TRẦN THIỆN GÁI.
* Th/Úy VŨ CHẤN HÙNG BB, tử trận ngày 25-11-1963.
* Th/Úy TRẦN TRỌNG MINH tử trận ngày 27-10-1963.
* Th/Úy TRỊNH AN THẠCH TĐ1/TQLC, tử trận ngày 6-12-1963, mới 24 tuổi.
* Tr/Úy BÙI THANH TÂM SĐ22/BB, tử trận tại đồi Dương Liễu, Tam Quan, 1965.
* Th/Úy LÊ ĐỨC RIỆP, tử trận ngày 27-7-1964.
* Th/Úy NGUYỄN PHƯƠNG SANH, tử trận tháng 7-1964.
* Th/Úy TRẦN NGỌC SƠN, tử trận ngày 8-4-1964.
* Th/Úy BẢO SUNG và Th/Úy PHAN VĂN TÂN. Cả 2 là phi công trực thăng H-34 bay chung 1 phi vụ hành quân ngày 3-12-1964, Th/Úy Sung là phi công trưởng, Th/Úy Tân phi công phụ. Trực thăng bị hỏa tiễn VC bắn cháy, đã cùng tử trận.
* Tr/Úy NGUYỄN VĂN NHƯỜNG KQ, phi công trực thăng, Phi Đoàn 217 Tải Thương. Trong một phi vụ tải thương tháng 9-1964 tại Bời Lời, vùng Tam Giác Sắt, trực thăng bị đich bắn cháy, Tr/Úy Nhường bị phỏng nặng lúc mới 26 tuổi, mang thương tật suốt đời, mất năm 2014 tại VN, thọ 77 tuổi. 
* Tr/Úy TRẦN NGỌC TOÀN TQLC, ĐĐT/TĐ4/TQLC tham dự trận Bình Giả, Bà Rịa cuối tháng 12-1964, bị trọng thương, mang nhiều thương tích cho đến ngày nay.
* Đ/Úy NGUYỄN BẢO TÙNG KQ, phi công trực thăng H-34 thuộc Biệt Đội Delta, Biệt Đoàn 83 (tiền thân của Phi Đoàn 219).. Biệt Đội có nhiệm vụ thả các toán viễn thám Lôi Hổ dọc biên giới Việt-Lào. Ngày 18-10-1965, từ Khâm Đức bay thả toán Biệt Kích của Th/Tá Larry Thorne, trực thăng Tr/Úy Tùng vì mây mù bay lạc và mất tích. Năm 1999, qua nỗ lực tìm kiếm QN mất tích, HK tìm lại được xác chiếc trực thăng và hài cốt của toán Biệt Kích HK. Lễ an táng 4 hài cốt được tổ chức ngày 25-6-2003 tại nghĩa trang Quốc Gia Arlington, VA, Cố Đ/U Nguyễn Bảo Tùng cũng được chôn cất tại đây, tử trận khi vừa 25 tuổi.
* Đ/Úy MAI NGUYÊN HƯNG KQ, phi công khu trục cơ AD-6. Sau một phi vụ Bắc Phạt năm 1965, trên đường bay đêm về căn cứ KQ Biên Hoà, phi cơ của Tr/Úy Hưng, phần vì bị trúng đạn phòng không địch, phần cạn xăng, phải đáp khẩn cấp xuống phi trường Phước Long. Vì phi đạo ngắn, phi cơ lâm nạn, Tr/Úy Mai Nguyên Hưng tử thương. được Truy Thăng Đại Úy, mất ở tuổi 24.
* Thiếu Tá HOÀNG LÊ CƯỜNG.
Trong Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972, Th/Tá Hoàng Lê Cường là Quận Trưởng quận Hoài Nhơn, Bồng Sơn, Bình Định. Ngày 18-4-72, Tr/Đoàn 2 và Tr/Đoàn 21/SĐ3/Sao Vàng CS tiến chiếm Hoài Ân.
Từ 24-4-72 đến 1-5-72, địch vây hãm 2 căn cứ Bình Dương. Quận Phù Mỹ và Đệ Đức, Quận Hoài Nhơn, Bình Định. Vì áp lực địch đè nặng lên khu vực trách nhiệm, Th/Tá Cường cùng viên Cố Vấn Hoa Kỳ từ Quận lái xe qua cầu Bồng Sơn đến TĐ/ĐPQ thuộc quyền để duyệt xét tình hình. Sau đó, Th/Tá Cường đến BCH/TĐ2/40 để yêu cầu phối hợp phòng thủ Quận. Th/Tá Cường trở về BCH Chi Khu để chỉ huy lực lượng tại đây đang trong tình trạng nguy hiểm. Khi lái xe qua cầu Bồng Sơn trở về Quận, xe jeep của Th/Tá Cường đã bị VC bắn cháy trên cầu, chỉ cách quận lỵ khoảng 500 thước, Th/Tá Cường hy sinh tại chỗ. Bộ TTM đã đặt tên cho K29/TVBQGVN là: Khóa Hoàng Lê Cường.

5- KHÓA 16 - THÀNH QUẢ THEO THỜI GIAN.
Đại Úy TRẦN HỒNG VĨNH.
Thành quả học vấn:
Tốt nghiệp từ Trường Kỹ Sư Công Nghệ, Trung Tâm KT Phú Thọ, Sài Gòn. South Baylor University, School of Oriental Medicine, CA, USA. MS in Acupunctute and Oriental Medicine, 1993.
Đã phát hành:
Sổ Tay Đông Y (bìa mềm) 3 tập. Sổ Tay Đông Y (bìa cứng) 3 tập.
Khí Công. Khí Công Tái Bản (có bổ sung).
Phản Xạ Trị Liêu Phương (Giúp cho Kỹ Thuật Massage)
Dịch Cân Kinh của Đạt Ma Sư Tổ.
Sẽ phát hành:
Dược Thảo. Đông Y Bệnh Lý Lâm Sàng.
Đại Tá NGUYỄN HỮU THÔNG.
Trung Đoàn Trưởng Tr/Đoàn 42 SĐ/22BB.
Tổng Thống  Nguyễn Văn Thiệu (quay lưng) và 3 Trung Đoàn Trưởng SĐ22 thuộc K16 (hàng ngang từ trái qua): Tr/Tá Đinh Văn Mễ Tr/Đ Trưởng Tr/Đ 47, Đ/Tá Nguyễn Hữu Thông Tr/Đ Trưởng Tr/Đ 42, Đ/Tá Nguyễn Thiều  Tr/Đ Trưởng Tr/Đ 41.
Tháng 3-1975, khi Ban Mê Thuột thất thủ, SĐ 22 chỉ còn 3 Tr/Đ để  phòng thủ  Bình Định vì Tr/Đ 40 đã phải tăng phái cho SĐ23 BB tại tuyến bắc Khánh Dương. Tại Bình Định, Tr/Đoàn 47 của Đ/Tá Lê Cầu (K18) được giao khu vực bắc Bình Định, lo trấn giữ Bồng Sơn, cửa ngõ ra vào thung lũng An Lão (Xem tiếp phần Đại tá Nguyễn Thiều, phần sau).
      
Trung Tá NGUYỄN XUÂN PHÚC.
Tiểu Đoàn Trưởng TĐ2/TQLC - LĐ Phó LĐ147 và LĐ Trưởng LĐ369/TQLC.
Cựu Đại Tá Ngô Văn Định, một NT rất có uy tín trong Binh Chủng TQLC, trên trang mạng "hoiquanphidung.com" đã có những nhận xét như sau:
"Khi tôi về làm TĐT/TĐ2 thay ông Minh tử trận tháng 6-1966 thì ông Chùa làm TĐP, Phúc làm ĐĐT/ĐĐ4. Tôi đề nghị cho ông Chùa về Sư Đoàn để ông Phúc làm TĐ Phó.
Ngay những ngày đầu hành quân ở khu Cồn Thiên Gio Linh Quảng Trị, tôi đã nhận biết được Nguyễn Xuân Phúc TĐ Phó là một SQ gan dạ và là cấp chỉ huy tôi có nhiều cảm tình. Đến năm 67 tôi đề nghị cho anh đi học Chỉ Huy Tham Mưu. Đi học về, vì nhu cầu anh được làm TĐP/TĐ5, đánh trận Rạch Ruông, một trận chiến thắng lớn của TĐ5 năm 1968, sau đó anh được đi nhận chức TĐT/TĐ6 hành quân Mậu Thân ở Gia Định.
Năm 1969, tôi bị thương nặng anh ra lãnh trách nhiệm chỉ huy TĐ2 thay tôi. Năm 1970, TĐ2 do anh chỉ huy trong trận Preveng ở Miên, đã đem vể cho hiệu kỳ TĐ2 một ngành Dương Liễu, và đây là Dương Liễu thứ 8 nên TĐ2 được mang dây biểu chương mầu Tam Hợp.
Năm 1971 anh dẫn Trâu Điên sang Hạ Lào, anh thăng trung tá và vẫn coi TĐ2 cho đến khi đánh vào QT 1972 thì giao TĐ2 cho Thiếu Tá Hợp và đi làm Lữ Đoàn Phó 147...và sau đó làm Lữ Đoàn Trưởng LĐ 369/TQLC.
Anh là một SQ quan giỏi, không bao giờ biết đến đồng xu cắc bạc nào của anh em. Không làm điều gì mất danh dự của Quân Đội và TQLC. Anh mất đi để lại cho tôi niềm luyến tiếc.
".Tr/Tá Phúc được ghi nhận mất tích sau cuộc triệt thoái của SÐ/TQLC khỏi Ðà Nẵng sáng ngày 29-3-1975.
Trung Tá ĐỖ HỮU TÙNG.
Tiểu Đoàn Trưởng TĐ6/TQLC - Lữ Đoàn Phó LĐ258 và 369/TQLC.
Mở đầu bài chiến sử "TĐ6/TQLC - Thần Ưng Xé Xác Xe Tăng Địch 1972", về trận thư hùng giữa TĐ6/TQLC và Trung Đoàn 66 thuộc SĐ304/CSBV tại căn cứ Phượng Hoàng đầu tháng 4-1972, Cựu Đ/T Phạm Văn Chung, LĐT LĐ369/TQLC đã viết:
"Qua đợt đầu Cộng sản Bắc Việt tấn công mãnh liệt, hung hãn, ồ ạt, các căn cứ hỏa lực Carroll (Trung đoàn 56 thuộc Sư đoàn 3 Bộ binh) đầu hàng và Mai Lộc (Lữ đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến) phải cầm cự lui dần, khi căn cứ Pedro trở nên tuyến đầu phòng thủ.. Thiếu tá Đỗ Hữu Tùng, Sĩ quan khóa 16 đalat, phong thái trầm tĩnh, luôn như suy nghĩ điều gì, từ từ, thủng thẳng trong mọi biến cố, kinh nghiệm chiến trường, một trong các Tiểu đoàn trưởng cự phách của Thủy Quân Lục Chiến, là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến biết thế nào căn cứ cũng bị chiến xa cùng quân bộ Cộng sản Bắc Việt tấn công kế tiếp, nên anh phối hợp với Lữ đoàn 258 xin đặt mìn chống chiến xa sâu về hướng Tây đường tiến sát đến căn cứ...". TĐ6/TQLC đã xử dụng tối đa mìn chống chiến xa, súng phóng hỏa tiễn chống chiến xa M72 và đại bác không dật 57 ly cơ hữu để tiêu diệt chiến xa địch, bắn cháy và gây tổn thất nặng cho gần 20 chiến xa địch. Th/Tá Đỗ Hữu Tùng được vinh thăng Trung Tá qua chiến thắng này. Ngày 1-10-1972, đảm nhận chức vụ LĐ Phó LĐ258, và ngày 1-7-1974 nhận chức vụ LĐ Phó LĐ369. Sáng ngày 29-3-1975, Tr/Tá Tùng được ghi nhận mất tích sau cuộc triệt thoái của SÐ/TQLC khỏi Ðà Nẵng.

