Ngày hôm nay đã là 44 năm rồi.
Chúng ta hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà
Không biết những người lính trong những tấm hình này giờ ở đâu..? không biết ai còn ai mất.
Mong mọi điều bình an và may mắn đến với các anh.
Không biết bắt đầu từ thuở nào có một quy luật hình thành là ở một thể
chế hính trị, đều thành lập một lực lượng để bảo vệ mình, lực lượng đó
được gọi là quân đội. Quân đội sinh ra từ chế độ và nó cũng vẽ nên những
chân dung của chế độ. Chế độ tốt sẽ xây dựng nên một quân đội tốt. Quân
đội tốt sẽ không dung dưỡng một chế độ xấu.
Từ hơn hai nghìn năm
về trước, người lính Việt Nam với chiếc áo trấn thủ, mang gươm giáo
ngàn xưa để gồng gánh trên vai những nhiệm vu giết thù diệt loạn, bảo
quốc an dân, giữ gìn cơ nghiệp của tiền nhân, trải qua bao thăng trầm
của đất nước, hình ảnh của người lính thay đổi qua bao thời thế, nhưng
trách nhiệm không hề thay đổi.
Người thanh niên tuổi trẻ Việt
Nam từ khi bước vào quân trường, khoác vội bộ đồ trận, lưng mang vác ba
lô cho tới khi anh đứng nghiêm với lời tuyên thệ Vị Quốc Vong Thân,
người tuổi trẻ đã trở thành người lính.
Anh trưởng thành hơn bóng dáng của quê hương.
Người lính với chiếc nón sắt xanh đậm tròn tròn như nửa vầng trăng in
rõ bóng trên nền trời xanh lơ. Anh đã bước ra, tay ôm súng và chân mang
giày trận, anh giẫm mòn nửa vòng đất nước đi canh giữ cho quê hương.Bắt
đầu từ thập niên Sáu Mươi, khi kẻ thù phương Bắc, với xe tăng súng cối,
với những chủ thuyết ngoại lai, với những xích cồng nô lệ, đã toan tính
nhuộm đỏ quê hương, thì từ đó, người lính đã hiện diện trong tuyến đầu
lửa đạn. Anh mang vác hành trang, chiếc ba lô nặng cồng kềnh để chận
bước quân thù, để bảo vệ miền Nam.
Ðất nước hai mươi năm chiến
tranh, hai mươi năm dài người lính hầu như không ngủ. Hai mươi năm có
tới mấy ngàn ngày để anh đi từ sáng tinh mơ, chân giẫm ướt ngọn sương
mai trên cỏ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn đêm, bóng anh mịt mờ trong núi
rừng lạnh giá. Hai mươi năm, anh nghe tiếng đại bác vang trời không
nghỉ. Tiếng mưa bom đạn réo bên mình.
Tiếng xe tăng nghiền nát
đường quê hương. Hai mươi năm, anh đã đem sinh mạng của mình đặt trên
đường bay của đạn. Ðã đem hy vọng cuộc đời đặt trên khẩu súng thân quen.
Hay đã đem tình yêu và nỗi nhớ đặt trên đầu điếu thuốc. Hai mươi năm
chiến tranh có bao ngày anh được ngủ yên trên chiếc giường ngay ngắn. Có
bao đêm anh mơ được trọn giấc bình yên. Hay anh đã sống thân quen với
đời gian khổ và đánh bạn với gian nguy.
Anh với đầu đội súng và
vai mang ba lô, lội qua những vũng sình lầy nước ngang tầm ngực. Anh đã
đi qua những địa danh xa lạ: Ashau, Ia Drang, Kontum, Pleime, nơi giơ
bàn tay cũng không thấy được bàn tay. Hay anh truy địch ở bờ sông Thạch
Hãn lừng lững sương mai, ở phá Tam Giang sóng vỗ kêu gào hay ở Cổ Thành
xứ Huế mù sương. Dài dọc xuống Miền Nam với rừng Tràm, rừng Ðước, đến
Ðồng Tháp Mười anh đã nghe muỗi vo ve như sáo thổi.Anh đã đến những nơi
mà anh không tưởng, anh đi diệt địch và anh đã ngã xuống địa danh chẳng
quen dấu chân anh.
