Thursday, June 21, 2018

Lễ gắn cấp bậc Thiếu Tướng Lương Xuân Việt tại Nam Hàn ngày 21 tháng 6 năm 2018

Cờ 2 sao của Thiếu Tướng Lương Xuân Việt 6/21/2018 South Korea

Anh Hòa, chỉ mình anh có tấm Hình này. / 
Thiếu Tướng Lương Xuân Việt 
tối ngày 21 tháng 6 năm 2018 South Korea

Chị Lương Xuân Việt và ái nữ gắn lon cho Bố

 2 con trai gắn lon cho bố
VIDEO





 

Wednesday, June 20, 2018

Thiếu Tướng Lương Xuân Việt


Thiếu Tướng Lương Xuân Việt

Thưa Quý Vị, Quý Niên trưởng và Chiến hữu,
Tướng Lương Xuân Việt đã có quyết định thăng cấp Thiếu tướng từ tháng 6/2017, trước khi được bổ nhiệm phục vụ tại Đại Hàn, vào ngày 21/06/2018 tới đây sẽ được chính thức gắn hai sao.
Được biết, theo sự giải thích từ một thân nhân của Tướng Lương Xuân Việt: Thường lệ Bộ Quốc Phòng xem xét trong năm 2017-2018  có bao nhiêu Thiếu Tướng đến tuổi về hưu, và họ sẽ cho số Chuẩn Tướng được thăng Thiếu Tướng lần lượt được thay thế vào những chổ trống đó. Các vị Thiếu Tướng này có ngày về hưu khác nhau, nên các vị tân Thiếu Tướng phải chờ đợi theo thứ tự, cho đến khi tới phiên mình, như trong trường hợp này, Tướng Lương Xuân Việt đã chờ cả năm, mới được gắn hai sao.

https://baomai.blogspot.com/ 
Tướng Lương Xuân Việt, là vị tướng đầu tiên, và hiện nay Ông là quân nhân Mỹ gốc Việt Nam Cộng Hòa, cấp bậc cao nhất trong Lục Quân (nói riêng) và Quân Lực Hoa Kỳ (nói chung).
Tướng Lương Xuân Việt đương nhiệm chức vụ Tư Lệnh Phó đặc trách Tổng quát và Điều hành của Đệ Bát Quân Đoàn / Lộ quân (U.S Eighth Army), trấn đóng tại căn cứ Camp Humphreys, gần Anjeong-Riand Pyeongtaek, Đại hàn Dân Quốc. Được biết Camp Humphreys, là căn cứ lớn nhất của Quân lực Hoa Kỳ tại hải ngoại.  

https://baomai.blogspot.com/ 
Quý Vị, Quý Niên trưởng và Chiến hữu có thể theo dõi trực tiếp buổi lễ gắn cấp bậc Thiếu tướng của Tướng Lương Xuân Việt trên Facebook của U.S Eighth Army. 
Giờ California sẽ là 9:30 P.M, tối ngày 20 tháng 6, 2018. Giờ Miền Đông sẽ là 00:30 A.M (12 giờ 30) sáng ngày 21/06/2018. 

Trân trọng.

Không Quân Việt Nam Cộng Hòa


 Kỷ niệm Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 19-6
Một ngày của Không Quân
Kính tặng quý vị đoạn phim về cuộc sống Không Quân Việt Nam hay còn gọi là Không Lực Việt Nam Cộng hòa (tiếng Anh: Vietnam Air Force, VNAF) là Quân chủng Không quân trực thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa, nguyên là một lực lượng mạnh về trang bị và quân số, trước 1975 và đã được xếp hạng 4 trên Thế giới và đã tồn tại từ 1955 đến 1975.
_____________________________________________
Lực lượng không quân Việt Nam Cộng hòa được hình thành từ một số phi công người Việt được tuyển chọn bay cùng với các phi công Pháp với tư cách là sĩ quan của quân đội Pháp. Khi Quốc gia Việt Nam, được thành lập, các sĩ quan người Việt này được chuyển sang cơ cấu Quân đội Quốc gia Việt Nam, bản thân Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam Nguyễn Văn Hinh cũng xuất thân là một sĩ quan phi công, vì vậy, ông rất chú trọng việc xây dựng Lực lượng Không quân. Tháng 6 năm 1951, một cơ quan phụ trách về ngành Không quân trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam được thành lập với tên gọi là Ban Không quân, ban đầu chỉ làm nhiệm vụ phụ trách Phi đội Liên lạc. Trên thực tế, các phi công người Việt chỉ làm nhiệm vụ bay cùng với các phi công Pháp trong các phi vụ. Các chức vụ chỉ huy và Phi công chính đều là sĩ quan Pháp. Ngay cả chức vụ Trưởng Ban Không quân, kiêm Phụ tá Không quân cho Tổng tham mưu trưởng cũng là sĩ quan Pháp.
Tháng 4 năm 1952, thành lập Trung tâm Huấn luyện Không quân tại Nha Trang nhưng vẫn do các sĩ quan Pháp đảm nhiệm Chỉ huy trưởng và trực tiếp huấn luyện. Năm 1953, thành lập thêm 2 phi đội Quan sát và Trợ chiến tại Tân Sơn Nhứt và Nha Trang. Năm 1954, Ban Không quân được đổi thành Phòng Không quân, năm 1955, Không quân Pháp bàn giao lại cho Không quân Quốc gia Việt Nam khoảng 25 vận tải cơ C-47, 2 phi đoàn quan sát L-19 và 25 khu trục cơ cánh quạt F8F Bearcat lỗi thời, tháng 7 năm 1955, lần đầu tiên một người Việt được giữ chức vụ Phụ tá Không quân là Trung tá Nguyễn Khánh, giai đoạn đầu ngành Không quân chỉ được quy định với quân số 40 sĩ quan, 120 hạ sĩ quan và 500 binh sĩ.


=> Thời Đệ Nhứt Cộng Hòa
Sau cuộc trưng cầu dân ý tháng 10 năm 1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố thành lập Việt Nam Cộng hòa. Lực lượng Không quân Quốc gia Việt Nam cũng được cải danh thành Không quân Việt Nam Cộng hòa. Thiếu tá Trần Văn Hổ, đương kim Phụ tá Không quân, được thăng Trung tá, và trở thành Chỉ huy trưởng đầu tiên của Không quân Việt Nam Cộng hòa, năm 1957, theo chương trình hợp tác viện trợ, một phái đoàn Không quân Hoa Kỳ sang nghiên cứu tình hình để soạn thảo kế hoạch huấn luyện cho Không quân Việt Nam Cộng hòa.

Nhiều sĩ quan, hạ sĩ quan được tuyển chọn sang tu nghiệp tại các trường Không quân Hoa Kỳ. Các phi trường Tân Sơn Nhứt, Biên Hòa, Đà Nẵng được xây dựng mở rộng. Trung tâm Huấn luyện Không quân Nha Trang cũng được xây dựng quy mô hơn, nhằm đào tạo tại chỗ các khóa hoa tiêu và quan sát viên, và các khóa đào tạo chuyên viên để bổ sung cho các đơn vị, tháng 9 năm 1959, một phi đội đầu tiên gồm 6 phi cơ Skyraider (Thiên tướng) được Hoa Kỳ chuyển giao cho Không quân Việt Nam Cộng hòa. Sau đó trong vòng 1 năm có thêm 25 chiếc Skyraider khác được bàn giao tại Căn cứ Không quân Tân Sơn Nhứt. Năm 1960, Phi đoàn 1 khu trục cơ được thành lập và bắt đầu hoạt động từ Bến Hải đến Cà Mau để yểm trợ cho bộ binh Việt Nam Cộng hòa

Năm 1961, chương trình trợ giúp của Hoa Kỳ có tên Farm gate đã đưa các loại phi cơ cánh quạt huấn luyện T28, oanh tạc cơ hạng nhẹ B26 và vận tải cơ C47 cùng khoảng 124 sĩ quan và 228 quân nhân Hoa Kỳ sang giúp huấn luyện. Các hệ thống hướng dẫn và kiểm soát không lưu được thiết lập tại các phi trường Tân Sơn Nhứt, Đà Nẵng và Pleiku, liên đoàn 1 Không vận đầu tiên được thành lập với trung tá Nguyễn Cao Kỳ được chỉ định làm liên đoàn trưởng.

Hoa Kỳ cũng trao cho Không quân Việt Nam Cộng hòa thêm 16 vận tải cơ hạng trung C123 trong tháng 12 năm 1961, ngày 26 tháng 2 năm 1962, hai phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử trên đường công tác đã đột ngột quay trở lại dội bom mưu toan giết chết Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm.

