Saturday, July 20, 2024


(1956-1963)
Gman
 
Nhân ngày thành lập Phi Đoàn 514, 1-6-1956, xin viết lại hầu bạn đọc những tổ chức và con người đã đóng góp sinh mạng và công sức của mình trong thời gian từ 1956 đến cuối năm 1963.  Đóng khung trong thời kỳ này vì  người viết biết tương đối còn rõ những sự kiện vui buồn đã xảy ra như một nhân chứng sống, ngoài ra, không có ý gì khác.
 
Khi Pháp bắt đầu chuẩn bị rời Việt Nam sau Hiệp Định Genève, nhiều đơn vị Không Quân Pháp đã được chuyển giao lại cho Quân Đội Quốc Gia Việt Nam ở Nam Vĩ Tuyến 17.  Trong số đơn vị đó có Phi Đoàn 1 Khu Trục và Trinh Sát, gồm 25 chiếc F-8F Bearcat.
Tại sao lại gọi là Phi Đoàn Khu Trục và Trinh Sát?  Vì lẽ ngoài khả năng trang bị bom đạn, F-8F còn mang máy không ảnh trong một bình xăng phụ dưới bụng khi cần chụp không ảnh.  Có hai máy ảnh gắn trong bình xăng phụ mang dưới bụng(center rack), một máy chụp ảnh đứng, một máy chụp ảnh nghiêng, khổ phim là 9 inches.  Số hoa tiêu được huấn luyện chụp không ảnh không nhiều, chỉ chọn vài người phi tuần trưởng hiếm hoi thời đó.  Công việc chụp ảnh có năng suất hay không?  Thật tình không giám nghĩ đến, vì rất ít nhu cầu vào thời điểm này.  Nhất là công việc rửa ảnh không thực hiện ngay tại phi đoàn, mà phải gửi về Bộ Tư Lệnh Không Quân, và nơi đó, cơ quan quân báo lại chuyển đến đơn vị chuyên môn khác bên Lục Quân.
Nhiệm vụ chính của Phi Đoàn vẫn là khu trục.  Trong nhiệm vụ này, người Pháp đã đào tạo cho phi đoàn mấy đợt hoa tiêu.  Trước tiên là đợt 13 người của khóa các anh:
1-Phạm Phú Quốc(chết trên A-1H năm 1965 ở Bắc Vĩ Tuyến 17)
2-Nguyễn Thế Long(chết trên F-8F trên sông Nhà Bè)
3-Võ Văn Sĩ (chết vì bệnh tại Phoenix, AZ)
4-Nguyễn Tấn Sĩ (chết trên A-1H trên chiến trường miền Nam Việt Nam )
5-Mạc Kỉnh Dung(chết trên A-1H trên chiến trường miền Nam Việt Nam)
6-Vũ Khắc Huề (chết trên A-1H trên chiến trường miền Bắc)
7-Trương Đăng Lượng (hiện sống tại San Diego)
8-Lê Ngọc Duệ (vừa chết vì bệnh tại Oregon trong năm 2001)
9-Nguyễn Đình Nam(hiện sống tại Hoa Kỳ)
10-Nguyễn Hữu Bách(hiện sống tại Hoa Kỳ)
11-Thái Văn Dương(không rõ còn sống tại đâu)
12-Võ Văn Xuân(chết trên F-8F tại Việt Nam)
13-Huỳnh Hữu Bạc(chết trên F-8F tại Việt Nam).
Khóa này thoạt đầu có tất cả 50 người, theo học căn bản về bay tại Trường Aulnat (trên phi cơ Stamp) và về ngành khu trục tại Bordeaux (trên phi cơ Morane Saulnier MS-475).  Nhưng số người tốt nghiệp chỉ có 13 người có tên ở trên.  Những người này được xuyên huấn trên F-8F trong đơn vị Pháp tại Vũng Tàu. 
Khi chuyển giao cho Việt Nam, đơn vị lấy tên là Phi Đoàn 1 Khu Trục và Trinh Sát đồn trú tại Biên Hòa, do Thiếu Tá Huỳnh Hữu Hiền là người chỉ huy trưởng đầu tiên.  Thiếu Tá Huỳnh Hữu Hiền tốt nghiệp ngành vận tải, cùng khóa với Niên Trưởng Phạm Ngọc Sang qua các trường Marrakech, Avord, CIET, Blida...Sau khi hồi hương, NT Huỳnh Hữu Hiền cùng một số người khác được gửi theo học khóa khu trục đặc biệt tại Marrakech(T-6) và Khouribga(F-6F Hellcat).  trong số này gồm có các anh:
1-Huỳnh Hữu Hiền(chuyển về BTLKQ để làm Tham Mưu Trưởng từ năm 1958 và Tư Lệnh Không Quân từ 1962 đến 1963)
2-Nguyễn Kim Khánh(sau được chuyển ra TTHLKQ/Nha Trang vào năm 1958 làm Giám Đốc Huấn Luyện, và chuyển về Bộ Tổng Tham Mưu, Phòng 5 sau cùng)
3-Dương Thiệu Hùng(năm 1959 cũng ra TTHLKQ/Nha Trang làm Trưởng Trường Phi Hành, và sau cùng tại BTLKQ, Yểm Cứ)
4-Nguyễn Hữu Chẩn(chết trên A-1H trên chiến trường miền Bắc)
5-Nguyễn Quan Huy(chỉ bay A-1H và chết trong  năm 1963 tại Biên Hòa)
6-Nguyễn Ngọc Biện(chết vì B-57 cán bễ bọng đái tại phi trường Pleiku)
7-Võ Văn Hội
8-Hồ Xuân Đệ
9-Nguyễn Thông(chết vì tai nạn F-8F tại Biên Hòa năm 1957)
10-Hà Xuân Vịnh
11-Huỳnh Bá Tính(chuyển về BTLKQ trước 1957)
 
Thành phần này có quá trình huấn luyện khác biệt nhau rất nhiều.  Có người đã học ngành vận tải như NT Huỳnh Hữu Hiền, đã từng tốt nghiệp trưởng phi cơ tại Pháp trên C-47.  Có người chỉ tốt nghiệp hoa tiêu đào tạo ở Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang trên Morane Saulnier MS-500, nên sang học xuyên huấn khu trục tại Marrakech và Khouribga đã gặp rất nhiều trở ngại.  Chính người viết bài này đã sang Khouribga xuyên huấn trên F-6F vào đầu năm 1957 đã nghe các huấn luyện viên kể lại thành tích bay bổng của họ.  Cũng vì thế, tôi phải học lại bay trên SNJ (T-6 của NAVY) gần 10 giờ(vì tôi đã tốt nghiệp khu trục trên T-33 và Vampire V)trước khi được thả bay trên F-6F.  Tất cả những người xuyên huấn F-6F đều đã có bằng hoa tiêu các loại.  Về lại Biên Hòa, có một số như các anh Nguyễn Quan Huy, Nguyễn Ngọc Biện, Võ Văn Hội, Hồ Xuân Đệ đều không lái F-8F và được giữ lại đơn vị, bay L-19 của dơn vị để duy trì khả năng cho đến khi tiếp nhận A-1H.
Trong năm 1956, đơn vị được bổ sung thêm hai hoa tiêu tốt nghiệp từ Trường Khu Trục Pháp tại Mecknès trên T-33 và Vampire V là anh Nguyễn Ngọc Loan và anh Lưu Văn Đức.  Anh Loan bị xác định không đủ khả năng bay nên chuyển về đơn vị quan sát để bay L-19A.
Khi chúng tôi về nước bổ sung cho phi đoàn này vào cuối tháng 2 năm 1957, đã có các anh giữ chức vụ nòng cốt trong phi đoàn như sau:
-Thiếu Tá Huỳnh Hữu Hiền, Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn 1 Khu Trục và Trinh Sát, kiêm Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ 2 Trợ Lực Không Quân, Biên Hòa.
-Đại Úy Nguyễn Kim Khánh, Trưởng Phòng Hành Quân
-Đại Úy Dương Thiệu Hùng, Trưởng Phi Đội 1
-Trung Úy Hà Xuân Vịnh, Trưởng Phi Đội 2
-Thiếu Úy Dương Xuân Nhơn, Trưởng Phòng Vật Liệu
-Chuẩn Úy Nguyễn Văn Tấn, Trưởng Phòng Hành Chánh
 
Phái Bộ Cố Vấn Quân Sự Pháp gồm ba sĩ quan hoa tiêu và chỉ huy là Commandant Marthy(Thiếu Tá), Lieutenant Gillote(Trung Úy tốt nghiệp Trường Võ Bị Không Quân Pháp), và Lieutenant Ruelle(Trung Úy, tốt nghiệp Trường Võ Bị Không Quân Pháp, xuất thân Hạ Sĩ Quan).  Một số hạ sĩ quan Pháp trong nhóm huấn luyện viên hoa tiêu như anh Sergent Bùi(Trung Sĩ) và nhiều hạ sĩ quan cố vấn kỹ thuật mà tôi không biết tên.
 
Rất nhiều sĩ quan bảo trì và tiếp liệu đã có mặt thời đó tại đơn vị, như các sĩ quan:
-Dương Xuân Nhơn, Trưởng Phòng Vật Liệu
-Nguyễn Đức Phết, Trưởng Ban Tiếp Liệu
-Nguyễn Minh Tiên, Trưởng Ban Vô Tuyến,
-Phan Đàm Liệu, Trưởng Ban Vũ Khí
-Bùi Quang Đài, Trưởng Ban Bảo Trì Phi Đạo
 
Rất nhiều sĩ quan bảo trì đáo qua đơn vị này một thời gian ngắn như anh Hoành, anh Nguyễn Văn Trung, anh Bồ Đại Kỳ, sau đó được chuyển sang đơn vị khác.  Rất nhiều hạ sĩ quan kỳ cựu như anh Thiệu, anh Quang, anh Tắng, anh Kính (voi), anh Nhàn, anh Nguyễn Hòa Minh và rất nhiều anh sau này đã mang cấp bậc sĩ quan rất đắc lực trong ngành bảo trì, vũ khí, vô tuyến vv...
 
Trong các năm 1957 và 1958, công việc thường xuyên của đơn vị là huấn luyện xác định hành quân và cao huấn hoa tiêu và các ngành.
Riêng về hành quân, xác định hành quân để trở thành phi tuần viên đã là một việc cực kỳ khó khăn rồi.  Khi Pháp rời đơn vị, chỉ có các anh sau đây có bằng Huấn Luyện Viên Khu Trục, dịch thẳng từ tiếng Pháp là Moniteur de Chasse.  Những người này có khả năng và thẩm quyền hướng dẫn một phi tuần nhẹ (hai phi cơ) và huấn luyện tác chiến cho những người chưa xác định hành quân.  Những người này gồm có:
-Thiếu Tá Huỳnh Hữu Hiền
-Đại Úy Nguyễn Kim Khánh
-Đại Úy Dương Thiệu Hùng
-Trung Úy Hà Xuân Vịnh
-Thiếu Úy Lưu Văn Đức
-Chuẩn Úy Phạm Phú Quốc
-Chuẩn Úy Nguyễn Thế Long
 
Đó là kết quả huấn luyện của Pháp để lại cho phi đoàn trước khi họ rời đơn vị vào tháng 6 năm 1957.
Vào tháng 7 năm 1957, Phái Bộ Cố Vấn Hoa Kỳ có mặt tại phi đoàn.
Trong năm 1957, công tác đào tạo thêm huấn luyện viên khu trục vẫn tiến hành liên tục, nhưng thi lấy bằng không phải là chuyện dễ.  Mỗi tháng, người bay nhiều nhất chỉ được 15 giờ, vì là trong thời bình, vấn đề tiếp liệu tùy viện trợ, giới hạn cả xăng nhớt, bom đạn...và nhất là bộ phận rời (spare parts) của máy bay F-8F rất là hạn chế.  Các thí sinh học huấn luyện viên khu trục phải qua các kỳ thi phi huấn và địa huấn như sau:
-thuật dẫn phi tuần nhẹ, phi tuần nặng.
-Truy cản (intercept)
-Truy Kích không/địa(Assault).
-tác xạ không/địa(súng và Napalm tại xạ trường Phú Lợi)
-không hành xa (thường là Biên Hòa-Đà Nẵng)
-kiến thức tổng quát hàng không và quy luật tác chiến ngành khu trục(Règlement de Chasse).
 
