Friday, April 16, 2021

Trở lại trận Ban Mê Thuột 1975 – Lữ Giang

LTG: Bài này đã được viết và phổ biến trên tuần báo Saigon Nhỏ ngày 29.4.2005 để ghi nhớ 30 năm ngày mất miền Nam. Mới đó mà đã 10 năm rồi! Năm nay để ghi nhớ 40 năm ngày mất Miền Nam và rút kinh nghiệm lịch sử, chúng tôi hoàn chỉnh lại với một số tài liệu mới.

Để có thể hiểu một cách dễ dàng trận đánh Ban Mê Thuộc, chúng tôi xin tóm lược kế hoạch đánh chiếm miền Nam của Hà Nội lúc đó như sau: Khai thông con đường Đông Trường Sơn (tức đường 14) đưa quân vào Phước Long rồi đánh thẳng vào Sài Gòn, bỏ qua các tỉnh niền Trung. Muốn khai thông con đường này, phải phá hai cái chốt quan trọng mới đi qua được: Năm 1974 phá cái chốt Thường Đức ở phía tây Đà Nẵng, năm 1975 phá cái chốt Đức Lập ở phía tây Ban Mê Thuột và đưa lực lượng xuống Phước Long. Năm 1976 sẽ đánh vào Sài Gòn. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Tướng Ngô Quang Trưởng và Tướng Phạm Văn Phú có khả năng về quân sự thấp, không có tầm nhìn chiến lược, nên đoán mò và trúng kế đối phương, làm mất miền Nam một cách nhanh chóng.

Lữ Giang

Nhân kỷ niệm 30 năm ngày chiếm Ban Mê Thuột, trong một cuộc phỏng vấn đăng trên nhật báo Nhân Dân của Đảng CSVN số ra ngày 10.3.1975, Thượng Tướng Hoàng Minh Thảo, tư lệnh Mặt Trận Tây Nguyên, đã nói rằng sở dĩ Buôn Ma Thuột được lựa chọn vì đây là điểm mà lực lượng miền Nam Việt Nam ít chú ý hơn, có nhiều sơ hở và thuận lợi cho các đơn vị lớn hoạt động. Hơn nữa, miền Nam Việt Nam và cả các cố vấn Mỹ vẫn tin rằng miền Bắc chưa đủ sức đưa quân vào Ban Mê Thuột vào thời điểm đó.

Khi được đài BBC phỏng vấn, Tướng Thảo trả lời còn tệ hơn, ông chỉ lặp lại những luận điệu bố lếu bố láo cũ đã lỗi thời khiến người nghe phải bực mình. Điều này cũng dễ hiểu thôi: Tướng Hoàng Minh Thảo là cấp thừa hành, chỉ đâu đánh đó, có trình độ văn hóa thấp và chỉ có tầm nhìn chiến thuật, nên không thể biết được kế hoạch của Bộ Chính Trị và Quân Ủy Trung Ương ở Hà Nội như thế nào.

Cách đây 25 năm, khi mới đến Hoa Kỳ, chúng tôi đã viết một bài đầu tiên về trận đánh Ban Mê Thuột đăng trên báo Thời Luận ở Los Angeles, căn cứ vào các cuộc phỏng vấn các nhân chứng ở trong tù. Bài đó đã làm đảo ngược lại cách nhìn về những ngày ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa. Trước đó, một số người đi trước, nhất là Phạm Huấn, cứ nghĩ rằng các nhân chứng sẽ không bao giờ tới được đất Mỹ, nên đã viết phịa sử một cách thoải mái!

Nay đã 40 năm, thời gian đủ để cho chúng ta sưu tầm tài liệu, gạn lọc và suy nghĩ để trình bày lại vấn đề một cách chính xác hơn.

KẾ HỌACH CỦA CỘNG QUÂN

Như chúng tôi đã nói trong số báo ra ngày 11.3.2005, muốn chiếm miền Nam một cách nhanh chóng, kế hoạch của Hà Nội là phải đánh thẳng vào Sài Gòn, đầu não của miền Nam, bỏ qua các tỉnh miền Trung. Muốn thực hiện điều đó, Tướng Văn Tiến Dũng cho biết Hà Nội đã quyết định cho làm lại con đường Đông Trường Sơn, tức Quốc Lộ 14, bắt đầu từ Khe Hó ở Quảng Trị, xuống tận Tà Thiết ở Bình Long, tức vùng Chiến Khu Đ. Công trình này đã được khởi sự từ năm 1973, xử dụng khoảng 30.000 bộ đội và thanh niên xung phong. Khi làm con đường này, có hai cái chốt phải nhổ mới có thể khai thông được, đó là Thường Đức ở phía tây Đà Nẵng và Đức Lập, ở phía tây Ban Mê Thuột.

Trong cuốn “Kết Thúc Cuộc Chiến Tranh 30 Năm” Tướng Trần Văn Trà cho biết vào tháng 10 năm 1974, ông và Phạm Hùng ra Bắc họp, Bộ Chính Trị đã ra lệnh tại Nam Tây Nguyên phải mở hành lang chiến lược đoạn Đức Lập cho thông suốt. Năm 1976 sẽ bắt đầu đánh lớn.

Tại sao phải chiếm Đức Lập?

Đức Lập thuộc tỉnh Quảng Đức, một tỉnh nằm ở phía nam Ban Mê Thuột và sát vùng ngả ba biên giới Việt – Miên- Lào. Năm 1910, một người Pháp tên là Henri Maitre đi thám hiểm vùng Tây Nguyên đã khám phá ra vùng ba biên giới này. Nhưng khi người Pháp đến lập các căn cứ tại đây thì bị người Thượng chống trả rất quyết liệt. Năm 1932, Đại Úy Mallard từ Bandon thuộc tỉnh Darlac, đã theo sông Dak Dam đi lên và khám phá ra vùng DAKMIL nằm sát vùng Tam Biên là nơi có đất rất tốt, nên xin bình định và lập một đồn tại đây để kiểm soát và khai thác. Sau đó, Pháp đã cho làm một liên tỉnh lộ nối liền Bandon với Darmil dài 55 cây số và đặt tên là Liên tỉnh lộ 6. Vùng Dakmil là quận Đức Lập sau này.

Quốc Lộ 14, sau khi chạy qua Ban Mê Thuột, đã đi vào Đức Lập rồi chia thành hai nhánh, một nhánh đi thẳng qua Phước Long và Bình Long, nối liền với đầu Quốc Lộ 13, một nhánh đi về Gia Nghĩa rồi quẹo qua Kiến Đức, vào Phước Long và gọi là Quốc Lộ 14B.

Năm 1959, khi các hoạt động của Cộng quân gia tăng ở vùng Cao Nguyên và Chiến Khu Đ, chính phủ Ngô Đình Diệm đã quyết định thành lập tỉnh Quảng Đức để kiểm soát vùng Tam Biên và chặn đường đi xuống Chiến Khu Đ của Cộng quân. Tỉnh này gồm 3 quận là Kiến Đức, Khiêm Đức và Đức Lập. Tỉnh lỵ đặt tại Gia Nghĩa.

Để khai thông Thường Đức, trong hai tháng 7 và 8 năm 1974, Cộng quân đã huy động gần 3 sư đoàn thiện chiến để thanh toán cái chốt này. Sau đó, Cộng quân làm khúc đường 14 từ Quảng Nam đến Phước Long ở cả hai chiều cùng một lúc, một chiều từ Phước Long đi lên Quảng Đức và một chiều từ Quảng Nam đi vào. Tại khúc Kontum, Pleiku và Ban Mê Thuột, Quân Lực VNCH đang trần đóng trên quốc lộ 14, nên Cộng quân phải làm con đường thứ hai đi vòng sau Kontum, Pleiku và Ban Mê Thuột để vào Quảng Đức và đặt tên là Quốc Lộ 14A. Khi tới Đức Lập, con đường bị kẹt ở đây nên Cộng quân phải thanh toán Đức Lập bằng mọi giá. Tuy nhiên, chiếm xong Đức Lập mà muốn giữ vững cái chốt này, phải chiếm luôn Ban Mê Thuột vì từ Ban Mê Thuộc, quân lực VNCH có thể đánh chiếm lại.

Ban Mê Thuột là tỉnh lỵ của tỉnh Darlac, có độ cao khoảng 536 thước và cách Sài Gòn 353 cây số. Vùng đất này ngày xưa thuộc sắc tộc Rhadé Kpa, do Tù Trưởng Ama Y Thuột cai quản (có sách viết là Maya Thuột). Theo truyền tụng, trước đây Ban Mê Thuột được gọi là Buôn Ma Thuột, vì theo thổ ngữ của sắc tộc Rdadé, Buôn có nghĩa là làng hay ấp, Ma là ông, còn Thuột là tên riêng. Buôn Ma Thuột là làng của ông Thuột. Năm 1923 tỉnh Darlac được thành lập và đặt dưới quyền cai trị của Công Sứ Sabatier. Đây là một vùng đất phì nhiêu và là cửa ngỏ quan trọng của đường giao thông từ Tây Nguyên xuống Nam Phần.

KHÔNG NHẬN RA KẾ HOẠCH CỦA ĐỊCH

Như chúng tôi đã trình bày trong số ra ngày 1.4.1975, trong cuộc họp vào đầu tháng 10 năm 1974 tại Dinh Độc Lập, Tướng Phạm Văn Phú đã nhận định: “Đối phương có thể đẩy nỗ lực chính vào việc đánh mạnh Kontum – Pleiku, cắt đường 14, đường 19 (nối Quy Nhơn với Pleiku).”
Ông không tiên đoán được Cộng quân sẽ đánh Đức Lập và Ban Mê Thuột để khai thông đường Đông Trường Sơn. Cộng quân không hề định đánh Kontum hay Pleiku như ông đoán.

Tướng Nguyễn Văn Thiệu cũng không nắm vững chiến lược và chiến thuật của Cộng quân nên đã nhận định rất vu vơ: “Có thể Cộng Sản sẽ mở tiến công trong Đông – Xuân, quy mô lớn hơn 1972, kéo dài cả năm. Mục tiêu chung nhằm đánh phá bình định và diệt nguồn sinh lực của ta. Có thể Cộng Sản đánh chiếm Quảng Trị trên cơ sở cô lập Huế – Đà Nẵng. Lấy Kontum để áp lực Bắc Bình Định, lấy Tây Ninh làm thủ đô và ung thối đồng bằng sông Cửu Long.”

Tướng Trần Văn Minh, tư lệnh Không Quân, đã báo cáo rằng theo không ảnh, Cộng quân đã khai thông được đường Đông Trường Sơn và hệ thống ống dẫn dầu đã phát triển tới tây bắc Bến Giằng (tức Thường Đức, Quảng Nam). Nhưng chẳng ai thèm để ý.

TIN TỨC TÌNH BÁO DỒN DẬP

Đại Tá Trịnh Tiếu, trưởng Phòng 2 của Quân Đoàn 2, kể lại rằng nhờ hệ thống truyền tin điện tử, Quân Đoàn 2 VNCH đã mở được hầu hết các khóa mật mã của Cộng Quân đánh đi. Nhờ vậy, từ tháng 12 năm 1974 Quân Đoàn 2 đã biết được Cộng quân đang chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột.

Đại Tá Phùng Văn Quang, trung đoàn trưởng Trung Đoàn 45 thuộc Sư Đoàn 23 cho biết một tiểu đoàn của Trung Đoàn 45 đang hành quân trên Quốc Lộ 14 gần quận Thuần Mẫn thì một cán binh Việt Cộng ra xin đầu thú. Anh ta khai tên là Sinh (có người nói là Sính), một sĩ quan truyền tin, có nhiệm vụ bắt đường dây điện thoại ngang qua Quốc Lộ 14 nối liền Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 320 ở phía tây quốc lộ này với một đơn vị đang đóng ở quận Thuần Mẫn. Khi điều tra thì khám phá ra anh ta chỉ là một thượng sĩ chớ không phải sĩ quan. Vì giữ nhiệm vụ truyền tin, anh ta biết khá nhiều về kế hoạch hành quân của Sư Đoàn 320 và các đơn vị phối hợp. Anh cho biết Sư Đoàn 320 đang đóng ở phía tây Quốc Lộ 14 gần quận Buôn Hô và đang chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột. Khi tin này được báo về Quân Đoàn 2, Tướng Phú ra lệnh Trung Đoàn 45 cho một tiểu đoàn hành quân lục soát hai bên quốc lộ 14, từ Ban Mê Thuột đến Pleiku để phát hiện Cộng quân. Đại Tá Quang nói ông đã cho lục soát nhưng không thấy gì. Sau này ông tiết lộ rằng tiểu đoàn đó chỉ lục soát mỗi bên Quốc Lộ 14 khoảng 1 cây số, trong khi Sư Đoàn 320 đóng xa quốc lộ đến 5 cây số nên không thể phát hiện được. Sau khi đưa ra nhiều hứa hẹn, tên Sinh đồng ý hướng dẫn trực thăng đến trên vùng Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 320 đang đóng. Đại Tá Quang nói rằng theo sự chỉ dẫn của tên Sinh, ông đã nhìn thấy phía dưới các cơ sở chứng minh có Cộng quân đang đóng quân tại đó và đã báo cáo cho Tướng Phú biết.

Mặc dầu có tin Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 320 đã chuyển từ Kontum về phía bắc Ban Mê Thuột, nhưng cơ quan truyền tin của Quân Đoàn 2 cho biết họ vẫn nhận được các tín hiệu truyền tin của Sư Đoàn này phát đi từ một căn cứ ở Kontum. Căn cứ vào báo cáo này, Tướng Phú cho rằng Sư Đoàn 320 vẫn còn tại Kontum và những lời khai của tên Sinh chỉ là một kế nghi binh của Cộng quân để đánh Pleiku.

Trong thực tế, Sư Đoàn 320 đã chuyển về phía bắc Ban Mê Thuột nhưng tiếp tục cho phát các tín hiệu truyền tin từ Kontum để đánh lạc hướng.

Đầu tháng 2/1975, Phòng 2 Quân Đoàn khám phá ra một thông báo của Cộng quân về cuộc họp vào ngày 1.2.1975 của Tư Lệnh các Sư Đoàn 320, F.10 và 968 tại vùng phía tây Đức Cơ để khai triển chiến dịch 275. Thông báo này do một người tên Tuấn ký tên. Tuấn là một trong những bí danh của Văn Tiến Dũng.

Một nữ du kích hồi chánh ở Ban Mê Thuột cho biết Trung Đoàn 25 của Cộng quân đã được lệnh ăn Tết trước để chuyển quân về vùng Khánh Dương ở phía đông Ban Mê Thuột và một số đơn vị thuộc Sư Đoàn F.10 đã có mặt xung quanh quận Đức Lập, phía tây nam Ban Mê Thuột. Các thợ rừng báo cáo họ thấy nhiều đơn vị Cộng quân lẩn quẩn trong vùng phía bắc và phía tây Ban Mê Thuột… Những tin tức này cho thấy Cộng quân đang chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột.

Trung Tá Ngô Văn Xuân, trung đoàn trưởng Trung Đoàn 44, cho biết vào Tết Ất Mão (1975), Trung Đoàn 44 đang đóng ở căn cứ 801, cách tỉnh lỵ Pleiku khoảng 20 cây số về hướng tây bắc, đã được Quân Đoàn 2 chỉ định tiếp đón tổng thống đến ăn Tết. Đúng 12 giờ trưa ngày mồng một Tết (11.2.1975), tổng thống từ Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 đến Trung Tâm Hành Quân của Trung Đoàn 44 bằng trực thăng cùng với các Tướng Trần Văn Trung, Lê Nguyên Khang và Phạm Văn Phú. Tại đây, Trung Tá Điều Ngọc Chuy, trưởng Phòng 2 Sư Đoàn 23, đã trình bày về tình hình chung của các khu vực trách nhiệm đang do Sư Đoàn 23 trấn giữ, đặc biệt nhấn mạnh đến chi tiết về cung từ của một cán binh Cộng Sản thuộc Sư Đoàn 320 ra đầu thú cho biết rõ các chi tiết Cộng quân đang chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột. Tổng thống có vẽ đăm chiêu rồi quay lại hỏi Tướng Phú. Tướng Phú nhận định rằng có thể Việt Cộng đưa ra một kế trá hàng nhằm đánh lạc hướng chú ý của ta. Theo ông, Pleiku là điểm, Ban Mê Thuột chỉ là diện, bởi vì Pleiku có cơ sở đầu não là Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2. Nếu Cộng quân tiêu diệt được cứ điểm này, chúng sẽ dễ dàng làm chủ được toàn bộ Cao Nguyên và tỏa xuống khu vực duyên hải. Tổng Thống Thiệu suy nghĩ trong giây lát, rồi ra lệnh cho Tướng Phú đưa toàn bộ Sư Đoàn 23 về lại Ban Mê Thuột. Tổng Thống nói địa thế Pleiku là khu vực trống trải, bao gồm nhiều đồi thấp và trọc, có tầm quan sát rộng, Cộng quân không bao giờ dám đương đầu trên những khoảng trống như vậy. Tổng Thống hứa sẽ cho thêm một Liên Đoàn Biệt Động Quân để làm lực lượng trừ bị. Tướng Phú đáp: “Xin tuân lệnh!”