Ngay lập tức tổng thống Ngô Đình Diệm ra lệnh đình chỉ vô hạn định các phi vụ chiến đấu, cũng vì lý do này mà đương kim Tư lệnh Không quân là Đại tá Nguyễn Xuân Vinh bị thất sủng, phải xin giải ngũ với lý do sang Hoa Kỳ học ngành Tiến sĩ Không gian, năm 1962, các đơn vị Không quân tác chiến và Yểm trợ tác chiến được tăng lên cấp Không đoàn tại mỗi vùng chiến thuật: Không đoàn 41 (căn cứ ở Đà Nẵng), Không đoàn 62 (Pleiku), Không đoàn 23 (Biên Hòa), Không đoàn 33 (Tân Sơn Nhất), Không đoàn 74 (Cần Thơ)

=> Thời Đệ Nhị Cộng Hòa
Sau cuộc "chỉnh lý" lên nắm quyền, tướng Nguyễn Khánh thực hiện một số cải tổ trong quân đội. Ngoài việc đặt ra thêm cấp bậc Chuẩn tướng, ông còn cho thay đổi tên gọi "Quân đội Việt Nam Cộng hòa" thành "Quân lực Việt Nam Cộng hòa".
Danh xưng Không lực Việt Nam Cộng hòa cũng được sử dụng chính thức từ lúc đó, năm 1965, Không lực Việt Nam Cộng hòa có thêm các Phi đoàn khu trục cơ A-37 Dragonfly và sau đó là các pPhi đoàn không vận cánh quạt loại lớn C-130 Hercules và trực thăng CH-47 Chinook, ngày 3 tháng 2 năm 1965, một phi đoàn gồm 24 chiếc A-1H Skyraider do Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ chỉ huy cất cánh từ Căn cứ Không quân Đà Nẵng và tham gia vào Chiến dịch Mũi tên lửa (Flaming Dart) do Hoa Kỳ vạch định, tấn công các địa điểm ở phía bắc vĩ tuyến 17, ngày 11 tháng 2 năm 1965, Đại tá Nguyễn Ngọc Loan, Tư lệnh phó Không lực Việt Nam Cộng hòa, làm Phi đoàn trưởng 28 chiếc Skyraider của Việt Nam Cộng hòa cùng với 28 chiếc F100 của Không quân Hoa Kỳ mở cuộc tấn công thứ hai vào lãnh thổ phía bắc vĩ tuyến 17. Trong đợt này phi công Phạm Phú Quốc bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc Việt Nam
Năm 1967, Không lực Việt Nam Cộng hòa có thêm 1 Phi đoàn khu trục trang bị phản lực cơ F-5. Số hiệu của các đơn vị cấp phi đoàn được cải tổ xếp thành 3 số. Theo đó, chữ số đầu trong 3 chữ số của đơn vị cấp phi đoàn được dùng để chỉ công dụng của phi đoàn đó: số 1 là Phi đoàn liên lạc, số 2 là Phi đoàn trực thăng, số 3 là đặc vụ, số 4 là vận tải, số 5 là khu trục, số 7 là quan sát, số 8 là hỏa long, và số 9 là huấn luyện, năm 1970, với đà phát triển nhanh của Không lực Việt Nam Cộng hòa, các Không đoàn chiến thuật phát triển thành 4 Sư đoàn không quân, tác chiến hỗ trợ cho 4 vùng chiến thuật. Năm 1971, Sư đoàn 5 Không quân được thành lập và trở thành lực lượng Không quân trừ bị của Bộ Tổng tham mưu.
Năm 1972, thành lập thêm tại Quân khu 2 Sư đoàn 6 chịu trách nhiệm vùng trời chiến trường cao nguyên Trung phần, năm 1975, Không lực Việt Nam Cộng hòa có 5 Sư đoàn Không quân tác chiến (20 phi đoàn khu trục cơ với khoảng 550 phi cơ A-1H Skyraider, A-37 Dragonfly, và F-5, 23 phi đoàn trực thăng với khoảng 1000 phi cơ UH-1 Iroquois và CH-47 Chinook, 8 Phi đoàn quan sát với khoảng 200 phi cơ O-1 Bird Dog, O-2 Skymaster, và U-17), 1 Sư đoàn vận tải (9 Phi đoàn vận tải với khoảng 150 phi cơ C-7 Caribou, C-47 Skytrain, C-119 Flying Boxcar, và C-130 Hercules), 1 Không đoàn tân trang chế tạo, 4 Phi đoàn hỏa long (attack squadron) với các phi cơ Fairchild AC-119, Lockheed AC-130. Ngoài ra còn có các Phi đoàn trắc giác (tình báo kỹ thuật), Phi đoàn quan sát, và Biệt đoàn đặc vụ 314.