Theo kỹ thuật của Pháp thì phải có khả năng bay hợp đoàn ở cao độ thấp, và tiến đánh từ cao độ 100 bộ, hay tốt hơn là sát mặt đất.  Khi còn 30 giây đến mục tiêu mới cho phi tuần lấy cao độ thích hợp để bắn súng, thả bom hay bắn hỏa tiễn.  Khó nhất là đánh bằng bom Napalm, vì phải đúng trục thả và vừa lên chừng 1,000 bộ là phải lấy trục tấn công và xuống cao độ, nên khóa sinh thường không hành lạc đường, và lấy trục không đúng, hay thả không chính xác mục tiêu vì chưa kịp nhận ra mục tiêu trên bản đồ tỷ lệ 100,000.  Assault có nhiều chuyện vui.  Đánh đâu cũng có thể sai, nhưng đánh vào nhà của anh Lê Ngọc Duệ ở Chợ Gạo là phần đông đều đánh trúng.  Vì nhà đó có trong bản đồ 100,000, và từ xa, cái nóc ngói đỏ, ai cũng thấy rõ được khi còn hơn một phút bay ở cao độ sát đất.  So với A-1H sau này thì chiếc F-8F lấy cao độ rất nhanh, nhanh như A-37 chẳng hạn, nên còn 30 giây nữa cũng đủ cho ta lấy cao độ thả bom hay bắn hỏa tiễn được.  Hỏa tiễn dùng lúc đó là loại có đường kính 5” (127mm, cũng cỡ giữa một trái đạn pháo binh 150 ly và  quả đạn 105 ly) mỗi lần chỉ mang được bốn hỏa tiễn trên bốn giàn phóng mà chỉ thấy dùng cho hỏa tiễn mà thôi.  Thường thì huấn luyện viên chỉ cho biết các yếu tố sau đây trong một phi vụ truy kích:
-Điểm chờ, thường chọn Nhà Bè, bay ở cao độ vừa phải để tiết kiệm xăng là 3,000 bộ;
-Bom tuyến, thường là một con sông, hay một đường lộ dễ thấy, mà lúc nào bay qua bên kia là đất địch thì cao độ phải sát đất, không hành phải tránh những nơi mà huấn luyện viên cho biết có cao xạ, thường chọn các quận lỵ có nhiều nhà, cấm bay qua.
-Tọa độ mục tiêu sẽ cho trên trời trước khi xuất phát từ điểm chờ.  Thường thì dùng một bản đồ tỷ lệ 100,000 cho một phi vụ, nhưng có khi phải dùng đến 4 bản đồ 100,000.  Điểm thực tập khó nhất lại nằm ở ngay chỗ các bản đồ ráp với nhau.  Nếu huấn luyện viên chơi trác thì họ để ý bản đồ của bạn dùng có chỗ nào bị rách thủng vì nếp xếp nhiều lần, thì anh ấy sẽ cho bạn đánh đúng tọa độ đó.  Nên nhớ là trên F-8F, chỉ có một mình, vừa lái, không hành cho đúng(trục và thời gian), còn phải lo sắp xếp phi tuần để đánh, ban hành chỉ thị cho phi tuần viên rõ ràng, đúng lúc, không thiếu sót điều gì, đồng thời cũng bật lên các nút điện điều khiển tác xạ cho đúng, hay khóa an toàn vũ khí sau khi tấn công.  Nhiều anh rất ngại nhìn lâu vào bản đồ, loạng quạng sẽ chúi đầu xuống đất vì tốc độ khá nhanh (7km/phút).  So với phản lực như A-37 hay Vampire V mà chúng tôi đã bay, tốc độ bay thấp là 10km/phút(khoảng 300kts).  Sau này, tôi có dịp dẫn anh Nguyễn Văn Long(em ruột anh Nguyễn Tấn Trào) từ ngành quan sát chuyển sang, trong một chuyến không hành sát đất, anh đã chỉ cho tôi một mục tiêu mà trên thực tế đã qua rồi chừng 10 phút.
Sau khi đánh xong, phải tập họp phi tuần lại theo đội hình chiến đấu ở cao độ thấp và đường về phải khác hơn đường đi để bảo vệ phi tuần khỏi bị địch bắn từ dưới đất hay từ phi cơ nghênh cản.
Nếu bạn bay khảo sát để trở thành huấn luyện viên khu trục thì không thể sai một mục tiêu nào cả.  Bạn còn được chấm điểm về chỉ huy, dẫn phi tuần từ đầu đến cuối mà là một phi tuần nặng bốn phi cơ.  Bạn hướng dẫn phi tuần có an toàn không, chẳng hạn như bay sát đất mà bạn đổi hướng về phía có nhiều phi tuần viên(turn on echelon), hay bạn giải tỏa trái với lệnh mà bạn đã cho là dứt khoát không được.  Còn về kinh nghiệm thì nếu bạn cho thả bom ngược gió bạn cũng sẽ bị trừ điểm, bạn cho thả bom trên gió mà dưới gió là quân bạn, bạn cũng bị trừ điểm.  Theo quy chế cũ, bạn phải có vào khoảng 200 giờ bay trên F-8F hay trên loại khu trục cơ nào khác, bạn mới có thể học làm huấn luyện viên khu trục, và sau đó một thời gian, bạn sẽ được đơn vị xác định lên Phi Tuần Phó, cũng chỉ có quyền chính thức hướng dẫn hai phi cơ mà thôi.  Phải chờ mãi khi bạn có trên 500 giờ bay trên F-8F hay trên phi cơ khu trục nào khác thì bạn sẽ được tiến cử  theo học một khóa Phi Tuần Trưởng với khả năng hướng dẫn một phi tuần từ 4 phi cơ trở lên.  Khó nhất là bạn phải có thể hướng dẫn phi tuần trong mọi thời tiết, tức nhiên phải bay phi cụ tốt, mà theo Pháp, phải có thẻ phi cụ màu lục (carte verte).
 
Về truy cản, tuy rằng F-8F không có máy nhắm để bắn phi cơ, như mục tiêu di động trên không, giống như máy nhắm dùng trên Vampire V hay các khu trục cơ được chế tạo sau Thế Chiến Thứ Hai, có bộ phận con quay để chúng ta có thể bắn chận tùy theo kích thước của máy bay địch và độ G kéo nhiều hay ít.  Con quay thường không chạy tốt nếu kéo trên 3G.  Vì thế, chỉ có thể nhắm bắn sau khi giảm bớt độ G xuống dưới 3G trong một vài giây.  Trên Vampire V còn trang bị Gun Camera, để ta thu hình khi tác xạ không/không.  Ai trong khóa học có được trên 5 lần thu được hình trong các trận dog fight thì coi như tốt nghiệp môn này.  Nhưng ở Phi Đoàn 1 Khu Trục và Trinh Sát lúc ấy, không ai ở phi đoàn có khả năng xác định được về khả năng không/không của mình vì thiếu phương tiện huấn luyện tác xạ không/không.  Chúng tôi chỉ tập truy cản.  Thường chúng tôi tổ chức thành ba phi tuần.  Một phi tuần hai phi cơ làm oanh tạc cơ bay theo một lộ trình nhất định: Thủ Dầu Một, Chứa Chan, Nhà Bè.  Một phi tuần bốn phi cơ làm hộ tống phi cơ oanh tạc và đánh trả khi bị truy cản.  Đó là nhiệm vụ phản không(counter air).  Một phi tuần bốn phi cơ thực tập truy cản bay lên vùng Trảng Bom và chờ ở đó.  Khi Oanh tạc cơ báo tin từ một điểm nào đó lấy hướng đến điểm kế tiếp, phi tuần truy cản lấy hướng tấn công.  Cái khó ở đây vì không có radar hướng dẫn (lúc đó VNCH chưa có radar) nên chúng tôi phải lấy mắt nhìn.  Bên nào thấy trước là có hy vọng thành công hơn, bên hô tống cũng như bên truy cản. Người có cặp mắt nhìn xa nổi tiếng là anh Phạm Long Sửu.  Một cuộc truy cản kết thúc bằng một cuộc dog fight, ai thắng ai bại giữa anh em với nhau đều thấy rất rõ.  Thành công của phe truy cản là làm sao đánh thủng đơn vị hộ tống mà tiến bắn được vào đoàn oanh tạc cơ.  Còn hộ tống thành công là khi nào đánh đuổi được phe truy cản không cho vào phía sau của oanh tạc cơ.  Tuy không mấy thực tế cho lắm, nhưng những sự dàn xếp đều cho ta có khái niệm phải làm gì, và làm thế nào thì đạt hiệu quả tốt.  Sau này có radar, chúng tôi cũng đã có dịp phải đối diện với máy bay T-28 Campuchia trên vùng Hạ Lào.  Tuy không đến giai đoạn phải nổ súng vì địch né tránh ra khỏi vùng trời của ta, nhưng mục đích hành quân cũng đã đạt được.
 
Trong năm 1957, còn có một số sĩ quan hoa tiêu tốt nghiệp Trường Khu Trục Mecknès (trên T-33 và Ouragan) hồi hương là các anh:
-Trung Úy Phạm Long Sửu
-Trung Úy Vũ Thượng Văn
-Chuẩn Úy Nguyễn Đức Khánh(chết tại Canada)
-Thiếu Úy Trần Duy Kỷ(chết tại Túy Hòa trên F-8F năm 1958)
 
Trong năm 1958, có thêm các anh từ đơn vị vận tải như Tô Minh Chánh và Phan Thiện Tâm(đều chết trong phi vụ đặc biệt đánh Bắc vào năm 1961)và anh Nguyễn Văn Long được chuyển về từ đơn vị quan sát và cũng đã được thả bay trên F-8F.  Sau này, khi đơn vị nhận A-1H thì anh Tô Minh Chánh và anh Nguyễn Văn Long trong số sáu người đầu tiên theo học tại Mỹ, tại Corpus Christi, Texas, và tại VA-122 tại San Diego, Coronado North Island, California vào năm 1960.  Mỗi ba tháng đều có một đợt sáu người theo học khóa xuyên huấn A-1H tại các trường US NAVY nói trên.  Khóa của tôi gồm có các anh:
-Thiếu Úy Phạm Phú Quốc
-Chuẩn Úy Nguyễn Văn Long(chết vì tai nạn trên phi trường Biên Hòa cùng với anh Nguyễn Thế Anh trong một chuyến bay thử A-1G từ Saigon về và bị hỏng thắng)
-Chuẩn Úy Nguyễn Ngọc Biện
-Trung Úy Tô Minh Chánh
-Trung Úy Nguyễn Quan Huy
-và chúng tôi
 
Khóa này về nước vào cuối năm 1960 sau ba tháng huấn luyện tại Hoa Kỳ, và từ đó bắt đầu các cuộc bay thử tiếp nhận máy bay A-1H mỗi tháng sáu chiếc phi cơ.  Tuy vậy, phi đoàn vẫn giữ số F-8F đang hành quân và 9 chiếc T-6G để huấn luyện khu trục cho khóa sinh tốt nghiệp khóa Trần Duy Kỷ, hoặc xuyên huấn cho các khóa sinh tốt nghiệp T-33 tại Hoa Kỳ.  Vì vấn đề ngẫu lực của máy bay chong chóng A-1H quá mạnh, nên những ai đã quen bay phản lực phải được làm quen lại với các ngẫu lực.  Vì nhu cầu đó nên phi đoàn phải cưu mang một lúc quá nhiều loại phi cơ khác nhau, gây nhiều khó khăn về bảo trì và tiếp liệu.
 