Người lính nằm xuống ở Miền Nam xanh tươi ngọn
mạ, ở những vùng trầm se rét Miền Trung, hay ở Miền Ðông xác thân thối
rửa Từ Ấp Bắc, Ðồng Xoài, Bình Giả... cho tới Tống Lê Chân, An Lộc, Bình
Long, người lính đã căng rộng tấm poncho để che kín bầu trời Miền Nam
được yên ấm tự do. Nối gót tiền nhân, người lính, mỗi người lính đã đem
3.8 lít máu tươi, tưới cho thắm tươi hoa lá ruộng đồng, đã đem mỗi một
206 lóng xương khổ nạn của mình cắm trăm nẻo đường quê hương muôn ngã,
để cho chính nghĩa quốc gia tự do được tồn tại.
Ðể cho người dân
quốc gia được sống no ấm ở hậu phương. Những người dân quốc gia, những
người dân quốc gia không hề muốn trở thành dân Cộng Sản, những người
quốc gia luôn muốn bỏ chạy khi Cộng Sản tới và núp bóng người lính để
được sống an nhàn ở chốn hậu phương. Họ hoàn toàn trao trọng trách bảo
vệ quốc gia, ngăn thù dẹp loạn như một thứ công việc và trách nhiệm của
người làm nghề lính, như thể không liên quan gì tới họ. Và họ tự trấn an
lương tâm rằng người lính sẽ không bao giờ buông súng và sẽ mãi mãi bảo
vệ họ tới cùng. Vì thế, họ luôn yên tâm sống ở hậu phương, yên tâm kiếm
tiền và tranh đua đời sống xa hoa phè phỡn trên máu xương của người
lính. Và ở hậu phương, người lính đồng nghĩa với nghèo, đời lính tức là
đời gian khổ, và tương lai người lính đếm được trên từng ngón taỵ
Thế nên, người lính về hậu phương, anh ngỡ ngàng và lạc lỏng. Bỗng hình
như anh cảm thấy mình như người Thượng về Kinh. Như vậy thì người ta
tội nghiệp người lính và yêu người lính để thể hiện tình quân nhân cá
nước trong sách vở, báo chí và truyền hình. Người lính bị bắt cóc vào
văn chương tiểu thuyết là những người lính giấy, vào văn chương để tự
phản bội chính mình, để thoả mãn cho những kẻ trông con bò để vẽ con
nai, và ngồi phòng khách để diễn tả chiến trường đỏ lửa. Người lính trên
trang giấy ngang tàng và hung bạo, chửi rủa chính phủ, chống chính
quyền và ghét cấp chỉ huy, lính la cà trong quán rượu, uống rượu chẳng
thấy say, và càng say càng đập phá.
Người lính xuất hiện trên sân
khấu thì phong lưu và đỏm dáng hay trắng trẻo no tròn. Anh mặc đồ trận
mới toanh còn nguyên nếp gấp, ngọt ngào chót lưỡi đầu môi anh ca bài ca
mời gọi ái tình. à người yêu của anh lính là những cô mắt ướt môi hồng,
áo quần xa hoa lộng lẫy, thề non hẹn biển yêu lính trọn kiếp trong ti
vi. Như vậy thì quá mỉa mai cho cái gọi là anh trai tiền tuyến, em gái
hậu phương. Trong khi đó, ở ngoài đời những người vợ lính là những người
chống giữ thầm lặng ở xã hội hậu phương. Ðó là những người đàn bà bình
dị với tấm áo vải nội hoá rẻ tiền, với đôi guốc vông kẻo kẹt, đóng vai
vừa là người mẹ vừa là người cha nuôi con nhỏ dại, gói ghém đời sống
bằng lương người chồng lính chỉ vừa đủ mua nửa tháng gạo ăn.