Trung Tá NGUYỄN VĂN CẢNH,
Tiểu Đoàn Trưởng TĐ3 và TĐ14/TQLC.
Tái chiếm Cổ Thành Đinh Công Tráng, Quảng Trị: Đêm 14 rạng ngày 15-9-1972, Tiểu Đoàn 3/TQLC của Thiếu tá Nguyễn Văn Cảnh thuộc LĐ147 cùng với Tiểu Đoàn 6/TQLC của Trung tá Đỗ Hữu Tùng thuộc LĐ258 là 2 đơn vị chủ lực tấn công tái chiếm Cổ thành Quảng Trị. Thiếu Tá Nguyễn Văn Cảnh được vinh thăng Trung Tá sau chiến công hiển hách này.. Tháng 1-1975, Tr/Tá Cảnh nhận lệnh thành lập TĐ14/TQLC và chỉ huy đơn vị này cho đến ngày 30-4-1975. Trung Tá Cảnh và gia đình hiện định cư tại TP Houston, TB Texas.
Trung Tá NGUYỄN ĐẰNG TỐNG.
Lữ Đoàn Phó LĐ147 - Lữ Đoàn Trưởng LĐ468/TQLC.                 
Ngày 9-4-72, Thiếu tá Nguyễn Đằng Tống là TĐT/TĐ1/TQLC thuộc LĐ258 đã cùng một Chi đội của Chi đoàn 3/20 chiến xa (M48) tăng viện căn cứ Phượng Hoàng, đã truy kích gây thiệt hại nặng cho Trung đoàn 66 Sư đoàn 304 và bắn cháy 4 chiến xa địch.
Tháng 7-1974, sau khi được thăng cấp, Tr/Tá Nguyễn Đằng Tống được thăng chức LĐ Phó LĐ147 đến cuối tháng 3-1975. Ngày 24-4-1975, Tr/Tá Tống được bổ nhiệm làm LĐ Trưởng LĐ468 thay thế Đại Tá Ngô văn Định, chỉ huy các Tiểu Đoàn TQLC phòng thủ tuyến Biên Hòa. Sau  ngày 30 tháng 4 năm 1975, Tr/Tá Tống bị CS đi tù lao động khổ sai CS ngoài Bắc, và chết tại trại tù Yên Bái năm 1977.
Trung Tá NGUYỄN KIM ĐỄ.
Tiểu Đoàn Trưởng TĐ9/TQLC - Trưởng Phòng 3/SĐTQLC.
Ngày 2-5-72, TĐ9/TQLC được lệnh triệt thoái từ Căn Cứ Barbara phía Tây trên rặng núi Trường Sơn trở ra QL1 bên giòng sông Ô Khê. Rạng sáng ngày 3-5, TĐ9 và TĐ2 chận đứng được lực lượng truy kích của Trung Đoàn 812 thuộc SĐ324/CSBV để cho các đơn vị bạn triệt thoái từ Quảng Trị về phía nam sông Mỹ Chánh. Sau đó khoảng 15g00, TĐ9 theo lệnh, áp dụng trì hoãn chiến lui quân về lập phòng tuyến ở bờ Nam sông Mỹ Chánh. Tuyến phòng thủ Mỹ Chánh với 3 tiểu đoàn: TĐ2, TĐ5 và TĐ9 thuộc LĐ369/TQLC đã chận đứng đà tiến quân của quân CSBV trong âm mưu tấn chiếm Cố Đô Huế. Thiếu tá Nguyễn Kim Đễ được vinh thăng Trung Tá sau chiến tích mang tính cách chiến lược này. Chức vụ sau cùng của Tr/Tá Đễ là Trưởng P3/SĐTQLC.
Trước khi về Sài Gòn thụ huấn Khóa CH/TM Cao Cấp tại Long Bình, ngày 1-10-1974 Tr/Tá Đễ bàn giao P3/SĐ lại cho Tr/Tá Trần Văn Hiển TĐT/TĐ6/TQLC, vị TP3/SĐ cuối cùng của SĐ/TQLC. Cố Tr/Tá Nguyễn Kim Đễ qua đời ngày 9-12-2015 vì bạo bệnh tại TP Portland, TB Oregon, USA, hưởng thọ 76 tuổi.
Đại Tá ĐẶNG PHƯƠNG THÀNH.
Trung Đoàn Trưởng Tr/Đoàn 12 SĐ7BB.
Anh hùng Đặng Phương Thành, nguyên Đ/Tá Tr/Đoàn Trưởng Tr/ Đoàn 12/SĐ7BB QLVNCH là Danh Nhân Quân Sự Việt Nam.
Danh tánh, sự tích của
Đ/Tá Thành được ghi vào Tân U Linh Việt Điện (quyển sách ghi chép sự tích thần kỳ của những người đã lao tâm lao lực cứu nước giữ nước trong lịch sử Việt Nam cận, trung và hiện đại).
Sự tích: Anh hùng Đặng Phương Thành đã tạo chiến thắng lớn trong trận cuối cùng tại Thủ Thừa tiêu diệt một trung đoàn VC trong tháng 4-1975, nhờ đó giữ vững đưọc Quốc Lộ 4 trong thời gian dầu sôi lửa bỏng này.
Khi Đ/Tá Đặng Phương Thành đi tù CS ngoài miền Bắc, nhân lúc ông vượt ngục bất thành và bị bắt lại, hậm hực vì mối nhục thua trận Quốc Lộ 4, bọn cai ngục CS đã treo ông lên và đánh đập tàn nhẫn cho đến chết, ngày 9/9/1976. 
Trung Tá TRƯƠNG THÀNH TÂM.
Không Đoàn Trưởng KĐ 64 Chiến Thuật, KQ.
Là một trong số 30 SVSQ K16 tình nguyện và được tuyển chọn về KQ vào cuối năm thứ 2. Tháng 8-63, Th/U Trương Thành Tâm mãn khóa huấn luyện trực thăng ở Ft Rucker HK, và được bổ nhiệm về Phi Đoàn (PĐ) 217 tân lập. PĐ di chuyển về Cần Thơ gia nhập Không Đoàn (KĐ) 74 Chiến Thuật đầu năm 1964. Năm 1966, trách nhiệm Trưởng Phòng Hành Quân PĐ/217, rồi PĐ Phó và sau khi mãn khóa học Squadron Officer Schơol ở HK năm 1968, về lại PĐ 217 giữ chức vụ PĐ Trưởng tháng 6-1969.
- Tháng 6-1970, tình nguyện bay nhiều phi vụ trực thăng võ trang đầu tiên của KQ/VNCH yểm trợ cho 4 Tiểu Đoàn TQLC/VN tái chiếm thành phố Prey Veng Cam Bốt từ quân CSBV. Sau cuộc hành quân này, PĐ/217 được ân thưởng huy chương Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu.
- Tháng 1-1971 theo học Khóa CHTM Cao Cấp tại Long Bình và giữa năm này được thăng cấp Trung Tá.
- Năm 1972, gởi 2 bạn cùng K16 Trần Châu Rết và Lê Văn Châu đang bay ở PĐ/217 qua nhận lãnh chức vụ PĐ Trưởng PĐ/225 và 227.
- Tháng 5-1973, được chỉ định giữ chức vụ KĐ Phó KĐ/64 CT tân lập. Sau 3 tháng, đảm nhận chức vụ Không Đoàn Trưởng, chỉ huy 3 PĐ 217, 249 và 255, cùng Phi Đội Tải Thương 259 cho đến ngày 30-4-1975. Trung Tá Tâm định cư tại Nam California, qua đời ngày 6 tháng 9 năm 2016, hưởng thọ 77 tuổi.
Trung Tá NGUYỄN VĂN ỨC. KQ.
Không Đoàn Phó KĐ/64 Chiến Thuật, KQ.
- 11-1959: Gia nhập Khoá 16 Trường VBQGVN.
- 2-1962: Khi tốt nghiệp được tuyển về Quân Chủng KQ.
- 4-1963: Học Khóa Hoa Tiêu Trực Thăng tại Hoa Kỳ.
- 5-1964: Tốt nghiệp về phục vụ tại PĐ/217, KĐ/33 CT, sau được chuyển về KĐ/74 CT tại Cần Thơ.
- 10-1969: Sĩ quan liên lạc Không Quân tại Hoa Kỳ.
- 1-1971: Phi Đoàn Trưởng PĐ/221, KĐ43 CT, thuộc SĐ3/KQ tại Biên Hoà, trách nhiệm chỉ huy lực lượng trực thăng, yểm trợ cho mặt trận An Lộc.
- 1-1973: Không Đoàn Phó KĐ/64 CT, thuộc SĐ4/KQ tại Cần Thơ.
- Tham gia các sinh hoạt Cộng Đồng, đặc biệt ở các Hội Đoàn CQN tại TP Orange County, TB California từ tháng 4-1975 cho tới nay.
HQ Trung Tá NGUYỄN NHƯ PHÚ.
Hạm Trương Dương Vận Hạm Quy Nhơn HQ504.
Trong những tháng ngày triệt thoái kinh hoàng của Quân Dân vùng 1 chiến thuật từ tháng 3 & tháng tư, 1975, chiến hạm HQ 504 của ông và nhiều chiến hạm khác đã tham dự trợ giúp, cứu vớt cuộc di tản đầy đau thương nhất trong lịch sử cận đại của hằng vạn Quân Dân từ Huế, Đà Nẵng. Điễn hình nhất là HQ504 đã cứu gíup trên 3000 người từ Đà Nẵng đến Cam Ranh...
Cũng như một số rất đông Quân Dân Miền Nam không có phương tiện ra đi ngày 30 tháng tư năm 1975, hoặc vì lý do này hay lý do khác đã  ở lại, HQ Nguyễn Như Phú đã  phải trả một giá rất đắt: trên 10 năm tù cải tạo. Khi ra tù, ông và con trai đã vươt biên bằng đường biển vào cuối thập niên 1980 và định cư tại Bắc Cali. Vài năm sau, may mắn thay, vợ và các con còn lại của ông  được trùng phùng qua diện Đoàn tụ sau những năm sống lao động cơ cực tại quê nhà. Một lần nữa, họ tái định cư tại Anaheim, Miền Nam Cali tự do.
HQ Trung Tá Nguyễn Như Phú qua đời sau cơn bạo bệnh tại Kaiser Hospital, Anaheim, California ngày 6 tháng 3 năm 2016, hưởng thọ 78 tuổi. (Trích tin trên Net)

Trung Tá LÊ MINH NGỌC, LĐT/LĐ4/ND và
Trung Tá TRẦN ĐĂNG KHÔI, LĐT/LĐ3/ND.
New Post Vào ngày 1-11-1972, Ch/Tướng Lê Quang Lưỡng nhận chức TL/SĐ Nhảy Dù: LĐT/LĐ3 Tr/Tá Trần Đăng Khôi, và LĐT/LĐ4 Tr/Tá Lê Minh Ngọc. Trong Bút Ký Thiên Thần Mũ Đỏ Ai Còn Ai Mất, Ch/Tướng Lê Quang Lưỡng, ở đoạn kết đã viết:
"... Về phần Lữ Đoàn 4, từ Đà Nẵng được rút về Sài Gòn giữa tháng 02-74, biệt phái Biệt Khu Thủ Đô. Chính Lữ Đoàn 4, dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Lê Minh Ngọc, mà anh em Dù chúng tôi âu yếm gọi là "Ngọc Nga", đã chận VC ở cửa ngõ Thủ Đô, ngang Xa Lộ Biên Hòa