Sau khi nghe thuyết trình, Tổng Thống Thiệu không đi Kontum như đã dự định mà đến Ban Mê Thuột và Quảng Đức để thăm và ủy lạo các binh sĩ.

Đại Tá Trịnh Tiếu cho biết ngày 15.2.1975, Tướng Phú đã mở một cuộc họp tại Quân Đoàn 2 để kiểm điểm tình hình trong Quân Khu 2, có Lãnh Sự Mỹ ở Nha Trang lên tham dự. Đại Tá Tiếu đã trình bày thêm các tài liệu cho biết Cộng quân sẽ đánh Ban Mê Thuột, nhưng Tướng Phú cứ chần chờ, không chịu ra lệnh chuyển quân.

Trung Tá Ngô Văn Xuân cho biết đến ngày 17.2.1975 Tướng Phú mới triệu tập phiên họp để đặt kế hoạch chuyển quân về Ban Mê Thuột theo lệnh tổng thống. Theo kế hoạch này, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 sẽ di chuyển bằng đường bộ, khi qua khu đèo Tử Sĩ, Trung Đoàn 45 sẽ đi theo tháp tùng. Trung Đoàn 44 đợi một Liên Đoàn Biệt Động Quân đến thay thế trong vòng 3 ngày và sẽ đi sau.

Tám giờ sáng ngày 18.2.1975, đoàn quân tập trung tại căn cứ Hàm Rồng để khởi hành, nhưng đến 11 giờ Tướng Phú ra lệnh hủy bỏ việc chuyển quân. Ông nói Cộng quân sẽ đánh Pleiku và việc Cộng quân chuyển quân quanh Ban Mê Thuột là để nghi binh mà thôi. Lệnh của Tướng Phú đã làm cả Quân Đoàn 2 ngạc nhiên.

PHỐI TRÍ LỰC LƯỢNG CỦA HAI BÊN

I.- Phối trí của Quân Lực VNCH: Cao Nguyên Trung Phần gồm bốn tỉnh: Kontum, Pleiku, Darlac và Quảng Đức. Tướng Phạm Văn Phú đã phối trí quân để phòng thủ Cao Nguyên như sau:

1.- Mặt trận Kontum: Mặt Trận này do Đại Tá Phạm Duy Tất, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân Quân Khu 2 chỉ huy, gồm có:

– Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân với Tiểu Đoàn 96 đóng ở đèo Chu Pao và Tiểu Đoàn 72 đóng ở Kontum. Tiểu Đoàn 89 biệt phái cho Liên Đoàn 6 Biệt Động Quân đóng tại nam Kontum.
– Liên Đoàn 22 Biệt Động Quân với Tiểu Đoàn 95 đóng tại Trương Nghĩa phía tây Kontum, Tiểu Đoàn 88 đóng tại Ngọc Bay ở phía tây bắc Kontum và Tiểu Đoàn 62 đóng tại Kontum.
– Liên Đoàn 23 Biệt Động Quân với ba Tiểu Đoàn 11, 22 và 23 đóng ở phía bắc Kontun, dọc theo quốc lộ 14.

Về sau, Bộ Tổng Tham Mưu gởi Liên Đoàn 6 Biệt Động Quân đến tăng cường cho Cao Nguyên với hai Tiểu Đoàn 35 và 36 đóng ở phía đông và đông bắc Kontum. Tiểu Đoàn 52 được tăng cường cho Liên Đoàn 25 Biệt Động Quân tại Thanh An, Pleiku.
Như vậy có 4 Liên Đoàn Biệt Động Quân trấn giữ Kontum. Tướ
ng Phú rất sợ Cộng quân sẽ mở một cuộc tấn công vào Kontum như “mùa hè đỏ lửa” năm 1972.

2.- Mặt trận Pleiku: Mặt trận này do Chuẩn Tướng Lê Trung Tường, Sư Đoàn Trưởng Sư Đoàn 23 chỉ huy, gồm có:

– Trung Đoàn 44 đóng ở căn cứ 801 cách tỉnh lỵ Pleiku 20 cây số về phía tây.
– Trung Đoàn 45 đóng ở căn cứ Gầm Ga, phía bắc quận Thuần Mẫn, gần đèo Tử Sĩ, dọc theo quốc lộ 14, giữa Ban Mê Thuột và Pleiku.
– Liên Đoàn 25 Biệt Động Quân với ba Tiểu Đoàn 67, 76 và 90 đóng tại Thanh An, phía tây Pleiku.

Sau này, Bộ Tổng Tham Mưu gởi thêm Liên Đoàn 4 Biệt Động Quân đến Pleiku với Tiểu Đoàn 42 đóng tại Ban Can phía đông Pleiku, trên quốc lộ 19; Tiểu Đoàn 43 đóng tại Hàm Rồng và Tiểu Đoàn 44 đóng tại Pleiku. Sau khi Ban Mê Thuột bị thất thủ, Liên Đoàn 7 Biệt Động Quân được phái đến thay hai Trung Đoàn 44 và 45 của Sư Đoàn 23 để hai Trung Đoàn này đi chiếm lại Ban Mê Thuột.

Bộ Tư Lệnh Hành Quân của Sư Đoàn 23 đặt tại Hàm Rồng, cách tỉnh lỵ Pleiku 12 cây số về phía nam, cùng với Tiểu Đoàn 43 của Liên Đoàn 4 Biệt Động Quân.

3.- Mặt trận Ban Mê Thuột và Quảng Đức: Mặt Trận này do Đại Tá Vũ Thế Quang, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 23 chỉ huy, gồm có:

– Trung Đoàn 53 với hai Tiểu Đoàn 1 và 3 đóng tại căn cứ B.50 ở phi trường Phùng Dực và Tiểu Đoàn 2 đóng tại Dak Soong ở Quảng Đức.
– Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân với Tiểu Đoàn 63 đóng tại Gia Nghĩa, hai Tiểu Đoàn 81 và 82 đóng xung quanh Kiên Đức.

Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 đóng tại Ban Mê Thuột.

II.- Phối trí của Cộng quân: 

Lực Lượng của Cộng quân ở Cao Nguyên gồm có Sư Đoàn 320 đóng ở Kontum, Sư Đoàn F.10 hoạt động ở Pleiku, Sư Đoàn 986 trú quân tại vùng Tam Biên Việt – Miên – Lào, Trung Đoàn biệt lập 25, một trung đoàn khá thiện chiến, luôn quấy phá ở hai tỉnh Darlac và Quảng Đức, và Trung Đoàn đặc công 95-B, một trung đoàn rất thông thạo về địa hình ở Cao Nguyên, thường đóng ở phía đông Pleiku. Trung Tướng Hoàng Minh Thảo là Tư Lệnh. Thiếu Tướng Vũ Lăng, Đại Tá Phạm Hàm và Đại Tá Nguyễn Lăng làm Tư Lệnh Phó. Đại Tá Nguyễn Hiệp làm Chính Ủy.

CHUẨN BỊ ĐÁNH BAN MÊ THUỘT

Tỉnh Darlac lúc đó có 4 quận: Lạc Thiện ở hướng đông, Phước An ở đông bắc, Buôn Hô ở bắc và Ban Mê Thuột là quận châu thành, tức thị xã Ba Mê Thuột. Toàn tỉnh Darlac lúc đó có khoảng 150.000 dân gồm nhiều sắc tộc khác nhau, riêng Ban Mê Thuột có khoảng 60.000 người. Nơi đây có nhiều đồn điền, đa số là rừng cao su và cà phê, không có các chướng ngại thiên nhiên để giúp phòng thủ như ở Kontum hay Pleiku nên rất dễ bị tấn công. Lực lượng phòng thủ lại rất yếu: Nghĩa Quân và Địa Phương Quân phần lớn là người Thượng, không thiện chiến, thiếu tinh thần kỷ luật và không được trang bị đầy đủ. Tất cả trông chờ vào Trung Đoàn 53 của Sư Đoàn 23, nhưng Trung Đoàn này phải bao bọc một vùng lãnh thổ quá lớn gồm 2 tỉnh, vừa Quảng Đức vừa Darlac, nên khó bảo vệ nổi.

Để đánh Ban Mê Thuột, Cộng quân huy động 4 Sư Đoàn: Sư Đoàn 3 Sao Vàng ở Bình Định, Sư Đoàn F10 ở Pleiku, Sư Đoàn 320 ở Kontum, Sư Đoàn 968 đang đóng ở vùng Tam Biên và Sư Đoàn 316 mới từ ngoài Bắc vào tăng cường. Ngoài ra, Cộng quân còn xử dụng Trung Đoàn biệt lập 25 để chận đường tiếp viện, Trung Đoàn Đặc Công 168 và Trung Đoàn 95B để làm mũi nhọn tấn công.
Trước hết, Cộng quân ra lệnh cho Sư Đoàn 968 đang đóng ở vùng Tam Biên kéo về phía tây Quận Thanh An ở phía tây Pleiku để thay cho Sư Đoàn F10 tiến về phía tây Ban Mê Thuột. Đại Úy Trác Ngọc Anh, một sĩ quan không báo của Quân Đoàn 2, đã nói với chúng tôi rằng vào cuối tháng 1 năm 1975, khi máy bay L.19 chở anh đang bay thám thính trên con đường từ vùng Tam Biên về Thanh An thì anh phát hiện ra một đoàn quân xa độ một trăm chiếc đang chạy từ Tam Biên về Pleiku. Anh thông báo ngay về Phòng 2 của Quân Đoàn. Một lúc sau, cơ quan quân báo của Hoa Kỳ đã nói vào máy cho biết đó là các xe chuyển quân của Sư Đoàn 968 của Cộng quân. Quân Đoàn 2 đã xin Bộ Tổng Tham Mưu huy động các phi cơ A.37 của Sư Đoàn 2 và Sư Đoàn 6 Không Quân đến oanh kích. Cuộc oanh kích kéo dài từ 9 giờ sáng đến quá trưa, nhưng vẫn còn thấy một số xe đang chạy. Bộ Tổng Tham Mưu phải điều động thêm Sư Đoàn 1 Không Quân ở Đà Nẵng vào trợ chiến. Cuộc oanh kích kéo dài đến 4 giờ chiều mới chấm dứt. Một máy bay C.47 của Bộ Tổng Tham Mưu đã đến chụp hình và thấy khói bay ngụt trời, nhiều tiếng nổ từ dưới đất đang phát ra và vô số xe bị bắn cháy nằm rải rác trên đường. Sau chiến công này, Quân Đoàn 2 được khen thưởng và Trung Úy Trác Ngọc Anh (đang ở Boston) được vinh thăng đại úy.

Bị thiệt hại nặng trong vụ oanh kích đó, Sư Đoàn 968 không còn khả năng chiến đấu như lúc đầu nữa, Bộ Chỉ Huy Tây Nguyên của Cộng quân đã điện về Hà Nội cầu cứu. Hà Nội liền ra lệnh rút gấp Sư Đoàn 316 đang đóng ở vùng biên giới Lào-Việt ở phía tây Nghệ Tĩnh đưa vào Cao Nguyên Trung Phần thay thế cho Sư Đoàn 968 làm mũi dùi tấn công Ban Mê Thuột. Sư Đoàn 316 là một Sư Đoàn cơ động nhẹ, chỉ có 2 Trung Đoàn, nên khi đi qua Thừa Thiên đã được tăng cường thêm một trung đoàn của Sư Đoàn 324 đang đóng tại đây. Sau đó, Hà Nội còn cho thêm Trung Đoàn 29B ở Đà Nẵng.

Có đủ quân số rồi, Cộng quân phối trí như sau: Sư Đoàn 3 Sao Vàng từ Bình Định đem hai Trung Đoàn đóng ở phía tây đèo An Khê, cắt quốc lộ 19 nối liền Bình Định và Pleiku để chận đường tiếp viện của Sư Đoàn 22 của VNCH và nghi binh.

Sư Đoàn F10 từ Pleiku tiến về phía tây Ban Mê Thuột, vây quận Đức Lập, cắt con đường 14 nối liền Ban Mê Thuột với Đức Lập.

Sư Đoàn 320 từ Kontum di chuyển về phía bắc Ban Mê Thuột, đóng cách quốc lộ 14 về phía tây 5 cây số để chận quốc lộ 14 từ Pleiku đến Ban Mê Thuộc. Một tiểu đoàn của Sư Đoàn này đã băng qua quốc lộ 14, khúc cầu 210 (còn gọi là cầu Ialeo) và tiến về phía đông, đóng chốt trên tỉnh lộ 287 nối liền tỉnh Phú Bổn với quận Thuần Mẫn ở phía đông bắc Ban Mê Thuột.
Trung Đoàn 25 tiến về phía đông Ban Mê Thuột, chận quốc lộ 21 nối liền tỉnh Khánh Hòa với Ban Mê Thuột, khúc đèo Chư Cúc, giữa quận Khánh Dương của Khánh Hòa và quận Phước An của tỉnh Darlac.

Sư Đoàn 968 sau khi được bổ sung, đã tiến về phía tây Pleiku, có nhiệm vụ gây rối để cầm chân 2 Trung Đoàn của Sư Đoàn 23 đang ở lại Pleiku.

Trung Đoàn 95B tiến về phía đông bắc Ban Mê Thuột chuẩn bị tấn công.

Sư Đoàn cơ động nhẹ 316 mới từ Bắc vào sẽ làm mũi nhọn đánh vào thành phố Ban Mê Thuột, nhưng sợ sư đoàn này thiếu kinh nghiệm, không nắm vững địa hình địa vật, sẽ không hoàn thành nhiệm vụ, nên Hà Nội chỉ thị cho một tiểu đoàn của Trung Đoàn 95B hướng dẫn sư đoàn này.

Qua các khóa mật mã mở được, Quân Đoàn 2 cũng biết đích xác ngày giờ Tướng Văn Tiến Dũng sẽ vào Nam bằng đường Tây Trường Sơn rồi xuống đường Đông Trường Sơn để vào Ban Mê Thuột. Ngày Văn Tiến Dũng đi qua phía tây Kontum, Quân Đoàn 2 đã cho thả một đại đội trinh sát xuống quãng đường này để phục kích nhưng không gặp Văn Tiến Dũng vì đường Đông Trường Sơn ở khúc đó có quá nhiều nhánh, không biết đoàn xe đi đường nào.

CỘNG QUÂN CẮT ĐƯỜNG VÀ ĐÁNH NGHI BINH

Ngày 1.3.1975, Sư Đoàn 3 Sao Vàng tiến lên chốt đèo Mang Yang trên quốc lộ 19 nối liền Pleiku với Quy Nhơn và gây áp lực mạnh ở phía đông Pleiku. Điều này càng làm cho Tướng Phú tin hơn nữa rằng Cộng quân sẽ đánh Pleiku. Tướng Phú xin thêm viện binh để giữ mặt này. Liên Đoàn 4 Biệt Động Quân được gởi đến tăng viện cho Pleiku. Tướng Phú liền ra lệnh Thiết Đoàn 2 của Lữ Đoàn 2 Kỵ Binh do Đại Tá Nguyễn Văn Đồng chỉ huy phối hợp với Liên Đoàn 4 trấn giữ phía đông Pleiku.

Cũng trong ngày 1.3.1975, Sư Đoàn 968 tấn công chiếm hai đồn ở phía tây Thanh An cách Pleiku 15km hướng tây nam và áp sát vào quận Thanh An. Điều này càng làm cho Tướng Phú tin Cộng quân sẽ đánh Pleiku.

Ngày 2.3.1975 Trưởng chi nhánh CIA tại Quân khu II là Howard Arche từ Nha Trang bay lên Ban Mê Thuột thông báo cho Đại Tá Nguyễn Trọng Luật biết Cộng quân đang chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột và yêu cầu Đại Tá Luật phải đề phòng. Đại Tá Luật thông báo cho Quân Đoàn 2 thì ở đây cho biết cũng đã nhận được công điện của CIA vào buổi sáng. Tướng Phú liền ra lệnh cho Trung Đoàn 53 rút một tiểu đoàn đang hành quân tại Quảng Đức về phòng thủ Ban Mê Thuột và cho biết sẽ đưa Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân từ Kontum đến tiếp ứng. Cũng trong ngày này, tình báo của Cảnh Sát báo cáo phát hiện một đơn vị Cộng quân lảng vảng ở rừng cao su phía đông Ban Mê Thuột, gần quốc lộ 21.

Ngày 4.3.1975, Sư Đoàn 3 Sao Vàng đem quân cắt đứt quốc lộ 19 từ Quy Nhơn đến Pleiku ở khúc Bình Khê và Suối Đôi. Đèo An Khê từ Bình Định đi lên Pleiku và đèo Mang Yang từ Pleiku đổ xuống Bình Định đều bị Cộng quân chiếm đóng. Liên đoàn 4 Biệt Động Quân và Thiết đoàn 2 được lệnh từ Pleiku đánh xuống, còn Trung Đoàn 42 của Sư Đoàn 22 từ Bình Định đánh lên, nhưng cũng không phá được hai cái chốt này.