Vào thời điểm này, Đại Úy Lưu Văn Đức chỉ huy phi đoàn từ năm 1959, thay thế Đại Úy Hà Xuân Vịnh được chuyển về BTLKQ.  Là vị chỉ huy chính thức thứ ba của Phi Đoàn 1 Khu Trục và Trinh Sát, Đại Úy Đức bị chết trên chiến trường Đồng Tháp vào ngày 22 tháng 11 năm 1960, và sau đó BTLKQ đã chỉ định chúng tôi lên thay cho đến cuối năm 1963.
 
Trong năm 1959, Phi Đoàn 1 Khu Trục và Trinh Sát nhận 9 chiếc T-6G từ TTHLKQ chuyển về, nhằm mục đích huấn luyện khu trục cho số khóa sinh khóa Trần Duy Kỷ vừa tốt nghiệp trên máy bay L-19A.  Trong số sáu người này, tôi chỉ còn nhớ tên các anh
-Chế Văn Nghĩa,
-Lê Xuân Lan,
-Đặng Thành Danh,
-và anh Lê Bá Định...
Sau một thời gian huấn luyện bay T-6G, bay căn bản, hợp đoàn, tác xạ, không hành, các khóa sinh này được thả bay trên A-1H tại Biên Hòa.  Sau này, anh Chế Văn Nghĩa đã có cơ hội nắm quyền chỉ huy Phi Đoàn 514, nhưng chẳng may tử nạn tại Thủ Đức.
Các anh tốt nghiệp vào năm 1960 từ các trường dạy lái T-33 của Mỹ gồm có:
-Trung Úy Huỳnh Minh Đường
-Trung Úy Nguyễn Hữu Hoài
-Chuẩn Úy Nguyễn Văn Lê
-Dường như Đại Úy Trần Văn Minh(là TLKQ sau cùng của chúng ta)cũng theo học khóa này nhưng không tốt nghiệp và được trả về TTHLKQ/Nha Trang vào năm 1959.
 
Khóa này cũng được lần lượt chuyển tiếp trên T-6G và A-1H tại Biên Hòa.
Từ 1960 đến cuối năm 1963, có rất nhiều hoa tiêu tốt nghiệp trên T-28 tại các trường NAVY Hoa Kỳ hồi hương.  Trong số đó, tôi còn nhớ các đợt của anh Lê Quốc Hùng, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Quốc Thành, anh Quang, Trần Văn Thiện, Trịnh HữuTrí...Khi chúng tôi rời đơn vị thì số người này chưa lên Thiếu Úy.  Như vậy cho thấy dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, vấn đề thăng cấp và huy chương cực kỳ khó khăn.  Nhưng khả năng chiến đấu của đơn vị rất cao, dù phải biệt phái liên tục.
 
Vào khoảng năm 1961, Phi Đoàn 1 Khu Trục và Trinh Sát được đổi thành Phi Đoàn 514. 
Phi đoàn chia làm 4 phi đội.
-        Phi Đội 1 có danh hiệu Satan do anh Nguyễn Hữu Chẩn chỉ huy.
-        Phi Đội 2 có danh hiệu Thanh Xà do anh Nguyễn Ngọc Biện chỉ huy.
-        Phi Đội 3 có danh hiệu Thần Hổ do anh Trương Đăng Lượng chỉ huy.
-        Phi Đội 4 có danh hiệu Thần Phong do anh Tô Minh Chánh chỉ huy.
Máy bay có sơn màu cờ của các phi đội, và máy bay có 4 màu cờ của các phi đội chỉ dành cho chỉ huy trưởng, chỉ huy phó hay trưởng phòng hành quân bay trong những phi vụ diễn hành hay thăm viếng đơn vị bạn nơi khác.
 
Khả năng yểm trợ hành quân ngày của mọi hoa tiêu đều đạt độ chính xác cao.  Nếu mang 12 quả bom ở dàn ngoài, thì xác suất trúng đích thường là 10 quả.  Súng đại bác 20mm có thể duy trì yểm trợ từ 30 phút trở lên, có khi chỉ bắn mỗi lần hai khẩu để tiết kiệm đạn dược, mà chính xác thì rất cao, có thể nhắm bắn ngay mũi một xuồng ba lá để làm vỡ tung xuồng thay vì bắn thủng xuồng.  Muốn đốt nhà thì chỉ bắn đạn lửa vào nhà bếp chứ không cần thả Napalm.   Sự chính xác này tức nhiên tùy thuộc công phu luyện tập của hoa tiêu, nhưng phải nói khả năng chỉnh súng và máy nhắm của Ban Vũ Khí thật là tài tình, hơn hẳn đơn vị VA 122 của US NAVY ở San Diego. Tiếng tâm của Phi Đoàn 514 về yểm trợ tiếp cận vang dội khắp nước, trong bốn vùng chiến thuật, nhất là trong hai vùng 1 và vùng 4.  Công việc phân phát huy chương về đến đơn vị cũng rất là công bằng.  Phòng Hành Quân luôn luôn có hồ sơ các trận đánh, có hồ sơ và lập danh sách thường xuyên những ai có nhiều phi vụ hành quân nhất.  Mỗi khi có huy chương nói rõ cuộc hành quân nào, ngày giờ và địa điểm, những ai tham dự trực tiếp cuộc hành quân đó lãnh những huy chương cao quí nhất.  Nếu số người tham dự cuộc hành quân đó quá ít mà huy chương lại nhiều, hay huy chương gửi về mà không nói rõ cuộc hành quân nào thì những ai có nhiều phi vụ hành quân nhất sẽ được lãnh tiếp các huy chương nhỏ, và số thứ tự được chuyển xuống ưu tiên thấp nhất.  Vì thế, anh Nguyễn Thành Long (Long Chà) là người nhận Anh Dũng Bội Tinh với nhành dương liễu đầu tiên của đơn vị, trước cả chỉ huy trưởng.  Vì lúc đó, Quân Lực VNCH chỉ có 4 loại huy chương: Bảo Quốc Huân Chương, Quân Công Bội Tinh, Anh Dũng Bội Tinh và Chiến Thương Bội Tinh.  Những chuyên viên bảo trì không thể cấp cho họ ADBT.  Phòng Hành Chánh đơn vị phải tìm cách thảo các bản “tuyên dương công trạng” theo chỉ thị của chỉ huy trưởng thế nào để chuyên viên cơ khí cũng được ban thưởng ADBT.  Vì thế có những câu như:”Chuyên viên cơ khí, năng lực chuyên môn xuất sắc, kỷ luật và thiện chí phục vụ cao.  Khi phi cơ bị hỏng máy, Trung Sĩ X đã không màn sống chết giữa lúc đạn địch bắn lên xối xả, đã trèo ra khỏi phi cơ sửa chữa kịp lúc để công tác yểm trợ hành quân cho chiến dịch được hoàn thành kịp lúc, giúp quân bạn đạt chiến thắng vẻ vang”.  Ai mà biết được A-1H chỉ có một chổ ngồi cho người lái thì chắc đã phì cười.
Trong các năm 1962 và 1963, Phi Đoàn 514 còn có khả năng hành quân đêm.  Tại căn cứ Biên Hòa, ai đi xem chiếu bóng tại rạp chiếu bóng lộ thiên của căn cứ đều nghe tiếng A-1H tập làm xuyên mây đêm bằng Radio Compas.  Hành quân đêm, chúng tôi còn trang bị bốn quả trái sáng ở dàn ngoài cùng, để khi nào đến mục tiêu sớm hơn C-47 thả trái sáng, chúng tôi có thể tự túc làm nhiệm vụ tự soi sáng để yểm trợ.  Phi cơ cũng được trang bị thêm máy vô tuyến ARC-44 dùng tần số FM để liên lạc với quân bạn, thường là những đồn bót ở vùng đồng bằng sông Cửu Long bị tấn công.  Hành quân đêm có cái thú riêng của nó.  Đạn địch bắn lên chỉ là một dịp để chúng tôi trả đũa, vì từ khi thấy đạn chớp đến khi đạn đến trúng mình có một khoảng thời gian đủ để xoay sở.  Cái khó nhất về kỹ thuật tác xạ đêm là bị quá mê nhắm bắn mà kéo lên không kịp.  Mỹ gọi đó là target fixation, và khi điều tra tai nạn, ta thấy phần đuôi của phi cơ chạm đất trước.  Càng khó hơn khi có trăng sáng và đánh trên vùng gần mé biển hay sông rạch.  Ta sẽ thấy trái sáng  ở trên và dưới mặt nước làm chóa mắt.  Và sự ước lượng cao độ bằng mắt thường rất lầm lẫn.  Nhưng đã hiểu được thì tránh được những tai nạn đáng tiếc.  Kinh nghiệm hành quân đêm còn cho thấy Việt Cộng rất xảo quyệt, dã dạng quân bạn chen vào tần số FM, hướng dẫn ta đánh vào bạn, hoặc đuổi ta đi về và nói không cần nữa để chúng tha hồ hoành hành khi thiếu sự yểm trợ hỏa lực KQ.  Vì thế, trên tần số FM phải luôn luôn thận trọng và trao đổi rất ít.
Khi túc trực hành quân đêm, bắt đầu từ 6 giờ chiều đến 6 giờ sáng, chúng tôi thường có hai cặp ngủ trong trailer.  Từ khi có chuông reo cho đến khi cất cánh là 15 phút.  Chúng tôi vẫn ngủ như thường, nhưng máy bay đã được kiểm soát đầy đủ trước khi mở máy(theo sự tham khảo với quân y, chúng tôi biết được, con người hoàn toàn tỉnh ngủ sau 12 phút vừa đánh thức dậy).  Khi có chuông báo động, phi tuần trưởng nhận chỉ thị, thường gồm tọa độ mục tiêu, tần số và danh hiệu liên lạc với quân bạn.  Trong khi đó thì phi tuần viên soạn bản đồ tỷ lệ 100,000 hai bộ, một cho mình và một cho phi tuần trưởng.  Hai người mang vũ khí và túi cấp cứu và ra thẳng phi cơ đã cắp cho cá nhân mình từ đầu hôm.  Mở máy và di chuyển ra phi đạo, cất cánh hợp đoàn.  Bất cứ thời tiết nào, nếu còn thấy cuối phi đạo thì cất cánh, miễn sao trên vùng mục tiêu có thời tiết tốt.  Mà dù phải không hành một giờ bay mới đến mục tiêu ở Cà Mau, chúng tôi cũng bay dù biết thời tiết sẽ không mấy tốt trên vùng.  Hy vọng khi tới vùng thì thời tiết thay đổi.  Trung Tâm Hành Quân Không Quân có quyết định cho cất cánh thì phải đoan chắc là trên vùng rất cần và thời tiết không xấu lắm.  Nếu không tiêu thụ bom đạn được trên mục tiêu, chúng tôi ra biển giải tỏa.  Trên đường đi, thời đó đã có radar hướng dẫn nên không ngại về không hành.  Bay đêm mát mẻ hơn bay ngày.  Nhiều khi chúng tôi bay ba phi vụ ngày, bồi thêm hai phi vụ đêm, phi vụ sau cùng rất là mệt mỏi và buồn ngủ.  Phi tuần viên hỏi:”Một làm gì nhảy dữ vậy?”. Một nhìn ra sau thì thấy hai cũng nhảy như điên.  Khi về đáp, trời tốt hay trời xấu gì cũng hạ cánh hợp đoàn vì phi đạo Biên Hòa quá dư dả đối với A-1H.  Chúng tôi đã mất nhiều công phu để huấn luyện nên không còn sợ bay đêm.  Và chúng tôi tin cậy lẫn nhau.  Có lần, anh Đặng Thành Danh và chúng tôi bay đêm trên vùng giữa Ban Mê Thuột và Pleiku để săn vịt trời.  Không biết đài radar phát giác địch như thế nào, có vẻ như có máy bay địch trên không phận này.  Chúng tôi có hai cặp túc trực trên không, một cặp từ 7 giờ tối đến 12 giờ khuya, và một cặp từ 12 giờ khuya đến 5 giờ sáng.  Có lần chúng tôi thấy có lửa đốt làm dấu hiệu dưới đất.  Khi xuống đủ thấp, chúng tôi thấy họ quơ đuốc làm hiệu.  Những tin tức đó thì bộ binh không kiểm chứng được.  Cho đến giờ chót, những bí ẩn này vẫn còn.  Có tin tình báo là địch dùng AN-2 để đưa các cấp chỉ huy của họ đi thăm đơn vị trên đường mòn HCM, nhưng chưa khi nào chúng tôi bắt liên tục được trên radar.
Những phi vụ hành quân đêm rất nguy hiểm cho hoa tiêu, và hết sức cực nhọc cho cơ khí viên.  Có lần, trong một đêm trời mưa lâm râm, phi tuần của tôi túc trực vừa ra phi cơ thì phi vụ hủy bỏ.  Như vậy đến lần thứ ba mới cất cánh được.  Nhớ ngồi trong phòng lái thấy kiếng mờ quá, tôi yêu cầu anh Nhàn, cơ trưởng đêm đó, lau sạch kiếng giùm tôi.  Anh lấy tay lau kiếng, vì tay lấm dầu nên kiếng càng mờ hơn.  Tôi chỉ anh ấy xem từ trong phòng lái.  Anh gật đầu, trở ra lau lại trong khi tôi lúi húi choàng giây nịch một mình.  Khi nhìn lên thấy kiếng sạch rồi, tôi nhìn anh và bảo “thôi! để tôi đi”.  Ngay lúc đó tôi thấy anh khum xuống mặc quần xà loỏng vào.  Té ra, anh đã cởi quần xà loỏng để lau kiếng cho tôi.  Mình anh ở trần trùi trụi vì sợ ướt áo khi trời đang mưa, nên anh ra phi đạo chỉ mặc với cái quần đùi.  Thời đó, chúng tôi thương nhau như anh em một nhà, ít khi quan tâm đến cấp bực.  Nhưng tiếp liệu quá kém, đến nỗi giẻ lau cũng không có đủ dùng.  Những ngày lễ kỷ niệm đơn vị, chúng tôi thường “nhậu” với nhau cho đã, bù lại những ngày hành quân gian lao, ở hậu cứ Biên Hòa hay nơi biệt phái.
Biệt phái hành quân tệ nhất phải nói tại Pleiku.  Phi đạo thì quá ngắn, lót vĩ sắt, lồi lõm nhiều nơi.  Cất cánh thì xuống dốc, hạ cánh thì lên dốc.  Đất đỏ quện vào dầu máy bám chặt vào thân tàu, nên mỗi tuần phải thay máy bay về Biên Hòa tắm rửa sạch sẽ.  Cố vấn trưởng cũng theo chỉ huy trưởng biệt phái hành quân để biết sự tình.  Ngày ngày đi bay chỉ có thì giờ ăn bánh mì (thường gọi là cơm tay cầm).  Đêm lại ra phố xem hát bội, cai lương. Cố vấn thường được giới thiệu hớt tóc tại các tiệm có nữ giới chuyên cạo mặt.  Cái ngực căn phòng áp vào một bên má để cạo má bên kia.  Tôi thấy da mặt trắng đỏ của anh ta đã gần rướm máu mà cô ấy vẫn mài miệt cạo tới cạo lui, cạo lên cạo xuống.  Có đêm chúng tôi vào xem cải lương, phải giải thích cho anh từng lúc, rất phiền cho người ngồi bên cạnh.  Xong chừng vài màn, chúng tôi ra sau hậu trường để xem họ hóa trang.  Anh cố vấn mà tôi thích nhất tên gọi Garry Willar, tôi gọi anh ấy là “Gà Ri”, trước khi về nước anh cho tôi một tượng đồng hai con gà chọi để trên bàn.  Sau này nghe anh gia nhập vào đoàn khu trục đặc biệt đánh các phương tiện radar ngoài Bắc, và anh đã lên Tướng, chỉ huy một không đoàn tại Nam Hàn, cưới một cô vợ esquimo.  Biệt phái hành quân Sóc Trăng yểm trợ Chiến Dịch Bình Tây, phi đạo chỉ được 3,000 bộ, ở 1/3 phi đạo lại có lỗ trủng chưa lấp.  Hai bên phi đạo lại có trực thăng H-21 của Lục Quân Hoa Kỳ và phi cơ của Hàng Không Việt Nam đỗ lấy khách.  Không khác gì hành quân trên hàng không mẫu hạm.  Anh “Long Chà” người hồi giáo(tên thật là Ali), không ăn được thịt heo, nhưng bộ chỉ huy chiến dịch dọn gì ăn nấy, nên anh phải mang theo một nải chuối ngồi trên máy bay mà ăn dần.  Về sân đáp, anh đáp hơi ngoài phi đạo có đất sình trơn trợt nên không giữ trục phi đạo, băng ra khỏi rào kẽm gai, băng ra ruộng, tán vào một chị đang câu cá nên làm chết chị này.  Anh phóng ra khỏi phi cơ, chạy lại bồng chị ấy chạy vào kêu cấp cứu.  Chúng tôi đến chia buồn cùng gia đình và lo mai táng cho chị, là vợ của một binh sĩ pháo binh cùng đồn trú tại phi trường.  Ở đây, các chuyên viên vũ khí của chúng tôi phải nạp đạn vào băng bằng tay, từng viên một cho phi vụ kế tiếp.  Tối lại, anh em binh sĩ ngủ bên ngoài hành lang khách sạn được trưng dụng, còn sĩ quan được ngủ giường bên trong, cố vấn của tôi cùng ngủ chung giường, rất bất tiện.  Sáng ngày, hỏi các anh chuyên viên tại sao không chịu ngủ trong buồng với chúng tôi.  Có người nói, ngủ ngoài mát hơn.  Nhưng hằng đêm cứ bị các cô gái buôn hương tới quấy nhiễu, mùng bên cạnh có tiếng lặn hụp, bên này cũng trăn trở suốt đêm.
 