Thursday, April 4, 2019

Thư cho Mẹ , cho các em Từ KBC 4027 - 24 - 11 - 1971 - Minh Hương

Mẹ kính yêu của con .
Sáng nay trận mưa cuối mùa thu lất phất bụi , cái bàn tay mênh mông của thời tiết muốn đổi mùa , thu lượm những cụm mây cuối của vòm trời ẩm đục thẳng tay ném xuống vùng núi đồi Đà Lạt , những hạt mưa bụi li ti lẫn trong gió mơn man trên da mặt , bám vào bộ Blouson làm con nhớ Mẹ thật nhiều. Nhớ ngày tháng hè chúng con sống bên Ba Mẹ ở vùng núi cao nguyên Quận Thuần Mẫn, ngày đó con còn nhỏ, thật nhỏ Mẹ nhỉ, Mẹ lúc nào cũng cưng chiều đứa con trai lớn của Mẹ, mua cho con chiếc áo thật dầy của nhà binh. sợ con lạnh, sợ con không chịu nổi khí hậu vùng núi cao nguyên, Mẹ kg bao giờ nghĩ đến mình, lúc nào đám con nhỏ của Mẹ cũng là nhất .
Hôm nay cũng những cơn mưa bụi, cũng ở miền cao nguyên sao con cảm thấy trống vắng, thiếu tình thương yêu đùm bọc, thiếu đôi bàn tay dấu yêu của Mẹ hiền, nhiều khi con muốn được nhỏ mãi, được ở gần Mẹ, được khoe Mẹ mỗi lần con thi đỗ, được vòi tiền Mẹ đi chơi ...cả một thế giới tuổi ngọc .
Con trai Mẹ đã trưởng thành, sửa soạn bước chân vào cuộc sống , theo chân Ba làm kiếp người hùng, dù cuộc sống bấp bênh kg có ngày mai, nhưng con trai của Mẹ rất hãnh diện .
Mẹ yêu ơi, con làm sao quên được đôi mắt đượm buồn của Mẹ ngày tiễn con đi, Mẹ dấu đau khổ gượng cười cho con vui, suốt cuộc đời Mẹ chỉ biết lo cho chồng, cho con, Mẹ kg muốn con đi lính vì sợ con chịu khổ không được, sợ rủi ro đến cho con ...sợ ...
Con thật sự thèm có Mẹ bên con bây giờ, cho con được ôm Mẹ dìu Mẹ từng bước theo điệu valse, được hát khẽ bên tai Mẹ như những ngày con về phép
...Mẹ ơi, Mẹ có biết rằng, biết rằng con thương Mẹ lắm kg ?
Con muốn có Mẹ để quỳ xuống tạ tội cùng Mẹ , con trai bất hiếu làm Mẹ buồn , nhưng sao ngày đó con còn thơ dại quá , chỉ nhìn đời bằng cặp mắt của một con nai tơ , kg nghe lời Mẹ khuyên bảo .
Hôn nay con nhớ Mẹ thệt nhiều , đêm rồi con ngủ mơ một giấc mơ đẹp quá , có Ba , có Mẹ , có các em quây quần trong ngày Tết , Ba nô giỡn với các em nhỏ , Mẹ nấu cháo gà , gia đình chờ đợi đón giao thừa , tiếng pháo nổ pha lẫn tiếng cười ròn rã của các em , nhưng tiếng pháo cũng làm con tỉnh giấc , con tung mền ngồi dậy , tiếng còi báo động vang trong đêm vắng , tiếng chân người chạy , tiếng súng đạn vang lách cách , thèm tiếc giấc mộng , con định đắp chăn ngủ tiếp , nhưng bổn phận bắt con phải rời khỏi giường , xỏ vội chân vào đôi Baut de saut , chụp vội chiếc nón sắt , ôm khẩu súng chạy ra khỏi vị trí .
Trời thật lạnh , sương mù phủ kín cả vùng núi Đà Lạt , đứng ở giao thông hào con lần lượt ôn lại giấc mơ mà thèm tiếc , phải chi đừng có tiếng súng , đừng có chiến tranh , Ba không hy sinh bỏ lại Mẹ con mình thì gia đình đoàn tụ gần nhau , hạnh phúc biết là bao phải kg Mẹ .
Con thương Mẹ những ngày khăn tang trắng trên mái tóc rối bời , khóc chồng vị quốc vong thân , vòng tay ôm đàn con dại ...con cũng chưa học xong trung học làm sao giúp Mẹ , cũng chưa hiểu nỗi đau của một người vợ mất chồng , Mẹ thật kiên cường , can đảm , chôn dấu niềm đau nỗi nhớ , từng ngày xông xáo trong thương trường , xe kg dám đi , ăn kg dám ăn , chắt chiu nuôi đàn con dại .
Mẹ của từng ngày vất vả , đi sớm về khuya , Mẹ của những tối về ôm ấp đàn con trong trong vòng tay yêu thương , dấu nhanh đôi giòng lệ ....
Con bây giờ mới biết thương Mẹ , mới biết kiếm được đồng tiền khó thế nào , tha lỗi cho con Mẹ ơi !
Hương và các em nhỏ yêu mến của anh , anh nhớ các em thật nhiều , các em phải chịu khó học để Mẹ vui lòng , đừng bắt chước người ta , phải sống an phận , nếu các em biết còn nhiều đứa trẻ sống thiệt thòi , kg được đi học , kg đủ cơm ăn mỗi ngày , ngày ngày phải đi bán báo , đánh giầy , lê la vỉa hè xó chợ , các em sẽ thấy anh em mình hạnh phúc sung sướng nhiều lắm ,
Vật giá kỳ này mắc mỏ , kiếm miếng ăn kg phải dễ , lúc nào cũng phải biết thương Mẹ , Mẹ của anh em mình là một người Mẹ tuyệt vời , Mẹ đã hy sinh cho anh em mình rất nhiều , kg được hưởng nhiều cho Mẹ , chỉ mong sao cho anh em mình được sung sướng , anh mong các em kg có anh cũng phải cố gắng học hành ngoan ngoãn , thương yêu lẫn nhau , anh nghĩ Mẹ chỉ mong có thế .
Ba ngày nào vẫn hay dạy anh ...Đời là cuộc tranh đấu kg ngừng ....cố gắng học hành thành người giúp ích cho xã hội .
Mẹ yêu của con , cho con gửi đến Mẹ tất cả tình yêu thương của con về Mẹ kính yêu , con kg quên cầu nguyện cho Mẹ mãi mãi an lành , hy vọng khi ra trường con có thể thay mẹ lo cho các em , con yêu Mẹ mãi mãi
Con trai của Mẹ
SVSQ K25 Trần Việt Dzoanh.

Anh yêu dấu của em , 46 năm rồi anh nhỉ , anh vẫn quên trở về thăm gia đình , còn nhớ tháng 12 , 1972 ...anh vội vã từ quân trường về , cũng kg kịp nhìn mặt đứa em trai một lần cuối , anh lặng lẽ như một pho tượng đá trước ngôi mộ mới đắp , mắt đỏ ngầu cố gắng vẫn kg kềm chế nổi những giọt nước mắt chảy dài trên má , đốt một điếu thuốc thả khói mênh mông , khăn tang trắng thay cho chiếc mũ Beret , thở dài lấy trong túi áo chai rượu đổ trên mộ , cắm điếu thuốc hút dở cho anh Chính .
Chiều xuống nhè nhẹ , nhưng nỗi buồn của anh em mình thì trĩu nặng đau thương .
Anh nhẹ ôm em thở dài
-Mình về thôi bé con , còn 2 tuần nữa anh ra trường , chú ấy hứa sẽ xin nghỉ phép cùng Mẹ ra dự lễ , kg ngờ chú ấy lại ra đi nhanh như thế , anh thương Mẹ quá .
Con đường thật dài lót đầy nước mắt em , căn nhà trống vắng đến lạnh lùng , buổi tối tiếng cầu kinh pha lẫn tiếc khóc nghẹn ngào của Mẹ , thật thê lương ,
Ngày anh ra trường cũng chỉ mình Mẹ trong nỗi đau chưa nguôi , anh ôm Mẹ vỗ về thủ thỉ
- Mẹ coi con trai của Mẹ nè , oai phong kg thua gì Ba Mẹ nhỉ .
Mợ cười hạnh phúc bên anh , nhưng mắt thì lệ tuôn rơi nhớ anh Chính , cho anh xót xa thở dài ...
Anh yêu thương , thế giới tưởng chừng như sụp đổ dưới chân em , em nói sao với mẹ đây anh , anh cũng bỏ Mẹ bỏ chúng em ra đi , thật quá tàn nhẫn khi điểm tựa cuối cùng của em cũng mất , trái tim em khô cứng như ngừng đập , kg còn nước mắt để khóc ...
Me gục xuống như một cành gỗ mục , còn nỗi khổ nào dành cho Mẹ nữa kg anh , chỉ gọi được hai tiếng Doanh , Chính thì mê man , cả một tuần lễ kg ăn kg uống , lúc tỉnh lúc mê , Mẹ mãi gọi tên hai anh , từng ngày em thay anh vỗ về an ủi Mẹ lo cho Mẹ cho các em .
Ngày qua ngày , mẹ cũng phải gượng dậy còn một đàn con đang chờ mẹ , Mẹ thật can đảm , một người mẹ cho chúng em ngưỡng một suốt đời .
Hai năm dài cũng chỉ có anh Tuấn bạn cùng khóa với anh , người đưa anh về cho mẹ cho chúng em . mỗi lần nghỉ phép đều về nhà mình sống bên mẹ , bên chúng em như một người anh cả thay anh , cũng an ủi mẹ thật nhiều , mợ thương anh Tuấn như đứa con ruột của mẹ .
Đám bạn của anh Chính những chàng Lôi Hổ sống bạt mạng kg có ngày mai , bất cần đời , nhưng lại là những người bạn tri kỷ đầy tình nghĩa , sau những ngày nhẩy toán lại tụ họp bên ngôi mộ anh , một đôi đũa , một chén rượu cho anh cho những người bạn đã ra đi , ôm ấp vỗ về an ủi Mẹ ...
ngày bỏ quê hương theo mẹ qua xứ người , em đã hiểu thế nào là bổn phận anh giao phó , ngôn ngữ lạc lõng , thay mẹ lo cho các em nhỏ ...
46 năm rồi em vẫn tưởng như ngày hôm qua , rồi mẹ cũng hạnh phúc nhìn lũ con dại khờ của mẹ công thành danh toại , hạnh phúc bên các cháu , cũng tới lúc mẹ bỏ chúng em về với Ba với hai anh cùng chung trong nấm mộ ,hai anh cũng đã được nằm gọn trong vòng tay mẹ , còn chúng em phải tập sống trong những ngày kg còn mẹ .
Em gái anh cũng làm tròn bổn phận anh giao phó , hạnh phúc bên chồng những ngày còn lại , kg còn những ngày tranh đua với đời , nhưng buồn thì vẫn lê thê vì nhớ ba mẹ , hai anh ...
Minh Huong 31 -3 -2019.

Cuộc di tản của trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa và người thương binh Phan Văn Lộc.