Qua ngày 5.3.1975, Trung Đoàn 25 của Cộng quân thanh toán một căn cứ địa phương quân ở đèo Chư Cúc trên quốc lộ 21 nối quận Khánh Dương của tỉnh Khánh Hòa và quận Phước An của tỉnh Darlac. Một đoàn quân xa của Quân Lực VNCH di chuyển qua đèo Chư Cúc đã bị Cộng quân phục kích và bắn cháy, các binh sĩ bị bắt.

Như vậy hai con đường 19 và 21 nối liền vùng duyên hải với Cao Nguyên đã bị cắt đứt.
Vào trưa 5.3.1975, Sư Đoàn 320 cho một tiểu đoàn chận đánh một đoàn quân xa của Trung Đoàn 45 gồm 14 chiếc di chuyển trên quốc lộ 14, khúc phía bắc quận Thuần Mẫn. Đoàn xe này có kéo theo một khẩu đại bác 105 ly. Được tin này, Tướng Phú lại ra lệnh cho Trung Đoàn 45 đưa một tiểu đoàn hành quân lục lọi hai bên quốc lộ 14 để tìm các dấu vết của Sư Đoàn 320, nhưng không phát hiện được gì.

Ngày 7.3.1974, Cộng quân chiếm cứ điểm Chư Xê phía bắc Buôn Hô và cắt đứt quốc lộ 14. Sau đó, Cộng quân cho pháo kích vào Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 tại Phi Trường Cù Hanh ở Pleiku và mở những trận đánh lớn ở Bình Định để cầm chân Sư Đoàn 22 và đánh lạc hướng. Tướng Phú đã lấy máy bay đi quan sát mặt trận Bình Định. Đại Tá Trịnh Tiếu, Trưởng Phòng 2 Quân Đoàn 2, kể rằng sau khi thị sát các mặt trận Tam Quan, Bồng Sơn và đèo Mang Yang, Tướng Phú đã đưa ông và và một sĩ quan khác về Nha Trang ăn cơm tối ở nhà ông. Tại đây, bà Phú đã lên tiếng khiển trách các sĩ quan Quân Đoàn 2 trong việc cho oanh tạc cơ phá hủy đoàn xe của Sư Đoàn 968. Theo bà, Việt Cộng chỉ muợn đường của Quân Đoàn 2 để đi vô Nam, nhưng vì Quân Đoàn 2 đánh họ nên bây giờ họ đánh trả lại khắp nơi. Tướng Phú ngồi im lặng và tỏ ra chán nản.
Ngày 8.3.1975, Trung Đoàn 48 của Sư Đoàn 320 đánh chiếm quận Thuần Mẫn nằm trên tỉnh lộ 287 nối liền tỉnh lỵ Hậu Bổn với quốc lộ 14 và căn cứ Gầm Ga cách Ba Mê Thuột khoảng 60 cây số về phía bắc. Tại quận lỵ Thuần Mẫn chỉ có một tiểu đoàn địa phương quân và Đại Đội 23 Trinh sát của Sư Đoàn 23 trấn đóng nên không cầm cự được lâu và đã thất thủ sau nhiều giờ giao tranh. Đường 14 bị cắt thêm ở khúc quận Thuần Mẫn.

QUẬN ĐỨC LẬP BỊ THẤT THỦ

Ngày 9.3.1975, lúc 5 giờ 35, Sư Đoàn F10 của Cộng quân bắt đầu tấn công quận Đức Lập, căn cứ Núi Lửa và căn cứ 23 để khai thông đường 14 dẫn xuống Phước Long và Lộc Ninh. Các căn cứ này ở cách thị xã Ban Mê Thuột khoảng 50km về phía tây, trên biên giới Việt-Miên-Lào. Trung Đoàn 28 đánh chiếm căn cứ Núi Lửa, Trung Đoàn 66 đánh chiếm căn cứ 23, sau đó tập trung đánh vào quận lỵ Đức Lập.

Khoảng 10 giờ sáng ngày 9.3.1975, Tướng Phú và Bộ Tham Mưu Quân Đoàn 2 đã bay về Ban Mê Thuột họp với Chuẩn Tướng Lê Trung Tường, Tư Lệnh Sư Đoàn 23, Đại Tá Võ Thế Quang, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 23, Đại Tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh Trưởng Darlac, Đại Tá Nguyễn Văn Nghìn, Tỉnh Trưởng Quảng Đức và Trung Tá Võ Ân, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 53 của Sư Đoàn 23. Đại Tá Nguyễn Văn Nghìn báo cáo Cộng quân đã tấn công vào Đức Lập từ 5 giờ sáng với cấp số lớn, tình hình rất bi đát. Bộ Chỉ Huy Chi Khu bị trúng nhiều đạn 130 ly, bị hư hại nặng nên Chi Khu Trưởng phải đưa Bộ Chỉ Huy ra khỏi quận, nhưng vẫn đang chiến đấu. Tướng Phú theo dõi một tiểu đoàn của Trung Đoàn 53 đang chiến đấu với Sư Đoàn F10 ở quận Đức Lập và được biết Trung Tá Nguyễn Cao Vực, Quận Trưởng Đức Lập, đã bị thương nhưng vẫn phải chỉ huy hai khẩu đại bác 105 ly bắn trực xạ để chống lại chiến thuật tấn công biển người của Cộng quân. Tướng Phú suy nghĩ và nói rằng tình hình Đức Lập không thể cứu vãn được nữa nên không tăng viện.

Khoảng gần 12 giờ, Tướng Phú đến thăm Chi Khu Darlac, ăn cơm trưa với Tướng Tường, Đại Tá Nghìn và Đại Tá Luật. Tướng Phú ăn vội vàng rồi ra phi trường Phụng Dực đáp máy bay về Pleiku để theo dõi tình hình chung của Quân Đoàn. Trước khi lên máy bay, ông quay lại nói với Đại Tá Luật: “Chú mày cẩn thận, coi chừng chúng nó đánh nghe!”.

Tối 9.3.1975, quận Đức Lập bị thất thủ. Sư Đoàn F10 của Cộng quân đã làm chủ tình hình ở phía tây nam Ban Mê Thuột và đang tiến về thị xã Ban Mê Thuột.

THỊ XÃ BAN MÊ THUỘT BỊ CHIẾM

Các lực lượng của VNCH trong thị xã Ban Mê Thuột và vòng đai thành phố lúc đó có không tới 3.000 quân, tương đương với 4 tiểu đoàn, được phối trí như sau:

Phía đông Ban Mê Thuột là Trung Tâm Huấn Luyện của Sư Đoàn 23 Bộ binh và Ban Chỉ huy Chi Khu Ban Mê Thuột. Phía tây có hậu cứ Thiết đoàn 8 Kỵ binh và kho đạn Mai Hắc Đế. Phía bắc là Bộ Chỉ huy Cảnh sát Quốc gia tỉnh Darlac cùng với một đơn vị Cảnh sát Dã chiến. Đóng rải rác trong cả tỉnh Darlac có sáu tiểu đoàn Địa phương quân và một số trung đội Nghĩa quân. Hai tiểu đoàn của Trung Đoàn 45, một giữ ở ngã ba Dak Sak và một ở căn cứ B50 ở gần phi trường Phụng Dực cách thị xã Ban Mê Thuột 7km. Bản doanh Sư Đoàn 23 đóng ở đường Mai Hắc Đế.
Địa phương quân và Nghĩa quân được phân tán đi bảo vệ các kho trong thành phố. Cảnh Sát Dã Chiến được phân chia bố trí ở các cao ốc. Tướng Phú hứa sẽ cho thêm một chi đoàn Thiết Giáp và cho rút hai tiểu đoàn Địa Phương Quân của Liên Đoàn 204 Địa Phương Quân ở Bản Đôn về bảo vệ thị xã. Đại đội 45 Trinh sát của Trung Đoàn 45 đang hành quân ở Bản Đôn nhận lệnh gấp rút trở về.

Điều đáng ngạc nhiên là cho đến giờ phút đó, khi mọi tin tức quân báo và tình hình thực tế xác định Cộng quân đang chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột, Tướng Phú vẫn cho rằng Cộng quân sẽ đánh Pleiku. Trung Tá Lê Nguyên Phả, Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn 23, cho biết Tướng Phú đã nhận định rằng sau Đức Lập, Cộng quân sẽ đánh Buôn Hô nên đã chỉ thị cho Đại Tá Lê Khắc Lý, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn 2, xin Bộ Tổng Tham Mưu cho trực thăng chuyển Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân đang đóng tại Kontum, thả xuống quận Buôn Hô, cách thành phố Ban Mê Thuột khoảng 30 cây số về phía bắc. Cuộc chuyển quân khởi sự từ 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều mới chấm dứt. Nếu Tướng Phú cho thả Liên Đoàn này xuống ngay Ba Mê Thuột, Cộng quân rất khó đánh chiếm.
Để đánh Ban Mê Thuộc, Cộng quân xử dụng Trung Đoàn 198 Đặc Công, Trung Đoàn 95B, Sư Đoàn 316 và một phần của Sư Đoàn F10. Sư Đoàn 320 và phần lớn Sư Đoàn F10 đóng ở vòng ngoài để chận tiếp viện và tiếp ứng khi cần. Số quân được ước tính khoảng 40.000.

1.- Số phận của Tiểu Khu Darlac

Khoảng 2 giờ sáng ngày 10.3.1975, Cộng quân bắt đầu tấn công vào thị xã Ban Mê Thuộc. Trước hết, từ hướng tây thị xã (khu vực Bandon) Cộng quân dùng đại bác 130 ly và hỏa tiễn H-12 (12 nòng) có tầm bắn 8km, bắn như mưa vào Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23, Tiểu Khu Darlac, trại pháo binh và thiết giáp, sân bay thị xã và sân bay Phụng Dực, theo chiến thuật “tiền pháo hậu xung”. Sau đó, mở cuộc xung phong:

Trung Đoàn 198 Đặc Công cùng với chiến xa T.54 đánh kho đạn Mai Hắc Đế của Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận, dùng BKZ 82, một loại bích-kích pháo không-giật để phá hủy các công sự phòng thủ. Từ hướng đông bắc, Trung Đoàn 95B đánh khu Ngã Sáu gần trung tâm thị xã. Từ hướng tây bắc, Trung đoàn 148 của Sư đoàn 316 bắt đầu đánh khu pháo binh và Thiết Đoàn 8. Trung đoàn 148 tiến theo đường Phan Bội Châu đánh chiếm trường trung học Bồ Đề rồi tiến sang Ngã Sáu, bắt liên lạc với Trung đoàn 95B. Từ hướng tây nam Trung đoàn 174 yểm trợ Trung Đoàn 198 Đặc Công đánh khu kho đạn Mai Hắc Đế.

Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 được phòng thủ kỹ hơn nên Cộng quân phải dung Trung Đoàn 24 của Sư Đoàn 10, một sư đoàn thiện chiến, được tăng cường một đại đội xe tăng và một đại đội xe bọc thép, bao vây và tiến đánh căn cứ này.

Lúc 8 giờ sáng, Đại Tá Võ Thế Quang chỉ thị Đại Tá Luật điều động một đại đội và 4 xe M.113 ra án ngữ ở Ngã Sáu để chận Cộng quân. Các oanh tạc cơ được phái đến yểm trợ. 8 giờ 20 kho đạn Mai Hắc Đế bị thất thủ. 11 giờ 50 hậu cứ Thiết Đoàn 8 Thiết Giáp phải di tản.
Lúc 11 giờ Cộng quân tấn công Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu. Đại Tá Luật và Phó Tỉnh Trưởng Nguyễn Ngọc Vỵ chạy sang bản doanh Sư Đoàn 23, nhưng lính canh không cho vào. Đại Tá Vũ Thế Quang phải ra nhận diện rồi cho lệnh, lính mới mở cửa. Trung Tá Vĩnh Hy, Trưởng Phòng 3 của Tiểu Khu, tiếp tục chỉ huy các binh sĩ chống lại Cộng quân. Lúc 12 giờ 45, một trái pháo của Cộng quân bắn trúng hầm chỉ huy của Tiểu Khu, Bộ Tham Mưu Tiểu Khu phải rút ra khỏi vị trí. Lúc 13 giờ 30, Cộng quân mở cuộc xung phong vào Tiểu Khu. Lúc 14 giờ 20 Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu bị thất thủ. Đến 15 giờ, Đại Tá Quang không còn bắt liên lạc được với Tiểu Khu.

2.- Số phận của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23

Cộng quân không nắm vững địa hình nên không tiến nhanh được. Đến 7 giờ sáng ngày 11.3.1975, Cộng quân mới tấn công vào Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23, nhưng lực lượng phòng thủ vẫn còn cầm cự được.

Lúc 10 giờ 10, một phi vụ A-37 của Không Quân thả bom nhầm vào Trung Tâm Hành Quân của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23. Mọi liên lạc với Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 và Bộ Tổng Tham Mưu hoàn toàn bị phá hủy. Bộ đội và chiến xa của Cộng quân tràn vào hậu cứ Sư Đoàn 23 như nước vỡ bờ. Đại Tá Vũ Thế Quang, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn, Đại Tá Nguyễn Trọng Luật, tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Tiểu Khu Darlac, quyết định mở đường máu đem đơn vị thoát khỏi hậu cứ.

Đại Tá Quang chỉ chạy sang khu thiết giáp nằm khuất sau bệnh viện. Các binh sĩ chạy theo. Khu thiết giáp còn hơn chục chiếc thiết vận xa M.113 và một số lính, nhưng không thể ra lối trước vì sẽ đụng đầu với xe tăng của Cộng quân. Đại Tá Quang liền ra lệnh cho thiết vận xa cán lên hàng rào kẽm gai ở phía sau mà đi. Toán quân có chừng 200 người đã xuống được thung lũng và đến suối Đốc Học, một chỗ khuất và hơi kín. Đại Tá Quang định tử thủ tại đấy, nhưng Đại Tá Luật cho rằng chỗ đó trống trải quá. Hai người bàn cách đến Trung Tâm Huấn Luyện của Sư Đoàn 23 ở phía đông, cách thành phố khoảng 3km để từ đó bắt liên lạc lại với các đơn vị, nhưng rất khó đến được.

Đại Tá Quang muốn liều dẫn quân xâm nhập qua thành phố vào lúc đêm tối để tới trung tâm. Đại Tá Luật cho rằng lối đó quá nguy hiểm, muốn đi đường vòng qua rừng. Bàn luận một hồi, hai ông quyết định ai muốn đi ngả nào thì đi. Có chừng 50 người theo Đại Tá Luật, số còn lại theo Đại Tá Quang. Hai toán chia tay nhau vào khoảng 11 giờ trưa.

Đại Tá Luật và Phó Tỉnh Trưởng Nguyễn Ngọc Vỵ lội bộ đến Buôn Ky, nhưng vừa vượt qua một ngọn đồi trọc đã thấy xe tăng của Cộng quân. Đoàn người chạy trở lại phía sau đồi, nhưng chạy mới được 10 thước, Đại Tá Luật bị té. Những người khác lo chạy thật lẹ. Ba ngày sau họ đều bị bắt. Đại Tá Quang, Đại Tá Luật và Phó Tỉnh Trưởng Vỵ đều được đưa về giam cùng một chỗ.

3.- Số phận của Liên Đoàn 21

Khi Cộng quân khởi đầu tấn công Ban Mê Thuột, Tướng Phú ra lệnh cho Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân do Trung Tá Lê Quý Dậu chỉ huy, từ Buôn Hô tiến bằng đường bộ về Ban Mê Thuột ở cách Buôn Hô khoảng 30 cây số.

Lúc 17 giờ chiều ngày 10.3.1975, Đại Tá Quang đã bắt liên lạc được với Liên Đoàn 21 đang tiến vào thành phố. Ông liền ra lệnh cho Trung Tá Dậu cho Tiểu Đoàn 72 chiếm lại Tiểu Khu và Tiểu Đoàn 96 lấy lại kho Mai Hắc Đế. Lúc đó Địa Phương Quân, Nghĩa Quân và Cảnh Sát Dã Chiến đang quần thảo với Cộng quân trong thành phố để tranh từng tấc đất.