Blog Saigon Xưa 

Ngày Quân Lực 19-6

Video 
 Một đoạn phim rất đẹp và quý giá về Thiếu Tướng ''Nguyễn Văn Hiếu'' và Tướng ''Đỗ Cao Trí'” trong lễ bàn giao đầu năm 1970 khi Mỹ chuyển quân từ Lai Khê đến ARVN ... khoảng hơn 1 năm trước khi tướng Đỗ Cao Trí tư lệnh vùng 3 tử nạn do trực thăng rớt năm 1971 ...
=> Trung Tướng "Nguyễn Văn Hiếu"
Nguyễn Văn Hiếu (1929–1975) là một tướng lĩnh bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, được truy thăng cấp bậc Trung tướng, ông xuất thân từ trường Võ bị do Quốc gia Việt Nam với sự hỗ trợ của Quân đội Pháp mở ra ở nam Cao nguyên Trung phần vào đầu thập niên 50 của thế kỷ 20.
Ông đã từng chỉ huy các Sư đoàn Bộ binh và được cử giữ chức Phụ tá Đặc trách trong Ủy ban chống Tham nhũng thuộc Phủ Phó Tổng thống Trần Văn Hương, một vị trí đúng với con người và tính cách của ông, bản thân ông đã được một số tài liệu đánh giá là quang minh, liêm khiết, ông được cho là đã làm mất lòng nhiều đồng nghiệp vốn có nhiều tai tiếng tham nhũng, nhiều người cũng cho rằng đây là lý do dẫn đến cái chết bí ẩn của ông trong văn phòng tại bản doanh Bộ Tư lệnh Quân đoàn III ở Biên Hòa ngày 8 tháng 4 năm 1975, khi đang giữ chức Tư lệnh phó Hành quân Quân đoàn.
Cuối tháng 10 năm 1950, ông nhập ngũ Quân đội Quốc gia Việt Nam, mang số quân: 49/300.479, theo học khóa 3 Trần Hưng Đạo tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt (khai giảng ngày 5 tháng 11 năm 1950, mãn khóa ngày 25 tháng 6 năm 1951). Tốt nghiệp Á khoa với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Tuy nhiên sau đó ông bị bệnh lao phổi phải nằm nhà thương Lanessan Hà nội một thời gian. Đến đầu năm 1953, ông xuất viện và được chuyển đến phục vụ tại Phòng 3 Bộ Tổng tham mưu, Trưởng phòng là Đại tá Trần Văn Đôn. Ngay thời gian sau đó ông được thăng cấp Trung úy tại nhiệm, qua tháng 6 năm 1954, ông được thăng cấp Đại úy, sau khi Quân đội Việt Nam Cộng hòa thành lập năm 1955, ông vẫn tiếp tục phục vụ thêm một thời gian nữa ở Bộ Tổng tham mưu. Trung tuần tháng 8 năm 1957, ông được thăng cấp Thiếu tá, và chuyển đi phục vụ tại Phòng 3 của Bộ Tư lệnh Quân đoàn I, do Trung tướng Trần Văn Đôn làm Tư lệnh Quân đoàn.
Ngày 1 tháng 8 năm 1962, ông được thăng chức Trưởng phòng 3 Quân đoàn I, do Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm làm Tư lệnh Quân đoàn, đầu năm 1963, ông được đi du học tại Học viện Chỉ huy & Tham mưu Fort Leavenworth thuộc Tiểu bang Kansas, Hoa Kỳ, đến ngày 10 tháng 5 tốt nghiệp về nước. Ngày 1 tháng 6 cùng năm, ông được thăng cấp Trung tá và được cử giữ chức Tham mưu trưởng Sư đoàn I bộ binh, do Đại tá Đỗ Cao Trí (*) làm Tư lệnh Sư đoàn.
=======================
Giai đoạn này, Đại tá Đỗ Cao Trí được thăng cấp Thiếu tướng ngày 7 tháng 7 năm 1963. Ngày 21 tháng 8 năm 1963 tướng Trí được cử kiêm nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân đoàn I thay thế Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm.
=======================
Chiều ngày 8 tháng 4 năm 1975 có tin loan báo ra từ Bộ Tư lệnh Quân đoàn III ở Biên Hòa là ông đã chết ngay tại trong văn phòng làm việc. Giới quân sự nghi ngay tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân đoàn III, vì ông Toàn mang tiếng tham nhũng thuộc loại hạng gộc, trong khi đó ông Hiếu rất thanh liêm và hơn nữa, đã từng giữ chức Đặc trách chống tham nhũng thuộc phủ Phó Tổng thống Trần Văn Hương, ngày hôm sau, sau khi tham dự buổi họp báo của phát ngôn viên quân sự, thông tấn xã UPI loan tin như sau: ''Tư lệnh Phó Quân đoàn III, bảo vệ vùng Sài-Gòn được khám phá bị bắn tối thứ ba sau một cuộc cãi vả về chiến thuật với cấp trên của mình. Các nguồn tin quân sự nói là có vẻ ông ta tự vận. Các nguồn tin đó nói Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu chết với một vết thương do một viên đạn gây nên ở miệng tại văn phòng ở Bộ Tư lệnh Quân đoàn III nằm ven biên phi trường quân sự Biên Hòa, cách Sài-Gòn 18 dặm. Không biết sự kiện tướng Hiếu chết có liên quan gì với vụ oanh tạc Dinh Độc Lập của ông Nguyễn Văn Thiệu xảy ra sáng thứ ba cùng ngày không .. cho tới nay vẫn còn bí ẩn ..?
=> Tướng " Đổ Cao Trí"
Đỗ Cao Trí (1929–1971), nguyên là một tướng lĩnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ông xuất thân từ một trường Võ bị do Quân đội Pháp mở ra ở Nam phần Việt Nam. Ra trường, ông được điều về đơn vị bộ binh, nhưng sau đó ông tình nguyện xin chuyển qua binh chủng Nhảy dù (Ông là một trong số ít sĩ quan được lên tướng ở thời kỳ Đệ nhất Cộng hòa, Thiếu tướng ngày 7/7/1963, trước ngày đảo chánh Tổng thống Diệm gần 4 tháng). Ông từng được đánh giá là vị tướng chiến trường tài giỏi trong hàng ngũ tướng lĩnh của Quân đội. Năm 1971, đang là Tư lệnh Quân đoàn III, ông bị tử nạn trong khi đang thi hành nhiệm vụ, được truy thăng cấp Đại tướng.
Ông sinh ngày 20-11-1929 tại làng Bình Trước, Biên Hòa. Là con thứ tư trong một gia đình có 12 anh chị em, gồm 10 trai và 2 gái. Ông là cháu của một vị quan lại triều Nguyễn và là con của cụ Đỗ Cao Lụa và cụ Tô Thị Định. Đương thời 2 cụ là một gia đình điền chủ giàu có, thời niên thiếu ông học các Trường: Trường Tiểu học Nguyễn Du, Biên Hoà. Trường Trung học Lycée Petrus Ký, Sài Gòn. Tốt nghiệp Tú tài toàn phần (Part II).
Tháng 7 năm 1947, ông tình nguyện nhập ngũ vào Quân đội Pháp, theo học khoá Đỗ Hữu Vị Trường Sĩ quan Nước Ngọt (khai giảng tháng 8 năm 1947, mãn khoá tháng 6 năm 1948. Còn gọi là khoá 2 Võ bị Viễn Đông, vì khoá 1 Nguyễn Văn Thinh huấn luyện khoá sinh ở Đà Lạt, đến khoá Đỗ Hữu Vị thì chuyển trường về khu Nước Ngọt, Vũng Tàu). Tốt nghiệp và ra trường với cấp bậc Thiếu úy. Ngay sau đó, ông được chọn du học khoá bộ binh tại trường thực tập bộ binh Auvours, Pháp. Qua năm 1949, chuyển sang binh chủng Nhảy dù, ông được du học tiếp khoá Huấn luyện Nhảy dù Pau, Pháp và tốt nghiệp cùng năm.
Năm 1950, cùng với sự ra đời của Quân đội Quốc gia, Đại đội Nhảy dù Biệt lập được thành lập ở Bắc Việt (Qua năm 1951, được nâng lên thành Tiểu đoàn 1 Dù). Ông được thăng cấp Trung úy và làm Trung đội trưởng trong đại đội này do Đại úy Nguyễn Khánh làm Đại đội trưởng. Qua năm 1951, Ông được làm Đại đội trưởng một trong 3 Đại đội thuộc Tiểu đoàn 1 Dù tân lập, vẫn do Đại úy Khánh làm Tiểu đoàn trưởng. Qua đầu tháng 7 năm 1952, ông được thăng cấp Đại úy và chuyển đi làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 19 Việt Nam (Thành lập ngày 1/1/1951 tại Bạc Liêu, đến năm 1954 giải tán để làm nòng cốt cho Tiểu đoàn 6 Dù đồn trú tại Bạc Liêu, Sóc Trăng). Đầu năm 1953, ông được cử đi học khoá Chỉ huy chiến thuật tại Trung tâm Chiến thuật Hà nội (Tiền thân của Trường Chỉ huy & Tham mưu sau này). Tháng 6 cùng năm, ông được thăng cấp Thiếu tá nhiệm chức. Đầu tháng 3 năm 1954, ông được cử làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Dù tân lập tại Chí Hoà, Sài Gòn. Sau Hiệp định Genève, cuối tháng 9 cùng năm, bàn giao Tiểu đoàn 6 lại cho Đại úy Thạch Côn. Sau đó được Thiếu tướng Nguyễn Văn Hinh Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia cử giữ chức Tư lệnh Liên đoàn Dù (Danh xưng mới của Liên đoàn Không vận số 3 Nhảy dù. Và ông cũng là sĩ quan người Việt đầu tiên "Tư lệnh" Binh chủng Nhảy dù cấp Liên đoàn).
Các sĩ quan thuộc Liên đoàn Dù vào thời kỳ này:
Tiểu đoàn 1: Đại úy Vũ Quang Tài (Sau cùng là Đại tá Lực lượng Đặc biệt)
Tiểu đoàn 3: Đại úy Phan Trọng Chinh
Tiểu đoàn 5: Đại úy Trịnh Xuân Nghiêm (Sau cùng là Đại tá Tham mưu trưởng Trường Chỉ huy & Tham mưu)
Tiểu đoàn 6: Đại úy Thạch Côn
Tiểu đoàn Trợ chiến: Đại úy Nguyễn Thọ Lập (Sau cùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 15 Bộ binh. Giải ngũ ở cấp Đại tá)
Ngày 23 tháng 2 năm 1971, ông bị tử nạn phi cơ trực thăng tại Trảng Lớn, Bắc Tây Ninh, trong khi đang bay thị sát chiến trường. Tử nạn cùng với ông là phóng viên chiến trường người Pháp Francois Sully, viết cho báo New York Time khi đang thị sát chiến trường Campuchia và một số sĩ quan và hạ sĩ quan trong ban tham mưu của Bộ Tư lệnh Quân đoàn.
(Có tin đồn cho rằng ông bị mưu sát do sự tranh giành quyền lực từ các Tướng lĩnh trong Chính quyền Sài Gòn)
Ngay sau khi tai nạn xảy ra, Tổng thống Thiệu cùng Đệ nhất phu nhân đến dự lễ tẩm liệm. Trong buổi lễ, Tổng thống thay mặt Chính phủ và Quân đội truy thăng cho ông cấp bậc Đại tướng.
Ngày 26 tháng 2, lễ an táng được cử hành trọng thể với lễ nghi quân cách. Tổng thống Thiệu đến dự lễ an táng cùng truy tặng Đệ nhất đẳng Bảo quốc Huân chương và Quân công bội tinh kèm Anh dũng bội tinh với nhành dương liễu. Linh cữu được đặt trên một chiếc thiết vận xa M.113 đưa đến nơi an nghỉ tại Nghĩa trang Quân đội Quốc gia Biên Hòa.
Ông là vị Tướng đầu tiên cùng an nghỉ với hàng chục ngàn tử sĩ chung một nghĩa trang theo nguyện vọng lúc sinh tiền: Sống sát cánh quân sĩ, Thác nằm cạnh ba quân
Trên mộ ông có khắc 2 câu thơ: Sống giữa ba quân, Thác giữa ba quân
Năm 1983, Nghĩa trang Quân đội bị phá huỷ, được thân nhân bốc mộ và hoả thiêu, di cốt được đưa vào thờ trong một ngôi chùa tại quê nhà, Biên Hoà.
Cùng tử nạn với ông còn có các Sĩ quan trong bộ Tham mưu Quân đoàn:
Trung tá Đặng Quốc Sĩ (Chỉ huy trưởng Trung tâm hành quân Quân đoàn III, được truy thăng cấp Đại tá)
Thiếu tá Trần Minh Châu (Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Truyền tin Quân đoàn III, được truy thăng cấp Trung tá)
Đại úy Nguyễn Anh Tuấn (Sĩ quan Tuỳ viên Tư lệnh QĐ III, được truy thăng cấp Thiếu tá)
Đại úy Phan Tất Đắc (truy thăng Thiếu tá)
Thiếu úy Nguyễn Cân (Sĩ quan Đồng hoá, được truy thăng cấp Trung úy)
Nguyễn Phước Bửu Giáo (Phóng viên chiến trường- Cục chiến tranh chính trị)
Ngoài các sĩ quan kể trên còn 4 Hạ sĩ quan Việt Nam cùng 2 sĩ quan Phi công Mỹ. Tất cả các vị này đều được truy thăng lên một cấp và được tổ chức lễ nghi an táng theo quy chế của Quân đội.
Cái chết của tướng Đỗ Cao Trí để lại một khoảng trống lớn trong các cấp chỉ huy chiến trường trong một thời gian dài.
Tướng Đỗ Cao Trí được đánh giá là tướng lĩnh có tầm nhìn chiến lược sắc bén, có tài cầm quân, có mưu lược, có dũng khí, có khả năng kích thích tinh thần chiến đấu binh sĩ và không có tham vọng chính trị. Tướng William Westmoreland đã nhận định: "Tướng Trí là một con cọp của chiến trường, một tướng George Patton (tướng thiết giáp lừng danh Mỹ) của Việt Nam
Xin Hết


















Saturday, April 28, 2018

Đời Viễn Xứ - Chiến Sĩ Vô Danh

Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
Chinh phu tử sĩ mấy người
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn?

Theo hồi ức của người cựu chiến binh, ĐĐP/ĐĐ2/TĐ1, những ngày cuối tháng Tư 1975 Bộ chỉ huy Tiểu Đoàn 1 nằm tại đầu dốc 47  (QL 15 Biên Hòa-Vũng Tàu). Chiều 26/4/1975, Huấn khu Long Thành thất thủ (HKLT gồm trường SQ Bộ Binh Long Thành, trường Thiết Giáp, trung tâm huấn luyện Yên Thế / Biệt Kích).
Con đường từ ngã ba Thái Lan (TL) đến HKLT dài khoảng 4 km. ĐĐ 2/TĐ1 được lệnh  trấn thủ trên đường này, bên phải, cách ngã ba TL cỡ 2 km.  ĐĐ3 bên trái, cách con đường khoảng 100 thước, bung một Trung đội tiền đồn gần đường. 

ĐĐ4 phía sau ĐĐ2 và chếch về phải…
8 g tối 26/4/1975,  ĐĐP/ĐĐ2 dẫn một Trung đội cùng hai chiến xa tiến lên trên khoảng 1 km thì phát giác VC đang chuyển quân (rất đông). Bắt đầu chạm súng. TĐP chỉ huy trên máy, nằm cầm cự đến sáng. ĐĐT/ĐĐ2 cho lệnh ĐĐP phối hợp với CX và 1 toán Nhảy Dù án ngữ tại chỗ. 