Hành quân ngày, hành quân đêm, từ hậu cứ hay biệt phái hai nơi khác nhau một lần, chuyên viên cũng như hoa tiêu đều xài hết tiền, vì phụ cấp vãng phản rất giới hạn.  Từ 1961 đến 1963, chúng tôi nhận được mỗi năm cho đơn vị một Anh Dũng Bội Tinh với nhành dương liễu.  Năm 1962, đơn vị mang giây biểu chương màu Anh Dũng Bội Tinh(vàng/đỏ).  Sau đó, từ 1964 đến 1966, đơn vị tiếp tục lãnh mỗi năm một ADBT nhành dương liễu, vì vậy, năm 1964 đã có giây biểu chương màu Quân Công Bội Tinh(vàng/lục), và năm 1966 có giây biểu chương màu Bảo Quốc Huân Chương (Đỏ).  Chúng tôi còn nhớ lúc đó, anh Chế Văn Nghĩa làm chỉ huy trưởng phi đoàn có gửi xuống cho tôi một tờ giấy cho phép mang giây biểu chương này, vì tôi đã phục vụ ở Phi Đoàn 514 từ 1957 đến 1963, với một năm rưỡi gián đoạn vì ra TTHLKQ để lo cho khóa Trần Duy Kỷ là người bạn thân của tôi.  Phi Đoàn còn được Tổng Thống Hoa Kỳ ban thưởng huy chương đơn vị Presidential Unit Citation, mang bên túi phải.
 
Nói về Phi Đoàn 514, không thể quên được những giờ phút khó khăn nhất của phi đoàn.  Đó là lúc có biến cố chính trị.  Vào năm 1960, có chính biến.  Anh Võ Văn Sĩ được lệnh bay L-19 của phi đoàn thả một công điện của Sư Đoàn 5 Bộ Binh Biên Hòa gửi cho Tổng Thống, thả ngay trên Dinh Độc Lập.  Sau đó, Chuẩn Úy Võ Văn Sĩ thăng cấp đặc biệt Thiếu Úy.  Vào năm 1962, Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử thả bom Dinh Độc Lập.  Anh Cử bay qua Campuchia.  Anh Quốc hạ cánh xuống sông Saigon và bị giam cho đến ngày 2-11-63.  Sau vụ này, Tổng Thống Ngô Đình Diệm xuống Biên Hòa và gọi chúng tôi trình diện tại Sư Đoàn 5 Bộ Binh.  Sau lần thăm viếng đặc biệt này, Tổng Thống Diệm đã không nhận sự từ chức của tôi, còn khuyên phải cố gắng chăm lo việc hành quân cho tốt.  Tuy nhiên, về phía an ninh quân đội, họ cấm A-1H không được trang bị bom hay hỏa tiễn , và chỉ đi hành quân với súng mà thôi.  Hơn thế nữa, tại căn cứ cũng có biện pháp kiểm soát mọi chuyến bay, coi có phải người bay có lệnh hành quân thực sự hay không.  Mỗi lần được điều động cất cánh, chúng tôi phải ngừng lại cho một anh lính gác kiểm soát, xong mở cổng cho ra phi đạo.  Những biện pháp đó hoàn toàn không hiệu quả mà còn đương nhiên làm giảm khả năng của phi đoàn rất nhiều.  Tuy vậy, các trận mà ai cũng nghĩ rằng phe ta thất bại nặng nề, như Ấp Bắc, Mé Láng, thật ra thì thành tích của Phi Đoàn 514 trong các cuộc hành quân đó không ai tưởng tượng được.
 Tại Ấp Bắc, anh Huy và anh Biện chỉ dùng súng mà bao vây trên ruộng để bộ binh bắt sống gần 80 người.  Còn thiệt hại về phía bạn thì do hướng dẫn pháo binh bắn sai vào các cánh quân của Bảo An Đoàn.  Về phía trực thăng H-21 bị mất đến 5 chiếc là vì họ bị Ground Resonance mà lật úp, chứ không do địch bắn rơi.  Chiếc này rớt, chiếc kia xuống cứu cũng rớt theo ngay một chỗ, chính mắt chúng tôi trông thấy máy bay vừa chạm đất là lật ngang chứ không phải rớt từ trên không. 
Tại Mé Láng, cũng với anh Nguyễn Quan Huy, người chỉ huy phó và bạn thân của tôi, anh ấy đánh chìm ba chiếc ghe máy, mỗi chiếc chở khoảng 50 người.  Khi tôi đến tận nơi thám sát thì thấy trên bãi bùn khi nước ròng rút xuống thấp, giống như trên sông có ai đóng cừ khắp nơi.  Mùi thối không tả được.  Có kẻ cấm xuống bằng chân nhưng không đầu. Có kẻ cấm đầu trên bùn, tay chân mất tiêu.  Rất nhiều, thật là gớm ghiết.
 