Liên Đoàn 21 đã vào được thành phố và lập được một số chiến công, nhưng khi cuộc giao chiến đang tiếp tục thì đùng một cái, Chuẩn Tướng Lê Trung Tường ra lệnh cho cho Trung Tá Dậu điều động Liên Đoàn 21 phối hợp với Địa Phương Quân còn lại rút về vây quanh sân bay L.19 trong thành phố để ông phái trực thăng đến đón 21 người trong gia đình của ông đang kẹt tại sân bay này. Sân bay này đang do đơn vị Thám Sát Tỉnh (PRU) thuộc Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh phòng thủ. Mặc dầu có sự yểm trợ của cả Địa Phương Quân lẫn Liên Đoàn 21, trực thăng của Tướng Tường phái đến cũng không đáp xuống được vì Cộng quân pháo kích dữ quá. Cuối cùng Chuẩn Tướng Tường đã ra lệnh lấy một thiết vận xa M.113 chở toàn bộ gia đình của ông tới Trung Tâm Huấn Luyện của Sư Đoàn 23 cách thị xã khoảng 3 cây số để trực thăng đến đón. Liên Đoàn 21 và Địa Phương Quân phải rất vất vả mới đưa được gia đình Tướng Tường ra khỏi vùng giao tranh và yểm trợ cho trực thăng tới đón. Khi trực thăng bốc được gia đình Chuẩn Tướng Tường đi rồi thì Cộng quân đã chiếm gần như toàn bộ thành phố Ban Mê Thuột. Liên Đoàn 21 tiến về sân bay Phụng Dực để phối hợp tác chiến với một tiểu đoàn của Trung Đoàn 53 ở căn cứ B.50 thì bị chận đánh phải lui ra khỏi vòng đai thành phố và bị vây ở Đạt Lý.

4.- Số phận của hậu cứ Trung Đoàn 53

Hậu cứ của Trung Đoàn 53 đóng ở căn cứ B50, gần phi trường Phụng Dực, cách thị xã Ban Mê Thuột 7km, do Tiểu đoàn 1 và Tiểu Đoàn 3 của Trung Đoàn 53, một Pháo Đội 105 và một Chi Đội M113 trần giữ, có một Đại Đội Thám Báo của Trung Đoàn 45 tăng cường. Ngoài ra, tàn quân của Tiểu Đoàn 2, Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân và một số đơn vị khác cũng chạy về đây.

Căn cứ B50 vốn là một trại lực lượng đặc biệt cũ của Mỹ có chu vi trên một cây số, với những công sự được xây cất rất kiên cố, có tất cả 11 hầm đủ sức chịu đựng được đạn 130 ly, xung quanh có xếp bao cát cao làm thành những ụ chiến đấu cá nhân. Ở xa xa là một vòng đai hàng rào kẻm gai nhiều lớp bao bọc. Ở đây là Bộ Chỉ Huy của Trung Đoàn 53 do Trung Tá Võ Ân trực tiếp chỉ huy, còn Đại Đội Thám Báo của Trung Đoàn 45 đóng trên phi trường Phụng Dực, giữa các ụ bảo vệ phi cơ, do Thiếu Úy Nguyễn Công Phúc chỉ huy. Cộng quân dùng Trung Đoàn Đặc Công 198 và Trung Đoàn 149 của Sư Đoàn 316 để mở cuộc tấn công, sau tăng cường thêm Trung Đoàn 66 của Sư đoàn F10.

Đêm 10.3.1975, hậu cứ Trung Đoàn 53 và phi trường Phụng Dực bị pháo kích nặng. Đến 5 giờ sáng căn cứ bị Cộng quân tấn công từ hai phía đông bắc và đông nam. Cộng quân chiếm được một phần căn cứ. Nhưng đến 8 giờ sáng, quân trú phòng đã phản công, Cộng quân bị đánh dạt sang một bên. Một cánh quân của Cộng quân đã chạy qua khu đất trống của phi trường nên bị Đại Đội Thàm Báo bắn tỉa phải chạy vào bìa rừng cao su gần phi đạo, để lại hơn 40 xác chết, một số vũ khí và quân trang quân dụng. Sau đó, Cộng quân trở lại tấn công nhiều lần, nhưng đều bị đẩy lui.

Sau khi có lệnh rút khỏi Cao Nguyên, lúc 9 giờ 30 ngày 18.3.1975, số tàn quân còn lại do Trung Tá Ân chỉ huy đã mở đường máu chạy thoát về hướng Lạc Thiện. Tướng Phú và Bộ Tham Mưu đã lên máy bay đi tìm và bắt được liên lạc, nhưng số tàn quân ở cạnh Trung Tá Ân lúc đó chỉ còn khoảng 20 người.

Đêm 16.3.1975, khi Cộng quân pháo như vũ bảo vào phi trường, Thiếu Úy Phúc liên lạc với Trung Đoàn 53, nhưng không ai trả lời. Gần sáng, Cộng quân cho xe tăng tấn công căn cứ Trung Đoàn 53 và tiến qua phi trường thanh toán Đại Đội Thám Báo còn sót lại. Không có tiếp tế, hết đạn dược, phải dùng AK 47 của Cộng quân bỏ lại để chiến đấu, Thiếu Úy Phúc phải xin phi cơ đến oanh tạc để rút ra. Đúng lúc Cộng quân đang tập trung quân, phi cơ được thám báo hướng dẫn đã đến dội bom xuống đầu Cộng quân. Nhờ những trái bom này, Đại Đội Thám Báo còn lại hơn 50 người đã rút chạy vào khu rừng cao su. Khi vào được trong rừng thì chỉ còn lại khoảng 30 người. Nhưng sau đó Cộng quân lại đến tấn công. Thiếu Úy Phúc và một y tá thoát khỏi cuộc phục kích, nhưng rồi ngày 22.5.1975 cũng bị bắt khi mò xuống một vũng uống nước.
Như vậy, Trung Đoàn 53 và Đại Đội Thám Báo đã bảo vệ căn cứ B.50 và phi trường Phụng Dực được 18 ngày khiến Cộng Quân phải kính nể.

TRONG CẢNH HOANG TÀN ĐỔ NÁT

Trong bài “Ban Mê Thuột Ngày Đầu Chiến Cuộc”, ông Nguyễn Định đã kể lại tình trạng thành phố Ba Mê Thuột sau khi vừa bị Cộng Quân chiếm như sau:

“Trong thành phố, tiếng súng nhỏ đã im, nhưng cảnh tan hoang của thị xã thật không cách nào tả xiết. Những khu phố bị cháy không ai dập tắt, đóm lửa, tro tàn, và bụi khói bao phủ khung trời thị xã như một màn sương đục. Mặt đường lổ loang những dấu đạn cày. Bên cạnh những đóng tro tàn, từng nhóm người co ro sợ hãi cúi mặt không dám khóc. Những trẻ em mất cha, lạc mẹ kêu van đã khàn tiếng.

“Rải rác trên các khu phố, những vũng máu và thây người, kẻ bị thương, bị chết không ai săn sóc. Thị xã không hẳn là một bãi tha ma, không gọn gàn sạch sẽ như nghĩa trang người chết, mà là hổn độn của một thế giới nửa sống, nửa chết. Vợ ôm xác chồng không dám khóc, mẹ nhìn thây con giá lạnh không dám đem về. Người ta vẫn sợ một Mậu Thân thứ hai, năm 1968, ở Huế. Bóng dáng của Cộng quân như tử thần dến chiêu hồn kẻ sống đe dọa mọi người.”

Tình trạng của vị Tư Lệnh Quân Đoàn 2 cũng bi thảm không kém. Trung Tá Trần Tích, Trưởng Phòng Quản Trị của Quân Đoàn 2 cho biết, sau khi rút khỏi Cao Nguyên và chạy về tới Nha Trang, Tướng Phú còn hỏi ông: “Anh xem có ai muốn đi làm tỉnh trưởng không?” Trung Tá Tích ngạc nhiên hỏi lại: “Giờ này mà Thiếu Tướng còn tìm tỉnh trưởng làm gì nữa?” Tướng Phú buồn rầu trả lời: “Tháng này chưa có 2 triệu đóng cho Trung Tướng”!

Trung Tướng Dặng Văn Quang, Cố Vấn An Ninh của Tổng Thống Thiệu, và Chuẩn Tướng Lê Trung Tường Tư Lệnh Sư Đoàn 23 (cả hai cùng khóa 1 Đập Đá với Tướng Thiệu), đã dọn về ở Orange County, California, nhưng khi nghe chúng tôi kể chuyện trận Ban Mê Thuộc trên báo Sài Gòn Nhỏ và trên đài VOV, Tướng Quang đã bỏ đi vùng khác, còn Tướng Tường về ở Việt Nam luôn. Cả hai nay đã qua đời.

Nhìn lại, chúng ta thấy các sĩ quan và binh sĩ ngoài mặt trận đã chiến đấu rất thiện chiến và anh dũng, sẵn sàng hy sinh cho Tổ Quốc, trong khi một số tướng lãnh có quyền trong tay, vì quá yếu kém và tham nhũng, đã đẫy họ vào đường cùng và làm mất nước!

Nhân kỷ niêm 40 năm ngày mất miền Nam, chúng ta tuyên dương tất cả các chiến sĩ VNQH ở tất cả mọi mặt trận. Tổ Quốc và đồng bào ghi nhớ công ơn của họ. Riêng trong trận Ban Mê Thuột, chúng tôi xin ghi nhân công ơn của các chiến sĩ sau đây:

– Trung Tá Nguyễn Cao Vực, quận trưởng Đức Lập và các chiến sĩ cùng chiến đấu với ông.
– Trung Tá Võ Ân, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 53 và các chiến sĩ ở căn cứ B.50.
– Trung Tá Vĩnh Hy, Trưởng Phòng 3 của Tiểu Khu Darlac.
– Trung Tá Lê Quý Dậu, liên đoàn trưởng Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân và các chiến sĩ thuộc Liên Đoàn này.
– Các Nghĩa Quân, Địa Phương Quân và Lực Lượng Cảnh Sát ở Ban Mê Thuột, nhất là đại đội Thám Sát của Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Darlac.
– Thiếu Úy Nguyễn Công Phúc, đại đội trưởng Đại Đội Thám Báo của Trung Đoàn 45, và các binh sĩ dưới quyền, đã chiến đấu rất anh dũng tại phi trường Phụng Dực cho đến giờ phút cuối cùng.
Ngày nay, tỉnh lỵ của tỉnh Darlac không còn được gọi là Ban Mê Thuột nữa mà trở lại tên cũ là Buôn Ma Thuột, và quận Đức Lập trở thành huyện Dakmil. Nhưng những chiến công oai hùng của các chiến sĩ VNCH sẽ mãi mãi được lịch sử ghi nhớ.

Ngày 12.3.2015
Lữ Giang

Bạn tôi – những người lính Biệt Động Quân (Tạp bút viết cho Tập San Biệt Động Quân) - Phạm Tín An Ninh -

Tôi bị các ông Mũ Nâu Trần Tiễn San, Nguyễn Thế Đĩnh, Đỗ Mạnh Trường chiêu dụ nên đã đi lạc vào vùng lãnh thổ trách nhiệm của binh chủng thiện chiến này từ nhiều năm nay. Mấy lần ngần ngại, sợ mang tội “giành dân lấn đất” của mấy ông anh Mũ Nâu, tôi ngõ ý xin rút lui, “di tản chiến thuật”, nhưng không những không cho mà còn bị rầy cho một trận. Các anh bảo trận chiến bằng ngòi bút bây giờ cần phải “hành quân phối họp”, để đánh lại cái chiến thuật gọi là “hiệp đồng binh chủng” gì đó của đám cộng sản. Vì vậy, tôi chỉ xin tạm thời điền vào chỗ trống như một tay súng tập tành cỡ Carbine M-1, M-2, cho đến khi nào các anh có đủ các tay súng M16, M18 thì tôi sẽ tự động rút lui có trật tự. Viết cho Tập San Biệt Động Quân cũng đã qua mấy “mùa hè đỏ lửa” rồi, mà tôi chưa có bài nào ca ngợi Biệt Động Quân, thì xem như đã đi lạc vào “Vùng Oanh Kích Tự Do”rồi. Không khéo có ngày lãnh đủ! Vì vậy kỳ này nhất định phải viết về Biệt Động Quân.  Những anh hùng và chiến công lẫy lừng của BĐQ thì đã có các cây viết Mũ Nâu thứ thiệt viết hết rồi, tôi không dám làm cái chuyện múa rìu, ngồi dưới đất mà nói chuyện trên trời, một anh chàng họa sĩ kém tài mà dám bày đặt vẽ chân dung của mỹ nhân, hay tập tành bắt chước Trương Vô Kỵ kẻ lông mày cho Triệu Minh quận chúa! Tôi chỉ xin viết về bạn tôi, những người lính BĐQ mà tôi từng quen biết. Tôi nghĩ vì là bạn, nếu lỡ có điều gì không đúng “tần số”, chắc các anh cũng tha, không nỡ phạt.

Nói về bạn bè Mũ Nâu, thì tôi có khá nhiều, từ quan tới lính. Ngay anh em trong gia tộc tôi cũng có hơn một trung đội (đầy đủ theo bản cấp số), đa số đã nằm lại ở các chiến trường. Bạn cùng khóa thì cũng trên bảy mươi chàng chọn Biệt Động. Ngày ấy, chưa ra vũ đình trường để được quỳ xuống gắn lon, mà đã thấp thoáng bóng dáng nhiều mũ nâu mới toanh trong các Câu lạc bộ Diệm Song, Xuân Hương rồi. Có một số bạn hy sinh hoặc bị trọng thương ngay sau khi vừa mới ra trường. Chắc ngày trở về ít nhiều gì cũng đã làm “dang dở đời em”. Nhiều bạn chắc đánh đấm có hạng, và đạn thù né tránh, nên đã lên nắm tiểu đoàn từ những năm 71, 72. Mới đây họp khóa điểm danh, dường như hơn một nửa trong số đồng môn Mũ Nâu không bao giờ còn gặp lại. Thôi cũng đành an ủi nhau bằng lời của người xưa: “cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi!”

Tháng 3 năm 1965, giã từ Đồi Tăng Nhơn Phú, về trình diện đơn vị, thuộc một Sư Đoàn Bộ Binh ở tận xứ Buồn Muôn Thuở, tôi lãnh một trung đội chưa tới 20 thằng lính, nửa Kinh nửa Thượng. Mới tập tành đánh đấm vài trận ở Bình Tuy, Di Linh, Quảng Đức, tôi theo đơn vị di chuyển xuống Nha Trang. Vui mừng vì không ngờ lính đánh giặc trên núi trên rừng lại có ngày về thành phố biển thanh bình đẹp đẽ, ngay chính quê mình. Chưa kịp đi tìm những “hang động tuổi thơ” và vết tích của vài mối tình học trò ngày trước, thì có lệnh cùng tiểu đoàn, lên tàu há mồm làm một chuyến “hải hành” đêm. Cùng đi theo có một Chi Đoàn M113 tăng phái. Lên tàu lúc 10 giờ đêm, chiều hôm sau cặp bến Tuy Hòa. Khi ngồi trên chiếc M113 vừa “đổ bộ” lên bờ, tôi thấy ngoài Trung Tá Trần Văn Hai ra đón, còn có mấy vị sĩ quan Biệt Động Quân tháp tùng ông Tỉnh Trưởng cùng gốc binh chủng này. Đang điểm danh đám lính Thượng vừa “ly sơn” ngơ ngác, tôi bất ngờ nhận ra trong mấy anh mũ nâu có ông anh con bà cô, Trung úy Nguyễn Văn Tri. Ông anh đẹp trai và hiền lành nhất trong đám bọn tôi lúc còn đi học. Anh em ôm lấy nhau mừng rỡ. Từ ngày tiễn anh tại sân ga Nha Trang để vào Khóa 10 Thủ Đức, và sau đó làm phụ rể cho anh trong lễ đám cưới với người tình đẹp chung thủy của anh, đến bây giờ anh em mới gặp lại nhau. Hỏi ra mới biết Tiểu Đoàn 23 BĐQ của anh đã có mặt tại Phú Yên từ khá lâu và cũng đã đánh đấm bao nhiêu trận lớn giúp Tiểu Khu này mở rộng vòng đai an ninh. Xứ này thuộc Liên khu Năm của VC trước đây, nên tương đối mất an ninh, đám nằm vùng, du kích địa phương còn hoành hoành ở nông thôn. Gần một năm trước đây, đơn vị tôi cũng từng tham dự trận Vũng Rô -Đá Bia, nằm cực Nam tỉnh này, tịch thu một kho súng cả mấy ngàn khẩu lớn nhỏ đủ loại, mới toanh, của Cộng quân từ miền Bắc chuyển vào bằng đường biển. Ông Tỉnh Trưởng lại gốc đàn anh Biệt Động Quân, một người từng nỗ lực góp sức tạo dựng TTHL Biệt Động Quân Dục Mỹ từ một doanh trại dã chiến hoang phế của một đơn vị thuộc Sư Đoàn 23BB giao lại, nên em út hết lòng với ông là phải đạo. Từ khi Trung tá Trần Văn Hai về làm tỉnh trưởng, có Tiểu Đoàn 23 BĐQ hoạt động thường xuyên, tình hình an ninh ở Phú Yên khá lên rất nhiều. Anh Tri bảo tôi và mấy sĩ quan trong đại đội lên xe jeep, anh chở chạy theo đoàn xe, về vị trí nghỉ quân tạm tại Khu Nhà Bằng. Chờ sắp xếp đơn vị xong, anh kéo bọn tôi ra một quán nhậu để tâm tình. Quán này nổi tiếng món cá lóc nướng và có hai cô con gái Huế thuộc hàng mỹ nhân. Biết trong đám bọn tôi có hai anh thiếu úy tốt nghiệp Khóa 19 VB, nên anh Tri gọi máy về Tiểu Đoàn gọi một chàng cùng Khóa 19 ra gặp bạn đồng môn và nhậu lai rai với bọn tôi. Anh Thiếu úy BĐQ này cao ráo, đẹp trai, ít nói và có ngón đàn rất hay. Anh được giới thiệu là “Chương guitar”. Sáu năm sau tái ngộ ở Đà Lạt, bọn tôi đã thấy anh đi xe jeep có mấy cái cần câu, mang lon thiếu tá và đang làm tiểu đoàn trưởng của một Tiểu Đoàn BĐQ. Anh rủ bọn tôi theo anh xuống khu Trại Hành, đến một căn biệt thự ăn cháo gà. Nhà có một bầy con gái đẹp. Thấy các cô này có vẻ nể nang anh lắm, bọn tôi ngại, không biết bà con hay quen biết thế nào với anh, nhưng anh nháy mắt cười bảo là mấy cô này là em bà con tao, thằng nào có tài thì cứ tán thẳng tay. Không ngờ tôi có duyên nợ với anh. Sau ngày sa cơ, tan đàn xẻ nghé, hai anh em lại gặp nhau trong một trại tù ngoài Bắc, ở cùng tổ, nằm bên cạnh nhau.Tối nào hai anh em cũng uống trà tươi, vì đội tù chúng tôi có nhiệm vụ trồng và hái trà. Anh sống trầm lặng, khép kín, nhẫn nhục, nhưng luôn khí khái và tư cách. Anh rất khéo tay, tìm gỗ tốt làm được cây đàn. Tôi phụ anh bào gỗ bằng mấy mảnh ve chai và đánh bóng màu nâu bằng một loại vỏ cây, tôi hỏi xin của đám tù hình sự. Tối tối vừa uống trà vừa chơi Hạ Uy Cầm. Tiếng đàn của anh nghe réo rắt, não nuột, làm cả đám công an gác tù mê mẫn, bu lại phía bên ngoài để nghe. Anh trở thành một trong những bạn tù thân thiết của tôi. Và dường như anh cũng chỉ quen thân mỗi một mình tôi.