Ðó
là những người đàn bà tất tả ngược xuôi, lăn lộn thăm chồng ở các Trung
Tâm Huấn Luyện, hay ở những nơi tiền đồn xa xôi với vài ổ bánh mì làm
quà gặp mặt, đó là những người âm thầm và lặng lẽ, chịu đựng và hy sinh
để chồng luôn an tâm chống giữ ngoài trận tuyến với đối phương, hạnh
phúc của họ mong manh và nhỏ bé, bất chợt như tình cờ, có thể ở một thỏi
son nhỏ bé mà người lính mang về để tặng vợ, có thể là một chiếc nón
bài thơ, hay chút tình cờ ở một buổi tối người lính chợt ghé nhà thăm
vợ, hạnh phúc ở trong chén trà thơm uống vội, hay ở lúc nhìn đứa con bé
nhỏ chào đời tháng trước, người vợ lính cũng là những người hằng đêm
thức muộn để lắng tai nghe tiếng đại bác thâu đêm, rồi định hướng với lo
âu trằn trọc.
Ðó là những người đàn bà mà sau mỗi lần đơn vị
chồng đụng trận, đi thăm chồng giấu giếm mảnh khăn sô.Trong nỗi chịu
đựng hy sinh, âm thầm và kỳ vĩ, họ vẫn sống và luôn gắng vượt qua để cho
người chồng an tâm cầm súng, để anh, người lính, anh mang sự bất công
to lớn, sự bạc đãi phủ phàng, anh vẫn đi và vẫn sống, vẫn chiến đấu oai
hùng giữa muôn ngàn thù địch. Ở chiến trường, anh đối diện với kẻ thù
hung ác,ở hậu phương anh bị ghét bỏ khinh khi, trên đầu anh có lãnh đạo
tồi, sẵn sàng dẫm xác anh để cầu vinh cho họ, đồng minh anh đợi bán anh
để cầu lợi an thân.Những người dân của anh, những người anh hy sinh để
bảo vệ từ chối giúp anh truy lùng kẻ địch, và điềm nhiên để anh lọt vào ổ
phục kích của địch quân.
Những người dân bán rẻ linh hồn cho
quỷ, tiếp tay cho địch thác loạn ở hậu phương, đó là những kẻ chủ trương
đòi quyền sống, trong đó không bao gồm quyền sống của anh.Những kẻ để
trái tim rung động tiếc thương cho cái chết của kẻ thù nhưng dửng dưng
trước sự ngã xuống của anh. A dua, xu thời là bọn báo chí ngoại quốc
thiên tả, lệch lạc ngòi bút, ngây thơ nhận định, mù quáng trong định
kiến. ất cả vây quanh anh để tặng cho anh những đòn chí tử.
Người lính bi hùng và bi thảm.
Anh chống địch mười phương, tận lòng trong đơn độc, anh vẫn hy sinh và
chống giữ tới hơi thở cuối cùng, ngày Hoà Bình, 28 tháng Giêng năm 1973
hiệp định Paris được ký kết Hoà Bình thật đến trên trang giấy, đến với
thế giới tự do, thế nên, thế giới tự do nâng ly để chúc mừng cho hoà
bình của họ và nhận giải Nobel.
Nhưng hoà bình đến ở Việt Nam
tanh hôi mùi máu, đen ngòm như tấm mộ bia, và anh, anh là vật thụ nạn
trong cái hoà bình bi thảm, người lính vẫn tiếp tục ngã xuống, đem xác
thân đắp nên thành luỹ để ngăn bước quân thù, từ Ðông sang Tây, từ Nam
chí Bắc, từ ngàn xưa và cho tới ngàn sau, có một quân đội nào mang số
phận bi thương và oai hùng như người lính Việt-Nam-Cộng-Hòa.