Đến kỳ đảo chính 1-11-1963, anh Võ Văn Sĩ lại được chỉ định dẫn một phi tuần 4 phi cơ túc trực trên không và đợi chỉ thị, và anh đã tham gia oanh kích vào thành Cộng Hòa sau các phi tuần T-28 của Phi Đoàn 716 tại Tân Sơn Nhất. Nhờ thế, anh Sĩ lại được thăng cấp đặc biệt một lần nữa.  Đúng là người có số may, chỉ làm theo lệnh mà lần nào cũng được thăng cấp đặc cách.
 
Sau khi đảo chính, Phi Đoàn 514 do Thiếu Tá (vừa được thăng cấp) Võ Xuân Lành chỉ huy.  Đến khi thành lập Không Đoàn 23 thì Phi Đoàn 514 là thành phần của Liên Đoàn Tác Chiến thuộc Không Đoàn 23 Chiến Thuật.  Cơ cấu tổ chức chỉ còn thành phần hoa tiêu và hành chánh.  Còn đại bộ phận bảo trì và tiếp liệu được chuyển sang Liên Đoàn Bảo Trì và Tiếp Liệu.
 
Sau này, tuy không còn tổ chức phi đoàn nặng nề như trước kia, nhưng Phi Đoàn 514 vẫn tiếp tục lập nhiều chiến công và được ban thưởng huy chương đơn vị liên tục ba năm sau khi tôi rời đơn vị.  Nhớ lại một thời vinh nhục có nhau, thật tình tôi rất cảm ơn sự tích cực đóng góp công sức của mọi anh em trong đơn vị.  Rất nhiều người sau này đã nắm các chức vụ quan trọng, trưởng thành trong khói lửa, làm rạng danh Không Quân Việt Nam trong cả nước và cả Tổng Thống Hoa Kỳ cũng ban thưởng huy chương đơn vị cao quí nhất.
 
Gman
 

Monday, July 15, 2024

Sự ra đi của hai vị Tướng Tư Lệnh Phạm Tín An Ninh

Ngày đầu tháng 3/2015, trong không khí ảm đạm của cơn mưa xuân, đông đảo những người lính già, đủ mọi quân binh chủng, có mặt tại nhà quàn nghĩa trang Peek Family trong thành phố Westminster (California), để chào tiễn biệt vị niên trưởng- vị chỉ huy trưởng – vị Tư Lệnh – ngày trước. Nổi lên giữa màu đen tang lễ, là những bộ quân phục trắng với bê rê đỏ của Thiếu Sinh Quân, worsted màu vàng trang trọng của những SVSQ Trường VBQGVN và những Kỵ Binh Thiết Giáp với mũ nồi đen.

Bên quan tài, cũng có lá cờ Tướng với một sao trắng trên nền đỏ, đứng hai bên không phải là những sĩ quan đồng cấp mà hầu hết là những niên đệ, đàn em, uy nghiêm trong thế thao diễn nghỉ. Một buổi lễ phủ kỳ khá trang trọng, dù không đủ lễ nghi quân cách, không có ban quân nhạc với tiếng kèn khai quân hiệu thuở nào, nhưng đủ để thể hiện được lòng kính trọng đối với một vị tướng đã có nhiều công trạng với đất nước.


Tang lễ của cựu Tướng Lý Tòng Bá, người đã chọn binh nghiệp từ thời niên thiếu ở trường Thiếu Sinh Quân, tốt nghiệp thủ khoa từ Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, sau này trở thành Chỉ HuyTrưởng Thiết Giáp Binh và cuối cùng là Tư Lệnh Sư Đoàn Bộ Binh, mà có thời được nhiều người biết đến với danh hiệu “Người hùng Kontum” khi ông là Tư Lệnh Sư Đoàn 23BB, đánh thắng các sư đoàn nổi tiếng của Cộng quân, giữ vững thành phố Kontum, địa đầu Tây Nguyên trong suốt “Mùa Hè Đỏ Lửa”1972.


Đến trước linh cửu, đứng nghiêm đưa tay lên chào ông lần cuối, ngoài danh nghĩa là một người lính, tôi còn là một thuộc cấp của ông tại Sư Đoàn này. Đã có mặt tại chiến trường Kontum trong suốt trận chiến, và thường có cơ hội gặp ông. Cả những lúc bị ông la rầy hay được ông khen thưởng.


Cũng như tôi, có lẽ những người lính có mặt trong tang lễ hôm nay, chào kính và tiễn biệt ông, trong cái tình “huynh đệ”, với lòng kính trọng dành cho một người anh, một ông thầy khả kính hơn là một thuộc cấp đối với một ông tướng. Bởi cái khoảng cách “quân giai” ấy trên thực tế đã không còn tồn tại. Có thể có một số không mấy đồng tình với ông về đôi điều ông làm, ông tuyên bố, hay đứng chung với nhân vật này nhân vật khác trong vài tổ chức sau ngày ông sang Mỹ, hay một vài tấm ảnh do Cộng sản giàn dựng, nhằm tuyên truyền bôi nhọ ông, nhưng chắc chắn tất cả đều kính trọng ông từng là một tướng lãnh VNCH, đã ghi nhiều chiến công trong cuộc chiến chống Cộng sản bảo vệ miền Nam Việt Nam. Nhiều người còn dành cho ông sự thương cảm, bởi ông là vị tướng không bỏ rơi thuộc cấp, chiến đấu tới giờ phút cuối cùng, bị địch quân bắt sống ngay trước giờ thứ 25 cuộc chiến, bị tù đày nghiệt ngã đến 13 năm, và nằm xuống khi không còn chút uy quyền hay ân sủng nào của quân đội hay quốc gia.

Trong cái không khí trang trọng thấm đẫm tình huynh đệ ấy, tự dưng tôi thấy lòng xúc động lẫn chút ngậm ngùi, khi liên tưởng tới sự ra đi và tang lễ của một vị Tướng Tư Lệnh khác, có nhiều điều giống ông, chỉ khác là vị tướng kia đã chết tại chiến trường khi miền Nam còn có quân lực và chính quyền. Và tang lễ của ông tất nhiên được tổ chức rất uy nghi trang trọng, với đầy đủ lễ nghi dành cho một tướng lãnh. Điều đặc biệt hơn, phu nhân của ông, nguyên là một nữ sĩ quan trong binh chủng Nhảy Dù, đã chết cùng ông, nên tang lễ đã được cử hành chung.

Trong hơn mười năm cuối cùng của miền Nam, cũng là thời gian tôi phục vụ tại Sư Đoàn 23BB, có hai vị Tư Lệnh nổi danh, đã tạo nên hai chiến thắng lẫy lừng: Tết Mậu Thân 1968 và Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Đó là Tướng Trương Quang Ân và Tướng Lý Tòng Bá. Hai vị có nhiều điểm giống nhau trong lúc khởi đầu, nhưng kết thúc khác nhau ở cuối cuộc đời binh nghiệp.
Cả hai đều xuất thân từ nhữngThiếu Sinh Quân ưu tú và sau đó là Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt. Một trùng hợp đặc biệt lý thú khác, cả hai vị đều tốt nghiệp thủ khoa. Tướng Trương Quang Ân tốt nghiệp thủ khoa Khóa 7 (Ngô Quyền) và Tướng Lý Tòng Bá thủ khoa Khóa 6 (Đinh Bộ Lĩnh).

TướngTrương Quang Ân chọn binh chủng Nhảy Dù, ông đã đạt nhiều thành tích nổi bật trong học tập, chỉ huy và chiến trận. Ngoài vị trí thủ khoa từ trường VBLQĐL, ông còn đậu thủ khoa tất cả các khóa tham mưu mà ông theo học, trong nước cũng như quốc tế, (đặc biệt đầu năm 1965, thủ khoa Khóa Chỉ Huy &Tham Mưu Cao Cấp tại trường Fort Leavenworth, Kansas – Hoa Kỳ, mà khóa sinh hầu hết là sĩ quan từ các quốc gia đồng minh, kể cả Mỹ). Ông đã tạo nhiều chiến công hiển hách từ khi còn nắm giữ các chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng (TĐ8), Chiến Đoàn Trưởng (CĐ2) Nhảy Dù. Với những thành tích ấy, ông đã vượt qua người niên trưởng Thủ Khoa Khóa 6 cũng rất tài ba, nhận chức Tư Lệnh Sư Đoàn 23 BB vào ngày 24/11/1966 và được thăng cấp đặc cách Chuẩn Tướng vào ngày 19/6/1968, trước niên trưởng Lý Tòng Bá của mình đúng bốn năm.

 

Trong trận Mậu Thân, vào khoảng 1 giờ 30 sáng ngày mồng một Tết, Cộng quân bất ngờ tấn công vào thành phố Ban Mê Thuột ( nơi đặt bản doanh BTL/SĐ23BB), với toàn bộ Trung Đoàn 33 được tăng cường 2 Tiểu Đoàn 301 và 401 cơ động tỉnh cùng 4 đại đội địa phương. Địch quân đã xâm nhập vào một số khu vực hành chánh và trại gia binh. Tư lệnh Sư Đoàn Trương Quang Ân điều động hai Tiểu Đoàn 1, 2 và Đại Đội Trinh Sát của Trung Đoàn 45 đang hành quân bên ngoài, bất thần đánh từ sau lưng địch và làm vòng đai bao vây. Ông cũng trực tiếp điều động hai chi đoàn của Thiết Đoàn 8 Kỵ Binh phản công từ bên trong, tạo địch quân trong thế gọng kềm. Lực lượng địch bị chia cắt và tiêu diệt gần như toàn bộ. Xe của ông bị bắn cháy phía sau, nhưng ông rất bình tĩnh và can đảm, nhảy xuống xe thoát nạn, tiếp tục điều quân và tạo nên chiến thắng vẻ vang. Ban Mê Thuột hoàn toàn được giải tỏa, Trung đoàn 33 và các đơn vị địa phương, du kích của địch bị đánh tan tác, để lại 924 xác trên trận địa và 143 bị bắt sống.
Cũng trong thời điểm ấy, tại Bình Thuận, một tỉnh cũng nằm trong lãnh thổ trách nhiệm của Khu 23 Chiến Thuật mà ông kiêm nhiệm Tư lệnh, Trung Đoàn 44 BB đang hành quân tại khu Vĩnh Hảo, Tuy Phong, cách thị xã Phan Thiết hơn 100 cây số, nhận lệnh trực tiếp từ Tướng Vĩnh Lộc, Tư Lệnh Quân Đoàn II, di chuyển khẩn cấp vào giải vây thành phố Phan Thiết, bị Cộng quân tấn công và đã xâm nhập một số cơ sở. Trung Đoàn 44 và Chi Đoàn 4/8 TK tăng phái đã chiến đấu rất dũng cảm trong một vị thế cam go, bất lợi, cuối cùng đã đánh bật các đơn vị Cộng quân ra khỏi thành phố. Sau đó Tiểu Đoàn 3/44 và Chi Đoàn 4/8 TK được một đại đội bộ binh tùng thiết, chia làm 2 cánh truy kích và tiêu diệt một số lớn địch quân trên đường rút lui, tháo chạy. Giao các vùng tái chiểm lại cho TK Bình Thuận, BCH/Trung Đoàn 44 di chuyển về Trinh Tường, ngoại ô thành phố, chuẩn bị trở về vùng hành quân cũ.