Ngoài anh Chương guitar, tôi còn có một anh bạn làm “đại bàng” bên BĐQ. Nói là bạn cho oai, chứ tôi xem anh ấy như ông anh.Tôi quen và trở nên thân tình với anh trong một trường hợp khá đặc biệt.

Năm 1970, khi toàn bộ Trung Đoàn tôi đang trú đóng tại bản doanh Sông Mao, làm thí điểm thực thi Kế Hoạch Chân Trời Mới, một vị Thiếu Tá từ đâu mang ba lô về trình diện. Trông lạ hoắc. Tướng mạo lại có chút gì đó không bình thường: nhỏ con, đầu trọc và cặp mắt hơi lồi. Ông Trung Đoàn Trưởng nói nhỏ với bọn tôi: Tay này gốc Biệt Động Quân, từng là đại đội trưởng và tiểu đoàn trưởng đánh đấm nổi tiếng từ cái thời binh chủng này chưa thành lập cấp liên đoàn.  Chỉ cái tính ngang bướng, bất cần đời, nên bị đì, trong cái lệnh thuyên chuyển về đây có ghi chú “không được giữ các chức vụ chỉ huy”. Ban bè cùng thời đều mang lon trung tá hết, có một số lên đại tá, chỉ có anh còn thiếu tá. Anh tạm thời được giữ lại ở Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn với một chức vụ không có trong bản cấp số: Trưởng Trung Tâm Hành Quân. Với cái chức vụ này thì anh không có lính mà cũng chẳng có xe.  Phải sử dụng chung xe với Ban 3. Thấy anh là một niên trưởng lại có quá khứ đánh đấm ngon lành, tôi thấy nễ và tội nghiệp, luôn tỏ ra lễ phép và kính trọng anh.  Ngược lại anh cũng rất quý mến tôi, thường ngồi tâm tình kể cho tôi nghe những trận đánh mà anh từng tham dự. Tôi đưa xe cho anh đi và kéo về ở chung nhà trong cư xá, cơm nước vợ tôi lo. Rượu, bia thoải mái, được mấy anh cố vấn Mỹ làm quà. Cuối tháng, lãnh lương anh móc ví đưa tiền, tôi quạt một trận, bảo “bộ tụi này không nuôi nổi anh hay sao?” Anh cười, nhưng lại lén đút vào túi mấy đứa con tôi, bảo là quà của bác. Anh xem vợ chồng tôi như em út trong nhà. Anh ít nói, sống khép kín. Và dù với một công việc không tương xứng, nhưng anh luôn chu toàn, không hề than vãn trách móc một ai.

Một thời gian, thấy anh có khả năng và chẳng có điều gì chê trách,  ông Trung Đoàn Trưởng làm tờ trình lên Sư Đoàn và Quân Đoàn, xin cho anh ra nắm tiểu đoàn.  Đề nghị được chấp thuận nhưng anh lại phải chuyển sang một trung đoàn khác.  Chia tay, bọn tôi cũng bịn rịn lắm. Anh còn tặng tôi một khẩu Browning nhỏ xíu, anh bảo anh mua lúc sang học một khóa chỉ huy tham mưu bên Mỹ. Tiểu Đoàn của anh hành quân dài hạn ở Quảng Đức, thỉnh thoảng anh liên lạc thăm tôi qua hệ thống siêu tần số của Tiểu Khu. Mấy tháng sau, tôi bất ngờ nhận được tin vợ con anh đều bị tử nạn, khi VC giật mìn chiếc xe jeep của anh tại một địa điểm không xa tòa tỉnh. Vốn đã uống rượu thay nước, bây giờ anh uống rượu nhiều hơn. Lần nào nói chuyện qua điện thoại, tôi cũng nghe “hơi men” trong giọng nói của anh. Không biết có phải vì thông cảm cho sự mất mát quá lớn lao này, mà đùng một cái anh được trở về lại Binh Chủng BĐQ, thăng cấp Trung tá và chỉ huy một Liên Đoàn ở Vùng 2.

Tháng 4/72 tôi theo đơn vị lên Kontum, lại có dịp gặp anh trong các cuộc hành quân phối họp.  Anh thường hú tôi ra ăn cơm, uống rượu ở các quán Bạch Đằng, Thiên Nam Phúc.  Một lần anh dắt Liên Đoàn trừ (chỉ có hai tiểu đoàn), tăng phái cho đơn vị tôi, hành quân trong khu vực Chu Pao. Không biết lệnh lạc thế nào anh bất bình, cự nự và còn “xổ tiếng Đan Mạch” với ông Đại tá Trung đoàn trưởng. Ông này vừa từ một trung đoàn khác về nắm trung đoàn tôi, thay cho Đại tá Võ Hữu Hạnh. Ông sếp của tôi đòi báo cáo Tướng Toàn đề nghị đưa anh ra Tòa Án Quân Sự. Tôi lên máy gọi cho anh, ngửi thấy mùi rượu trong giọng nói của anh, anh bảo “Lúc trước, thời còn ở Quảng Đức, moa làm tiểu đoàn trưởng cho cha ấy, cha đì và phạt moa 15 ngày trọng cấm rất tào lao, moa “đ..” phục!” Tôi an ủi “vuốt giận” anh, và nói với ông Đại tá: “Ông Liên Đoàn Trưởng đang say, Đại Tá chấp làm gì”.  Làm dữ nhau vậy chứ cả hai ông đều đã biết tẩy nhau, hết giận.

Sau trận chiến “Mùa Hè Đỏ Lửa” nhờ tạo được chiến thắng vẻ vang, nên cả Trung Đoàn tôi được cho về dưỡng quân 2 tháng ở Đồi Đức Mẹ Pleiku. Thời gian này BCH Liên Đoàn của anh đóng tại Căn Cứ 41, trên QL14 giữa Pleiku- Kontum. Ngày nào không có hành quân, anh lại xuống rủ tôi ra nhậu ở một cái quán ngoài Chợ Mới, cùng một một số sĩ quan của anh. Lần nào bà chủ quán cũng đãi bọn tôi một chai Hennessy “cổ vàng”. Bà góa chồng, còn trẻ và có nhan sắc. Nghe mấy vị sĩ quan của anh cho biết, bà là bồ của anh. Không biết trong đơn vị, thuộc cấp, đồng đội đánh giá anh ra sao, nhưng với tôi anh là một người khí khái, chí tình, nhưng sống hơi “bất cần đời”. Trong Biệt Động Quân, đặc biệt ở Quân Khu 2, có lẽ không ai không biết tên anh kèm theo một biệt danh: “Lang Trọc”.

Cả hai anh Chương và Lang, sau những ngày tù tội, được sang Mỹ theo diện HO, sống ẩn dật trước khi qua đời. Tôi chỉ được nói chuyện một vài lần qua điện thoại.
Tôi hân hạnh được quen biết với hai ông quan của binh chủng Mũ Nâu này trong những trường hợp rất tình cờ, nhưng còn đọng lại trong lòng tôi những kỷ niệm và tình cảm khó quên.

Tôi cũng có một anh bạn thân gốc BĐQ, trước 75 là một Hạ sĩ 1, tài xế. Anh đã để lại trong tôi nhiều cảm xúc và một niềm ân hận khôn nguôi, vì nghĩ mình đã không xứng đáng với tấm lòng của anh, không giữ được lời hứa với anh trước khi anh mất.

Sau hơn một năm chuyển tù từ miền Bắc vào Nam, tháng 9 năm 1983 tôi được thả ra khỏi trại Z.30C. Về nhà chưa hết nỗi vui mừng gặp lại vợ con, tôi đã nhìn ra một tương lai u ám của gia đình. Đã vậy còn bị bọn chính quyền địa phương gây khó khăn, áp chế đủ điều. Lúc này muốn tìm bất cứ một việc gì làm kiếm cơm cũng quá nhiêu khê. Làm lơ xe đò cho ông anh họ một thời gian. Chiếc xe cũ được biến chế từ một chiếc xe Jeep, không chịu nổi tình trạng “quá tải” mỗi ngày, nên cứ hư hỏng luôn mà lại không kiếm được phụ tùng thay thế. Rất may tôi có một chú em bà con, trước kia là trung sĩ của tôi, tìm đến thăm và bảo tôi lên Ban Mê Thuột phụ trồng cà phê với gia đình chú. Cô vợ gốc Bắc Kỳ di cư 54, nhưng đã sống ở Ban Mê Thuột từ lâu, rất chịu khó và am tường về chuyện trồng trọt, nhất là cà phê. Sau hơn ba tháng, với nhiều khó khăn, tôi mới xin được “giấy phép tạm vắng”(?) và “giấy phép đi đường”. Đón chiếc xe đò nhỏ, tôi lên BMT tìm đường đến nhà chú em. Thời ấy chẳng có điện thoại để liên lạc. Xuống bến xe BMT tôi chẳng biết phải làm sao, hỏi thăm anh tài xế, mới té ngửa là nhà thằng em ở cách xa thành phố cả hơn sáu cây số. Trời lại sắp tối. Anh tài xế tốt bụng mời tôi về nhà nghỉ tạm. Ngồi tâm tình, khi biết tôi đi tù mới về và một ít về tôi, anh đứng dậy đưa tay lên nghiêm chào theo kiểu nhà binh, gọi tôi là ông thầy. Tôi bất ngờ cảm động. Trong cái cảnh nhá nhem tình nghĩa này vẫn còn có những người lính chung thủy như anh. Anh cho biết trước 75, anh là Hạ sĩ 1, tài xế của một Liên Đoàn BĐQ ở Pleiku. Anh giữ tôi ở lại nhà, giới thiệu với vợ và hai đứa con nhỏ, bảo vợ nấu nướng mấy món để hai anh em nhậu chơi và nói chuyện đổi đời. Chị vợ cũng rất vui vẻ hiếu khách. Ban Mê Thuột là nơi đại đơn vị của tôi đặt Bộ Tư Lệnh ở đây từ năm 1960 cho đến ngày bị Cộng quân đánh chiếm, dẫn đến việc di tản Quân Đoàn II và mất cả miền Nam. Trực thuộc Sư Đoàn 23 BB, nhưng Trung Đoàn tôi lại phụ trách vùng duyên hải, chỉ thỉnh thoảng về đây tham dự các cuộc hành quân phối hợp qui mô. Riêng tôi mỗi năm về đây họp ở BTL một đôi lần. Do vậy tôi không mấy am tường địa thế. Hơn nữa, bây giờ cũng đã đổi thay nhiều quá. Dân ngoài Bắc đổ xô vào đây giành đất của người Thượng, nên đã từng xảy ra xô xát. Bất mãn, nhiều thanh niên Thượng đã bỏ buôn làng, trốn sang Thái Lan, Cam Bốt, hoặc gia nhập Lực Lượng Fulro chống lại CS.

Sáng sớm hôm sau, anh bạn gốc BĐQ chở tôi đến khu vườn cà phê của thằng em bằng xe Honda. Nếu không có anh, chắc tôi không thể nào tìm được, vì đường không có tên và nhà cũng chẳng có số. Anh dừng lại hỏi thăm nhiều người mới tìm được đến nơi. Tôi giới thiệu anh với thằng em. Hai người chỉ kịp bắt tay, vì anh còn phải trở về cho kịp lái chuyến xe đò đi Nha Trang.

Vừa ở được hai hôm, bọn công an địa phương tìm tới hạch hỏi, không cho phép tạm trú. Thằng em phải lo lót chút tiền, cuối cùng tôi cũng chỉ được làm việc ở đây ban ngày, còn tối thì không được phép ở lại, vì vùng này có hoạt động của Fulro. Bọn công an cho biết thế. Tội nghiệp thằng em, lo lắng chạy vạy khắp nơi vẫn không được. Không muốn gây phiền hà cho em út, tôi bảo chở tôi về phố, tìm đến nhà anh tài xế xe đò gốc BĐQ để xin theo xe về lại Nha Trang. Không ngờ, khi gặp anh, anh nhất quyết giữ tôi ở lại, anh hứa sẽ cùng với thằng em đưa đón tôi từ vườn cà phê về nhà anh ngủ mỗi đêm, cơm nước anh lo. Vợ chồng làm ăn, nên quen biết hết đám công an. Anh tin là bọn chúng sẽ không làm khó dễ gì tôi. Nếu cần anh chỉ nhét vào miệng bọn nó ít tiền là xong ngay.

Làm cà phê chừng hơn một tháng, thấy phiền hà quá, hơn nữa vườn cũng vừa mới khai quang, nhỏ, không có nhiều việc để làm, nên tôi bảo thằng em và cả anh tài xế, tôi muốn về lại nhà để tìm cách vượt biên, chứ không thể tiếp tục sống cuộc đời như thế, nhất là tương lai đen tối của mấy đứa con. Thằng em biếu cho một ít tiền. Đêm cuối cùng ở nhà anh tài xế, hai anh em tâm tình khá lâu, anh bảo cũng rất muốn vượt biên nhưng khó tìm ra mối và thời gian ấy có rất nhiều người bị gạt, tiền mất tật mang, không biết tin ai. Anh ngõ ý mong muốn cùng tôi vượt biên. Tôi hẹn sẽ nhất định tìm gặp anh khi có đầu mối. Sáng hôm sau tôi theo xe anh về nhà ở Ninh Hòa. Anh ghé lại nhà tôi chơi và còn dúi vào tay tôi một mớ tiền, bảo là biếu cho các cháu. Sau khi anh đi rồi, xem lại, tôi rất cảm động vì số tiền anh biếu, với tôi lúc ấy không phải là ít.

Tôi bắt đầu tổ chức chuyến vượt biên cùng với một nhóm bạn cùng tù. Chuyến đi sắp thực hiện, tôi ra bến xe mấy lần tìm anh, không gặp. Tôi lên Ban Mê Thuột, và rất bất ngờ được biết xe anh vừa bị tai nạn trên đèo M’Drak, anh bị thương nặng đang nằm trong bệnh viện. Tôi đến thăm, mình mẩy còn quấn đầy băng trắng, cả hai chân bị gãy, vừa mới được giải phẫu, còn treo lên thành giường. Nước mắt tôi ứa ra, chỉ ôm nhẹ vai anh mà không nói được lời nào.

Chuyến vượt biên, tôi không thể một mình quyết định được. Hơn nữa cần phải bí mật và đúng thời điểm. Tôi có nói về anh và xin các bạn vui lòng chờ thêm một thời gian nữa, nhưng tất cả đều phản đối, bảo phải ra đi càng sớm càng tốt, kéo dài thêm nhất định sẽ bị lộ. Khi đưa vợ con và bạn bè xuống tàu vượt biển, lòng tôi rất buồn vì thiếu gia đình anh, người bạn BĐQ rất có lòng và chí tình với tôi. Chuyến đi thành công, nhưng riêng tôi lòng vẫn đau đáu vì không giữ tròn lời hứa với một người bạn, một chiến hữu đàn em, đã từng mở rộng vòng tay và cả tấm lòng giúp mình trong lúc cùng quẫn khó khăn.