Trong buổi tiệc của Hội Võ Bị Âu Châu, niên trưởng Nguyễn Thanh Đoàn K21, thuộc Bộ Chỉ Huy trường Võ Bị, kể cho Phạm Xuân Sơn K30 nghe việc trường Võ Bị di chuyển khỏi Đà lạt vào những ngày cuối tháng 3/1975. Khi di chuyển về đến Bình Tuy thì có một SVSQ khóa 30 bị thương nặng, khó sống được trong hoàn cảnh hỗn độn thiếu thốn trăm bề, nhưng NT Đoàn vẫn cầu nguyện xin ơn trên ban cho người SVSQ đó được tai qua nạn khỏi. Cho đến ngày hôm nay trong lòng niên trưởng vẫn nghĩ đến người SVSQ bị thương đó và không biết sống chết thế nào? Niên trưởng Đoàn hỏi Sơn có biết tin tức về người bạn đồng khóa đó không? Cảm động trước tấm lòng của người sĩ quan đàn anh, Sơn đã cho NT Đoàn biết người bị thương đó là Phan Văn Lộc, còn sống và hiện đang ở Mỹ.
Đó là tóm tắt nội dung email của Sơn gửi cho tôi kèm theo số phôn và địa chỉ email của niên trưởng Đoàn. Tôi, Phan Văn Lộc, khóa 30 rất xúc động trước tấm chân tình của niên trưởng Nguyễn Thanh Đoàn K21 nên đã tiếp xúc ngay với NT. Chuyện bị thương và tử thương trên chiến trường, trên đường đi tản là quá bình thường, hơn nữa sự việc đã xảy ra cách nay 40 năm đi vào quên lãng là chuyện thường tình. Nhưng một sĩ quan còn nhớ tới vết thương của một SVSQ mà ông không biết tên, thì quả thật không bình thường chút nào mà đầy lòng nhân ái.
Là em áp út trong một đại gia đình có truyền thống tôn ti, tôi xin cám ơn tấm lòng của niên trưởng Nguyễn Thanh Đoàn, của các niên trưởng K21, của tất cả quý niên trưởng. Xin cám ơn trường Mẹ, trường VBQGVN đã sản sinh ra những người con đầy “tình tự Võ Bị” và rồi trở thành những cấp chỉ huy đầy ắp tình đồng đội, tình chiến hữu ngoài chiến trường.
Câu chuyện xảy ra đã 40 năm, giờ đây nhờ những buổi họp mặt, nhờ nhắc lại kỷ niệm cũ, chiến trường xưa của niên trưởng Đoàn khiến dĩ vãng trở về như một cuốn phim quay lại trước mắt tôi, xin phép quý huynh đệ cho tôi kể lại chuyện xưa, chuyện những SVSQ bỏ trường mà ra đi vào nơi lửa đạn.
Sau khi mãn mùa quân sự năm thứ hai và bước vào mùa văn hóa, khóa 30 cũng như các khóa khác khi đi học văn hóa vẫn phải trang bị vũ khí đầy đủ để sẵn sàng tác chiến vì tình hình chiến sự bên ngoài càng ngày càng trở nên khốc liệt. Ngày 30 tháng 3 năm 1975, lúc 3 giờ chiều Trung Đòan SVSQ được lệnh trở về doanh trại để chuẩn bị cuộc di hành xa với đầy đủ hỏa lực tác chiến. Khỏang hơn 4 giờ chiều, liên đội G, H rời khỏi trường Mẹ bằng cổng Nam Quan trên 4 chiếc GMC. Ra đi lần nầy chúng tôi không ngờ đây là lần vĩnh biệt ngôi trường thân yêu mà chúng tôi đã sống một năm 4 tháng 4 ngày 15 giờ.
Liên đội G, H chúng tôi được đưa xuống bảo vệ Cầu Đất, còn các liên đội khác thì trải dài cho đến đập thủy điện Đa Nhim. Ngày hôm sau dân cư trong thị xã Đà Lạt biết được các SVSQ đã rời trường Võ Bị nên họ bắt đầu bỏ Đà Lạt để ra đi. Đến 7 giờ tối chúng tôi được lệnh của Trung Đoàn di chuyển theo hai bên lề đường để bảo vệ cho dân Đà Lạt di tản, chúng tôi đi bộ suốt đêm mãi đến 5 giờ sáng hôm sau chúng tôi mới qua khỏi đèo Sông Pha thuộc quân Đơn Dương và dừng quân tại đây chờ các liên đội khác tập hợp đầy đủ.
Vì liên đội G, H đi đầu nên chúng tôi có thời giờ nghỉ chân chờ cho cả Trung Đòan tập hợp đầy đủ dưới chân đèo Sông Pha. Tôi nằm đại bên lề đường, đầu gác lên balo đưa mắt nhìn chung quanh, bạn bè trong đại đội nằm rải rác khắp nơi, xa xa từng đoàn người di tản từ Đà Lạt, theo quốc lộ hướng về Bình Tuy. Cả một đoàn người hỗn độn, nào là tiếng động cơ của GMC, xe dân chính và tiếng người hoà lẫn nhau như một điệu nhạc quay cuồng mặc dù trong tâm tư của tôi trầm lắng và buồn bã về cuộc di tản nầy. Tôi nghĩ là chúng tôi không thể nào trở về ngôi trường thân yêu đựơc nữa, rồi giấc ngủ đã đến với tôi lúc nào tôi không hay, mãi cho đến khi bị cái đá của một người bạn đồng khóa vào chân tôi mới chợt tỉnh dậy thì trời đã sáng. Nhìn đồng hồ tay tôi thấy kim chỉ 7 giờ 30 sáng, cả Trung Đoàn SVSQ được lệnh tập hợp và lần lượt lên xe GMC để tiếp tục cuộc hành trình hướng về Bình Tuy. Lần nầy cuộc hành trình của Trung đòan SVSQ không lẻ loi vì có thêm vị Chỉ huy trưởng khả kính của chúng tôi là Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ dẫn đầu mặc dù ông có sẳn trực thăng dành riêng cho ông.
Đòan xe của chúng tôi đi đầu, theo sau là cả một đòan người di tản, hễ xe của chúng tôi đi đến đâu là dân chúng bỏ nhà đi theo bằng đủ mọi phương tiện mà họ có thể dùng, kể cả xe bò tạo nên một làn sóng người khổng lồ di tản xuôi Nam. Xe chúng tôi chạy qua Phan Rí. Tôi nhận thấy nơi đây không còn chính quyền kiểm soát nữa, cướp bóc nổi lên khắp nơi. Mãi đến chiều ngày hôm đó, chúng tôi được lệnh dừng quân tại Phan Thiết và Trung Đòan SVSQ đóng quân phòng thủ trong trường Tiểu Học cách toà tỉnh trưởng không xa.
Một đêm an lành trôi qua. Đang đắm chìm trong giấc ngủ, quên hết cả trời đất sau một cuộc hành trình mệt mỏi thì chúng tôi bị đánh thức bởi một tiếng nổ long trời lở đất. Bừng tỉnh dậy tôi mới biết Việt Cộng đang pháo kích vào Phan Thiết, một trái đã rơi trúng hầm xăng của toà Hành Chánh tỉnh, tôi thấy một cụm lửa bốc cao hơn 20 thước mặc dù tôi đứng tại trường tiểu học. Ngay lúc đó chúng tôi được lệnh phân tán mỏng, vì sợ sau khi pháo kích Việt Công sẽ tấn công. Chờ mãi không thấy động tỉnh gì trung đòan được lệnh tập hợp và lên xe tiếp tục cuộc hành trình tiến về Bình Tuy.
Lúc nầy trên quốc lộ về Bình Tuy chúng tôi di chuyển rất khó khăn vì làn sóng người di tản quá đông kể cả dân chúng cùng quân đội từ vùng 1 chạy về tạo nên một đoàn người di tản vô trật tự. Biết bao nhiêu cảnh thương tâm đã xảy ra trước mắt tôi. Nào cha mẹ lạc mất con, vợ mất chồng, người chết vì đạn lạc, kẻ chết vì bị rơi xuống đường bị xe cán, thân xác họ được người đồng hành mang để đại bên lề đường!
Xế chiều, đòan xe của chúng tôi đến ngã ba Bình Tuy, nơi đây có một chiếc cầu bắc qua con kinh nhỏ nhưng mùa này không có nước chảy qua và cầu đã bị VC giựt mìn xập từ lâu, được công binh sửa chửa tạm bằng những vỉ sắt của phi đạo để cho xe qua tạm. Kế bên cầu có một ngọn đồi, địa phương quân đóng giữ để bảo vệ cầu. Khi đòan xe của chúng tôi qua cầu thì bị địa phương quân bắn xuống không cho qua nên Tướng Thơ điện vào Bình Tuy hỏi thì được Tướng Nhật (K10) tư lệnh chiến trường Bình Tuy cho biết vì giữ an ninh cho tỉnh ông không cho lệnh vào Bình Tuy khi trời tối nên Tướng Thơ ra lệnh cho Trung Đòan SVSQ nghỉ lại qua đêm, chờ sáng sẽ tính sau.
Hôm sau, 5 giờ sáng, được lệnh của Tướng Thơ, Trung Đòan SVSQ bắt đầu di chuyển vào Bình tuy, dẫn đầu là thiết giáp M113, một xe jeep, một chi đội Thiết Giáp, một đại đội Biệt Động Quân, tất cả đều chịu dưới quyền chỉ huy của Tướng Thơ. Không ngờ khi chiếc xe jeep đã qua được bên kia cầu, xe M113 còn đang ở giữa cầu thì bị 2 trái B40 của VC từ trên đồi bắn xuống, một trái làm cháy chiếc M113, trái khác làm lật chiếc xe jeep. Tôi đứng trên chiếc xe GMC cách xa hơn 200 thước. Trước xe GMC là xe của Tướng Thơ và chiếc thiết giáp của trường do Đại Úy Lập chỉ huy.Trước sự việc xảy ra như vậy Tướng Thơ mới ra lệnh cho NT Cần, thủ khoa K20 là giáo sư của Trường gọi điện vào Bình Tuy thì được biết đồn Đia Phương Quân trú đóng trên đồi đã bị mất liên lạc hồi 12 giờ đêm hôm qua. Phải diệt chốt để vượt qua, Tướng Thơ ra lệnh phá chốt để vào Bình Tuy, những chiếc thiết giáp được dàn hàng ngang và SVSQ cùng Biệt Động Quân từng chiếc tiến lên chiếm đồi. VC từ trên đồi bắn xối xả xuống, nào là đại liên, B40, và AK47, cho nên tôi, NT Xù K28 cùng NT Hoà K27 (SĐI, từ vùng 1 về, gặp trường di tản nên đi chung luôn) nhảy xuống mô đất gần đó để tránh đạn. Chúng tôi nghe một tiếng nổ thật lớn, buị cát bay mịt trời, sau đó chúng tôi kiểm soát lại coi có ai bị thương không? Nhìn qua NT Xù tôi thấy tay của NT bị một mảnh đạn trúng chảy máu, tôi nói:
- Tay của NT bị thương rồi, để tôi băng cho.

Tôi lấy băng cá nhân trên nón của NT Xù để băng cho anh. Trong lúc tôi đang băng thì NT Xù nhìn nơi ngực của tôi có vết máu chảy ra, NT la lên:
- Ngực anh Lộc cũng bị thương.

Tôi vội vạch áo ra thì thấy ở ngực bên phải có một lỗ nhỏ và máu đang chảy ra, NT Hoà nghe được vội chạy tới bắt tôi nằm xuống và băng vết thương cho tôi, đồng thời NT la lớn lên:
- Lộc đã bị thương nặng, có y tá nào gần đây xin tiếp cứu.

May có một anh y tá của trường ở gần đó chạy đến và băng bó cho tôi, có lẽ do kinh nghiệm cứu thương, anh thấy tôi bị ở ngực lại thở khò-khè nên anh biết tình trạng của tôi, anh vội ta la lên:
- Anh nầy bị thương xuyên qua phổi, cần phải đưa vào bệnh viện gấp, nếu không máu sẽ đông lại rất nguy hiểm đến tính mạng.

May cho tôi, có một NT K26 (tôi quên tên) mang được một chiếc xe jeep từ trường về, NT vội chạy đến dìu tôi lên xe và la to:
- Có anh SV nào theo tôi đưa anh nầy vào bệnh viện không?