Nhưng ba tuần sau, Cộng quân lại điều động một số lực lượng khác từ các tỉnh Bình Tuy, Ninh Thuận, tấn công đợt thứ nhì vào thành phố Phan Thiết. Lần này, chúng tung các toán đặc công tinh nhuệ đánh thẳng vào tòa tỉnh và chiếm lao xá bằng mọi giá, nhằm giải thoát những tù binh CS bị giam giữ, mặc dù trước đó Tiểu Khu Bình Thuận đã nhanh chóng chuyển số tù binh nguy hiểm đến một địa điểm an toàn khác.
Trong tình hình nguy ngập, vị Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng, Trung Tá Nguyễn Khắc Tuân, vì một lý do nào đó bay lên BTL Quân Đoàn (Pleiku) chưa về kịp. Chỉ có Thiếu Tá Trần Văn Chà, Tiểu Khu Phó (nguyên là Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 3/45) có mặt tại Tiểu Khu. Tướng Trương Quang Ân (khi ấy còn Đại Tá) vừa tạm xong trận chiến Ban Mê Thuột, liền bay xuống Phan Thiết. Khi biết vị Tỉnh Trưởng /Tiểu Khu Trưởng không có mặt, ông tuyên bố tạm thời kiêm nhiệm chức vụ Tiểu Khu Trưởng Bình Thuận kể từ giờ phút ấy, và tức khắc trực tiếp chỉ huy cuộc phản công. Đích thân ông đã ban kế hoạch, điều quân, và hướng dẫn một đại đội của Tiều Đoàn 3/44, chia từng toán nhỏ, trang bị nhiều lựu đạn tấn công và hơi cay, đánh từ nhiều hướng vào khu vực lao xá (nằm không xa tòa tinh) do sơ hở của một đơn vị bố phòng thuộc TK/ Bình Thuận, bị Cộng quân xâm nhập, thả một số tù binh.

Một trận chiến thật cam go, nhưng dưới sự điều động trực tiếp của ông, chỉ hơn 2 tiếng đồng hồ sau, quân ta đã đánh bật Cộng quân ra ngoài và tiêu diệt toàn bộ các toán đặc công cố thủ trong bờ thành lao xá. Cùng lúc ấy, Tiểu Đoàn 3/44 của Thiếu Tá Mai Lang Luông cũng đánh đuổi địch quân ra khỏi khu vực trường Thánh Tâm, lực lượng Cảnh sát phòng thủ mặt hướng Đông, dưới sự chỉ huy của Thiếu Tá Hồ Đức Nhị, một vị trưởng ty gan dạ và mưu lược, cũng đánh bật lực lượng địch cuối cùng ra khỏi vòng đai thành phố. Tiểu Đoàn 4/44 của Thiếu Tá Vũ Công Khanh truy kích tiêu diệt những tên địch cuối cùng trên đường tháo chạy. Ngay sau khi trận chiến vừa kết thúc, Tư Lệnh Trương Quang Ân, đã quyết định thăng cấp tại mặt trận và gắn lon trung tá cho Thiếu Tá Võ Khâm, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 44BB, một người cùng khóa 7 Võ Bị với ông.

Với tài năng lãnh đạo, chỉ huy và tạo nên các chiến thắng lẫy lừng, ông được thăng cấp đặc cách lên Chuẩn tướng vào ngày Quân Lực 19.6.68.

 


Tướng Trương Quang Ân

 

Ngày 8.9.1968, ông cùng phu nhân bay lên Quảng Đức để thăm viếng và ủy lạo binh sĩ. Lúc 10 giờ 30 sáng, sau khi rời khỏi tiền đồn Đức Lập, chiếc trực thăng H-34 chở vợ chồng ông và tùy tùng bị rớt. Ông bà đã hy sinh cùng với Đại tá Cố Vấn Trưởng, hai phi công và các sĩ quan Việt- Mỹ tháp tùng.

Ông nổi tiêng là một vị tướng nghiêm khắc, nhưng rất cương trực, thanh liêm. Khi ông và phu nhân hy sinh, ngôi nhà nhỏ của ông bà trong cư xá Lê Đại Hành, chỉ vừa đủ chỗ cho 2 chiếc quan tài, và theo báo chí, trong sổ tiết kiệm vỏn vẹn có 50.000 đồng.
Sáng ngày 10/9/1968, tang lễ của ông và phu nhân được cử hành vô cùng trọng thể, với sự hiện diện đông đủ của các cấp lãnh đạo chính quyền và quân đội: Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Phó TT Nguyễn Cao Kỳ, Thủ Tướng Trần Văn Hương, Đại Tướng Cao Văn Viên, Đại Tướng Creigton W. Abrams, Tổng Tư Lênh Quân Lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, các vị Chủ Tịch Thượng và Hạ Viện, cùng rất nhiều tổng, bộ trưởng và tướng lãnh. Ông được truy thăng Thiếu Tướng và truy tặng Đệ Tam Đẳng BQHC kèm anh dũng bội tinh với nhành dương liễu. Phu nhân ông cũng được truy tặng Đệ Ngũ Đẳng BQHC. Luân phiên túc trực hai bên quan tài của ông là các vị thiếu tướng, chuẩn tướng và đại tá, hai bên quan tài của bà là những sĩ quan nữ quân nhân. Đám tang được dẫn đầu bởi hai toán dàn chào danh dự của binh chủng Nhảy Dù, đứng trên xe trong tư thế bắt súng chào, đông đảo đại diện các quân binh chủng và nhiều tướng lãnh tháp tùng. Dù phải di chuyển dưới cơn mưa tầm tã, đám tang vẫn giữ sự uy nghiêm và đúng lễ nghi quân cách. Ông bà được an táng tại Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi, Sài gòn (khi ấy chưa có Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa).

Cuối tháng 1 năm 1972, Đại Tá Lý Tòng Bá về nắm chức Tư Lệnh Sư Đoàn 23 BB, thay thế Chuẩn Tướng Võ Văn Cảnh. Tướng Cảnh là người ở Sư Đoàn khá lâu và đóng góp nhiều chiến công cho đại đơn vị này. Từ chức vụ Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 45, và sau đó là Tư Lệnh Phó Sư Đoàn, ông đã được đề bạt vào chức vụ Tư Lệnh thay thế Tướng Trương Quang Ân tử nạn.

Khi Đại Tá Lý Tòng Bá về Sư Đoàn, nhiều nguồn dư luận đã làm một số sĩ quan mất thiện cảm nơi ông. Nhiều người nghĩ rằng ông là “người”của John Paul Vann, một người dân sự (trung tá đã giải ngũ) nhưng lại làm Cố Vấn Trưởng cho Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn II/QK2. Ông ta có tài, gan dạ, liều lĩnh, nhưng bản tánh nóng nảy bốc đồng và khá kênh kiệu, nhiều người không thích. Báo chí gọi ông là “phù thủy mắt xanh”, và cho biết là ông đã đề nghị (sau đó là áp lực) Trung Tướng Ngô Dzu,Tư lệnh Quân Đoàn, phải thay thế hai vị Tư Lệnh Sư Đoàn. Đồng thời đề bạt Đại Tá Lê Minh Đảo thay thế Chuẩn Tướng Võ Văn Cảnh trong chức vụ TL/SĐ23BB và Đại Tá Lý Tòng Bá thay thế Thiếu Tướng Lê Ngọc Triển, trong chức vụ TL/SĐ22BB. Riêng Đại Tá Lý Tòng Bá còn được báo chí cho biết là em bà con với người vợ Việt Nam của John Paul Vann. Điều này đã xôn xao trên báo chí và gây khó khăn không ít cho Tướng Ngô Dzu. Cuối cùng, với sự đồng tình của TT Nguyễn Văn Thiệu và Đại Tướng Cao Văn Viên, Tướng Ngô Dzu đã chấp nhận thay thế hai vị Tư Lệnh Sư Đoàn, nhưng chỉ có Đại Tá Lý Tòng Bá nhận Sư Đoàn 23BB. Riêng Sư Đoàn 22BB, Đại Tá Lê Đức Đạt, Tư lệnh Phó lên thay tướng Triển. Đại Tá Đạt là niên trưởng (Khóa 5 – Hoàng Diệu) của Tướng Bá từ trường Võ Bị và cùng Khóa Cao Cấp Thiết Giáp tại trường Saumur, Pháp năm 1955). Tướng Bá cũng đã từng làm việc dưới quyền (cấp phó) của Đại Tá Lê Đức Đạt khi hai ông còn ở Trung Đoàn 2 TG và TTHL Cơ Giới Bảo An/ Vũng Tàu. Vì lý do tế nhị này, nên ông cũng không muốn nhận Sư Đoàn 22BB, khi Đại Tá Đạt đang là Tư Lệnh Phó.

Vào khoảng 2 giờ sáng ngày 24/4/72, chỉ gần hai tháng sau ngày nhận chức Tư Lệnh, Đại Tá Đạt hy sinh tại chiến trường Tân Cảnh, khi BTL/SĐ22BB bị đại quân CS tràn ngập bằng chiến xa T-54 và đặc công sau những trận địa pháo nặng nề và sử dụng hỏa tiễn Sagger AT-3 để làm tê liệt các chiến xa và sức chiến đấu của lực lượng trú phòng. Dư luận trong đơn vị cũng như báo chí cho rằng Đại Tá Đạt bị John Paul Vann ganh ghét và không yểm trợ B-52 cho Sư Đoàn 22BB, khi luôn tìm cách bác bỏ tin tức có sự xuất hiện chiến xa địch do BTL/SĐ22BB báo cáo lên Quân Đoàn, nên đã mang đến sự thất bại nặng nề cùng cái chết oan khuất của vị tư lệnh.
Khi thấy tình hình vô vọng, Đại Tá Kaplan, Cố vấn trưởng Sư Đoàn, đã liên lạc khẩn cấp yêu cầu Cố vấn trưởng Quân Đoàn bay lên cứu ông và toán cố vấn. Khoảng 4 giờ sáng, ông John Paul Vann đích thân lái trực thăng trinh sát OH-58 Kiowa đáp xuống một bãi đáp rất nhỏ bên cạnh bãi mìn để bốc Đại tá Kaplan và các quân nhân trong toán Cố Vấn Mỹ.Trước khi trực thăng đáp xuống, Đại Tá Kaplan đã đến báo cho Đại Tá Lê Đức Đạt và yêu cầu ông cùng lên trực thăng ứng cứu của ông John Paul Vann nhưng Đại Tá Đạt đã từ chối. Vị Tư lệnh SĐ 22 BB đã biết rõ tình hình rất bi đát, nhưng ông vẫn không yêu cầu Trung Tướng Ngô Dzu cho trực thăng bay lên cứu. Ông ra lệnh cho tất cả các quân nhân còn lại trong căn cứ tìm cách thoát ra ngoài trước khi trời sáng. Khi bắt tay vĩnh biệt Đại Tá Tôn Thất Hùng và các sĩ quan, ông nói với mọi người: “Là Tư lệnh, tôi phải ở lại với Tân Cảnh” (theo lời kể của Đại Tá Hùng sau khi sống sót trở về, nhờ những người Thượng cứu giúp). Người ta đã hỏi nhau, nếu Đại Tá Lý Tòng Bá nhận chức vụ Tư Lệnh SĐ 22BB, liệu cục diện có đổi thay? Sư Đoàn 22 có phải thảm bại để Đại Tá Lê Đức Đạt đã hy sinh oan uổng?