Sau khi đến trại tỵ nạn Singapore, một trong những người đầu tiên tôi gởi thư về, là anh. Trong thư tôi trình bày khéo léo để anh hiểu là tôi rất ân hận vì không giữ lời hứa và cũng mong anh thông cảm cho hoàn cảnh đặc biệt, bất khả thi của tôi. Tôi hứa sẽ lần lượt giúp anh một số tiền để anh tìm chuyến vượt biên an toàn khác. Nhờ một vị mục sư Tin Lành giúp, giới thiệu ra làm chui ở một nhà kho ngoài phố Singapore, tôi xin ứng lương trước, và gởi cho anh 500 đô la, như một món quà tượng trưng cho lời xin lỗi của mình. Tất cả tôi đều gởi về cho thằng em làm cà phê, nhờ trao lại cho anh. Một tháng sau, nhận hồi âm từ thằng em. Tôi bàng hoàng khi biết là anh bạn Biệt Động Quân đáng quí của tôi đã chết sau vài ngày tôi ra đi, vì vết chấn thương làm máu tụ lại trong đầu, bệnh viện không kịp và cũng không có khả năng giải phẫu. Số tiền tôi gởi về chỉ đủ để chị vợ xây mộ cho anh!

 Về phần tôi, sau hơn hai ngày bềnh bồng trên biển, chúng tôi được một chiếc tàu chở dầu của Na-Uy cứu vớt, trước khi một cơn bão lớn ập xuống. Với ân tình đó, chúng tôi chọn Vương Quốc Dầu Lửa Bắc Âu này là nơi để tạm gởi phần đời còn lại của mình,  gầy dựng tương lai cho mấy đứa con và cũng để chữa trị vết thương chưa lành được trong lòng. Sau hơn hai tháng ở trại Singapore, và sáu tháng ở trại tị nạn chuyển tiếp Bataan, gia đình tôi được đến Oslo, định cư. Khi bước ra khỏi cổng phi trường Fornebu xa lạ, tôi bất ngờ, xúc động khi có một số đồng hương đến đón. Điều vui hơn đa số đều là những đồng đội gốc lính ngày xưa.  Trong số này tôi đặc biệt chú ý đến một anh rất trẻ, trên đầu đội cái bê rê màu nâu đã phai màu. Không ngờ sau này anh lại trở thành một trong số bạn bè thân thiết của tôi. Lúc ấy anh đang sống độc thân, vì vợ còn ở Việt Nam. Vợ và đứa con trai đầu lòng của anh cũng đã đi vượt biên một chuyến khác, sau anh vài tháng, nhưng không may, ghe bị chìm trên biển, chị bị bắt và đứa con đã chết. Chuyện buồn này lại hằn thêm trong lòng anh một vết thương khá lớn.

Anh nhỏ hơn tôi nhiều tuổi, và biết tôi đi lính trước nhiều năm, nên anh coi tôi như anh. Nhưng qua tư cách và lòng quý trọng, tôi luôn xem anh là một người bạn, đúng nghĩa bạn. Trước 75, anh là Trung úy, Trưởng Ban 2 (kiêm Trưởng Ban 5) của Tiểu Đoàn 21 BĐQ, Vùng I.

Chúng tôi cùng nhiệt tình hoạt động trong một tổ chức kháng chiến. Vào thời điểm ấy, tổ chức này rất nổi tiếng và được bà con đồng hương khắp nơi tham gia, ủng hộ. Anh luôn nỗ lực, sẵn sàng tình nguyện làm bất cứ một công tác nào. Ngày đêm không mệt mỏi. Cuối tuần còn đi làm thêm ngày thứ Bảy hay Chủ Nhật để đóng vào Quỹ Kháng Chiến, có khi anh trích cả nửa tháng lương. Khi một cán bộ cao cấp của tổ chức này từ Hoa Kỳ đến Na-Uy sinh hoạt, cả anh và tôi đều tình nguyện  xin được về “chiến khu quốc nội”(?), nhưng ông ta bảo không còn cần thiết nữa. Chỉ một tháng sau đó, tổ chức này rạn nứt, tan vỡ, phơi bày bao điều không thật, đau lòng. Chúng tôi thất vọng và phẫn nộ khi có cảm giác mình bị lừa dối. Đau buồn nằm nhà một thời gian như một người cần được dưỡng thương, anh đứng dậy bằng tất cả nghị lực, đi thăm tất cả bà con đồng hương trong vùng anh cư ngụ, đặc biệt gặp nhiều thanh thiếu niên, sinh viên học sinh, trang bị cho họ tinh thần yêu nước, chống Cộng, tham gia vào các tổ chức cộng đồng và các cuộc biểu tình chống các cuộc “tham quan” của đám chính quyền cộng sản đến Nauy tổ chức văn nghệ, triển lãm có tính tuyên truyền. Anh phân tích và khuyên những thanh niên trí thức không về cộng tác với kẻ thù trong nước, khuyên bà con hạn chế về Việt nam, nhất là chỉ để du lịch. Sau khi bảo lãnh vợ sang, cả hai vợ chồng đi làm cật lực. Vợ anh là một giáo chức trẻ thời VNCH, nên được tiếp tục dạy tiếng Việt cho học sinh, sinh viên Việt nam, như là ngôn ngữ thứ ba được chính thức công nhận trong các trường trung học Na-Uy. Anh chị mua ngôi nhà khá đẹp, ngoại ô một thành phố nhỏ, nằm bên bìa rừng và một con sông tĩnh mịch. Anh tự tay làm một cái vọng gác khá cao, có thang trèo lên. Trên vách có vẽ hình đầu con cọp, huy hiệu của BĐQ. Mùa hè, tối nào anh cũng leo lên, nằm đu đưa trên chiếc võng nilon, uống rượu mà nhớ chiến trường xưa, hoặc đứng quan sát bốn phương với chiếc ống nhòm, tưởng như mình đang còn gác giặc. Mỗi lần nhắc đến đơn vị, hay một đồng đội nào đã hy sinh, anh khóc tức tưởi, nước mắt đầm đìa. Vợ con, bạn bè bảo tính anh thì nóng như Trương Phi mà dễ rơi nước mắt. Anh ca ngợi đơn vị anh, Tiểu Đoàn 21 BĐQ, đồng đội và mấy ông thầy của anh dữ lắm. Lúc ấy tôi chưa biết “anh hùng bạt mạng” Trần Thy Vân và người hùng Thiếu Tá Quách Thưởng là ai, nhưng chỉ nghe qua lời anh kể là bọn tôi thấy nể hai ông thẩm quyền và đại bàng của anh ấy rồi. Trong phòng khách, cái bê-rê màu nâu và cái mũ sắt mang lưới ngụy trang có hình đầu con cọp được để trân trọng trên kệ sách. Tôi biết anh luôn hãnh diện và trân trọng binh chủng và nhớ tới đồng đội cùng đơn vị cũ của mình.

Quê ở Huế, anh xuất thân từ một gia đình thế giá. Các anh chị đều là giáo sư và công chức cao cấp thời VNCH. Có một bà chị và một cô em gái định cư ở Mỹ từ lâu, nhưng anh không sang Mỹ mà chọn Na-Uy để định cư. Tôi cũng không ngờ anh “hận” Mỹ ghê gớm như vậy. Mỗi lần ngà ngà say là anh chửi Mỹ, réo tên Kissinger ra mà chửi, gọi là lũ khốn kiếp, phản bội, bán đứng đồng minh! Và anh nhất định không sang Mỹ. Sau này vợ chồng tôi và bà xã của anh khuyên mãi, bảo phải sang thăm đồng đội và nhất là mấy ông thầy, ai nấy đều già hết rồi, không sang gặp để rồi mai mốt ân hận. Vì vậy mà vượt biển định cư ở Na-Uy từ năm 1980, mãi đến mùa hè 2013 anh mới sang Mỹ lần đầu để tham dự Đại Hội BĐQ Kỷ Niệm 53 Năm Thành Lập Binh Chủng BĐQ tại San Jose, và ghé Hawaii thăm một người đàn em rất chí tình, vẫn đang còn sống đời độc thân bên ấy.

Cả vợ chồng rất tích cực trong các sinh hoạt cộng đồng, nhất là việc gây quỹ ủng hộ anh em Thương Phế Binh còn sống khốn khổ ở quê nhà. Mỗi lần nhìn hình ảnh các anh em TPB với thân thể không toàn vẹn, mù lòa khốn khổ, được các linh mục  Dòng Chúa Cứu Thế Sài gòn đón về sinh hoạt, giúp đỡ, anh khóc cả ngày, không ăn cơm, chỉ ống rượu tiêu sầu. Sau đó anh liên lạc với linh mục Đinh Hữu Thoại. cám ơn ông và đi vận động bà con, góp tiền gởi về đóng góp.
Tôi thương và rất quí anh, quí một người bạn tư cách khí khái, và tấm lòng của một người lính VNCH thủy chung.

Mười năm sau này, sau khi về hưu, tôi thường sang Cali sống sáu tháng mùa đông, trốn cái lạnh Bắc Âu, mà với tuổi già càng lúc cái lạnh như càng ngấm vào da thịt và cả trong lòng mình, tôi có dịp quen biết với nhiều cựu Mũ Nâu khác, và dù quan lớn hay quan nhỏ gì ai nấy cũng dễ thương. Các anh Nguyễn Minh Chánh, Trần Tiễn San, Nguyễn Thế Đĩnh, Đỗ Mạnh Trường, Trần Như, “Bà ngoại” phó nhòm Hồng Hải(Văn  Hà), chuyên viên viết phóng sự, người hùng Polei Kleng Phan Thái Bình…Đặc biệt trong số này có ông Thiên Lôi “Đĩnh Đầu Bạc” là ông anh đồng môn huynh trưởng của tôi ở Trường Võ Tánh Nha Trang, thời anh vừa bước chân xuống tàu há mồm ca bài “ Tôi xa Hà nội năm lên mười…sáu, khi vừa biết yêu. Bao nhiêu mộng đẹp yêu đương thành khói tan theo mây chiều…”  Ông bạn Trần Như là đồng hương Nha Trang rất hiền hậu dễ thương, người xứ Cổ Thành, nhưng đã đón được cô ca sĩ trẻ Phan Thiết về dinh. Thỉnh thoảng tôi vẫn gặp các anh cùng với nhiều Mũ Nâu khác ở Cà phê Factory, ngồi kể chuyện chiến trường, chuyện một thời ngang dọc ngày xưa. Tôi quý các anh vẫn giữ được cái tình đồng đội, huynh đệ chi binh, và bỗng dưng tôi nhớ tới bài Nhớ Rừng của nhà thơ Thế Lữ viết từ năm 1936

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,
Thủa tung hoành hống hách những ngày xưa.
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
Với khi thét khúc trường ca dữ dội,

……
Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!
Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị.
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa,
Nơi ta không còn được thấy bao giờ!
Có biết chăng trong những ngày ngao ngán,
Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi,

Xin cám ơn bạn tôi, những người hùng Biệt Động Quân, dù quan hay lính, đã chết hay còn sống, vẫn luôn là những con hổ khí phách, nhớ rừng, nhớ đồng đội và đang luôn tâm niệm một ngày giải phóng quê hương. Đúng là “Người lính già không bao giờ chết, họ chỉ mờ dần theo năm tháng”, như lời một bài hát rất xưa mà Tướng Douglas MacArthur đã dùng trong bài diễn văn đọc trước Lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ, ngày ông rời quân ngũ:

“Tôi đang khép cánh cửa cuộc đời binh nghiệp 52 năm. Khi tôi gia nhập quân đội trước khúc quanh thế kỷ, mọi hy vọng và ước mơ thơ ấu đã thành tựu. Thế giới đã đổi thay bao phen kể từ khi tôi tuyên thệ trên vũ đình trường West Point, và những giấc mộng và ước mơ đã tan biến từ lâu. Nhưng tôi vẫn còn nhớ điệp khúc một bài ca quen thuộc nhất trong doanh trại của thời đó được hát một cách kiêu hùng: “Nguời lính già không bao giờ chết, họ chỉ mờ dần với năm tháng”. Và giống như người lính già của câu hát đó, tôi đang khép cửa cuộc đời binh nghiệp và mờ đi, và người lính già đã cố gắng làm tròn nhiệm vụ mà Thương Ðế đã soi sáng để thấy nhiệm vụ đó. Xin chào tạm biệt mọi nguời” (I am closing my fifty two years of military service. When I joined the army before the turn of the century, it was the fulfillment of my boyish hopes and dreams. The world has turned over many times since I took the oath on the plain at West Point, and the hopes and dreams have long since vanished. But I still remember the refrain of one of the most popular barrack ballads of that day which proclaimed most proudly that – Old soldiers never die, they just fade aways. And like the old soldier of that ballad I now close my military career and just fade away, and the old soldier who tried to do his duty as God gave him the light to see that duty. Goodbye!)