Người bạn thân cùng trung đội là Võ Đình Nhân nhảy lên xe ôm tôi cho NT chạy xe về hướng Bình Tuy.
Mặc dù nửa người của tôi tê cứng, nhưng đầu óc tôi vẫn còn tỉnh táo, tai tôi vẫn con nghe tiếng đạn hai bên nổ dòn …rồi dần dần tôi thiếp trong hôn mê không còn biết gì nữa….Tôi bừng tỉnh dậy khi ai nắm vai lay động và nghe tiếng Võ Đình Nhân nói:
- Lộc! Lệnh trên không cho lính đi tản lẻ tẻ vào Bình Tuy nên tao chỉ được đưa mầy đến đây, NT K26 và tao sẽ đỡ mầy xuống đây để chờ xe cứu thương đưa mầy vào bệnh viện. Mầy yên tâm, NT Nhật đã gọi xe cưú thương tới rồi. Tao phải trở lại chỗ cũ để di chuyển theo trường, chúc mầy bình an.

Tôi nhờ Nhân lấy sợi dây chuyền tôi đang đeo trong cổ ra, sợi dây chuyền có tượng Phật mà bà nội tôi đã đeo vào cổ tôi trước khi từ giã gia đình để vào trường Võ Bị. Cầm tay Nhân tôi nói:
- Nhân, mày giúp tao, đưa sợi dây chuyền nầy cho bà nội tao, nói với bà nếu tao không về là tao đã chết, bà đừng ra đây tìm xác tao rất nguy hiểm, tao cảm ơn mầy, tạm biệt...

Chưa nói hết câu “tạm biệt mày và niên trưởng..” thì tôi thiếp đi, hồn lâng lâng như đi vào khoảng không, tất cả những hình ảnh từ thời ấu thơ, hình ảnh những người thân yêu trong gia đình kể cả hình ảnh của người yêu lần lượt hiện ra trong trí tôi. Sau nầy khi nghe tôi kể lại, những người lớn tuổi cho biết đó là sự việc xảy ra cho người sắp lìa đời.
Thấm nhuần triết lý của đạo Phật do ông bà nội tôi thường giảng dạy, tôi nghĩ đời sống con người có sinh thì phải có tử, đó là định luật tự nhiên của tạo hoá cho nên lúc đó lòng tôi rất bình thản, cũng may vì nửa bên người không còn cảm giác nên tôi không cảm thấy đau đớn vì vết thương.
Tôi bị đánh thức bởi một tiếng nói rất to:
_ Các anh đưa anh SV nầy đến bệnh viện ngay.

Tôi vội đưa mắt nhìn về phía phát ra tiếng nói, tôi nhìn thấy một quân nhân đứng trên thiết vận xa M113, trên nón sắt của ông có 2 ngôi sao, bảng tên là Trần Văn Nhật. Sau nầy tôi mới biết là Tướng Trần văn Nhật K10 xuất thân từ trường VBQGVN, lúc đó ông là Tư Lệnh chiến trường Bình Tuy.
Người đứng đối diện với Tướng Nhật là một vị Đại Uý Quân y, ông chào đáp lễ Tướng Nhật rồi quay qua giúp anh y tá đưa tôi lên xe cứu thương, hối anh tài xế chạy lẹ lên.
Tôi chợt thấy niên trưởng K26 và Nhân còn tần ngần đứng đó, họ chưa đi mà còn ở lại với tôi cho tới khi xe cứu thương từ trong Bình Tuy đến. Xúc động biết chừng nào, có lẽ tim tôi bóp mạnh và mắt tôi mờ đi, tôi chỉ kịp nhận ra những bàn tay huynh đệ trường mẹ vẫy vẫy khi xe tải thương rồ máy, tôi muốn vẫy tay lại “vĩnh biệt” các anh nhưng đưa tay lên không được khiến tôi nấc lên mấy lần. Thấy vậy người bác sĩ ngồi bên cạnh vỗ vỗ nhẹ lên ngực tôi an ủi:
_ Trước đây tôi có phục vụ tại Trường Võ Bị một thời gian nên tôi xem anh như người thân, anh đừng lo, tôi sẽ tận tình giúp anh.

Đến bệnh viện, ông tìm Đại Úy Bác sĩ Trưởng ngay để chữa cho tôi. Lúc đó miệng tôi cứng lại, không nói được nhưng đầu óc vẫn còn tỉnh táo. Bác sĩ lấy tên và loại máu trên thẻ bài của tôi xong gọi 2 y tá đưa tôi vào phòng cấp cứu và chính tay ông đã giải phẫu thông phổi cho tôi.
Xong phần giải phẫu và băng bó vết thương, ông nói sẽ tiếp máu cho tôi, vì tôi bị mất máu nhiều quá nhưng rất tiếc loại máu của tôi không còn, ông nói sẽ cố gắng tìm kiếm những quân nhân và thương binh nhẹ trong bệnh viện có cùng loại máu.
Nghe BS nói mà tôi lòng tôi vẫn bình thản, tôi nghĩ nếu số tôi còn sống thì ơn trên sẽ giúp cho tôi tìm được người cùng máu. Một lúc sau BS trở lại nói:
_ Mạng anh lớn lắm vì có một anh lính TQLC bị thương nhẹ có cùng loại máu với anh và chịu hiến máu cho anh, tôi cảm ơn dùm anh rồi

Tôi đã nhận máu của một người lính mà tôi không biết mặt biết tên, ơn nghĩa nầy tôi không biết sao đền đáp chỉ biết cầu Trời Phật cho anh vạn sự an lành. Sau đó tôi đã thiếp đi, khi tôi tỉnh dậy thì trời đã tối, nhìn đồng hồ trên tường, kim chỉ 9 giờ tối, đảo mắt nhìn quanh tôi thấy thương binh nằm chật kín cả phòng, không đủ chỗ phải nằm trên băng ca.
Một đêm an bình trôi qua tại bệnh viện Bình Tuy, khỏang 10 giờ sáng, một bác sĩ đến thăm tôi và kể cho tôi biết ông tốt nghiệp trường Quân Y, mỗi năm khi đến mùa quân sự, khóa của ông phải ra Đà Lạt thụ huấn chung với khoá 19 Võ Bị do đó ông luôn nghĩ ông cũng xuất thân từ trường Võ Bị nên ông tận tình với tôi như đàn em. Tôi và ông tâm sự với nhau, một lúc sau ông nói:
- Tôi sẽ tìm một cô y tá có gia đình ở Saì Gòn để cho theo anh về Tổng Y Viện Cộng Hoà nội trong chiều nay, 3 giờ chiều sẽ có chuyến bay chở thương binh về bệnh viện Cộng Hoà. Tôi nghĩ Bình Tuy sẽ mất, với tình trạng vết thương quan trọng này, anh sẽ gặp nguy hiểm lắm nếu không được tiếp tục săn sóc.

Nói xong ông cầm tay tôi thật lâu, lắc lắc như muốn nói thêm rồi ra đi. Tôi nhắm mắt ngủ một giấc cho đến khi nghe một giọng nói trong trẻo của một người con gái đánh thức tôi dậy. Trước mắt tôi là bác sĩ và một cô y tá đứng kế bên, ông giới thiệu cô tên là Hồng, cô sẽ săn sóc và theo tôi về Saì Gòn và cô sẽ ở lại Sài Gòn. À ra thế, nhất cử lưỡng tiện, chứ mạng sống của một SVSQ chưa một ngày ra trận dễ gì được ưu đãi đặc biệt như thế. Nhưng tôi vẫn thấy vui nên nói lời cám ơn vị bác sĩ và cô y tá Hồng.
Khi về đến Tổng Y viện Cộng Hoà tôi được đưa vào phòng cấp cứu để BS giải phẫu lại một lần nữa.Tôi mê man và khi tỉnh dậy thấy mình đang nằm phòng khác là phòng hồi sinh ở tầng hai, đó là ngày 5 tháng 4 năm 1975, ngày mà tôi không bao giờ quên được vì khoảng 9 giờ 30 sáng tên phản bội Nguyễn Thành Trung đã dội bom vào dinh Độc Lập.
Tôi nằm ở đây được một tuần, trong thời gian nầy tôi nhờ người báo tin cho gia đình lên thăm. Sau đó tôi được chuyển qua khu phục hồi của sĩ quan. Vì thiếu phòng nên 3 người ở chung một phòng. Trong phòng tôi gồm có một chuẩn uý Địa Phương Quân bị thương ở bụng, ruột già phải cho ra ngang hông, một thiếu uý Lôi Hổ bị đạn xuyên từ cằm lên đầu, anh nằm đây hơn 3 tháng để chờ tái giải phẩu. Lúc nào trên môi anh cũng nở nụ cười và luôn miệng hát:
Trên nòng súng quê hương…tổ quốc đã nghiêng mình…

Đến hôm nay tôi không biết vị thiếu úy đó còn sống hay đã chết vì ngày 30 tháng 4 khi Việt cộng vào Saìgòn, chúng đã đuổi tất cả thương bệnh binh VNCH ra khỏi bệnh viện. Những ngày sau đó tình hình Sài Gòn thêm sôi động, gia đình tôi ở Sài Gòn đã đưa tôi về nhà, mời y tá đến săn sóc vết thương cho tôi…
Tôi chỉ là một người lính chưa ra trận mà đã bị trọng thương và đã may mắn được mọi người thương, cứu tôi khỏi bàn tay của tử thần trong khi những quân nhân chiến đấu thực sự trên chiến trường thì không được may mắn như tôi, biết bao các anh đã nằm xuống bên vệ đường, trong rừng sâu, trên đồi cao để đồng bào được bình an. Đã 40 năm qua, vết thương trên da thịt tôi đã lành nhưng vết thương lòng vẫn còn đang rỉ máu. Tôi không bao giờ quên được ngày 30 tháng 4, lúc 9 giờ sáng, tôi chết lặng người khi nghe trên đài phát thanh tiếng của “TT” Dương Văn Minh ra lệnh cho quân nhân các cấp buông súng đầu hàng!!!
Gần đến ngày Quốc Hận 30 tháng Tư. Ngày đau buồn của đất nước, tôi xin chia xẻ niềm đau cùng những người trai trẻ như tôi với bầu nhiệt huyết và mộng tang bồng hồ thỉ, mang hoài bão lấp biển vá trời phải đành gián đọan nửa đường với lòng uất hận…
Tôi viết lên những dòng chữ nầy để gởi lời tri ân đến các niên trưởng, bác sĩ, y tá, bạn cùng khóa, những quân nhân các đơn vị bạn đã giúp đỡ, cứu mạng sống của tôi. Những tấm chân tình đó đã nói lên tình tự Võ Bị của các cưụ SVSQ cũng như những người đã từng một thời đến với Trường Mẹ, của những người cùng chung chiến tuyến. Tôi rất hãnh diện là một cưụ SVSQ của Trường VBQGVNCH, là một người lính của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, hiện tại cũng như mãi mãi về sau…
Phan Văn Lộc
(Cựu SVSQ K30 TVBQGVNCH)

30-3-1975 là ngày rời trường Mẹ

Sunday, March 31, 2019

Vợ con ông Phạm Minh Tâm, người Việt đầu tiên tốt nghiệp West Point, gặp cảnh ngặt nghèo - Linh Nguyễn