Suốt ngày 27/4 chỉ toàn chịu pháo của địch chứ không đánh.
Chiều tối 27/4,  Thiết giáp và Dù tự động rút đi. ĐĐP được lệnh trở về tuyến ĐĐ2.
5 giờ sáng 28/4/1975: Sau đợt pháo kích, VC ào ạt tấn công vào ĐĐ2.  ĐĐP cùng 2 Trung đội 1 và 3 nằm trên, phía sau là ĐĐT và Trung đội 4. Cộng quân rất đông, xung phong nhiều lần. 

6 giờ sáng 28/4/1975, Trung đối 1 vỡ tuyến bị VC tràn ngập, hai bên chỉ cách nhau vài mét. Th/U Sinh tử thương tại hố chiến đấu,  Th/u Thành bị thương rất nặng, âm thoại viên cũng tử trận.  ĐĐT và Trung đội 4 rút về phía sau . Số còn lại của Trung dội 1 và 3 co cụm tiếp tục chiến đấu trong tuyệt vọng, cố gắng kéo anh em những người bị thương ra phía sau nhưng không được. Chỉ cứu được vài người, trong số đó có vợ của một quân nhân bị thương nặng.
Rút ra ngã ba TL, gom quân lại còn khoảng 50 người (Trung đội 2 của Th/U Nghĩa còn nguyên vẹn vì nằm tiền đồn, chệch hướng tiến của VC không trực diện). ĐĐT cho lệnh phản công. ĐĐP cùng Th/U Nghĩa  và khoảng 30 anh em cố gắng tiến chiếm lại phòng tuyến cũ nhưng hoả lực địch quá mạnh, không lên được. Th/U Nghĩa bị thương. Tất cả nằm im tại chỗ.

Khuya 28/4, rạng 29/4/1975  khoảng 1 giờ đêm, VC tiến quân, thẳng lưng  đi hàng bốn hàng năm trên đường lộ, bị quân ta đánh ngay khúc giữa bỏ chạy. Khoảng 5, 6 g sáng 29/4/1975, địch tăng cường quân số rất đông đảo, có chiến xa yểm trợ nổ súng phản công. Hỏa lực địch quá mạnh, quân ta bị vỡ tuyến.

Ra tới ngã ba TL, quân số ĐĐ2 kiểm lại còn chưa được 20 người.
Gió mưa sấm sét đùng đùng,
Dãi thây trăm họ nên công một người.
Khi thất thế tên rơi đạn lạc,
Bãi sa trường thịt nát máu rơi,
Mênh mông góc bể chân trời,
Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào?
Khoảng hơn 50 chiến binh TĐ1, đã vĩnh viễn nằm xuống trong các hố chiến đấu dã chiến,
đào vội trong rừng cao su tại Long Thành.

36 năm sau, những khu rừng cao su xưa nay đã nhường chỗ cho nhà cửa, quán xá mọc lên chi chít.
 
 
Những người lính TĐ1 năm xưa, nay đà  "Phận trai già cõi chiến trường …"
trở về với tấm thân thương tật, sống cuộc đời lầm than trong xã hội đã đảo điên vì vận nước,
 nhưng không bao giờ quên anh em đồng đội xưa, những người lính..
 
Sống đã chịu một bề thảm thiết,
Ruột héo khô dạ rét căm căm,
Dãi dầu trong mấy mươi năm,
Thở than dưới đất ăn nằm trên sương…
Hương lửa đã không nơi nương tựa,
Hồn mồ côi lần lữa bấy niên… 
 
..nên hàng năm , cứ vào dịp cuối tháng Tư lại tìm về thăm lại chốn chiến trường xưa, 
thắp nén hương lòng tưởng nhớ anh linh những người đã nằm xuống vào giờ khắc cuối cùng của quê hương.
 
Th/U Thành (K28VB-TrĐTr/TrĐ3), Th/U Sinh (K29VB- TrĐTr/TrĐ4) của ĐĐ2/TĐ1
đã nằm xuống cùng anh em thuộc quyền tại nơi này (ngôi nhà đóng cửa phía sau hàng cây bạch đàn) 
 
Th/U Nghĩa (K27VB- TrĐTr/TrĐ2) bị thương (về Lê Hữu Sanh ) và anh em thuộc quyền nằm lại tại căn nhà này.
Hai địa điểm cách nhau  khoảng 50 mét và ở giữa là con đường nhựa chạy từ ngã 3 Thái Lan vào Huấn Khu Long Thành.

 

 Nơi gốc cây gần vách căn nhà tường gạch đỏ có 6 anh em đã bỏ thây.

Căn nhà có trụ thu phát sóng cũng đã có 6 anh em nằm lại.


*
 43 năm đã qua ... đã biết bao vật đổi sao dời ... không thể để cho linh hồn anh em cứ mãi vật vờ trong cảnh..
 ...
Bãi tha ma kẻ dọc người ngang
Cô hồn nhờ gửi tha phương
Gió trăng hiu hắt lửa huơng lạnh lùng ... 
..nên mùa Vu lan vừa qua, tháng 7 anh em đã cầu siêu rước vong linh tất cả những đồng đội TĐ1 Quái Điểu
hy sinh vào ngày cuối cuộc chiến trong những cánh rừng cao su Long Thành
về nương nhờ cửa Phật, với ước nguyện...

Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ
Phóng hào quang cứu khổ độ u
Rắp hòa tứ hải quần chu
Não phiền trút sạch oán thù rửa không
để anh em được siêu thoát về cõi Vĩnh Hằng










Trời sẽ tối, tiếc thương rồi sẽ hết.
Mong các anh yên nghỉ, siêu thoát và xin hãy tha lỗi cho sự chậm trễ của chúng tôi, 
những người còn sống!
 
Họ là những anh hùng không tên tuổi
Sống âm thầm trong bóng tối mông mênh.
Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh
Nhưng can đảm và tận tình giúp nước.
Họ là kẻ từ nghìn muôn thuở trước
Đã phá rừng, xẻ núi, lấp đồng sâu.
Và làm cho những đất cát hoang vu
Biến thành một giải san hà gấm vóc.
 
Họ là kẻ không nài đường hiểm hóc
Không ngại xa, hăng hái vượt trùng sơn.
Đã âm thầm chuẩn bị giữa cô đơn
Cuộc Nam Tiến mở giang sơn lớn rộng.
 
Họ là kẻ khi quê hương chuyển động
Dưới gót giày của những kẻ xâm lăng.
Đã xông vào khói lửa, quyết liều thân
Để bảo vệ Tự Do cho Tổ Quốc.
 
Trong chiến đấu không nài muôn khó nhọc,
Cười hiểm nguy, bất chấp nỗi gian nan.
Người thất cơ đành thịt nát, xương tan
Nhưng kẻ sống, lòng son không biến chuyển.
Và đến lúc nước nhà vui thoát hiểm,
Quyết khước từ lợi lộc với vinh hoa
Họ buông gươm quay lại chốn quê nhà
Để sống lại cuộc đời trong bóng tối.
 
Họ là kẻ anh hùng không tên tuổi.
Trong loạn ly, như giữa lúc thanh bình
Bền một lòng dũng cảm, chí hy sinh
Dâng đất nước cả cuộc đời trong sạch.
 
Tuy công nghiệp không ghi trong sử sách,
Tuy bảng vàng, bia đá chẳng đề tên,
Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên
Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật.
Nhưng máu họ đã len vào mạch đất
Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông.
Và anh hồn cùng với tấm tinh trung
Đã hoà hợp làm linh hồn giống Việt.

Friday, March 30, 2018

Bảng tổng hợp 3: Tượng đài và bia Tưởng Niệm Chiến Sĩ.