Những người lính chịu uống nước rễ cây và đầu không nhấc thẳng, đi luồn
dưới Rừng Sát suốt 30 ngày không thấy ánh mặt trời. Những người lính đi
hành quân mà không người yểm trợ để hai ngày ăn được bốn muỗng cơm, hay
ăn luôn năm trái bắp sống và những lá cải hư mục ruỗng, miệng thèm một
cục nước đá lạnh giữa cái nắng cháy da.Người lính, người ở địa đạo Tống
Lê Chân ăn côn trùng để tử thủ giữ ngọn đồi nhỏ bé. Người nằm xuống ở An
Lộc, Bình Long. Và thủ đô, vòm trời thân yêu mà anh mơ ước để tang truy
điệu cho anh chỉ có ba ngày. Ba ngày cho sinh mạng của năm ngàn người ở
lại. Người ta lại tiếp tục vui chơi và quên đi bất hạnh.
Bởi bất
hạnh nào đó chỉ là bất hạnh của riêng anh. Người lãnh đạo anh còn mè
nheo ăn vạ. Và anh, anh phải đóng trọn vai trò làm vật hy sinh. Trước
nguy nan, lãnh đạo anh tìm đường chạy trốn thì anh vẫn còn cầm súng ở
tiền phương. Anh đã chống giữ, chịu đựng từng đợt xung phong ở Ban Mê
Thuột mỗi ngày 24 giờ, không có ai yểm trợ, tiếp tế từ hậu phương. Nhưng
ở đó, anh vẫn phải tử thủ cho con đường tẩu thoát của cấp lãnh đạo anh
tuyệt đối được bình yên. Và đồng minh của anh, người đồng minh đã từng
sát cánh, cùng chia sẻ nỗi gian nguy ở Hạ Lào, Khe Sanh dưới trời mưa
pháo, nay lại nghiễm nhiên nhìn anh đi những bước cuối cuộc đời.
Phải chăng nhân loại đang trút những hơi thở cuối cùng nên lương tâm con
người đang yên nghỉ ? Cho nên, cả thế giới lặng câm để nhìn anh chết.
Không chỉ cái chết riêng cho mỗi mình anh, vì bởi dưới đuờng đạn xuyên
qua, xác thân anh ngã xuống thì đau thương đã vụt đứng lên. Cái bi
thương có nhân dáng lớn lên và tồn tại suốt ngang tầm trí nhớ. Và người
lính, anh vẫn kỳ vĩ và chịu đựng như vị thần Atlas mang vác quả địa cầu,
người lính đã mang vác và bảo vệ mấy trăm ngàn người dân trên đường
triệt thoái.
Trên những con đường từ Cao Nguyên không thiếu những
người lính gồng gánh cho những người cô dân chạy loạn. Tay anh dẫn em
thơ, tay dắt mẹ già chạy trong cơn mưa pháo. Và anh đã làm dù, làm khiên
đỡ đạn, cho nên thân xác anh đã căng cứng mấy đường cây số, hay xác làm
cầu ở tỉnh lộ 7B, anh đã chết ở Cao Nguyên lộng gió và đếm những bước
cuối đời ở ngưỡng cửa thủ đô.Bởi lãnh đạo đầu hàng nên anh nghẹn ngào
vất đi súng đạn. Với nham nhở mình trần, anh vẫn chưa tin đời đã đổi
thay.
Có thật không? Hai mươi năm chiến tranh kết thúc?
Giã từ những hy sinh và gian khổ của hôm quả có thật không, ngày buông
rơi vũ khí, anh mơ được về để an phận kẻ thường dân, và có thật không,
anh được đi, được sống giữa một quê hương rối loạn tràn ngập bóng quân
thù?Anh đã khóc nhiều lần cho quê hương chinh chiến và đã khóc nhiều lần
cho những xác bơ vơ.
Lính khổ lính cười, dân khổ để người lính khóc và có ai, từng có ai trong chúng ta đã khóc thương cho đời lính?
Thương cho người lính với trái tim tan vỡ từ lâu.
Bởi trái tim anh đã hơn một lần để lại dưới chân Cổ Thành Quảng Trị, ở
một mùa Xuân xứ Huế năm nào, ở Hạ Lào, Tống Lê Chân hay ở trong cái nồi
treo lủng lẳng trên ba lô khi anh hô xung phong để tiến vào An Lộc?
Người lính thật sự trái tim anh tan vỡ từ lâu. Lịch sử đã sang trang, và
loài người đã bắt đầu đi những bước cuối cùng trên trái đất?