Ông Phạm Minh Tâm (giữa) bên cạnh Tướng Lương Xuân Việt (trái) và Tướng LapThe Flora. (Hình: Hội Võ Bị DC và Phụ Cận)
BETHESDA, Maryland (NV) – Ông Phạm Minh Tâm, sĩ quan gốc Việt đầu tiên tốt nghiệp Trường Võ Bị West Point của Hoa Kỳ, vừa qua đời hôm Thứ Sáu, 1 Tháng Ba, tại Bethesda, Maryland, hưởng thọ 70 tuổi, sau hai tuần nằm bệnh viện vì bị một tai nạn giao thông hôm 10 Tháng Hai tại Montgomery Village. Nguyên nhân cái chết của ông hiện còn trong vòng điều tra. Ông mất đi để lại vợ và một con gái năm nay 18 tuổi.
Theo lời kể của bà Kim Chi, vợ ông Tâm, tình trạng tài chánh gia đình trở nên bi đát từ khi ông bị hãng Northrop Grumman sa thải năm 2012.
“Ảnh mất việc, chúng tôi không thể tiếp tục trả tiền nhà, nên nhà bị bán đấu giá năm 2017. Tiếp theo là chúng tôi phải bán đi một chiếc xe Camry cũ, vì không đủ tiền trang trải,” bà kể.
Bà cho biết, từ đó, gia đình bà phải mướn một phòng ở dưới hầm (basement) để ở.
Bà nói, tiền thuê nhà dù là $600 đến $700 một tháng, gia đình bà cũng không có tiền trả: “Tôi năn nỉ chủ người Ấn Độ, xin trả trễ, trả góp, có khi phải trả từng ngày, vì tôi hiện làm công việc chăm sóc người già, người bệnh. Có ngày chỉ được làm hai, ba tiếng đồng hồ, không có kinh nghiệm. Tiền kiếm không đủ.”
Vợ chồng ông Phạm Minh Tâm (hàng đầu) được các bạn cùng khóa 
Võ Bị West Point USMA ‘74 đón tiếp khi mới đến Mỹ năm 1991. 
(Hình: Facebook/TamPham)
“Chúng tôi thiếu thốn như thế từ bảy, tám năm nay, nhưng anh ấy khẳng khái, không nói với ai. Khi mới qua Mỹ, chúng tôi còn trẻ, anh ấy có công việc làm. Tôi cũng làm assembly hãng Huge Network System. Vì thế mới có nhà. Có xe. Nay tuổi đã già, kiếm việc khó quá!” bà thở dài qua điện thoại.
Bà sụt sùi khi kể về đời sống khó khăn: “Tiền nhà không đủ. Tiền lương thì ít. Tôi và cháu Kristy chỉ dám mua một phần McDonald’s, hai mẹ con chia nhau. Gia đình tôi ăn mì gói, hột gà là chuyện thường, vì chỉ có thế!”
Bà im lặng vài giây, rồi tiếp: “Tôi xót xa khi cháu than đói bụng. Nó ở Mỹ mà ốm nhom. Khi bạn nó rủ đi ăn, nó nói không có tiền. Tôi nuốt nước mắt!”
Nói về việc lo tang lễ, bà cho biết: “Cảnh sát chưa cho lấy ra. Thứ Tư tuần tới (13 Tháng Ba), chúng tôi sẽ gặp họ để xem ngày nào mới được đem ra nhà quàn. Giờ giấc thăm viếng chưa biết tính sao.”
Trong khi chờ đợi, vì đường từ nhà đến nhà quàn mất cả giờ lái xe mới tới, bà tạm dừng chân tại nhà anh chị Phạm Văn Keo, một người bạn cùng Khóa 25 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, để đi lại nhà quàn cho đỡ mệt.
“Cháu và tôi rất may được các anh chị đồng Khóa 25 giúp đỡ, nếu không, tôi như người mất hồn, không biết phải lo gì. Anh chị Keo, Nguyễn Huỳnh Kỉnh ở gần, cũng lui tới để an ủi. Anh Lưu Đức Tờ, đại diện Khóa 25 lo chạy đôn chạy đáo. Anh Huỳnh Văn Tốt, Khóa 26, cũng kêu gọi giúp đỡ. Thật cảm động!” chị kể.
Gia đình ông Phạm Minh Tâm tham dự sinh hoạt của Khóa 25 
Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam khi con gái còn nhỏ. 
(Hình: Nguyễn Xuân Thắng/K25)
Ông Nguyễn Huỳnh Kỉnh, bạn cùng khóa, cho biết: “Chị định sẽ làm hỏa táng cho đỡ tốn kém, nên nói số tiền các bạn cùng Khóa 25 khắp nơi gởi về có lẽ cũng tạm đủ, vì nghe đâu được khoảng $10,000 rồi. Tuy thiếu thốn và không muốn phiến ai, chị thú thật không biết trong những ngày tháng trước mặt, vắng anh, gia đình chị sẽ không biết phải lấy gì để trang trải cho cuộc sống hằng ngày!”
Trong một thư kêu gọi, khi vừa nghe hung tin, ông Bùi Đạt Trung, trưởng Ban Xã Hội Khóa 25, đã nhanh chóng hô hào đóng góp.
Ông Trung viết: “Là một người hiền hòa, luôn nở nụ cười xuề xòa, tạo được sự thiện cảm với mọi người xung quanh, ngay cả khi ở trong lao tù Cộng Sản, anh vẫn luôn luôn giữ được nhân cách của một chiến sĩ QLVNCH. Ra tù, cũng như mọi người, anh phải vật lộn với cuộc sống, đồng thời đã gặp gỡ và gắn bó với người bạn đời là chị Kim Chi và có một cháu gái là Kristy, nay đã 18 tuổi, học năm thứ nhất đại học cộng đồng.”
Không những chỉ các bạn đồng khóa sốt sắng giúp đỡ, các khóa đàn em khắp nơi cũng kêu gọi, vì biết ông Tâm, khóa đàn anh, từng hướng dẫn các sinh viên khóa đàn em trên đường di tản, bắn cháy hai chiến xa Cộng Sản.
Các sĩ quan cán bộ cùng phục vụ tại Trường Võ Bị Đà Lạt cũng tỏ lòng thương tiếc khi biết tin.
Cựu Thiếu Tá Cao Yết, Khóa 16 Đà Lạt, xúc động trước tinh thần đoàn kết của những người xuất thân cùng trường Võ Bị, gởi điện thư: “Tại Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, cựu SVSQ Tâm là SQ/CB/ĐĐT thuộc TĐ1 do tôi phụ trách. Tại Trường Võ Bị West Point tôi thăm anh ấy tại phạn xá của trường khi anh ấy còn là SVSQ (tôi theo phái đoàn Tướng Thơ CHT/TVB thăm viếng West Point) Chúng tôi có nhiều kỷ niệm với Tâm. Một tin thật buồn! Xin cầu nguyện cho anh ấy.”
Ông Phạm Minh Tâm và con gái. (Hình: Facebook/TamPham)
Ông Trung, ban xã hội Khóa 25, chia sẻ trong thư: “Gia đình anh đã phải chịu đựng bao thiếu thốn, khó khăn trong suốt mấy năm, nhưng với tính khẳng khái, với lòng tự trọng anh đã không hề hé môi và không liên lạc với ai. Trong nhà, mọi chuyện anh lo hết nên sau khi nằm xuống, anh đã để lại một khoảng trống to lớn cho vợ con. Chị Chi cũng không có việc làm vững vàng, Hoàn cảnh hai mẹ con bây giờ thật ngặt nghèo, việc sinh hoạt hằng ngày không ổn định, làm sao có khả năng mua hòm cho chồng và mời thầy đến tụng kinh? Liên lạc với chị, chỉ được nghe qua dòng nước mắt từ đầu đến cuối!”
Được sự đồng ý của bà Kim Chi, ông Bùi Đạt Trung cho biết, mọi đóng góp, xin gởi về Ban Xã Hội qua thủ quỹ Khóa 25, nhờ chuyển đến tang quyến sau.
Chi phiếu xin đề:
Quy Dao, K25 (ĐT: 347-857-9046)
17811 Camp Cove Dr.
Cypress, TX 77429
Memo: Giúp Phạm Minh Tâm, K25
Ông Tâm là cựu sinh viên sĩ quan Khóa 25 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, và là người Việt Nam đầu tiên, đại diện Đông Nam Á, theo học Trường Võ Bị West Point Hoa Kỳ năm 1970. Ông tốt nghiệp Trường Võ Bị Hoa Kỳ vào Tháng Năm, 1974, và trở về nước phục vụ tại Trường Võ Bị với chức vụ sĩ quan cán bộ đại đội trưởng Đại Đội E, Trung Đoàn Sinh Viên Sĩ Quan tại Đà Lạt, cho đến ngày trường bị giải tán. 
(Linh Nguyễn)

Ông Phạm Minh Tâm, người Việt đầu tiên tốt nghiệp West Point, qua đời

Ông Phạm Minh Tâm (trái) và anh Tom Lê, người tốt nghiệp West Point năm 2016. (Hình: Facebook Võ Thành Nhân)
BETHESDA, Maryland (NV) – Ông Phạm Minh Tâm, người Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp Học Viện West Point nổi tiếng của Mỹ, vừa qua đời hôm Thứ Sáu, 1 Tháng Ba, tại Bethesda, Maryland, hưởng thọ 70 tuổi, sau khi bị một tai nạn giao thông tại Montgomery Village hôm 10 Tháng Hai, bà Kim Chi, vợ của ông, xác nhận với nhật báo Người Việt.
Ông Tâm cũng là sinh viên sĩ quan trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam Đà Lạt, Khóa 25, năm 1968.
Theo bài báo “The Liberation of Tam Minh Pham” đăng trên nhật báo The Washington Post ngày 5 Tháng Bảy, 1992, ông Tâm học ở West Point từ năm 1970 đến năm 1974. Sau khi tốt nghiệp, ông về nước, dạy ở trường Võ Bị Quốc Gia, trong vai trò sĩ quan chiến thuật, cho đến ngày Sài Gòn thất thủ năm 1975.
Sau đó, ông bị đi tù “cải tạo” Cộng Sản gần 6 năm.
Từ năm 1981 đến năm 1991 ông là giáo sư Anh Ngữ trường Cao Đẳng Sư Phạm ở Sài Gòn.
Một bài báo của AP, nói về trường hợp ông Phạm Minh Tâm bị tù “cải tạo.” (Hình do Cao Văn Thi lưu giữ)
Khi bắt đầu có chương trình cho các cựu sĩ quan QLVNCH sang định cư tại Mỹ, thường gọi tắt là “HO,” ông lại không được đi.
Theo bài báo của Washington Post, sở dĩ ông không được đi theo diện này là vì giấy ra trại của ông bị ghi lộn ông là “thành phần chống đối nhà nước.”
Trong thời gian này, qua một người em gái đang sống ở Mỹ, ông tái liên lạc với các bạn học ở West Point ngày trước. Thế là những người này vận động, gây quỹ, yêu cầu chính quyền Mỹ can thiệp đưa ông ra khỏi Việt Nam.
Nhờ sự can thiệp của Tướng John Vessey, cựu chủ tịch Ủy Ban Tham Mưu Liên Quân, lúc đó là người được Tổng Thống George HW Bush cử làm đại diện thương thuyết bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, ngày 31 Tháng Năm, 1991, ông Tâm được định cư ở Hoa Kỳ.
Bà Kim Chi cho biết gia đình qua Mỹ theo diện HO7.
Theo bà cho biết, khi sang Mỹ, ông làm phụ giáo trường trung học Cardozo High School, Washington, DC, một thời gian, rồi làm cho hãng TRW, và cuối cùng là hãng Northdrop Grumman cho tới khi nghỉ hưu năm 2012. (Đ.D.)