Song song với các cơ quan hành chánh công nhận quốc kỳ chúng ta, lá quốc kỳnền vàng ba sọc đỏ của chúng ta cũng xuất hiện nhiều nơi trên thế giới trong những trường hợp khác nhau nhưng ý nghĩa vẫn là một: "Cùng dựng lại quốc kỳ chúng ta bằng những cách khác nhau". Đồng thời, tại nhiều nơi trên các quê hương thứ hai của Cộng Đồng chúng ta tị nạn cộng sản, đã dựng lên các Tượng Đài hoặc Bia Tưởng Niệm Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà và Chiến Sĩ Quân Lực Đồng Minh. Tại Tượng Đài cũng như Bia Tưởng Niệm, đếu có quốc kỳ chúng ta cùng với quốc kỳ của quê hương bản xứ trên hai cột cờ.
Trích trang 815, 816, và 817 trong quyển "Lược Sử Quân Lực Việt Cộng Hòa, do cựu Đại Tá Trần Ngọc Thống, cựu Thiếu Tá Hồ Đắc Huân, vàông LêĐình Thụy biên soạn vàấn hành năm 2011. Theo đó thì:
"Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa năm 1954 là 150.000 người, phát triển dần đến năm 1975 là1.025.000 người. Trong 21 năm chiến tranh, đã có 259.300 Chiến Sĩ tử trận + 567.000 Chiến Sĩ bị thương + 34.000 Chiến Sĩ mất tích. Về phía quân đội Đồng Minh, thì: Hoa Kỳ có 58.200 Chiến Sĩ tử trận + 153.400 Chiến Sĩ bị thương + 1.700 Chiến Sĩ mất tích. Đại Hàn có 5.100 Chiến Sĩ tử trận + 1.000 Chiến Sĩ bị thương + 430 Chiến Sĩ mất tích. Australia có 430 Chiến Sĩ tử trận + 130 Chiến Sĩ bị thương. Thái Lan có 350 Chiến Sĩ tử trận + 1.300 Chiến Sĩ bị thương. VàNew Zealand có  60 Chiến Sĩ tử trận + 210 Chiến Sĩ bị thương".Những con số trên đây căn cứ theo tài liệu chưa đầy đủ.
Sau khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đánh chiếm nước Việt Nam Cộng Hòa vào tháng 4/1975, quân nhân, dân dự, cán bộ, và viên chức hành chánh Việt Nam Cộng Hòa, bị cộng sản đẩy vào hệ thống nhà tù trên toàn cõi Việt Nam, báo chí thếgiới ước lượng khoảng85.000 tù chính trị Việt Nam Cộng Hòa đã chết trong hơn 250 trại tù + Bị hành quyết khắp nên trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa cũ 10.000 người + Chết tại các khu kinh tế mới 9.500 người + Chết trên đượng vượt biên vượt biển 450.000 người = 554.500 người".  
Vì vậy mà công cuộc vận động xây dựng Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa và Đồng Minh, tôi nghĩ, làđiều nên làm khi có thể. 
Và xin hiểu rằng, nhóm chữ "quốc kỳ Việt Nam", "quốc kỳ chúng ta", "cờ vàng" trong bảng tổng hợp này, là quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ của chúng ta. 
Phần một. Tượng Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ.
1. Tượng đài tại NSW, Australia.
Ngày 31/8/1991, lễ khánh thành Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa & Úc Đại Lợi rất trọng thể, do Đề Đốc Peter Sinclair, Thủ Hiến tiểu bang New South Wales, Australia, chủ tọa. Tượng đài đặt trong công viên Cabra-Vale, thành phố Fairfield, ngoại ô của Sydney, với quốc kỳ Việt - Úc cùng phất phới trên kỳ đài.
20 năm sau. Khoảng 500 cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa & Australia và quan khách Việt - Úc, đã khánh thành “Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa & Uc Đại Lợi” tại Cabra-Vale Park (Sydney) vào ngày 05/03/2011, với sự chứng kiến của đại diện bà Thủ Hiến bang New South Wales là Dân Biểu Tony Kelly. Sau lễ chào quốc kỳ Việt - Úc và phút mặc niệm, ông Nguyễn Văn Thành, Chủ Tịch Cộng Đồng NSW và ông Thị Trưởng (cũng là Dân Biểu) Nick Lalich cùng mở tấm vải che tượng đài trong tiếng vỗ tay vui mừng, cũng là lúc cơn mưa đổ xuống nhưng mọi người vẫn tiếp tục buổi lễ như không có chuyện gì xảy ra.