Phạm Tín An Ninh

Thursday, April 15, 2021

Thiếu Tá Nhảy Dù & Lực Lượng Đặc Biệt Nguyễn Minh Đường

Trong nỗi niềm thương nhớ sự ra đi đột ngột của Ba tôi, tôi xin viết đôi dòng về ông, một người lính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đã hiến trọn cả cuộc đời cho lý tưởng Quốc Gia và Dân Tộc. Tôi xin ghi lại đây những gì tôi đã biết về ông qua những câu chuyện ông kể với tôi. Bài viết này xin được làm món quà gởi đến hương hồn của ông và tiễn đưa ông về cõi vĩnh hằng. Qua bài viết, tôi muốn gởi một thông điệp đến các em tôi, các bạn tôi, và những bạn trẻ khác về hình ảnh của người lính VNCH, trong vô số những hình ảnh tiêu biểu và tấm gương yêu nước thương dân khác.
Ba tôi, ông Nguyễn Minh Đường, sinh ra từ miền đất hiền lành, mưa thuận gió hòa, thuộc thị trấn Tầm Vu, quận Bình Phước, tỉnh Long An vào năm 1941. Tuổi thiếu thời, ông là một học sinh giỏi toán. Ông thích thể thao, nên ông đã là một tiền đạo trong đội bóng đá thanh thiếu niên của quận Bình Phước. Ông còn thích cả văn nghệ, vì thế ông đã học ca vọng cổ và hát ca tài tử trong cái làng quê thanh bình nơi ông sinh trưởng. Vào thập niên 1950, chiến tranh đã bắt đầu lan tràn về các thôn xóm Miền Nam Việt Nam. Việt Minh cộng sản đã bắt đầu quấy rối làng xã, cướp bóc hoa màu và xúi dục thanh niên bỏ nhà theo chúng. Để duy trì con đường học vấn của ông, bà nội tôi đã gởi ông lên Sài Gòn ăn học khi ông vừa mới tròn 11 tuổi. Sống xa mẹ, ở cùng với người anh thứ tư, cũng là một sĩ quan Cảnh Sát Quốc Gia, ông đã rèn luyện được tính tự lập và đôi phần hiểu biết về Quốc Gia và Dân Tộc.
Bước vào tuổi thanh xuân, ông đã phải tạm gác nhiều mơ ước riêng tư, khi nhìn thấy đất nước điêu linh qua lửa khói chiến tranh và trong thảm họa xâm lăng của cộng sản Bắc Việt (CSBV). Vì thế, sau khi thi đậu tú tài 1, ông đã tình nguyện gia nhập khóa 14 của trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức vào năm 1962, với hy vọng là phục vụ quân đội trong thời gian chiến tranh và khi hòa bình trở lại sẽ tiếp tục học lên nữa. Khóa 14, có tên khóa là Nhân–Trí–Dũng, mãn khóa vào năm 1963, là khóa có đông sinh viên sĩ quan nhất. Sau 9 tháng quân trường, là một trong những sinh viên sĩ quan đậu số điểm tốt nghiệp cao của khóa, ông được quyền chọn binh chủng hay quân trường để về phục vụ. Khi ông đang đắn đo đọc bảng ghi “Trung Tâm Huấn Luyện (HL) Hạ Sĩ Quan (HSQ) Phú Bài” thì vị sĩ quan huấn luyện người Huế lên tiếng.
– Cậu có ra Huế chưa? Huế đẹp lắm. Về Phú Bài đi, ở Huế đó.
Nghe nói tới đó, ông liền đồng ý chọn về Trung Tâm HL HSQ Phú Bài. Kể từ đó, cuộc đời binh nghiệp của ông được bắt đầu từ miền giới tuyến. Khởi đi từ Huế và qua 13 năm chinh chiến, dấu giày sault của ông đã in dấu trên khắp 4 vùng chiến thuật.
Vào thập niên 60, CSBV với chủ trương xâm chiếm Miền Nam, chúng đã xua quân qua các ngõ biên giới Việt–Lào và Việt–Miên. Để ngăn chặn bước chân xâm lược và bảo vệ nền tự do dân chủ của đất nước ta, Lực Lượng Đặc Biệt (LLĐB) Hoa Kỳ và LLĐB VNCH đã thiết lập các trại LLĐB nằm dọc biên giới của Miền Nam tiếp giáp với Lào và Campuchia; và thành lập các toán phòng vệ, xung kích và thám sát. Vì thế, họ cần tuyển mộ các sĩ quan xuất sắc từ các binh chủng khác và từ các quân trường để phục vụ cho binh chủng này. Vào những tháng cuối năm 1963, một toán LLĐB đã vào Trung Tâm HL HSQ Phú Bài để tuyển chọn sĩ quan cho đơn vị, vì họ biết là những sĩ quan ở trung tâm này toàn là những sĩ quan giỏi. Viên sĩ quan tuyển mộ lên tiếng:
– Các anh ở đây có ai muốn về phục vụ cho binh chủng LLĐB không?
Cả hội trường im phăng phắc, chỉ có hai bàn tay giơ lên và một trong hai bàn tay đó là ba tôi. Tất cả những ánh mắt nhìn về phía hai sĩ quan trẻ đó, không khỏi ngạc nhiên và thầm thán phục. Mọi người ai cũng biết là làm sĩ quan huấn luyện là an toàn nhất và làm sĩ quan LLĐB là đi vào vùng lửa khói, vào nơi nguy hiểm, sống còn trong gang tấc.
Ông đã trải qua những khóa huấn luyện rất đặc biệt cho cuộc chiến ngoại lệ, không quy ước. Các sĩ quan và hạ sĩ quan LLĐB học qua nhiều môn huấn luyện khác nhau, như du kích và phản du kích, phá hoại, cứu thương, gọi pháo binh, truyền tin, xâm nhập, thám sát, v.v. và v.v. Do đó, các sĩ quan và hạ sĩ quan LLĐB chiến đấu rất giỏi, can trường, và thích ứng với chiến thuật lấy ít chọi nhiều. Sau khi hoàn tất các khóa huấn luyện đặc biệt, ông được đưa về trình diện Bộ chỉ Huy (BCH) C1 LLĐB. Sau này, ông đã trải qua Khóa 4 Hướng Dẫn Trưởng Trại LLĐB tại Đồng Ba Thìn và Khóa 110 Nhảy dù tại Sư Đoàn Nhảy Dù.
Xin nói rõ ở đây, binh chủng LLĐB có mặt trên 4 vùng chiến thuật. Vì tính cách đặc biệt, nên tên gọi mang tính đặc biệt. BCH cao nhất ở mỗi vùng gọi là C, gồm có C1, C2, C3, và C4. Thoạt đầu, cấp chỉ huy cao nhất của các C chỉ là thiếu tá, sau này lên đến đại tá. Mỗi C chỉ huy vài toán B, và mỗi toán B chỉ huy vài toán A. Toán A, chỉ huy một trại LLĐB, có từ 12 tới 14 sĩ quan và hạ sĩ quan. Phía LLĐB Hoa Kỳ có số SQ và HSQ tương đương, nhưng chỉ làm công tác cố vấn. Một trại LLĐB có từ 4 cho tới 6 đại đội. Nghĩa là quân số của một trại LLĐB tương đương hoặc nhiều hơn một tiểu đoàn bộ binh.
Vùng I Chiến Thuật
Trại LLĐB đầu tiên mà ba tôi đặt chân tới là trại A–Shau, nằm trong thung lũng phía Tây Nam của Huế và giáp sát với biên giới Việt–Lào. A–Shau và A–Lưới đã là những địa danh nổi tiếng gắn liền trong quân sử VNCH. Các trại LLĐB này với những người lính quả cảm, đã góp phần ngăn chặn bước tiến của CSBV, vì thế chúng đã tìm mọi cách để đánh phá cho bằng được. Là một Chuẩn úy trẻ của trại A–Shau, ông có dịp tham chiến cùng những “bóng ma đêm” ở biên giới ngăn chặn bước chân xâm lược của đoàn quân sinh Bắc tử Nam. Xung quanh trại A–Shau có 3 tiền đồn ở trên những đỉnh núi cao, một bên là lãnh thổ VNCH và bên kia là vùng CS trên đất Lào. Mùa xuân 1964, ông được điều động lên chỉ huy tiền đồn xa nhất cắm sâu vào biên giới Việt–Lào. Trong đời quân ngũ, ông đã nhớ những kỷ niệm nơi đây vì là mùa xuân đầu tiên nơi tiền đồn hẻo lánh và xa nhất của lãnh thổ VNCH. Ông đã đón xuân bằng những quả đạn pháo và những cuộc giao tranh liên tục với quân thù. Với tính can trường và trách nhiệm, ông được Thiếu tá CHT C1 Nguyễn Đức Khoái tin cậy nói với ông:
– Anh Đường, anh lên nắm trưởng trại A–Lưới nha, rồi tôi sẽ cất nhắc anh lên thiếu úy sớm. Tôi giao trại A–Lưới cho một sĩ quan nào khác tôi không tin tưởng.
Thế là ba tôi đồng ý nhận làm trưởng trại A–Lưới khi ông vẫn còn mang lon chuẩn úy. Vào thời gian này, thiếu úy là cấp bậc thấp nhất có thể được giao chỉ huy một trại, vì vào lúc đó thiếu sĩ quan.
Như trại A–Shau, A–Lưới cũng nằm trong thung lũng được bao bọc bởi những ngọn núi. Các trại thường chịu những trận mưa pháo dày đặc của địch nên đã đi vào tiềm thức của các binh sĩ. Nhiều bữa trưa, khi chợp mắt, ông đều nghe những tiếng nổ trong mơ, và la lên, “Việt cộng pháo kích tụi bây ơi.” Nhưng một lần, cơn ác mộng đã biến thành sự thực. Sau một tiếng nổ dữ dội sát bên cạnh cái võng cá nhân vì bị ám sát bằng lựu đạn, ông bị văng xuống đất. Khi choàng tỉnh, chạm tay vào bụng, vào ngực, vào mặt... ông cảm thấy tay mình ướt, giơ tay lên xem thì thấy toàn là máu của ông. Ông không biết đau, nhưng trong tích tắc ông đã ngất đi. Khi tỉnh dậy, ông mới biết mình còn sống khi thấy toàn thân được băng bó và đang nằm trong Tổng Y Viện Cộng Hòa (TYVCH).
Người liệng lựu đạn mưu sát ông là người lính biệt kích quân (CIDG) trong trại của ông. Người lính Thượng này đã bị bắt và khai rằng nếu không làm như vậy, CS sẽ bắt và hành hạ gia đình của anh ta. Sau khi bình phục, trở lại đơn vị không lâu thì ba tôi được chuyển về C3, do Trung tá Phạm Duy Tất làm chỉ huy trưởng lúc bấy giờ.
Vùng III chiến thuật
Về Vùng III, ba tôi đã hành quân qua rất nhiều trại LLĐB dọc theo biên giới Việt–Miên, từ Bù Đốp, Tống Lê Chân, Ka Tum, Đức Huệ, Thiện Ngôn, Lộc Ninh, Trà Cú, v.v. Ông có rất nhiều kỷ niệm chiến trường tại vùng này vì là nơi ông ở lâu nhất cho tới khi binh chủng LLĐB bị giải tán và hầu hết các binh sĩ LLĐB được chuyển qua binh chủng Biệt Động Quân. Vùng 3 cũng là nơi ông đã tạo được nhiều chiến công nhất cho đơn vị, cho toán B, toán C và QK3 nói chung. Các toán A do ông chỉ huy đều thuộc B16, do Thiếu tá Lê Tất Biên làm chỉ huy trưởng, sau này lên trung tá.
Tôi xin kể về 3 trại mà ông có nhiều kỷ niệm.
 
Trại LLĐB Bù Đốp
Khi mang lon thiếu úy, ông được điều về làm phụ tá (trại phó) cho Đại úy Nguyễn Công Triệu, trưởng trại Bù Đốp. Trại nằm sát biên giới Việt–Miên. Vì thế, binh sĩ của trại Bù Đốp thường đụng trận với lính chính quy của CSBV. Ông kể, ông đã học được rất nhiều từ phong cách chỉ huy và tài thao binh của Đại úy Triệu. Ngược lại, Đại úy Triệu cũng thấy được khả năng chỉ huy và làm việc có trách nhiệm của ba tôi. Hai ông cùng làm việc với tâm đầu ý hợp đã khiến trại Bù Đốp là nỗi ám ảnh biên giới lớn nhất cho CSBV. Chúng tìm mọi cách để giết chết hai người.
Ngày ông được lên trung úy đó là ngày đau thương mà ông phải chứng kiến. Sáng hôm đó, một số binh sĩ cùng thân nhân và số thường dân trong trại như cô giáo lên xe GMC chạy ra thị xã gần nhất để mượn đũa, chén và đĩa, nhân tiện mua một số đồ ăn để về làm tiệc rửa lon trung úy cho ông. Xe chạy một quãng đường thì bị nổ tung, khiến tất cả mọi người đều chết, duy trừ một binh sĩ đeo theo hông của xe sống xót. Sau khi điều tra, thì được biết là CS đã gài lựu đạn theo nhành cây ven lối mòn và xe chạy vướng vào và bị nổ. Thế là bữa tiệc lên lon của ông đã trở thành đám tang cho một số binh sĩ và một số thường dân vô tội có mặt trong trại Bù Đốp. Ông đã tâm sự với tôi trong nỗi buồn là ngày mình lên lon, lại chính là ngày mang đến đau thương cho nhiều gia đình.
Có phải những gì ông chứng kiến, đã hun đúc sự căm thù CS và ý chí gan lì chống CS của ông, một người lính LLĐB để tạo nên nhiều thành tích tại mặt trận sau này?
 
Trại LLĐB Ka Tum
Đầu năm 1968, qua lời tiến cử của Đại úy Nguyễn Công Triệu, Trung tá Phạm Duy Tất đã chọn ba tôi, từ danh sách 4 sĩ quan được đề cử, về làm trưởng trại LLĐB Ka Tum. Phụ tá cho ông là Trung úy Đặng Ngọc Quỳ. Với cương vị trưởng trại, đã đem đến cho ông nhiều hãnh diện trong cuộc đời binh nghiệp, ông không những lo chỉ huy hành quân tác chiến mà còn chăm lo đến đời sống gia đình của quân nhân sống trong trại.
Khi cường độ cuộc chiến lên cao, CS tìm mọi cách xua quân thật nhiều từ Bắc vào Nam dọc theo biên giới, vì thế các trại LLĐB luôn là chướng ngại vật cho sự chuyển quân của CSBV. Chúng đã tung những sư đoàn (CS ngụy danh gọi là công trường) đánh vào các trại LLĐB. Trại Ka Tum là một trong những trại CSBV nhắm vào. Qua kinh nghiệm tác chiến và chỉ huy, ông đã gây tổn thất lớn cho CSBV trong phạm vi của trại kiểm soát.
Để giữ an ninh cho trại, ông ra lệnh giới nghiêm từ 7 giờ tối. Mọi di chuyển sau 7 giờ đều bên dưới giao thông hào. Ai đi bộ bên trên, thì bị bắn bỏ. Ngoài ra, ông tự lập hệ thống mìn claymore xung quanh trại và được điều khiển từ hầm chỉ huy.
Vào trưa ngày X, CS đã pháo kích liên tục vào trại Ka Tum. Chúng đã dùng chiến thuật “tiền pháo hậu xung” để tấn công trại, và tung vào 2 trung đoàn của Công Trường 7 và 9 cùng một số đơn vị biệt lập yểm trợ. Tối hôm đó, lính CS đã tràn vào một mặt trại. Ông đã bình tĩnh chỉ huy đánh cận chiến ngay bên trong, một mặt điều khiển hệ thống mìn cho nổ khi CS lọt vào bẫy mìn, mặt khác gọi pháo binh bắn thẳng vào các vị trí phòng thủ bên ngoài nơi CS tiến vào. Giao tranh dữ dội, đến rạng sáng thì ông đánh bật được các trung đoàn CS ra khỏi căn cứ khiến chúng phải tháo chạy về bên kia biên giới.
Khi trời đã sáng hẳn, tiếng súng đã yên, binh lính của trại lục soát và bắt được 14 tù binh, với những khuôn mặt non choẹt, nhỏ nhất là 12 tuổi và tất cả là dân Miền Bắc. Những tù binh này cho biết là họ không dám rút lui vì sợ đạp mìn hoặc trúng đạn, nên nằm yên tại chỗ là an toàn nhất. Hơn nữa, họ xâm nhập vào Nam theo đoàn quân, không quen biết địa hình ở MN. Điều đó cho chúng ta thấy, vì mưu đồ xâm chiếm, CS vô nhân đạo đã dùng tới trẻ em cho cuộc chiến. Những đứa trẻ 12, 13 tuổi, ở tuổi háo thắng, ăn chưa no, lo chưa tới, suy nghĩ còn nông cạn, vậy mà bị CS tuyên truyền đưa vào cuộc chiến. Ngoài bắt được tù binh, khoảng 135 xác VC đếm được nằm khắp nơi trong và ngoài trại. VC đã để lại hơn 100 vũ khí các loại, cùng nhiều lựu đạn và chất nổ. Trong khi đó lực lượng của trại Ka Tum, vừa tử trận và bị thương chưa tới 10 người.
Khi lửa khói của trận chiến chưa tàn và xác giặc còn nằm ngổn ngang, Trung tướng Đỗ Cao Trí, Tư Lệnh QK3 đã đáp trực thăng xuống đây. Ba tôi đã dẫn Tướng Trí đi xem bãi chiến trường. Đi một hồi, Tướng Trí nói:
– “Thôi được rồi em, anh xem vậy đủ rồi.”
Tướng Trí đã khen ngợi ba tôi và toàn thể binh lính của trại Ka Tum. Tin vui chiến thắng của trại LLĐB Ka Tum đã được điện về BCH C3, về Quân Đoàn III, và về Bộ tổng Tham Mưu. Trại Ka Tum được tưởng thưởng Huy Chương Anh Dũng Bội Tình Cấp Quân Đội với nhành dương liễu. Ông được đặc cách lên lon tại mặt trận, nhưng bị trở ngại trong quân bạ, nên ông lại nhận thêm Anh Dũng Bội Tinh cấp Quân Đội với nhành dương liễu. Về phía LLĐB Hoa Kỳ, ông được tưởng thưởng Huy Chương Anh Dũng Bội Tinh với ngôi sao đồng – Bronze Star Medal with V (Valor). Để nêu cao tinh thần chiến đấu của Quân Đội, trong bài diễn văn trên đài phát thanh, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã ca ngợi chiến thắng của trại LLĐB Ka Tum và nêu tên ba tôi, Trung úy Nguyễn Minh Đường. Chiến thắng Ka Tum là niềm hãnh diện lớn cho ông. Qua trận chiến đó, ông đã được diện kiến và được khen ngợi từ Tướng Trí và được TT VNCH nêu tên trên đài phát thanh.
Trại LLĐB Đức Huệ
Ông về làm trưởng trại LLĐB Đức Huệ vào năm 1969, khi đó ông đã lên đại úy. Cùng năm, ông lập gia đình với mẹ tôi. Năm sau, tôi ra đời và được đặt tên là Nguyễn Minh Hùng Biên. Ông cho tôi biết, Hùng Biên là ám danh đàm thoại của ông khi ở C1. Hùng Biên có nghĩa là “Anh Hùng Nơi Biên Giới”.
Vào tháng 3/1970, Trung tướng Đỗ Cao Trí, Tư Lệnh Quân Khu 3, đã mở chiến dịch Toàn Thắng với các cuộc hành quân lớn qua Campuchia, đánh thẳng vào chiếu khu D, vào cơ sở hậu cần của CSBV. Trại Trà Cú và trại Đức Huệ, là hai trại nằm sát biên giới, đã tham gia vào cuộc hành quân lớn này. Đại úy Nguyễn Mộng Hùng, TĐT TĐ64 BĐQ Biên Phòng ở trại Trà Cú và Đại úy Nguyễn Minh Đường, TĐT TĐ83 BĐQ Biên Phòng ở trại Đức Huệ đã chỉ huy đánh một mũi vào Campuchia. Lực lượng hành quân của 2 tiểu đoàn BĐQ BP đã được đổ bộ bằng trực thăng xuống chiến trường thuộc mật khu Ba Thu của VC.
Sau một tháng rưỡi truy lùng và diệt địch, hai tiểu đoàn BĐQ BP đã đánh tan nát hậu cứ của CS, đã triệt hạ cả trăm Việt cộng, và khám phá ra các kho vũ khí đủ loại từ cá nhân đến cộng đồng, trên 1,500 khẩu. Một số lớn súng đạn được phát giác trên những thửa ruộng. CS đã bỏ súng đạn trong bao và chôn trên các thửa ruộng, nhưng tình cờ đạn pháo cày tung lên khỏi mặt đất. Ông đã giao một phần vũ khí cho QK3, một phần ông gởi tặng cho các đơn vị và các sĩ quan. Ông đã chỉ huy trực thăng tải vũ khí thu được và thường dân ra khỏi vùng lửa khói. Có một số kiều bào VN muốn nhờ ông giúp cho gia đình và tài sản ra ngoài, khi xong họ sẽ trả cho một số tiền lớn. Ông đã từ chối và ra lệnh trực thăng chỉ chở vũ khí, tải thương, người già, phụ nữ và trẻ em. Ông tâm sự với tôi, nếu là người không có đạo đức và ham tiền, họ có thể nhận chở kiều bào và tài sản của họ, nhưng ông thì không làm điều đó.
Để ghi lại cuộc đời chinh chiến của mình. Ông đã đặt tên cho những đứa con sau tôi là: Nguyễn Thị Đoan Thùy, Nguyễn thị Đoan Trang, Nguyễn Minh Hùng Cương, và Nguyễn Thị Đoan Trâm. Tên tôi và hai người em ghép lại là: Biên Thùy và Biên Cương.
Sau này, ông được chuyển về làm sĩ quan tham mưu một thời gian và thường được lên xử lý thuờng vụ cho các trại Biệt Động Quân biên phòng. Đại tá Chuẩn ra công lệnh cho ba tôi lên thay Thiếu tá Nguyễn Mộng Hùng, nắm trưởng trại Lộc Ninh (Tiểu Đoàn 74 BĐQ). Khi ba tôi lên tới Biên Hòa, chờ trực thăng bốc lên trại Lộc Ninh, thì được biết Lộc Ninh bị thất thủ và Thiếu tá Hùng bị mất tích. CS đánh chiếm được Lộc Ninh, thừa thắng xông vào An Lộc. Không ngờ, An Lộc là mồ chôn xác Cộng sau này. Khi mặt trận An Lộc diễn ra, BCH BĐQ QK3 thành lập Bộ Chỉ Huy Tiền Phương BĐQ cho mặt trận An Lộc, ba tôi với cấp bậc thiếu tá được đưa lên nắm Chỉ Huy Trưởng BCH Tiền Phương. Sau mặt trận An Lộc, ông được thuyên chuyển về Liên Đoàn 4 Tổng Trừ Bị của BĐQ. Ngày về Liên Đoàn 4, ông lên trình diện Đại tá Vũ Phi Hùng. Đại tá Hùng nói:
– Anh Đường, các tiểu đoàn đều có tiểu đoàn trưởng. Thôi anh tạm nắm Trưởng Ban 2. Khi nào có chỗ trống, tôi sẽ đưa anh lên nắm tiểu đoàn trưởng.
Ba tôi trả lời:
– Đại tá đừng bận tâm. Tôi đã từng nắm trưởng trại LLĐB và tiểu đoàn trưởng.
 