Quan tài đơn sơ trong tang lễ người Việt đầu tiên tốt nghiệp West Point

Đại Tá Mimi Phan (trái) và một đại diện khác của Hội VAUSA, chào tiễn biệt lần cuối. (Hình: Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Võ Bị Vùng Hoa Thịnh Đốn và Vùng Phụ Cận)
SILVER SPRING, Maryland (NV) – Tang lễ ông Phạm Minh Tâm, người Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp Học Viện West Point nổi tiếng của Mỹ, diễn ra trong nghi thức đơn sơ với chiếc quan tài bằng cạc tông.
Hôm Thứ Ba, 19 Tháng Ba, tang lễ ông được tổ chức tại nhà quàn Hines-Rinaldi Funeral Home ở Silver Spring, Maryland.
Hiện diện trong tang lễ cùng vợ và con gái ông Tâm, còn có một số bạn cùng khóa 25 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, bốn người bạn đồng môn Võ Bị West Point (USMA ‘74), Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Võ Trường Toản, và đại diện sĩ quan cao cấp trong Hội Quân Nhân Mỹ Gốc Việt (VAUSA).
Sau lễ cầu siêu và phát tang là lễ phủ cờ Việt Nam Cộng Hòa do chín cựu sinh viên sĩ quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam thuộc Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Võ Bị Vùng Hoa Thịnh Đốn và Vùng Phụ Cận phụ trách.
Lễ phủ cờ diễn ra trong không khí trang nghiêm, gây xúc động đặc biệt cho mọi người hiện diện khi lá cờ vàng phủ kín chiếc quan tài bằng cạc tông thô sơ.
Lễ phủ kỳ tang lễ ông Phạm Minh Tâm tại Silver Spring, Maryland. 
(Hình: Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Võ Bị Vùng Hoa Thịnh Đốn và 
Vùng Phụ Cận)
Ông Phạm Văn Keo, một người bạn cùng Khóa 25, được gia đình mời lên đọc tiểu sử ông Phạm Minh Tâm. Theo đó, ông Tâm nhập Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam khóa 25 năm 1968, đến năm 1970 ông được tuyển chọn theo học Học Viện West Point và tốt nghiệp năm 1974.
Sau khi tốt nghiệp tại Mỹ, ông Tâm trở về Việt Nam làm sĩ quan cán bộ Đại Đội Trưởng Đại Đội E tại Trường Võ Bị Đà Lạt, cho đến khi Sài Gòn thất thủ. Ông bị Cộng Sản bỏ tù sáu năm. Sau khi được thả, ông được người em gái ở Mỹ vận động cùng các bạn đồng khóa USMA ‘74 để ông Tâm và gia đình được định cư tại Mỹ.
Ông Tâm sinh ngày 2 Tháng Tư, 1949, tại Sài Gòn, và qua đời hôm Thứ Sáu, 1 Tháng Ba, tại Bethesda, Maryland, hưởng thọ 70 tuổi, trong một tai nạn giao thông tại Montgomery Village hôm 10 Tháng Hai.
Một người bạn đồng khóa USMA ‘74 của ông Phạm Minh Tâm lên đọc lời ai điếu, là cựu Đại Tá John R. Martin (hồi hưu), người mặc quân phục Quân Đội Hoa Kỳ từ Pennsylvania đến dự tang lễ. Ông là một trong bốn cựu sinh viên sĩ quan West Point hiện diện tham dự đám tang của ông Phạm Minh Tâm.
Cựu Đại Tá John R. Martin (trái) trước bàn thờ người bạn đồng môn
West Point. (Hình: Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Võ Bị Vùng Hoa Thịnh Đốn 
và Vùng Phụ Cận )
Ông Martin phát biểu: “Tâm là bạn cùng khóa của chúng ta vì anh thuộc Khóa 25 và cả khóa USMA ‘74 nên anh là bạn cùng khóa của tất cả chúng ta. Tôi cũng muốn nói xin lỗi vì đến trễ và không thể nói chuyện với các bạn bằng tiếng Việt! Tôi đã ở đảo Guam năm 1975 và đó là một kinh nghiệm tuyệt vời đối với tôi khi là một thiếu úy trẻ giúp đỡ những người tị nạn Việt Nam trên đường đến Hoa Kỳ. Thật không may, tôi chỉ học được một ít tiếng Việt, gồm một câu ‘tôi xin lỗi,’ điều mà tôi hy vọng có nghĩa là tôi rất tiếc!”
Ông đề cập đến nhân vật tên Patrick McBrayer, người bạn cùng phòng với ông Tâm khi còn học ở West Point: “Không giống như vai trò cá nhân của Pat, vai trò của tôi hôm nay là đại diện cho West Point. Trong bộ đồng phục của tôi, tôi cũng đại diện cho Quân Đội Hoa Kỳ, nhưng tôi muốn nói chủ yếu về West Point. Khi chúng tôi ở Khóa USMA ‘74 vào West Point năm 1970, chiến tranh ở Việt Nam vẫn còn và có lẽ tất cả chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi sẽ đến Việt Nam khi chúng tôi tốt nghiệp. Tuy nhiên, trong bốn năm, thế giới đã thay đổi và Tâm là người duy nhất về Việt Nam khi chúng tôi tốt nghiệp vào năm 1974. Anh ấy chắc chắn có thể thấy rằng sự sụp đổ của Sài Gòn đang đến gần và có lẽ đã xin tị nạn tại Hoa Kỳ.”
Bà quả phụ Phạm Minh Tâm và con gái.
(Hình: Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Võ Bị Vùng Hoa Thịnh Đốn 
và Vùng Phụ Cận)
“Mặc dù đã thấm nhuần ý thức về nghĩa vụ và danh dự ở cả West Point và Đà Lạt, nhưng Tâm không ngần ngại chọn trở về Việt Nam, đất nước của mình. Cuộc sống của anh sau sự lựa chọn đó là một khó khăn, tất nhiên, bao gồm cả chiến đấu, nhà tù và thiếu thốn. Tuy nhiên, bằng cách đưa ra lựa chọn đó, Tâm đã củng cố bản thân trong lịch sử của học viện với tư cách là một trong những nêu cao châm ngôn ‘Trách Nhiệm, Danh Dự, Tổ Quốc’ không chỉ là những danh từ được ghi trên chiếc nhẫn ra trường. Vì sự tận tụy đáng nể của Tâm khi thực hiện nghĩa vụ với đất nước của mình một cách vinh dự, tôi chào mừng anh ấy hôm nay và cảm nhận toàn bộ một hàng dài màu xám (màu áo của trường West Point) của các sinh viên sĩ quan West Pointers kéo dài phía sau tôi để nói, ‘Anh làm tốt lắm, Tâm. Hãy an nghỉ!’” ông nói.
Cựu Đại Tá Martin cho biết ông Patrick McBrayer sẽ lo việc lập thủ tục xin an táng tro cốt của ông Phạm Minh Tâm trong nghĩa trang West Point.Trước lễ hỏa táng là lễ thu kỳ. Ông Huỳnh Văn Tốt đại diện Hội Võ Bị Vùng Hoa Thịnh Đốn và Vùng Phụ Cận, trao lá cờ VNCH cho bà quả phụ Phạm Minh Tâm.  
(Linh Nguyễn)
TÒA SOẠN: Tựa đề bản tin này đã được sửa lại, thể hiện lòng kính trọng người quá cố và tang quyến.

Thursday, March 21, 2019

Hảy trả lại sự thật cho người lính VNCH ! - LS. Lê Trọng Quát.