 Được biết, Giám Đốc công trình là Luật sư Võ Trí Dũng, và tượng đài do điêu khắc gia Đỗ Trọng Nhơn thực hiện. Chi phí chung vào khoảng 90.000 Úc kim. Theo “Hoa Bút News” trên Việt Luận ngày 08/03/2011 tại Sydney, tượng đài này là nâng cao lên tượng đài đã khánh thành ngày 31/08/1991.      
2. Tượng đài tại Perth, Australia.
Ngày 7/12/2002, Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn chúng ta tại Australia nói chung và miền Tây Australia nói riêng, đã thực hiện và khánh thành Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Việt - Úc đã hi sinh vì dân chủ tự do tại thành phố Perth, miền Tây Australia. Tại đó, quốc kỳ Việt Nam chúng ta đã chánh thức phất phới trên kỳ đài, dù rằng đại sứ cộng sản Việt Nam tại Australia đã phản đối mạnh mẽ, nhưng họ đã thất bại như đã thất bại với tượng đài năm 1991.
3. Tượng đài tại Westminster,  Hoa Kỳ.
Ngày 27/4/2003,Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Việt Nam-Hoa Kỳ đã được long trọng khánh thành tại công viên tòa thị sảnh thành phố Westminster, tiểu bang California, nơi được xem là “thủ đô” của Cộng Đồng tị nạn chúng ta. Trong buổi lễ này, rất đông nhân vật chánh quyền địa phương, chánhquyền tiểu bang và liên bang Hoa Kỳ, nhiều quan khách ngoại quốc mà trước kia có quân đội tham chiến bên cạnh quân lực Việt Nam Cộng Hòa, và hằng chục ngàn đồng hương Việt Nam tại địa phương, từ nhiều tiểu bang khác, cùng với đồng hương từ nhiều quốc gia xa xôi đến tham dự.
4. Tượng đài tại Dandenong, Australia.
Ngày 30/4/2005, tượng đài được khánh thành trong buổi lễ thật trang trọng tại Dandenong, tiểu bang Victoria, Australia, với sự tham dự rất đông bà con Việt Nam từ các tiểu bang qui tụ về đây. Trên bệ tượng đài là Người Lính Australia & Người Lính Việt gần như đâu lưng nhau trong tư thế sẳn sàng chiến đấu trên đường hành quân.(trích e-mail baokiem2005@aol.com ngày 15/5/2005)
5. Tượng đài tại Houston, Hoa Kỳ.
Ngày 11/6/2005, rất đông bà con trong Cộng Đồng Việt Nam tị nạn tại  thành phố Houston và vùng phụ cận, và một số nhân vật Hoa Kỳ địa phương -kể cả cựu chiến binh Hoa Kỳ- đã tham dự ngày khánh thành tượng đài Chiến Sĩ Việt Nam & Hoa Kỳ trong buổi lễ rất trang trọng. Tượng chiến sĩ Việt Nam và Hoa Kỳ, súng trong tay, cùng nhìn về phía trước trong tư thế sẳn sàng tác chiến, do nhàđiêu khắc Phạm Thông thực hiện. Tượng đài xây dựng tại số 11360 đại lộ Bellaire, khu tây nam thành phố Houston, nơi qui tụ đông đảo đồng hương cư trú lẫn kinh doanh thương mãi.
6. Tượng đài tại Brisbane, Australia.
Ngày 16/9/2002, lễ khánh thành Tượng Đài Chiến Sĩ Việt - Úc do Ủy Ban Xây Dựng Tượng Đài làông Huỳnh Bá Phụng, và cựu Thiếu Tá quân đội Hoàng Gia Úc Alan Cunninghamđồng tổ chức, tại Roma Street Pakland, trung tâm thành phố Brisbane, tiểu bang Queensland. Buổi lễ do Bà Anna BlighPhó Thủ Hiến kiêm Bộ Trưởng Tài Chánh Queensland -thay mặt ông Thủ Hiến Peter Beattie- chủ tọa, và bắt đầu lúc 10 giờ sáng. Khoảng 700 bà con trong Cộng Đồng người Việt tị nạn cộng sản trên toàn Australia tham dự. Trong số quan khách, kháđông các vị  trong cơ quan lập pháp và hành pháp của Brisbane và Queensland tham dự. Tượng đài Chiến Sĩ Việt-Úc, do nhàđiêu khắc Federik Whittehouse và kiến trúc sư Lê Cương đúc bằng đồng đen, đặt trên bệ bằng cẩm thạch. Ông Bà Giào Sư Nhân Điện Lương Minh Đáng và Bác SĩThủy, đã hỗ trợ vàđóng góp rất nhiều cho Ủy Ban Xây Dựng Tượng Đài. Buổi lễ chấm dứt lúc 12 giờ 15 phút trưa trong niềm vui pha lẫn xúc động.
7. Tượng đài tại Adelaide, NamAustralia.
 Ngày 15/10/2006, tại thành phố Adelaide, sau hơn 3 năm phối hợp công tác của Hội Cựu Chiến Binh Úc tham chiến tại Việt Nam và Hội Cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, tượng đài Chiến Sĩ Việt Nam & Australiatrong công viên Torrens Parade Ground trước Trung Tâm Quân Sự Tiểu Bang Nam Úc, được khánh thành trong buổi lễ rất trang nghiêm và cảm động, do ông Mike Rann, Thủ Hiến tiểu bang Nam Úc chủ tọa. Khoảng 4.000 ngườiViệt Nam và Australia tham dự, trong số đó có nhiều chính khách của thành phố Adelaide, tiểu bang, và liên bang. Đặc biệt là sựcó mặt của Trung Tướng Donald Dunstan, cựu Tư Lệnh quân đội Úc tại Việt Nam Cộng Hòa năm 1971-1972. 
Tượng chiến sĩ Việt-Úc cùng đứng bên nhau trên bệ đá hoa cương. Mặt Nam có dòng chữ “Vietnam War Memorial” mạ vàng. Mặt Đông khắc huy hiệu Hải Lục Không Quân Úc và huy hiệu Hải Lục Không Quân VNCH. Mặt Bắc ghi tên 58 chiến sĩ của Nam Úc đã hi sinh trên chiến trường VNCH. Nền gạch màu đỏ theo hình huy chương Victoria Cross, huy chương cao quí của quân đội Úc. Quốc kỳ Việt Nam và quốc kỳ Úc phất phới trên đỉnh kỳ đài. Đây là sự đánh đổi bằng cách không nhận tài trợ 40.000 Úc kim từ chánh phủ liên bang để hai lá quốc kỳ được treo vĩnh viễn nơi đây. Tổng số chi phí tượng đài khoảng 350.000 Úc kim, do Ủy Ban Hổn Hợp Việt Úc vận động tài chánh trong cộng đồng Việt Nam tị nạn và cộng đồng bản xứ.
8. Tượng đài tại Saint Cloud, Hoa Kỳ.
Ngày 2/6/2007, Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại tiểu bang Minnesota đã tổ chức lễ khánh thành “Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Việt-Mỹ” cạnh hồ George thuộc công viên Eastman, thành phố Saint Cloud, với sự tham dự của hằng ngàn đồng hương từ các thành phố của tiểu bang Minnesota, còn có đồng hương từ các tiểu bang lân cận và xa như Illinoise, California cũng đến. Ba vị khách từ xa đến là cựu Trung Tướng Lâm Quang Thi, Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh, và chiến hữu Võ Văn Đức, Tổng Hội Trưởng Tổng Hội Cựu SVSQ Trường Võ Bị Quốc Gia. Về phía chánh quyền địa phương tham dự có Thống Đốc tiểu bang, một số Thượng Nghị Sĩ và Dân Biểu, ông Thị Trưởng Saint Cloud, một số Nghị Viên Hội Đồng thành phố, Hội Đoàn VVA Chapter 290, Hội Đoàn VVA Chapter của Anoka County, Ban nhạc của City, và Đoàn Patriot Guard Riders với hằng trăm xe Motor Harley biểu diễn ngoạn mục. 
Buổi lễ bắt đầu lúc 11 giờ trưa. Sau lễ chào quốc kỳ Mỹ-Việt và phút mặc niệm, Thống Đốc Tim Pawlenty và cựu Trung Tướng Lâm Quang Thi, cùng kéo bức màn phủ trên phiến đá hoa cương, hình ảnh hai chiến sĩ Việt-Mỹ hiện ra giữa tiếng vỗ tay kéo dài của khối người giữa rừng cờ vàng ba sọc đỏ, cờ tiểu bang, và cờ liên bang. Sau nghi thức cầu nguyện là lời giới thiệu của ông Thị Trưởng Dave Kleis, ông Chủ Tịch VVA Chapter 290 Jim Bestick, và ông Trưởng Ban Xây Dựng Đài Tưởng Niệm Nguyễn Kiếm Hoa. Kết thúc lễ khánh thành với nghi thức đặt vòng hoa tại đài chiến sĩ trong tiếng nhạc trầm buồn của xứ Tô Cách Lan, hòa vào âm thanh nốt nhạc Chiêu Hồn Tử Sĩ của Đoàn Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ. Chấm dứt lúc 1 giờ 10 phút.  
9. Tượng đài tại West Valley, Hoa Kỳ.
Sau gần 4 năm vận động và thực hiện, Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại thành phố West Valley, tiểu bang Utah, đã khánh thành Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ vào ngày 22/9/2007 trong buổi lễ trang nghiêm và trọng thể. Chiến hữu Nguyễn Mạnh Trí, Chủ Tịch Ủy Ban Xây Dựng, phụ trách điều hợp chương trình và cô Jenifer Hà thông dịch. Đông đảo cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, quân nhân Hoa Kỳ gốc Việt Nam, các cháu trong toán Young Marines Việt Nam, và cơ quan truyền thông báo chí tham dự. Về phía Hoa Kỳ, nhiều viên chức của Quận Hạt, thành phố, và cựu chiến binh. Đặc biệt có sự tham dự của cựu Trung Tướng Lâm Quang Thi, và Phó Thống Đốc tiểu bang Utah thay mặt Thống Đốc bận công tác.
Tượng đài xây dựng trong khu Trung Tâm Văn Hoá Các Sắc Tộc của thành phố. Với những gì liên quan đến tượng hai chiến sĩ Việt Mỹ trên bệ đài, kể cả hai lá quốc kỳ Việt Mỹ, là cả một nỗ lực của Ủy Ban Xây Dựng và bà con trong Cộng Đồng chỉ khoảng 8.000 người, đã vận dụng đến lịch sử Việt Nam lẫn lịch sử Hoa Kỳ và tranh luận rất gay go với Hội Đồng thành phố và Ủy Ban Duyệt Xét của West Valley gồm cả Thị Trưởng + Ban Quản Trị thành phố + Hội Đồng Nghị Viên + Luật Sư đoàn, ..v..v.. , sau cùng mới đạt được như vậy. Những khó khăn trở ngại mà Ủy Ban Xây Dựng phải đương đầu, do quan niệm của Ủy Ban Duyệt Xét muốn nhìn tượng đài dưới góc cạnh thuần túy văn hoá và tránh né những gì liên quan đến chiến tranh (trích e-mail vanlongtran@sympatico.ca 27/9/2007).   
 10. Tượng đài tại Melbourne, Australia.
Sau hơn hai năm vận động và thực hiện, ngày 21/6/2008,”Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam” tổ chức lễ khánh thành “Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ & Thuyền Nhân Việt Nam” tại công viên Jensen, Melbourne, tiểu bang Victoria, Australia. Vì không có bài viết nên nhìn vào những tấm hình ước lượng khoảng 300 đồng hương cùng với 30 quan khách chánh quyền thành phố Melbourne và tiểu bang Victoria (ghi trên thư mời) tham dự. Cũng nhìn vào hình, tượng đài có hai cánh gắn liền nhau như tượng trưng hai cánh buồm đặt trên nền có dạng chiếc ghe. Chi phí 70.000 Úc kim do đồng hương đóng góp (tôi đang xin thêm tin tức, sẽ bổ túc khi nhận được).
11.Tượng đài tại Montréal, Canada.
 Ngày 21/6/2008, Hội Bảo Vệ Di Sản Việt Nam và Ủy Ban Xây Dựng Tượng Đài đã tổ chức lễ khánh thành “Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ & Thuyền Nhân Việt Nam” tại Montréal, Canada, với khoảng 400 đồng hương và đại diện cơ quan chánh quyền Montreal cùng quan khách tham dự. Bắt đầu với nghi thức rước quốc quân kỳ Việt Nam và quốc kỳ Canada, sau lời tường trình của ông Ngô Anh Võ, Chủ Tịch Hội Bảo Vệ Di Sản Việt Nam kiêm Trưởng Ban Xây Dựng Tượng Đài, Hòa Thượng Thích Tâm Châu và Đức Ông Pierre Vlanchard Giáo Phận Montreal, cùng kéo tấm vải phủ bên trên thì “Tượng Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ & Thuyền Nhân” từ từ hiện ra với sự xúc động của đồng hương hòa trong tiếng vỗ tay kéo dài của mọi người có mặt, làm cho rừng cờ vàng trên những cánh tay đôi lúc cũng rung động. Tượng đài gồm 3 phần liền nhau: Bên trái là quốc kỳ Việt Nam, chính giữa là một Chiến Sĩ cầm súng với thế ngồi phảng phất Tượng Thương Tiếc Nghĩa Trang Quân Đội cạnh xa lộ Biên Hòa,và phần bên phải có hình chiếc thuyền bé bỏng giữa biển khơi! Thời gian thực hiện tượng đài 18 tháng kề từ buổi họp quyết định thực hiện công trình, với chi phí ước tính 75.000 gia-kim do đồng hương chung góp, nhưng khi hoàn tất lên đến 100.000 (trích e-mail nhan0912@yahoo.com ngày 21/6/2008)
12. Tượng đài tại Orlando, Florida.
 Ngày 26/5/2012, ông Chu Bá Yến, Chủ Tịch Ủy Ban Xây Dựng Tượng Đài, tổ chức lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng Tượng Đài Chiến Sĩ Việt - Mỹ rất trọng thể tại  Baldwin Memorial Park, thành phố Orlando, tiều bang Florida. Khoảng 300 người có mặt. Chi phí chung dự trù khoảng 250.000 mỹ kim mà trong tay mới có 130.000 MK. ông kêu gọi đồng hương hưởng ứng giúp đỡ. 
Ngày 27/4/2013, tượng đài được khánh thành với sự tham dự khoảng 400 người trong buổi lễ rất trang trọng, do hai MC là ông Nam Lộc và bà Xuân Lê điều hợp. Trong số quan khách, có Giáo sư khoa học gia Nguyễn Xuân VInh, cựu Thiếu Tướng Trần Bá Di, cựu Thiếu Tướng Phan Hòa Hiệp. Sau lời ông Phạm Ngọc Cửu, Trưởng Ban Tổ Chức, tuyên bố khai mạc lễ khánh thành Tượng Đài, ông Chu  Bá Yến, Chủ Tịch Ủy Ban Xây Dựng Tượng Đài, tường trình tổng quát từ ý niệm vào năm 1987, hình thành Ủy Ban Xây Dựng năm 2006, đến lễ khánh thành hôm nay, với biết bao khó khăn trở ngại mà các vị liên quan đã giữ vững tinh thần trách nhiệm và lòng kiên nhẫn, nên giúp vượt qua tất cả.
Ông Phạm Ngọc Cửu và ông Phó Quốc Uy, Cựu Phó Chủ Tịch Cộng Đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ, cùng phần cắt băng khánh thành và kéo tấm vải phũ Tượng Đài. Bức tượng đồng của chiến sĩ Hoa Kỳ và Người Lính Việt Nam Cộng Hòa,cao 12 feet hiện ra uy nghiêm bóng loáng trong chất đồng đen, do Kiến Trúc Sư Lê Huy Đức sáng tạo.
13. Tượng đài tại Wichita, Hoa Kỳ.
Ngày..... ,khánh thành tượng đài chiến sĩ Việt - Mỵ tại Wichita, tiểu bang Kansas.
hình 11 Chung quanh lễ đài trang trí 50 lá cờ của các quân binh chủng của hai quốc gia Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa, do Chi hội trưởng Nhảy Dù Wichita Kansas, Trần Phú Muôn đem đến. Một lực lượng hùng hậu tham dự thuộc Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam gồm có Chủ tịch Tổng hội Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam, Bác sĩ Lê Quang Tiến đến từ Canada, cựu Chủ tịch sáng lập Bùi Đức Lạc đến từ San Jose, và cố vấn Mỹ Team 162, Gary Willis đến từ Houston, cùng với một số các chi hội Nhảy Dù khắp nước Mỹ và Canada. Chủ tịch Cộng đồng Việt Nam và Chủ tịch Hội Cựu Quân Nhân tại Wichita Kansas. Các vị cựu tướng lãnh Việt Mỹ như Trung Tướng Richard Carey, Thiếu Tướng James William, Thiếu Tướng Đặng Đình Linh, cùng một số niên trưởng trong hai quân đội