Sau khi SĐ22BB bị thảm bại ở Tân Cảnh, Sư Đoàn 23 BB của Đại Tá Lý Tòng Bá nhận lệnh di chuyển khẩn cấp lên Kontum để kịp thời ngăn chặn một lực lượng địch hùng hậu (cấp quân đoàn) của Mặt Trận B3 do Tướng CS Hoàng Minh Thảo chỉ huy, tràn xuống trong ý đồ chiếm lấy Kontum và làm chủ Tây Nguyên. Lúc này việc di chuyển trên Quốc Lộ 14 từ Pleiku lên Kontum đã rất khó khăn vì Cộng quân đã dùng một tiểu đoàn đặt những cái chốt rất kiên cố trên đỉnh núi Chu Pao với rất nhiều ổ súng đại liên, đại bác 75 ly, hỏa tiển chống chiến xa và phòng không. Đại Tá Bá đến Kontum với Trung Đoàn 45, Trung Đoàn 53, và một chi đoàn chiến xa M-41 thuộc Thiết Đoàn 8/KB. Khi đoàn quân của Trung Đoàn 45 bị nghẻn lại ở Chu Pao, bị thiệt hại mà không thể nào tiến lên được. với sở trường và kinh nghiệm của một sĩ quan Thiết Giáp kỳ cựu, Đại Tá Bá đã sử dụng Chi Đoàn 1/8 Chiến Xa (M-41), được một đại đội của Tiểu Đoàn 4/45 tùng thiết, theo vết xe be leo lên đỉnh núi để bất thần tiêu diệt đè bẹp các chốt kháng cự của Cộng quân, ngay sau khi hai chiếc trực thăng võ trang của Phi Đoàn Thần Tượng 215, chỉ huy bởi Trung Úy Vĩnh Hiếu, rất thông minh và gan dạ, bay sát mục tiêu, sử dụng hỏa tiễn đầu nổ đinh (fletchettes), tác xạ chính xác vào các chốt kiên cố trong các hầm núi đá, hổ trợ hữu hiệu cho quân bạn. Một trận chiến khó tưởng tượng nhưng đã thành công với sự chỉ huy tài ba và gan dạ của anh Chi Đoàn Trưởng trẻ tuổi, Đại Úy Lê Quang Vinh.

Đến Kontum, việc đầu tiên là ông yêu cầu được hoàn trả các đơn vị tăng phái gồm Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù, Liên Đoàn 6 Biệt Động Quân và một số đơn vị còn lại của Sư Đoàn 22BB, để được lấy lại Trung Đoàn 44 BB, đang hành quân ở An Khê, do Quân Đoàn sử dụng làm lực lượng trừ bị và bảo vệ BTL/Quân Đoàn. Theo ông, Trung Đoàn 44 là đơn vị thiện chiến nhất của Sư Đoàn, và với những đơn vị cơ hữu sẽ dễ dàng cho ông hơn về mặt chỉ huy. Hơn nữa các đơn vị tăng phái, dù thuộc các binh chủng thiện chiến, nhưng đã quá mệt mỏi và tinh thần giao động sau sự kiện Tân Cảnh và Căn cứ Charlie. Ngay từ quyết định đầu tiên này đã là một quyết định rất sáng suốt của vị Tư Lệnh Chiến Trường. Vì chỉ sau 24 tiếng đồng hồ được không vận xuống Kontum để trám vào tuyến phòng thủ Tây Bắc, cách thị xã Kontum 4 cây số, thay thế cho Liên Đoàn 6 BĐQ và một đơn vị của SĐ22BB, lúc gần 5 giờ sáng ngày 15.5.72, Trung Đoàn 44 BB đã mở đầu bằng một chiến thắng thật lẫy lừng, đánh bại lực lượng của Sư Đoàn 320 CS cùng một tiểu đoàn xe tăng T-54, từ Tân Cảnh tràn xuống tấn công trực diện vào tuyến phòng thủ của Trung Đoàn. Năm xe tăng bị bắn cháy, hai chiếc bị bắt sống với tên đại đội trưởng. Địch tháo chạy ngược về hướng Bắc, bị các oanh tạc cơ thuộc Phi Đoàn 530-Thái Dương (Pleiku) và sau đó là B-52 dội bom tiêu diệt. Sau trận này, địch quân bị loại khỏi vòng chiến hai Trung Đoàn 48 và 64 thuộc Sư Đoàn 320 và 15 chiến xa T-54 của Trung Đoàn 2 TG.

Ngay sáng hôm ấy, khi khói lửa chưa tan, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Toàn, vừa mới nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn II thay Tướng Ngô Dzu, bay lên Kontum và cùng Đại Tá Lý Tòng Bá, dùng chiến xa M-113 di chuyển đến tận trận địa, mừng chiến thắng, khen ngợi Trung Đoàn 44BB và gắn lon đại tá cho Trung Tá Trần Quang Tiến, Trung Đoàn Trưởng.

Đúng một tuần lễ, sau chiến thắng đầu tiên, vào ngày 21/5/72, toàn bộ Trung Đoàn 44 được điều về “dưỡng quân” trong vòng đai thành phố, cũng là tuyến phòng thủ cho BTL/Sư Đoàn. BCH/Trung Đoàn đóng trong thành Dakpha, nằm ngay phía sau và chỉ cách Bệnh Viện 2 Dã Chiến một lớp hàng rào phòng thủ, (phi trường Kontum nằm hướng nam khoảng 600 mét), được bảo vệ bởi Đại Đội 44 Trinh Sát, cũng là lực lượng trừ bị. Tiểu Đoàn 3 và 4/44 phòng thủ vòng đai phía Đông, bên cánh phải BCH/Trung Đoàn. Riêng hai Tiều Đoàn 1 và 2/44 do Thiếu Tá Ngô Văn Xuân, Trung Đoàn Phó chỉ huy, phòng thủ vòng đai phía Nam, bên bờ sông Dakbla. Nhưng chỉ hai ngày sau, theo yêu cầu của John Paul Vann, Cố Vấn QĐ, Đại Tá Bá ra lệnh cho Thiếu Tá Xuân cùng hai Tiểu Đoàn 1 và 2/44, tổ chức thành một chiến đoàn đặc nhiệm, trang bị súng cá nhân và lựu đạn, tham dự một cuộc hành quân hậu địch, mà chính cá nhân ông cũng thấy quá mạo hiểm. Sau khi B-52 đánh 2 box vào khuya hôm ấy, Chiến Đoàn Đặc Nhiệm được trực thăng vận đổ xuống phía Bắc, sau lưng phòng tuyến địch từ 10-15km. để bất ngờ mở một cuộc càn quét địch từ Bắc xuống Nam, lấy QL-14 làm chuẩn hướng về Kontum.

Nhờ kế hoạch đánh lừa địch cùng với kinh nghiệm tuyệt vời của các phi công thuộc Phi Đoàn Lạc Long 229, cuộc đổ quân an toàn và hoàn tất lúc 9 giờ sáng. Nhưng ngay sau khi rời bãi đáp, lực lượng ta liên tiếp đụng độ các toán hậu cần, thông tin liên lạc của địch. Bọn chúng đang gánh cơm đi tiếp tế và giăng giây điện thoại. Đến khoảng 12 giờ trưa, khi còn cách thị xã Kontum khoảng 10 cây số, sau khi nhìn thấy khói lửa ngộp trời ở hướng thành phố cùng tiếng pháo nổ dồn dập không dứt, Thiếu Tá Xuân nhận lệnh của Đại Tá Bá, bằng mọi cách, ngay cả việc phải đạp trên đầu địch, để đưa lực lượng trở về BTL gấp.

Những trận đánh tốc chiến xảy ra, phải đạp qua phòng tuyến hung hiểm của địch nằm đối diện với Trung Đoàn 45. Cuối cùng như một phép màu, Chiến Đoàn đã có mặt tại Kontum sau 4 tiếng đồng hồ, chỉ có một thiếu úy và 13 binh sĩ hy sinh, 5 thương binh đã mang về được. Đại Tá Bá ra đón đơn vị tại tuyến phòng thủ với nỗi vui mừng và xúc động. Tiểu Đoàn 1/44 được giữ lại phòng thủ BTL/SĐ, Tiểu Đoàn 2/44 về lại tuyến phòng thủ bên kia bờ sông, khu vực Phương Hòa. Thiếu Tá Xuân trở về BCH Trung Đoàn. Ngày hôm ấy, Cộng quân đã pháo kích liên tục vào thành phố hơn hai ngàn quả đạn pháo đủ loại. Căn cứ BTL/SĐ bị hư hại nặng nề, nhưng rất may, chỉ có một hạ sĩ quan chết và vài binh sĩ bị thương.

Sáng ngày 23.5, Tướng Hoàng Minh Thảo tung hai Sư Đoàn 2 và 10 cùng một đại đội chiến xa gồm T-54 và T-59 tấn công vào phòng tuyến phía Đông thị xã. Lần này Hoàng Minh Thảo áp dụng chiến thuật “nở hoa” với kinh nghiệm từ trận đánh Tân Cảnh, mà chúng vừa thu được kết quả ngoài sự mong đợi. Không đụng vào các tuyến đầu mà tìm cách thâm nhập đánh sâu vào vào đầu não của ta, Bộ Tư lệnh Sư Đoàn. Chúng chọn một tiểu đoàn của Sư Đoàn 3 Sao vàng được tăng cường một Đại Đội Chiến Xa gồm các xe tăng T-54 và T-59, làm nỗ lực chính xâm nhập vào Bệnh Viện 2 Dã Chiến (đã di tản thương binh), nằm phía trước cách thành Dakpha chỉ một hàng rào phòng thủ, nơi đặt BCH Trung Đoàn 44. Thành Dakpha nguyên là bản doanh của BTL/Biệt Khu 24 nên chúng tưởng lầm Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23BB đang đóng ở đây. Một lần nữa Trung Đoàn 44BB chứng tỏ sự dũng cảm và thiện chiến của mình. Khi đợt tiền pháo vừa dứt, ba chiếc xe tăng T-54 đầu tiên ủi vào lớp hàng rào phòng thủ để tấn công vào BCH Trung Đoàn, chỉ cách hàng rào chừng 50 mét, Đại Đội 44Trinh Sát của Trung úy Đoàn Quang Mạnh (Đại Đội Phó tạm thay thế Đại Úy Phan Công Minh vừa bị thương còn nằm trong quân y viện) dùng M-72 chống tăng và XM-202 lân tinh chống biển người đồng loạt trực xạ vào toán xe tăng và bộ binh địch. Địch hốt hoảng bỏ chạy, hai chiếc tăng bị bắn cháy, trong đó có xe chỉ huy của tên đại đội trưởng. Lục trong xác chết của tên này (Đại úy Vinh), trước ngực có đeo một chiếc túi bằng da đựng bản đồ, một quyển sổ nhật ký và một lá cờ đỏ sao vàng có thêu bốn chữ “Đơn Vị Anh Hùng”. Sau đó, Phòng 2 Sư Đoàn xác nhận chính tên này đã chỉ huy đại đội chiến xa đánh chiếm căn cứ Tân Cảnh của Sư Đoàn 22BB mới đây. Đại Đội 44 Trinh Sát chia từng toán nhỏ, tìm cách vượt qua hàng rào phòng thủ, men theo các vách nhà bệnh viện để tiệu diệt các xe tăng địch còn lại và hướng dẫn phi cơ oanh tạc. Tất cả tăng và bộ binh địch đều bị tiêu diệt.

Đại Tá Lý Tòng Bá có mặt tại BCH/ Trung Đoàn khi chiến trận còn đang tiếp diễn khốc liệt. Ông đựợc Đại Tá Tiến, Trung Đoàn trưởng trao cho tập sổ tay và lá cờ của tên Đại Đội trưởng xe tăng CS. Ông đến bắt tay khen thưởng, ôm Trung Úy Mạnh và một số chiến sĩ Trinh Sát, rút tiền trong túi ra tặng những chiến sĩ vừa bắn hạ xe tăng địch. Thái độ của ông đã làm nức lòng thuộc cấp.