    - Đề tài do ban tổ chức của Trung Tâm Điều Hợp TTCSVNCH Âu Châu đề nghị với tôi phát xuất từ một lý do quan trọng, không những đối với Quân lực VNCH mà đối với cả VNCH và nhân dân Miền Nam VN nói chung. Sự thật của cuộc chiến tranh Việt Nam đã bị bóp méo một cách qui mô và tàn nhẫn trong suốt cuộc chiến xâm lăng Miền Nam. Ngay đến bây giờ, trong ký ức của một số thành phần dư luận thế giới, đặc biệt trong các giới thiên tả, hình ảnh của người lính VNCH vẫn trái với sự thật khách quan .
 - Vì vậy, chiều nay tại kinh đô «  ánh sáng » này của nước Pháp, nhân cử hành lễ tưởng niệm Ngày Quân Lực VNCH, chúng ta có bổn phận đả phá các luận điệu xuyên tạc gian trá và nói lên sự thật khách quan nhất, không cần phải tô điểm một chút nào, sự thật về chân dung, về sứ mạng, về những thành tích và hy sinh của người chiến sĩ VNCH.
- Chúng ta làm bổn phận này, không những đối với anh linh của những chiến hữu của chúng ta mà còn đối với danh dự của chính chúng ta, những người đã cống hiến cả tuổi xuân hay cả cuộc đời cho Đất nước, cho Tổ Quốc Việt Nam, và hơn nữa, đối với con cháu chúng ta và lịch sử mai sau.
- Đây không phải là lần đầu tiên cũng không phải là lần cuối cùng mà chúng ta đả phá những luận điệu dối trá, thiên vị, cốt để hạ nhục người lính VNCH và từ đấy bôi nhọ luôn cả chính nghĩa của cuộc chiến đấu kiêu hùng của quân dân ta chống Cộng sản xâm lược.
- Vậy sự thật đa bị bóp méo như thế nào ?
- Đi lùi lại bảy tám năm trước khi quân đội ta mang danh xưng Quân Lực VNCH nghĩa là từ năm 1947,1948 trở đi, người chiến sĩ quốc gia đã hy sinh xương máu của mình để bảo vệ tự do cho toàn dân cả nước từ Bắc chí Nam chống cộng sản đang chiếm giử một phần lãnh thổ. Quân đội quốc gia thời ấy là tiền thân của quân lực VNCH sau này và lần lượt lớn mạnh gồm các đơn vị chính qui với sự trợ lực của các lực lượng phụ thuộc .
- Từ năm 1948, tại Vịnh Hạ Long ở Bắc Việt, Pháp đã chấp nhận trao trả độc lập cho Việt Nam với Quốc trưởng Bảo Đại và tiếp theo, Chính phủTrung Ương được thành lập, nhưng cộng sản vẫn tiếp tục đánh phá vì chúng nhất quyết thi hành chủ trương của cộng sản quốc tế ( Hồ Chí Minh là cán bộ cộng sản quốc tế từ 1920) là phải nhuộm đỏ bán đảo Đông Dương. Vì vậy, chúng xem nhửng người Việt quốc gia yêu nước là kẻ thù và. ngoại bang như Nga Sô và Trung Cọng (từ 1949) là cha đở đầu, hổ trợ toàn diện cho chúng «  thi hành nghĩa vụ quốc tế nhuộm đỏ ba nước Việt Miên, Lào …. » .
- Một chiến lược tuyên truyền rông lớn của CS khởi đầu từ đó nhằm bôi nhọ các chiến sĩ quốc gia : nào là lính đánh thuê cho thực dân Pháp, rồi lính đánh thuê cho Mỹ, rồi Mỹ Ngụy. Cộng sản đã dùng một cụm từ không thề nặng nề hơn để lường gạt đồng bào trong nước về sứ mạng cao quí và hiểm nguy của người lính quốc gia, người lính VNCH, hy sinh thân mạng để bảo vệ đồng bào, bảo vệ tổ quốc……nhưng ngụy luận tuyên truyền ấy đã không có hiệu quả ở trong nước vì đồng bào đã chung sống hằng ngày với các binh sĩ ta, đã chứng kiến những cảnh chiến tranh, phá hoại, khủng bố, tàn sát của cộng sản. Trong lúc ấy, họ thấy tận mắt chiến sĩ ta anh dũng chiến đấu, bất kể thương vong để bảo vệ họ, bảo vệ xóm làng, bảo vệ từng tất đất của lãnh thổ quốc gia.
- Thế nhưng, những luận điệu tuyên truyền gian dối ấy đã lần hồi thấm nhập đầu óc của nhiều thành phần dân chúng Tây phương mà oái oăm thay một số quốc gia lại là đồng minh hay thân hữu của chúng ta, tôi muốn nói Hoa Kỳ, Pháp, các nước Bắc Âu với các tổ chức «   phản chiến », chúng xem chúng ta và đồng minh của chúng ta là những kẻ gây chiến !
- Khỏi phải nói đến những luận điệu tuyên truyền của CS quốc tế tiếp vận bài bản tuyên truyền láo khoét và thô bạo của CSVN, một phần lớn truyền thông đại chúng Tây phương, thuộc khuynh hường thiên tả đã đành mà ngay cả một số báo chí và bình luận gia không màu sắc chính trị cũng bị ảnh hưởng không ít, hoặc vì không cưỡng lại được sức ép của đám tả khuynh được gọi là khủng bố trí thức ( terrorisme intellectuel), hoặc vì nghe mãi rồi đâm ra tin là thật ! Ngoài ra, tại Pháp, vì thành kiến chống Mỹ khá nặng nên sự tham chiến của Mỹ để giúp VNCH chống CS xâm lược đã bị một phần khá lớn dư luận cho là một sự « can thiệp thô bạo » của đế quốc tư bản Mỹ………….
- Ngoài cụm từ vu khống lính đánh thuê, chúng còn nặng lời miệt thị chiến sĩ ta nào là hèn nhát, thiếu tinh thần chiến đấu, vv……nhưng vượt lên trên tất cả là : qua hình ảnh người lính VNCH đã được tạo dựng lên một cách man trá, CSVN, CS quốc tế,bọn bồi bút và bọn ngụy trí thức tả khuynh Phương Tây, tất cả bọn chúng nhằm đánh đổ chính nghĩa của cuộc chiến đấu của quân, dân ta đặng tung hỏa mù che đậy cuộc chiến tranh xâm lược trắng trợn của CS Bắc Việt, tên lính tiền phong của CS quốc tế với tham vọng nhuộm đỏ ba nước Việt, Miên, Lào và tiến chiếm Mả Lai, Thái Lan, xích hóa phần thiết yếu chiến lược của Đông Nam Á Châu.
- Để chận đứng ý đồ bành trướng ấy của CSQT , Hiệp Ước Liên Phòng Đông Nam Á ( South East Asia Treaty Organization – Organisation du Traité de l’Asie du Sud Est ) đã được thành lập ngày 8 tháng 9 năm 1954 gồm sáu quốc gia Hoa Kỳ,Anh,Úc,Tân tây lan, Phi Luật Tân,Thái lan sau khi Pháp thất bại ở chiến trường Bắc Việt.
- Giữa lúc CSVN đem xương máu của cả triệu đồng bào Miền Bắc nước ta cống hiến cho nghĩa vụ quốc tế của chúng và xâm lăng Miền Nam
thì người chiến sĩ quốc gia , và trong suốt 20 năm sau cùng của cuộc chiến, từ 1955 đến 1975, người lính VNCH đã anh dũng chiến đấu bảo vệ nửa giang sơn còn lại của tổ quốc sau khi đất nước bị phân chia theo Hiệp định Genève 1954.
- Chính nghĩa sáng ngời của quân, dân Miền Nam đã un đúc tinh thần cao cả của người chiến sĩ VNCH khắp các chiến trường khiến các chiến hữu Đồng minh từ các tướng lãnh đến hàng binh Mỹ, Úc, Hàn, đều khâm phục. Dù tỷ lệ thương vong của quân ta không đến một phần năm của Cọng quân nhưng non hai trăm ngàn chiến sĩ ta đã hy sinh hoặc tàn phế trong suốt cuộc chiến. Tinh thần cao cả và khả năng tác chiến của quân sĩ ta là yếu tố quan trọng có tính cách quyết định trong các chiến thắng lẫy lừng đánh tan quân địch trên các chiến trường lớn trong chiến dịch Đông Xuân thảm bại của CSBV 1967-1968 với một trăm năm mươi ngàn cán binh CS thiệt mạng, từ thị trấn Lộc Ninh đến Dakto,Cồn Thiên, Khe sanh,- căn cứ do quân lính Mỹ đồn trú,- và cuối chiến dịch là cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân,tháng giêng 1968 tại nhiều tỉnh thành từ Sài Gòn đến Huế, nơi mà chúng chiếm giử lâu nhất trước khi bị quân ta và đồng minh đánh bại. Tái chiếm cố đô Huế, quân ta đã reo hò chiến thắng kéo quốc kỳ lên kỳ đài còn nguyên vẹn trước Hoàng cung Đại Nội.
- Sau khi chỉnh đốn và bù đắp quân ngủ đã bị thiệt hại nặng nề, Cọng quân lại mở một chiến dịch qui mô từ ngày 30 tháng 3, 1972, vừa để áp lực các thương thuyết gia Mỹ tại bàn hội nghị Paris, vừa chứng tỏ cho quan thầy Trung Cộng biết khả năng đánh lớn của chúng để ngăn ngừa Mao Trạch Đông nhượng bộ tổng thống Hoa Kỳ Nixon và Kissinger vừa viếng thăm họ Mao trong tháng 2 trước đấy.
- Cuộc tổng tấn công qui mô này nhắm vào tỉnh Quảng Trị ở địa đầu phía Bắc của VNCH tiếp đến là Kontum, Pleiku ở vùng Cao nguyên Trung phần đổ xuống tỉnh Bình Định giáp biển, cắt đứt Miền Trung ở đoạn giữa và xa hơn tại Nam Phần là An Lộc, tỉnh lỵ của tỉnh Bình Long chỉ cách Sài Gòn khoảng 100 km về phía Tây bắc. Hơn 120 000 quân CSBV được xử dụng, cọng thêm bọn VC địa phương.Tại An Lộc, hơn 40 chiến xa hạng nặng của Nga Sô xuất hiện. Đây là lần đầu tiên mà chúng xử dụng qui mô loại chiến xa này cùng với bộ binh đến cấp trung đoàn và nhiều sư đoàn.
- Nhưng quân ta đã thắng lớn trên khắp các mặt trận: Trong Mùa hè Đỏ lữa, tỉnh lỵ Quảng Trị đã được quân ta tái chiếm ngày 16.91972, sau những đợt phản công dữ dội, đẫm máu, hơn sáu ngàn quân địch đã bỏ mình tại Cỗ Thành. An Lộc đã đứng vững và giải tỏa sau hơn hai tháng chiến đấu mãnh liệt, quân ta đã đánh tan bốn sư đoàn địch và hủy diệt tất cả chiến xa của chúng.
- Trong hai trận chiến lớn Quảng Trị và An Lộc mà quân ta đã chiến thắng vẻ vang, không lực Hoa Kỳ đã tích cực yểm trợ và chịu một số thiệt hại nhưng quân ta đã hy sinh không ít xương máu đế quyết định thắng lợi vĩ đại cuối cùng. Lịch sử chiến tranh cận đại với vai trò càng ngày càng quan trọng của không quân vẫn xác định tính cách quyết định tối hậu của bộ binh mà các chiến lược gia quân sự xem như là Nữ Hoàng của trận chiến ( La reine de la bataille).Bộ binh trong hai chiến trường lớn ấy là các chiến sĩ VNCH.
- Vâng, quân lực ta, chiến sĩ ta, đã được vinh danh là những chiến binh can đảm, nhiều lúc phi thường, bởi những quan sát viên ngoại quốc khách quan, và ngay cả bởi một số truyền thông quốc tế vốn thiếu thiện cảm với Miền Nam chúng ta vì khuynh hướng chính trị của họ.Các binh chủng Nhảy Dù, Thủy quân lục chiến, Biệt Động quân, các sư đoàn bộ binh như sư đoàn 1 chẳng hạn, các đơn vị người Nhái, các Lực Lượng Biệt Kích tung vào đất địch, v…v…..đã nhiều lần được ca ngợi dù tiếng vang trung thực này lắm lúc bị ngăn cản bởi tiếng động của hòa âm « phản chiến »của cộng sản quốc tế, của dư luận tả khuynh, của những thành phần không có ác ý nhưng bị đầu độc bởi các luận điệu tuyên truyền gian trá v.v………
- Thế nhưng, sẽ là một thiếu sót lớn trong việc phục hồi sự thật về người lính VNCH nếu tôi không mạnh dạn đề cập ngay đây vụ tan rã hàng ngũ của quân ta trong trận chiến cuối cùng ở Vùng 1 và Vùng 2 chiến thuật tại Trung Phần và Cao Nguyên Trung Phần VN. Vụ rã ngũ này đưa đến sự thất bại của quân ta và Miền Nam lọt vào tay địch.
- Trước hết, cần phải hiểu rằng một trận chiến, dù lớn đến đâu, cũng phải nằm trong toàn bộ của cuộc chiến ở một giai đoạn, một thời điểm nào đó. Vụ triệt thoái Cao Nguyên mở đầu cho bi kịch. Lý do chiến lược của việc hy sinh hai Vùng chiến thuật 1 và 2 đã được bàn đến một cách nghiêm chỉnh khoảng một năm trước vì với sự cắt giảm tối đa viện trợ quân sự HK, quân lực ta không thể bảo vệ được toàn bộ lãnh thổ.nên phải thu hẹp chu vi bảo vệ trong hai Vùng 3 và 4. Tôi có tham dự một buổi họp về vấn đề này tại nhà Phó thủ tướng Nguyễn Lưu Viên cùng đại diện các chính đảng trong mặt Trận 6 chính đảng, và một tướng lãnh trình bày tình hình quân sự.
- Một cuộc rút quân dù một đơn vị cũng nguy hiểm huống hồ rút quân của gần cả một quân đoàn từ Cao Nguyên về Duyên Hải ( Tuy Hòa) đem theo gia đình binh sĩ và dân chúng địa phương, không thể nào thực hiện được trọn vẹn với ba ngày chuẩn bị, lại dưới sự săn đuổi của địch đang thừa thắng xông lên. Một vụ rút quân của quân đội Liên Hiệp Pháp ra khỏi một căn cứ quân sự như Na Sàn chẳng hạn đã phải nghiên cứu chuẩn bị vài tháng trước trong tuyệt đối bí mật và thi hành nhiều mưu mẹo để tránh khỏi bị địch tấn công dọc đường.
- Trong một tình trạng triệt thoái như vậy, làm sao trách cứ được người lính chiến đã không làm tròn nhiệm vụ của mình. Tuy vậy một số đơn vị đã anh dũng chiến đấu như trường hợp một đại đội Biệt Động Quân đã cận chiến mãnh liệt với địch.Hiện tượng tan rã bắt đầu từ đấy Nhưng phát súng ân huệ dành cho quân lực ta là sự bỏ rơi hoàn toàn của người đồng minh Hoa Kỳ từ mấy tháng trước, khi ngân khoản viện trợ quân sự chưa được xử dụng gần bốn trăm triệu mỹ kim đã bị quốc hội Mỹ từ chối tháo khoán cho ta để dùng mua bom đạn và nhiên liệu cần thiết cho trận chiến sôi động. Quân ta cũng chỉ được dùng hai quả bom CBU gây thiệt hại nặng và kinh hoàng cho Cọng quân đang bao vây quân ta ở tỉnh Long Khánh.
- Một mình đương cự với toàn lực Cọng quân Bắc Việt được cả Khối Cọng sản Nga, Tàu và Đông Âu hổ trợ tối đa trước và trong cuộc tổng tấn công mùa Xuân 1975, quân lực VNCH đã biểu dương cho thế giới khả năng và tinh thần cao cả của người chiến sĩ quốc gia Việt Nam đã chiến đấu và hy sinh cho Tổ quốc của mình , cho dân tộc của mình trong một cuộc chiến tranh dài nhất trong lịch sử cận đại của nhân loại.
- Hôm nay, kỷ niệm Ngày Quân Lực, chúng ta thành tâm tưởng nhớ đến tất cả các chiến sĩ anh hùng của chúng ta đã hiến dâng cuộc đời của mình cho chúng ta được sống tự do cho đến ngày tạm biệt quê hương
Họ đã từ giả cuộc đời nhưng sẽ sống mãi trong lòng dân tộc và Hồn thiêng của các chiến hữu của chúng ta đã quyện vào trong hồn thiêngcủa Đát Nước Việt Nam bất diệt.
Tôi xin quý Vị và các bạn cùng tôi san sẻ niềm tin sâu sắc ấy.
Xin kính chào quý Vị, thân mến chào các bạn.
Lê Trọng Quát