Chương trình do các MC, Clete McAlister là Chủ tịch Rotary Club (là một tổ chức gắn bó với UBXDTĐ và đã yễm trợ 150.000 Mỹ kim để xây dựng tượng đài), ông Đào Chí Nhân, nghệ sĩ Nam Lộc, và Thùy Dương của Trung tâm Asia điều hành. Trước giờ khai mạc, Ban nhạc Mỹ, The Cowtown Music Club phụ trách phần quân nhạc trình diễn các bài hùng ca Việt Mỹ. Theo như chương trình trước đây, thì có hai show nhảy dù điều khiển xuống khu vực tượng đài, mang theo hai lá cờ Việt Mỹ để làm lễ thượng kỳ, nhưng vì thời tiết xấu nên phải đình lại tiết mục này, chỉ còn một show phi cơ biểu diễn thả khói trên nền trời của một phi đội T28.
14. Tượng đài tại Arllngton, Dallas.
Ngày 25/10/2015, lễ khánh thành tượng đài được tổ chức trong khuôn viên Arlington Veterans Park, với sự tham dự khoảng 1.000 bà con trong Cộng Đồng và quan khách. Sau nghi thức chào quốc kỳ Mỹ-Việt và phút mặc niệm, do hai toán quốc-quân kỳ Việt - Mỹ thực hiện, làđọc văn tế, và đặt vòng hoa tưởng niệm.Chiều cao của tượng đài theo dự trù là cao hơn tượng đài ở Westminster (California), nhưng Arlington Veterans Park không đồng ý vì không muốn sự hác biệt về chiều cao đối với tượng đài gần đó.  Theo MC buổi lễ: "Sau bao nhiêu sóng gió, tượng đài đã được dựng lên. Đây cũng là sư kiện lịch sử của thành phố Arlington, thế hệ thứ hai của người Việt tị nạn cộng sản đã đứng ra nhận trọng trách xây dựng này thật đáng khen".Sau phần phát biểu của Bác SĩĐàng Thiện Hưng,Chủ Tịch Ủy Ban Xây Dựng Tượng Đài, dựng lại những đóng góp công sức của bà con trong Cộng Đồng, làTướng James William. Ông ca ngợi tinh thần anh dũng chiến đấu của quân lực Việt Nam Cộng Hòa,nhưng tiếc thay, Việt Nam Cộng Hoà đã vào tay cộng sản mà Kissinger đã góp phần tiếp sức cho cộng sản, khiến cho trên 58 ngàn chiến sĩ Hoa Kỳ và trên 300,000 chiến sĩ VNCH phải hy sinh. Đến mũđỏ Bùi Quang Thống, với tư cách một người lính Việt Nam Cộng Hoà, và làPhó Chủ Tịch Uỷ Ban Xây Dựng Tượng Đài, phát biểu: "Tượng đài là biểu tượng sự hy sinh cao cả của người lính hai quân đội Việt - Mỹ đã nằm xuống vì tự do".Trung Úy hiện dịch bộ binh Hoa Kỳ Đàng Nguyên Vy,với tư cách thế hệ nối tiếp Người Lính, phát biểu: "Cháu biết nhờ công lao và sự hy sinh của biết bao nhiêu chiến sĩ Việt - Mỹ mà cháu và những người Việt Nam cùng thế hệ mới có cơ hội sinh ra và lớn lên trong Tự Do ở đất nước này, cháu biết rằng tự do không phải tự nhiên mà có, biết bao nhiêu người đã hy sinh và chiến đấu cho tự do. Cháu biết rằng đã có bao nhiêu người đã bỏ nước ra đi tìm tự do và biết bao nhiêu người đã chết trên đường tìm tự do, đó là một trong những lý do khiến cháu vào quân đội, tiếp tục theo gương của ông nội và của các bác cựu chiến sĩ, để tiếp tục bảo vệ tự do, chiến đấu cho quê hương thứ hai này của chúng ta".
Buổi tối cùng ngày tại Nhà hàng Thanh Thanh, một dạ tiệc mừng khánh thành tượng đài thành công tốt đẹp với khoảng 500 người tham dự, đây cũng là lần gây quỹ cuối cùng vì còn thiếu khoảng 73.000 Mỹ kim.
Phần hai. Bia Tưởng Niệm Chiến Sĩ.
1.Bia tưởng niệm tại Honolulu, Hoa Kỳ.
Tài liệu từ Giáo Sư Nguyễn Văn Canh, “Ủy Ban Dựng Bia Đá & Vinh Danh” gọi tắt là “Ủy Ban Vinh Danh” được thành lập, do Luật Sư Đỗ Doãn Quế Chủ Tịch, cô Nina Nguyễn Ngọc Nhung, Phó Chủ Tịch Điều Hành, cựu Đại Tá Gene Castagnetti, Phó Chủ Tịch Đối Ngoại, và một số vị trách nhiệm những bộ phận khác nhau. Giáo Sư Nguyễn Văn Canh là Cố Vấn. Bia đá ghi danh tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa được phép đặt cạnh bia đá của Không Quân Hoa Kỳ, cùng hàng với khoảng 50 bia đá của Hoa Kỳ và các quốc gia khác, trong khuôn viên “Nghĩa Trang Quốc Gia Thái Bình Dương” (National Memorial Cemetery of the Pacific = NMCP) tại Honolulu, tiểu bang Hawaii. Nghĩa trang nằm trên miệng núi lửa Puowaina, rộng 112 mẫu. Puowaina có nghĩa là “Hi Sinh”. Bia đá nặng khoảng 2.000 lbs. trên đỉnh núi Kapa’a do Giám Đốc công ty sở hữu núi Kapa’a tặng. Chuyển xuống núi đưa đến nơi cưa, đục, và hoàn chỉnh.
 Ngày 30/4/2006, Bia Đá Vinh Danh Tử Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã được khánh thành trong buổi lễ rất trang nghiêm và cảm động. Phần trên của bia đá: Chính giữa là bản đồ Việt Nam. Bên trái là quốc kỳ Hoa Kỳ với dòng chữ “Duty - Honor - Country”. Bên phải là quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ với dòng chữ “Tổ Quốc Ghi Ân - Vị Quốc Vong Thân”.  Phần dưới là một khung lớn với những dòng chữ bằng Anh ngữ  “Vinh Danh Quân Lực Hoa Kỳ, Quân Lực & Nhân Dân Việt Nam Cộng Hòa, và các quốc gia Đồng Minh Australia, New Zealand, South Korea, Phillippines, Taiwan, và Thailand, đã chiến đấu chống cộng sản để bảo vệ dân chủ tự do và nhân quyền cho thế giới” (trích e-mail phungbahuynh@yahoo.com.au ngày 1 May 2006).
Trong e-mail lochuong65@............au, viết về lễ khánh thành Bia Đá này, có bài thơ Vị Quốc Vong Thân, như sau:
Vị Quốc Vong Thân Ất Mão niên.
Quốc suy Tướng sĩ chết theo thành.
Vong linh tuế nguyệt trầm hương tỏa.
Thân thế thiên thu khắc hãn thanh”. 
2. Bia tưởng niệm tại South Carolina, Hoa Kỳ.
 Ngày 29/4/2006, Hội Cựu Quân Cán Chánh Việt Nam Cộng Hòa phối hợp với Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại Greer, tiểu bang South Carolina, tổ chức lễ khánh thành Bia Tưởng Niệm Chiến Sĩ trong Công Viên Victor Memorial Veterans do Disabled American Veterans Greer Chapter 39 Quản Trị, bao quanh là các con đường South Line St + 16 th. St. + 17 th. St. + Old Woodruff giữa trung tâm thành phố.  Công trình này do Clayton Monuments thực hiện, với giá 2.153 mỹ kim. Trước đó, ngày 12/12/2005 với văn thư chánh thức, Ban Quản Trị Công Viên đồng ý xây dựng các Bia Đá ghi tên các chiến sĩ  Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh cho dân chủ tự do. Mỗi Bia Đá giá 5.630 mỹ kim, sẽ ghi tên được 57 tử sĩ, có nghĩa là mỗi tên của tử sĩ ghi vào Bia Đá với giá 98.78 mỹ kim.
Một Thông Báo được phổ biến rộng rãiđể bà con muốn ghi tên thân nhân tử sĩ của mình vào Bia Đá, xin liên lạc với Vietnamese Veterans Association of South Carolina, PO BOX 1441. Taylors, SC 29687. ho ặc e-mail <svvasc@yahoo.com>
3. Bia tưởng niệm tại Fayetteville, Hoa Kỳ.
Nguồn tin từ tác giả Nguyễn Văn Lập. “Hội Ngộ Mũ Đỏ” (Red Hat Reunion) được tổ chức tại thành phố Fayetteville, tiểu bang North Carolina, từ ngày 11-14/5/2006. Khoảng 300 Mũ Đỏ Hoa Kỳ và Mũ Đỏ Việt Nam tham dự. Nhiều cơ quan truyền thông Hoa Kỳ và Việt Nam cũng có mặt. Trong số Mũ Đỏ Hoa Kỳ, có nhiều vị trước kia là cố vấn Sư Đoàn Nhẩy Dù Việt Nam mà nay là Tướng Lãnh. Một đoạn trong lời phát biểu, Trung Tướng James B. Vaught -Cố Vấn Sư Đoàn Nhẩy Dù Việt Nam năm 1971- nhấn mạnh: “… Tưởng rằng làm cố vấn giúp các bạn chiến đấu, nhưng thật sự thì chúng tôi  học tinh thần chiến đấu anh dũng tuyệt vời của các bạn. Và buổi lễ tưởng niệm này để tưởng nhớ sự hy sinh của trên 20.000 Người Lính Nhẩy Dù Việt Nam Cộng Hòa trong suốt cuộc chiến, trong đó có nhiều Cố Vấn thuộc Team 162 đã nằm xuống vì tự do cho Việt Nam…”  
Lễ đặt Bia Đá Tưởng Niệm và khánh thành Khu Bảo Tàng dành cho Mũ Đỏ Việt Nam  được thực hiện ngày 12/5/2006, rất trang trọng với đầy đủ lễ nghi quân cách của quân lực Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa. Trên Bia Đá có dòng chữ “Dedicated to the 20,000 + Vietnamese Airborne who died fighting for freedom and democracy in South Vietnam 1960-1975. Military Assistance Command Vietnam Advisory Team 162 The Red Hats”. Tấm bia này được khắc xuống nền sân trước của Bảo Tàng Viện.
Trích lời phát biểu của Đại Tá  Paul Devries, Trưởng Ban Tổ Chức trong lễ khánh thành “Khu Bảo Tàng” bên trong Bảo Tàng Viện:
“… Phải gọi là lịch sử, vì đây là lần đầu tiên và duy nhất, một Binh Chủng thiện chiến của quân đội Đồng Minh -Việt Nam Cộng Hòa- được đặt Bia Tưởng Niệm và có một Khu Bảo Tàng vĩnh viễn trong Bảo Tàng Viện nổi tiếng của Lục Quân Hoa Kỳ …”
Chủ Tịch Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam, ông Nguyễn Thành Phúc, đã cảm tạ Toán Cố Vấn Nhẩy Dù 162 thuộc MACV về nghĩa cử và hành động ghi nhớ sự hy sinh của chiến sĩ Nhẩy Dù Việt Nam Cộng Hòa.
4. Bia tưởng niệm tại Colorado, Hoa Kỳ.
Khu Đài Tưởng niệm chiến tranh Việt Nam có cả tiếng Việt được phát giác giửa vùng đồi núi vùng Gunnison, Colorado, Hoa Kỳ. Đúng là Danh dư và Trách Nhiệm của một chiến binh. TNT
AEHD thân mến
(nhóm chữ AEHD, có lẽ là Anh Em Hướng Đạo. PB Hoa)
 Phải khó khăn, với nhiều kiên nhẩn và thì giờ tôi mới tìm được video khoảng 5 phút của người nữ reporter tường trình về The Mysterious War Memorial không biết do ai dựng lênở vùng Gunnison,vùng đồi núi hẻo lánh của tiểu bang Colorado, Hoa Kỳ.  
Bia tưởng niệm chiến tranh Việt Nam, theo nhận xét của tôi làđề cập đến cuộc chiến từ năm 1945- 1975, trong đó có ghi khắc nhiều thứ tiếng Anh, Việt, Laos, Campuchia. Tôi khá ngạc nhiên khi đọc được dòng chữ sau trên mặt của đài, thật cảm động đến rơi lệ:
"Nếu khóc than mà tôi có thể biến đổi tiến trình sự việc, thì dòng lệ của tôi sẽ đổ xuống không ngừng cho đến ngàn thu". 
Ngoài bia chính, còn có nhiều bia nhỏ nằm rải rác nơi khu rừng khá rộng. Trong một bia tôi đọc được bài thơ:
"Khi mơ ước mãi không thành hiện thực
Sẽ trở thành viên đá tưởng lì trơ 
Để óc tim ta nặng trĩu không ngờ.
Ta hất xuống những thường không dư lực."
Một bia khác khắc:"Ai bảo trời không có mắt". Một bia khác khắc bằng tiếng Pháp.
Rõ ràng Bia Tưởng Niệm này có sự góp tay của người có khả năng tiếng Việt lưu loát.Cuối video có hướng dẫn đường đến đài tưởng niêm. 
"Xin cám ơn những người đã mất khá nhiều thời giờ và tâm huyết dựng tượng đài để ghi nhớ những người anh em của chúng tôi đã nằm xuống trong cuộc chiến 1945-1975. Xem xong mà lòng tôi nặng trỉu tâm tư về cuộc chiến đã giết bao nhiêu triệu sinh linh".
"Xin cho những người đã nằm xuống vì cuộc chiến được an nghỉ chốn an bình, nơi không có hận thù, chém giết". TVMinh. (trích e-mail của Hội Người Già Sydney, Australia)
4. Bia Tưởng Niệm tại San Jose, Hoa Kỳ.
Ngày 5/4/2014, dưới bầu trời nắng ấm, lễ khánh thành Bia Tưởng Niệm những vị anh hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà trong khuôn viên "Việt Museum" của người Việt tị nạn tại San Jose, tiểu bang California, Hoa Kỳ, do "Viet Museum" tổ chức trang nghiêmvàxúc động. Được biết những ngày sau cùng khi Sài gòn bị quân cộng sảnđánh chiếm, một số các vị anh hùng đã tự kết liễu mạng sống hoặc đã cương quyết chiến đấu tới cùng để rồi bị hành quyết một cách man rợ.
Chúng ta thường nghe đến “Ngũ Hổ Tướng” là các vị tướng lãnh:"Nguyễn Khoa Nam, Nguyễn văn Hưng, Phạm Văn Phú, Lê nguyên Vỹ, và Trần Văn Hai".
Ngày hôm nay,  Bia Tưởng Niệm do sự vận động của Biệt Đoàn Văn Nghệ Lam Sơn phối hợp cùng Viện Bảo Tàng thuyền nhân Việt Nam tại San Jose, thêm vào hai vị anh hùng nữa là Cố Đại Tá Hồ ngọc Cẩn và Cố Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long, đồng thời để tưởng niệm Quân, Dân, Cán, Chính của Việt Nam Cộng Hoà đã hy sinh trong 20 năm chiến tranh tự vệ.
Buổi lễ được đông đảo bà con trong Cộng Đồng, viên chức dân cử lập pháp của chính phủ là bà dân biểu Zoe Lofgren và nhiều vị trong  hội đồng thành phố như Dase Cortese, Phó Thị Trường Madison Nguyen, Sam Ricador, nhiều viên chức khác  của thành phố tham dự, vượt qua sự mong đợi của Ban TổChức buổi lễ. Chị Hoàng Mộng Thu, người “kiến trúc” của dự án bia tưởng niệm hơn một năm trước đây, đã  không nén được sự vui mừng và xúc động  do sự thành công của buổi lễ.
Phần kết.
Nhìn lại lịch sử thế giới, hầu như chưa có trường hợp nào một quốc gia không tồn tại mà quốc kỳ của quốc gia đó vẫn tồn tại một cách mạnh mẽ trên văn kiện, trên cột cờ cạnh Tượng Đài cũng như Bia Tưởng Niệm, tại các địa phương có Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản cư trú trên thế giới, như quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ của chúng ta. 
Vậy, với đà chiến thắng này, mong rằng Cộng Đồng chúng ta khắp nơi liên tục vận động với chánh quyền địa phương, để nhanh chóng có thêm nhiều cơ quan hành chánh hỗ trợ Cộng Đồng chúng ta xây dựng thêm những Bia và Tượng Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa và Đồng Minh. Tôi rất tin tưởng vào tương lai, những cuộc vận động thành công của bà con trong Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn Cộng Sản Tại Hải Ngoại. 
Người tổng hợp xin được góp lời vinh danh và cám ơn quí vị cùng quí bạn trẻ, đã vận động thành công với các cơ quan hành chánh địa phương tạo nên “Bảng Tổng Hợp Bia và Tượng Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa và Đồng Minh” của Cộng Đồng chúng ta.
Tôi tin rằng, lá quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ chính là điểm tựa vững chắc của Cộng Đồng Việt Nam chúng ta tị nạn cộng sản với những quốc tịch khác nhau trên khắp Đông Tây Nam Bắc địa cầu./. 
Houston, 19 tháng 6 năm 2003.
Bổ túc ngày 10/6/2016.  
Phạm Bá Hoa tổng hợp