Vùng II Chiến Thuật
Liên Đoàn 4, có thời gian ngắn về bảo vệ Sài Gòn. Đó là thời gian ông có dịp gần gia đình nhất. Sau đó, Liên Đoàn 4 được đưa lên Vùng 2. Khi tiểu đoàn phó của Tiểu đoàn 43 BĐQ bị thương, Đại tá Hùng liền đưa ông lên thế. Qua phong cách chỉ huy, ông được các binh sĩ ở tiểu đoàn thương mến. Họ nói với ông là cách chỉ huy và làm việc của ông và Đại úy Giang Văn Xẻn thật giống nhau. Tại đây, Liên Đoàn 4 thường đụng trận với Sư Đoàn 3 Sao Vàng. Dù ở cương vị tiểu đoàn phó, ông được Đại tá Hùng tin cậy và giao nắm cánh quân chính diện của tiểu đoàn và toàn quyền chỉ huy cả lực lượng thiết giáp tăng phái. Ông đã cùng Tiểu đoàn 43 tạo nhiều chiến công trên các mặt trận ở Quy Nhơn, Bình Định. Ông kể, Sư Đoàn 3 Sao Vàng rất sợ đụng trận với LĐ4 BĐQ.
 
Vùng IV Chiến Thuật
Vào đầu năm 1975, ông được thuyên chuyển về Vùng IV Chiến Thuật, nắm chi khu phó chi khu Phong Phú, tiểu khu Phong Dinh (Cần Thơ). Với cương vị chi khu phó lo về an ninh, ông đã cùng Trung tá quận trưởng đập tan các sào Huyệt của CS trong vùng kiểm soát. Ông đã có dịp gặp, họp hành quân, và bàn về an ninh trong vùng với Đại tá Huỳnh Ngọc Diệp, tỉnh trưởng và hai Tướng tư lệnh Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng. Những ngày tháng cuối cùng của năm 1975, Đại tá Tỉnh trưởng cho ông biết là ông có tên trong danh sách lên Trung tá và đi làm Quận Trưởng. Ngày đó chưa đến thì QLVNCH bị đồng minh bỏ rơi và bức tử. Ông và hầu hết các sĩ quan ở Quân Khu IV đã cầm súng chiến đấu tới giờ thứ 25, khi được tin cả 2 vị Tướng tư lệnh của QK4 đã tuẫn tiết.
 
Lao Tù cộng sản
Như các quân nhân khác của QLVNCH, ông đã chịu cảnh lao tù CS. Ông bị đưa ra Bắc, ở trại tù Hoàng Liên Sơn, Yên Bái, rồi trại K3 ở Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh. Những năm tháng lao tù, đủ bệnh tật, bị lao động khổ sai, thiếu ăn, thiếu mặc, nhưng ông vẫn giữ khí phách của người lính QLVNCH. Ông không tỏ ra hèn nhát, luồn cúi. Vì thế, ông đã bị cai tù CS đá vào ngực và ọc ra máu. Vết máu bầm đó đọng lại trong phổi và cản trở ông và gia đình không xuất cảnh theo diện HO đúng hạn kỳ, vì bị bắt uống thuốc ngừa bệnh phổi. Đối với bạn tù, ông hòa nhã và bảo vệ người yếu thế. Chính khí khái của ông, mà bạn tù cùng phòng với ông đã dùng ông làm vật chắn. Ông kể, khi đi lao động về, vào phòng giam, ông hỏi:
– Ai sẽ chia cục xà bông đá với tôi?
– Anh sẽ chia với thằng C. Một người bạn tù lên tiếng.
Thì ra, không ai dám chia với bác C ấy. Ba tôi kể, bác C ấy làm “ăng–ten” cho cai tù CS và ăn hiếp bạn tù, nên mọi người đều ghét và sợ va chạm với nhân vật này. Với ai, chớ với ba tôi thì nhân vật này không dám đụng tới vì ông ta biết rằng ba tôi gốc LLĐB, gan dạ, liều lĩnh, nói là làm. Ba tôi đã đòi hỏi phần của mình. Cuối cùng, chính nhân vật này phải cắt cục xà bông đưa cho ba tôi. Ba tôi thường dạy chúng tôi rằng, “Mình không nên ăn hiếp người yếu hoặc thấp nhỏ hơn mình. Ngược lại, nên bảo vệ cho họ.” Đúng vậy, khi ở tổ ra rừng đốn củi, ông thường dành khiêng phần gốc cây để phần ngọn nhẹ cho bạn tù.
Có phải cái duyên của trời đất, đã cho ông và bác Giang Văn Xẻn gặp nhau trong cảnh lao tù ở Yên Bái. Khi cùng đi tắm ở một con suối, bác Xẻn thấy ông mặc áo rằn ri, trên túi áo có hàng chữ Đường. Bác Xẻn hỏi:
– Anh có phải là Đường, từng nắm Tiểu Đoàn Phó 43 BĐQ không?
Ba tôi ngạc nhiên và hỏi ngược lại:
– Vậy anh có phải là Xẻn không?
Trong chiến tranh hai ông chưa hề gặp mặt, chỉ biết nhau qua những lời ngợi khen của binh sĩ tiểu đoàn về vị này, về vị kia. Từ đó, tình bạn của hai ông được thắt chặt hơn cho mãi đến sau này. Ba tôi nói cho chúng tôi biết về bác Xẻn là người bạn tốt. Trong tù, trong lúc thiếu ăn, ăn độn bo bo và cơm, ba tôi đau răng khó nhai vậy mà bác Xẻn nhường cả phần cơm của bác cho ba tôi ăn.
Ông đã bị giam 10 năm tù. Ông cũng như những người bạn khác, được thả từ nhà tù nhỏ ra nhà tù lớn hơn, nơi gia đình ông cũng đang chịu chung cảnh tù đày, không có quyền tự do ngôn luận và đi lại, không có quyền sống theo ý nguyện của mình, và chịu mọi kềm kẹp của hệ thống cai trị độc quyền của chế độ CSVN. Tới 1995, ông và cả gia đình mới được đi ty nạn chính trị tại cao nguyên tình xanh, thành phố Seattle, Tiểu Bang Washington.
Sau khi định cư tại Seattle, ngoài việc giúp gia đình sớm ổn định và hòa nhập vào cuộc sống mới trong xã hội văn minh, tự do và dân chủ, ông bước ngay vào các sinh hoạt cộng đồng, tham gia các hội đoàn đấu tranh chính trị cho một VN không CS. Ông đã tìm lại với những chiến sĩ cùng binh chủng với ông năm xưa cùng một số người đứng ra vận động thành lập Hội Lực Lượng Đặc Biệt Tiểu Bang Washington. Ông được bầu làm Hội Trưởng Hội LLĐB đầu tiên và làm suốt hai nhiệm kỳ liên tiếp. Ông cũng được bầu làm cố vấn của Hội Biệt Động Quân khi đó.
Với tính tháo vát, năng động, và uy tín trong quân đội, ông được mời vào nhiều tổ chức chống Cộng. Ông có mặt hầu hết các sinh hoạt chính trị tại địa phương. Cái CS sợ nhất là sự đoàn kết, vì thế CS tìm mọi cách đánh phá và bôi nhọ các hội đoàn và các cá nhân, để làm nhụt ý chí đấu tranh chống Cộng. CS và tay sai CS đã thất bại, vì chúng đã không đánh gục được ông. Ông vẫn hiên ngang trên các cương vị của mình, như là chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia TB WA và hơn hết là ông luôn sát cánh với các tổ chức chống Cộng khác, như Ủy Ban Chống Cờ VC. Với ông, CS và tay sai CS là kẻ thù chính, còn những bất đồng trong các tổ chức đấu tranh chỉ là chuyện nhỏ, ông không xem nặng. Ông luôn hòa nhã với mọi người, không dèm pha, không nói xấu, hoặc không tiếp lời nói xấu một ai. Theo ông, người Quốc Gia không nên bươi móc và đánh người Quốc Gia, chỉ có CS và tay CS mới đối xử với người Quốc Gia như vậy.
Bao nhiêu lời, tôi cũng chưa thể nói hết về ông. Nhưng tôi hy vọng là đem đến cho các bạn hình ảnh về người lính của QLVNCH. Chắc các chiến hữu vào sanh ra tử với ông, từng ở lao tù CS với, từng sinh hoạt các tổ chức, hội đoàn và cộng đồng với ông sẽ minh chứng cho những gì tôi viết về ông hôm nay. Lời văn bên trên có dông dài, nhưng nó có thể gói gọn trong những ý sau đây.
– Là người thương nước yêu dân, ông đã tình nguyện vào trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức và đã tình nguyện về với binh chủng LLĐB, để cho ông có cơ hội trấn thủ biên cương bảo vệ bờ cõi và nền Tự Do, Dân Chủ và Hạnh Phúc của Miền Nam VN.
– Ông đã là người lính can trường, xông pha nơi miền giới tuyến, đã đem lại nhiều chíến công xuất sắc cho đơn vị. Ông đã là vị sĩ quan trẻ nắm trưởng trại LLĐB khi ông mới là chuẩn úy. Cá nhân ông đã được tưởng thưởng nhiều huy chương, nhưng cao nhất là 3 Huy Chương Anh Dũng Bội Tinh Cấp Quân Đội với Nhành Dương Liễu và 1 Huy Chương Anh Dũng Bội Tinh Ngôi Sao Đồng (Bronze Star Medal with V) của Hoa Kỳ. Ông đã hụt mất 2 lần thăng cấp tại mặt trận, đổi lại là 2 Huy Chương Anh Dũng Bội Tinh Cấp Quân Đội với nhành dương liễu.
– Ông đã hy sinh xương máu rất nhiều trong cuộc chiến, bị thương nhiều lần, kể cả hai lần bị thương nặng được tải thương ra khỏi chiến trường. Ông nhiều lần thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Ông kể, trong trận chiến ở đồn điền cao su, ông và người lính ngồi tác xạ ở gốc cây thì bị thụt B40 vào. Người lính của ông bị thương ở ngực, máu ra rất nhiều. Chính ông băng bó vết thương. Người lính đó đã qua đời trên trực thăng tản thương. Qua bao trận, những mảnh đạn pháo vẫn còn nằm lại trên thân thể của ông. Đó [là] lý do mà bác sĩ không bao giờ cho ông chạy máy MRI (Magnetic Resonance Imaging) quan sát bệnh vì sợ các mảnh đạn sẽ di chuyển.
– Ông đã là người lính thương yêu thượng cấp, che chở và bảo vệ bạn đồng cấp và thuộc cấp, là sĩ quan có trách nhiệm và làm tròn các công tác được giao cho. Trong quân ngũ, ông chưa hề đánh mất hoặc bỏ rơi một trại LLĐB nào vào tay CS.
– Ông hãnh diện được Trung tướng Đỗ Cao Trí tới mặt trận khen ngợi chiến công của ông và đơn vị. Ông hãnh diện được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ca ngợi trên bản tin gởi đến toàn dân. Ông cũng hãnh diện đã được Tổng thống tới cạnh giường bệnh trong Tổng Y Viện Cộng Hòa thăm.
– Ông đã hãnh diện thừa uỷ nhiệm của thượng cấp gắn lon đại úy cho Trung úy Đặng Ngọc Quỳ. Với uy tín và thành tích xuất sắc của mình, ông đã đề cử lên với Trung tá Lê tất Biên và Đại tá Nguyễn thành Chuẩn cho Đại úy Quỳ về làm trưởng trại Thiện Ngôn, sau này là Tiểu Đoàn Trưởng TĐ73 BĐQ Biên Phòng.
– Ông cũng hãnh diện đề nghị cho các hạ sĩ quan LLĐB trở thành các sĩ quan xuất sắc của binh chủng BĐQ.
– Ông là người chồng thủy chung và người cha gương mẫu, luôn chăm sóc và bên cạnh vợ trong các vui buồn. Ông luôn lấy hành động cộng với lời nói để làm tấm gương cho các con soi vào.
– Ông là người chiến sĩ chống Cộng kiên cường từ khi còn trong quân đội, tới trại tù CS, và ra tới hải ngoại này. Ông không chùn bước trước những bôi nhọ và đánh phá của CS và tay sai CS.
Tôi rất hãnh diện và tự hào về tất cả những gì ông đã làm cho Quốc Gia và Dân Tộc, cho gia đình, cho người thân, cho chiến hữu, và bạn hữu của ông.
Tôi cảm ơn ông đã cho tất cả những gì anh em tôi có được hôm nay. Ông cho tôi hiểu biết nhiều hơn về QLVNCH, về những người lính chiến như ông, về những hy sinh xương máu của người lính VNCH.
Tôi cảm ơn ông đã nuôi dưỡng trong tôi tình yêu quê hương, và dân tộc, và hun đúc trong tôi nỗi căm thù CS sâu đậm.
Tôi và gia đình đã ngàn thu vĩnh biệt ông, nhưng những lời di huấn của ông chúng tôi sẽ không bao giờ quên: sống có đạo đức, nhân nghĩa, có tâm lành, biết bố thí, và từ bi hỷ xả.
Chúng tôi rất tiếc là không còn cơ hội để lo cho ông, đem lại niềm vui cho ông. Riêng tôi, tôi sẽ không còn nghe ông kể về đời quân ngũ của ông, về các trận chiến, về các chiến hữu của ông. Nhưng tôi xin ghi nhớ những gì ông đã kể cho tôi.
Ba tôi, người lính VNCH là như thế đó. Ông, cũng như vô số những người lính VNCH khác, là kết tinh của nền giáo dục nhân bản của VNCH. Nền giáo dục đó dạy cho ông nhân cách sống, lòng thương yêu dân tộc, sống ngay thẳng, đạo đức, cương trực, và có trách nhiệm. Ông cũng như vô số những người lính VNCH khác đã được trui rèn trong các quân trường, đã đặt Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm lên trên hết. Chính điều đó, những người lính này đã là những chiến binh có trách nhiệm, gan dạ, và dũng cảm trong cuộc chiến bảo vệ nền tự do và dân chủ của MNVN.
Con đường chống CS ông đi, đã có, đang có và sẽ có nhiều người nối tiếp và chúng ta hãy vững tin vào một ngày không còn chế độ CS trên quê hương VN yêu dấu của chúng ta. Ngày đó sẽ không xa, bạn ơi.
Atlanta, 11/12/2013
Hùng Biên