Thế nên thời trang nhân loại là thứ phấn hương tàn nhẫn, và môi tô trét thứ son vô tình.
Cả thế giới đồng thanh công nhận và gửi điện văn chúc mừng sự thống
nhất ở Việt Nam và người ta uống chén rượu mừng để truy điệu Việt Nam đi
vào cõi chết, chúc mừng Việt Nam có thêm 25 triệu nô lệ mới nhập tên.
Hoà bình đã nở hoa trong cộng đồng thế giới, trong đời người Cộng Sản,
nhưng hoà bình không thật đến ở Việt Nam, người Cộng Sản chân chính có
truyền thống là những người không hề biết hoà bình, không sống được
trong hoà bình thật sự, như con giun, con dế sợ ánh sáng mặt trời, thế
nên họ dẫn dắt toàn dân đi xây dựng văn minh thời thượng, klhởi đầu là
việc cày nát nghĩa trang Việt Nam Cộng Hoà và hạ tượng Người Lính Việt
Nam Cộng Hoà.
Người Lính rơi xuống vỡ tan trong lòng đường phố,
nhưng từ đó anh mới thực sự đứng lên, đứng thẳng và oai hùng hơn trước
trong trái tim của người dân Việt Miền Nam. Bởi từ khi những người bộ
đội Cộng Sản bước chân vào thành phố, thì người dân Quốc Gia mới thật sự
hiểu được giá trị của anh. Và những sự lầm lẫn và hối hận hôm nay hình
như luôn theo nhau đi vào lịch sử.
Vậy thì, khi ta chết trên con
đường chạy loạn, khi ta chết ở bãi Tiên Sa, ta vùi thân nơi vùng kinh tế
mới hay ta chìm dưới đáy biển Ðông, không phải vì khẩu súng rơi trên
tay người lính, mà ta chết bởi viên đạn ích kỷ, viên đạn lãnh đạm và thờ
ơ xuất phát từ trái tim bắn ngược lại chính ta. Bởi sự thật về người
Cộng Sản đã đi quá tầm tưởng tượng và sự hy sinh của người lính vượt quá
nỗi bi thương. Hai mươi năm chiến tranh, hơn hai trăm ngàn người lính,
hơn năm trăm ngàn thương binh đã để lại hai trăm ngàn sinh mạng và năm
trăm ngàn những phần cơ thể để lại trên chiến trường khốc liệt. Ðể cho
chúng ta có một bầu trời để thở, có một khoảng không gian đi đứng tự do,
để cho tuổi thơ của chúng ta không phải đi lượm ve, lượm giấy, không
phải đeo khăn quàng đỏ và ngợi ca những điều dối gạt chính mình.
Ðể cho bàn tay thiếu nữ không chạm bùn nhơ thủy lợi, tuổi thanh xuân
không phải vùi chôn ở những gốc mì. Ðể cho bà mẹ già không phải ngồi mơ
ước miếng trầu xanh, và những giọt nước mắt thôi không cần tuôn chẩy.
Nhưng lịch sử đã sang trang, những trang hồng tươi màu máu cho người
Cộng Sản và cũng là những trang đẫm máu và nhơ bẩn nhất cho cả lịch sử
của dân tộc Việt Nam. Anh, người lính trong thời chiến thành người tù
của thời bình.
Người lính chịu số phận bi thương của chiến tranh
và cũng chịu luôn số phận tàn nhẫn trong thời bình. Anh người lưu vong
trong lòng dân tộc, và lưu đày ở chính quê hương anh.Bởi Cộng Sản Việt
Nam đã bắt đầu một cuộc chiến tranh mới và đẩy anh xuống đáy trầm luân.
Cũng chính từ chiến trường Tù Ngục này mà Cộng Sản đã chứng minh được
Chúng và Anh không là đồng loại. Chúng, là lũ Cộng Sản cuồng tín, và tàn
bạo nhất giữa thế giới Cộng Sản và vô nhân. Chúng lập nên một vương
quốc mới mang tên là Lừa Dối, và mở ra một kỷ nguyên giết người theo
kiểu mới, giết người bằng những mỹ từ đẹp đẻ, bằng lao động vinh quang,
bằng thời gian không thể đếm.