Một đơn vị khác của địch xâm nhập vào trại Ngọc Hồi, khu gia binh và hậu cứ của Thiết Giáp, đánh vào sườn phải BCH /Trung Đoàn, bị Tiểu Đoàn 3/44 của Đại Úy Hồ Đắc Tùng đánh bật ra ngoài, sau đó hướng dẫn phi pháo tiêu diệt. Pháo Đội Pháo Binh 155ly trú đóng phía sau BCH/Trung Đoàn đã phải hạ tất cả nòng súng trực xạ liên tục, tiêu diệt địch quân từng đợt dàn hàng ngang tấn công trước mặt. Một đại đội địch chiếm được kho quân tiếp vụ và dành nhau ăn những hộp trái cây ngọt. Do đang đói nên hầu hết bị say, bị lính quân y thuộc Đại Đội Quân Y của Y sĩ Đại úy Nguyễn Văn Oánh bắt sống, một số đông đưa tay đầu hàng, xin được hồi chánh.
Một lực lượng địch hùng hậu khác đánh vào thành phố và chiếm được Tòa Giám Mục Kontum. Tiểu Đoàn 4/44 của Đại Úy Võ Anh Tài và sau đó Tiểu Đoàn 2/44 của Đại Úy Nguyễn Xuân Phán, được đích thân Đại Tá Lý Tòng Bá chỉ định tăng cường bao vây, giải tỏa khu vực, không xử dụng phi pháo, bằng mọi cách phải chiếm lại khu nhà thờ và Tòa Giám Mục trong tình trạng không bị hư hại. Trận chiến khá cam go này kéo dài gần hai ngày, cuối cùng Tiểu Đoàn 2 và 4/44 đã tiêu diệt những tên địch cuối cùng và chiếm lại Tòa Giám Mục.

Ngày 30.5.72, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đến Kontum mừng chiến thắng. Khi trực thăng của ông vừa đáp xuống BTL trong căn cứ B-12, Cộng quân đã “dàn chào” bằng mấy loạt pháo kích. Ông tươi cười bình tĩnh, từ chối khi Đại Tá Bùi Hữu Khiêm TMT/ SĐ đưa cho ông chiếc áo giáp. Tổng thống đã tuyên dương công trạng Sư Đoàn 23 BB, gắn sao Chuẩn tướng thăng cấp đặc cách tại măt trận cho Tư Lệnh Lý Tòng Bá, gắn cấp bậc thiếu tá cho 4 tiểu đoàn trưởng của Trung Đoàn 44BB và Chi Đoàn Trưởng Chiến Xa 1/8 KB. Đây chỉ là tượng trưng, sau đó còn nhiều quân nhân có công khác được thăng cấp đặc cách, trong đó có Thiếu Tá Ngô Văn Xuân, Trung Đoàn Phó Trung Đoàn 44BB, là người chỉ huy trực tiếp hai cuộc phản công và cuộc đánh hậu địch rất ngoạn mục. Trong cuộc tổng kết thành tích Mùa Hè 1972, Sư Đoàn 23 BB được Bộ TTM xếp hạng nhất (trước Sư Đoàn 1 BB: hạng 2, và Sư Đoàn Nhảy Dù: hạng 3) với phần thưởng 8.600.000- đồng. Thành tích tạo chiến thắng lớn, nhưng thiệt hại nhẹ nhất về cả nhân mạng lẫn phần đất bảo vệ.


Chiến thắng vẻ vang này tất nhiên thuộc công trạng tất cả chiến binh các cấp của Sư Đoàn 23BB, đặc biệt là Trung Đoàn 44BB, Chi Đoàn 1/8 Thiết Kỵ, và các đơn vị Không Quân yểm trợ (gồm các Phi đoàn trực thăng Lạc Long 229, Sơn Dương 235. Thần Tượng 215, Phi Đoàn khu trục Thái Dương 530 và các Phi đoàn quan sát Sao Mai 114, Bắc Đẩu 118). Tuy nhiên B-52 của Hoa Kỳ đã góp phần không nhỏ trong trong việc tiêu diệt phần lớn lực lượng địch tham chiến hoặc đang ẩn nấp làm trừ bị. Nói một cách công bình hơn, một Sư Đoàn 23 BB (không đủ Thiết Đoàn Kỵ Binh và các Tiểu Đoàn Pháo Binh cơ hữu) không thể đánh thắng và làm tê liệt 3 Sư Đoàn của Cộng quân, (được tăng cường 1 trung đoàn đặc công, 2 trung đoàn pháo, 1 trung đoàn xe tăng và 6 tiểu đoàn phòng không), nếu không có các đơn vị Không Quân VNCH và đặc biệt B-52 của Hoa Kỳ.

Với công trạng này, vị Tư Lệnh Sư Đoàn 23BB kiêm Tư Lệnh Mặt Trận Kontum, Lý Tòng Bá, rất xứng đáng để được vinh danh, được báo chí và dân chúng gọi là “Người Hùng Kontum”

Một nhân vật rất quan trọng khác có tính cách quyết định chiến thắng Kontum, phải kể ông John Paul Vann, Cố Vấn Trưởng Quân Đoàn II. Ông luôn có mặt bên cạnh TL Lý Tòng Bá, đặc biệt vào những thời điểm cam go nguy hiểm nhất. Ông thường xuyên bay từ Pleiku lên ngủ đêm ở BTL/SĐ. Ngoài việc gây tin tưởng cho Tướng Bá cũng như quân sĩ, ông còn bàn thảo tỷ mỷ các kế hoạch phòng thủ, phản công và đặc biệt đáp ứng những yêu cầu của Tướng Bá, dành quyền ưu tiên sử dụng tối đa B-52 cho mặt trận Kontum.

Mặc dù Tướng Lý Tòng Bá luôn minh định ông không phải là người “nhà”của John Paul Vann. Giữa ông và ông Vann chỉ quen biết và tôn trọng nhau từ khi ông Vann là Trung Tá Cố Vấn cho Sư Đoàn 7BB, thời Tướng Huỳnh Văn Cao là Tư Lệnh, và khi ấy ông Bá là Đại Đội trưởng ĐĐ7 Cơ Giới M113. sau đó là Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 2 Thiết Giáp thống thuộc Sư Đoàn này, (mặc dù trước đó ông Bá rất bất bình John Paul Vann về việc nhận xét và tuyên bố sai lạc trên báo chí Mỹ về Trận Ấp Bắc, mà ĐĐ 7-M113 của ông đã rất anh dũng chiến đấu, đạt nhiều thắng lợi thay vì thất bại như ông Vann và vài ký giả người Mỹ khác đã rêu rao tạo cho CS có cớ để tuyên truyền. Sau này John Paul Vann đã nhận ra sai lầm và nhiều lần xin lỗi ông Bá).
Tuy nhiên, qua nhiều sự kiện, người ta thấy ông Vann đã đối xử rất đặc biệt với Tướng Lý Tòng Bá. Khi nhận chức vụ Tư lệnh Sư Đoàn 23 BB, ông Bá không thích người Cố Vấn Mỹ, Đại Tá Robert Kellar. Vann liền thay thế Đại tá Kellar bằng Đại Tá John Truby, nhưng Đại Tá Lý Tòng Bá muốn người làm Cố Vấn cho mình phải là Đại Tá R.M.Rhotenberry, người đã từng làm cố vấn bên cạnh ông vào những năm 65-66, khi ông làm Tỉnh trưởng/Tiểu Khu trưởng Bình Dương, mà ông rất tâm đắc. Đại Tá Rhotenberry mãn nhiệm kỳ phục vụ tại Việt Nam và về Mỹ đã lâu, vậy mà John Paul Vann tìm mọi cách đưa ông trở lại Việt Nam để làm Cố Vấn cho Đại Tá Lý Tòng Bá. Ông nhận lệnh lên đường khần cấp và đến Kontum chỉ 5 ngày trước cuộc tổng tấn công của quân Cộng Sản.

Cũng vì giữ lời hẹn ở lại đêm tại Kontum với Tướng Bá, vào buổi chiều sắp tối ngày 9.6.72, từ BTL/QĐ II (thành Pleime-Pleiku) ông Vann tự lái trực thăng bay lên Kontum, nhưng khi còn cách Kontum 10 phút bay, gần khu vực Chu Pao, máy báy bị (bắn?) rớt. Ông đã chết với 2 quân nhân tùy tùng.

Ông là vị dân sự duy nhất được cử làm Cố Vấn Quân Đoàn. Người Mỹ gọi ông là ông tướng dân sự (civil general), những sĩ quan Mỹ dưới quyền ông và một số sĩ quan Việt Nam vẫn gọi ông là “Sir General!”

Sư Đoàn 23 BB có hai vị tư lệnh nổi danh vì đã tạo những chiến thằng vẻ vang nhất. Tuy nhiên với tình hình chiến tranh ngày một leo thang (sau khi Cộng Sản lợi dụng việc Mỹ rút quân về nước và cắt giảm tối đa mọi viện trợ quân sự cho VNCH, đã ngày đêm xua đại quân và chiến xa các loại vào chiến trường miền Nam), chiến thắng Kontum của Tướng Lý Tòng Bá, có tính lớn lao, nổi tiếng hơn là những chiến thắng trước đó của Sư Đoàn thời Tướng Trương Quang Ân làm tư lệnh.

Tướng Trương Quang Ân đã hy sinh tại chiến trường vào tháng 8/1968. Cuộc đời và cái chết của ông đã tạo nhiều huyền thoại, được mọi người hết lòng ngưỡng mộ. Đám tang của ông được cử hành vô cùng trọng thể. Có thể nói là một trong số đám tang trọng thể nhất trong hàng tướng lãnh tử trận.

Tướng Lý Tòng Bá thì không bị chết, nhưng bị bắt tại chiến trường, ngay trước giờ thứ 25 của cuộc chiến, khi ông đang làm Tư Lệnh Sư Đoàn 25 BB. Điều đáng buồn hơn là ông bị bắt bởi một đám du kích. Tướng Bá không rời đơn vị, không bỏ rơi đồng đội, chiến đấu tới giờ phút cuối cùng khi nhiều thượng cấp của ông đã đào tẩu. Ông bị tù đày, sĩ nhục, khốn khổ hơn 13 năm và sau đó sang Mỹ theo diện HO, để bắt đầu cuộc sống tha phương lưu lạc, với bao điều nhiễu nhương cay đắng.

Không có đủ từ ngữ tốt đẹp để nói lên lòng kính trọng và ngưỡng mộ đối với những vị tướng lãnh và những người lính đã tự sát trước giờ nước mất nhà tan. Không có gì cao cả hơn khi lấy cái chết để chứng minh trung liệt với tiền nhân và tổ quốc. Nhưng có những trường hợp mà sự sống sót cũng là một can đảm không kém, cũng rất đáng được kính phục. Cái sống của những vị anh hùng chưa kịp chết hoặc không thể chọn cái chết bởi còn ràng buộc bao trách nhiệm thiêng liêng khác, để rồi bị giết như Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Đại Tá Đặng Phương Thành, Trung Tá Võ Vàng…, hoặc bị tù đày, khốn khổ và cả việc nhục mạ phỉ báng, không chỉ của địch mà của cả một số cá biệt, những đồng đội, những người cùng chiến tuyến, chỉ vì đôi điều bất như ý, bởi một con người thì không phải là thánh nhân để được sự vẹn toàn.

Xin cám ơn những cựu Thiếu Sinh Quân, những cựu SVSQ Võ Bị, những chiến hữu Thiết Giáp cùng tất cả mọi người đã đứng ra tổ chức và tham dự phủ kỳ, tang lễ cho Tướng Lý Tòng Bá. Với những lễ nghi tượng trưng, nhưng là niềm vinh dự cuối cùng, rất xứng đáng, dành cho cá nhân ông và cho cả gia đình.

Xin đứng nghiêm chào vĩnh biệt. Xin Tướng Tư Lệnh của chúng tôi yên nghỉ. Những trách móc giận hờn của Tướng Quân đối với một vài cấp lãnh đạo, chỉ huy “bất tài, thối nát”, những ngày tháng nhục nhằn dâu biển, cùng dư âm của bom đạn chiến trường sẽ vĩnh viễn không còn theo Tướng quân về cõi vô cùng .

 

Phạm Tín An Ninh
(một người lính Sư Đoàn 23BB)