 Khánh thành tượng đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Việt Mỹ New Jersey do phụ nữ gốc Việt tài trợ
Jersey Shore Online
Một buổi lễ sẽ diễn ra vào đúng Ngày Cựu Chiến Binh Việt Nam của Hoa Kỳ 29 tháng 3, tại một công viên ở thành phố Barnegat, tiểu bang New Jersey, để khánh thành một tượng đài nhỏ tri ân các cựu chiến binh trong Chiến Tranh Việt Nam.
Tượng đài do bà Thy Cavagnaro và chồng là ông James tài trợ toàn bộ. Tượng đài sẽ được dựng trong công viên Gazebo, góc Route 9 và West Bay Avenue. Bà Thy cùng gia đình rời khỏi Việt Nam năm 1975, khi bà mới lên 1 tuổi. Bà quyết định đền ơn các quân nhân Mỹ đã tham chiến vì tự do của miền Nam Việt Nam bằng cách tài trợ cho việc hình thành tượng đài này. Bà cũng thường xuyên tổ chức những bữa dạ tiệc khoản đãi những nhóm nhỏ cựu chiến binh Chiến Tranh Việt Nam trong thành phố. Bà Thy cho biết bà không quyên tiền cũng như không nhận tiền góp tặng cho tượng đài.
Theo báo mạng Jersey Shore Online, lễ khánh thành tượng đài vinh danh các cựu chiến binh Chiến Tranh Việt Nam sẽ quy tụ một số nhân vật nổi tiếng như nhà bình luận Jonathan T. Gilliam là diễn giả chính, ca sĩ cụt cả hai chân Ron Brooks là người trình diễn quốc ca Hoa Kỳ. Hiệp Hội Exercise Tiger sẽ cung cấp huy hiêu tưởng niệm và quà tặng cho các cựu chiến binh.
Buổi lễ cũng có sự hiện diện của ông Nguyễn Đức Huy, chủ tịch Cộng Đồng Việt Nam South Florida, người cũng là kiến trúc sư và điêu khắc gia thực hiện tượng đài.
Ảnh: Ocean County
Huy Lam / SBTN