Người lính bước vào trận chiến mới,
chiến trường có tên là cải tạo, và anh người tù nhân không có án. Ở đây
anh không có lãnh đạo, không có đồng đội, không có hậu phương. Kẻ thù
vắt cùng, vắt kiệt sức lực anh trong rừng thẳm. ày đọa sỉ nhục anh dưới
hố xí tanh hôi, đem thanh xuân và tài hoa của anh vùi chôn ở những vòng
khoai vớ vẩn. Ðặt hy vọng của anh máng vào những mốc thời gian. Người
lính đã trở thành vật thụ nạn thời bình. Anh chết đói bên những vòng
xanh nở rộ do chính tay anh cày xới vun trồng.
Anh chết khát khi
bên ngoài mưa rơi tầm tã. Giữa những trùng vây sóng dữ, giữa bóng tối
cô đơn Anh vượt qua sự chết để đem về nghĩa sống. Anh đi xiếc qua những
ranh giới tử sinh để chứng minh được phẩm giá con người. Ðôi mắt anh cao
ngạo và chân đạp chữ đầu hàng.Từ trong tăm tối hận thù, anh thắp sáng
lên ý nghĩa đời người. Anh đã chiến đấu, để từ trong cõi chết anh bước
ra mà sống.
Ðể anh trở về từ địa ngục trần gian. Bao đồng đội bất hạnh đã ngã xuống trong rừng thẳm, cuối cùng anh đã trở về:
Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cám ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi
(Tô Thùy Yên)
Và tuổi trẻ, những mầm non đất nước hôm nay xa lạ như người không cùng
chung dòng giống. Anh đi trên đường phố xưa, đường đã đổi tên. Anh tìm
bạn bè cũ, đứa còn đứa mất. Quê hương này không có chỗ cho anh? Hai mươi
năm chiến chinh, mười mấy năm tù đày trên chính quê hương để rồi anh
phải tha hương biệt xứ. Người lính, mười bốn năm lính, mười bốn năm tù,
tài sẵn có, được trí trá vài đô la, và mái đầu sương điểm để anh bước
vào đời lần nữa. Anh không có quyền bắt đầu, chỉ có quyền tiếp tục trôi
theo dòng đời nghiệt ngã. Người lính cũ ngồi bán nước đá bào cho học trò
giờ tan học ở chính quê hương. Hay anh, người lính lưu vong ngồi bán
thuốc lá lẻ hằng đêm trong những tiệm Seven Eleven trên đường phố Mỹ. Ba
mươi năm vết thương cũ hầu như chưa lần khép kín. Ôi, hai mươi sáu chữ
cái bắt đầu từ a, b, c, đ dẫu sắp xếp khéo léo tới đâu vẫn không đủ để
viết nên những bi hùng anh đã đạt. Và cần phải thêm vào bao nhiêu chữ
nữa mới diễn tả lên sự xót thương anh.
Chúng ta đã quá may mắn,
quá vinh dự để trang sử Việt Nam có thêm những anh hùng như người lính
Việt Nam Cộng Hoà, những anh hùng vô danh và sống đời thầm lặng, những
anh hùng bình thường mà ta chưa có dịp vinh danh. Nhưng cho tới nay, ta
đã làm gì để tri ân người lính Quốc Gia. Chúng ta những người dân Quốc
Gia đi chung con thuyền Miền Nam do các anh chèo chống, đưa qua những
con sóng dữ Việt Nam. Những người quốc gia đã sang thuyền trong cơn quốc
nạn, và đã để mặc anh chìm trong cơn Hồng Thuỷ của Việt Nam. Chúng ta,
những người quốc gia tầm gửi, đã sống nhờ trên máu xương người lính, và
chưa lần đóng góp nào cho chính nghĩa quốc gia.
Có phải giờ đây,
chúng ta tiếc thương người lính bằng đầu môi chót lưỡi, bằng những
video, nức nở kêu gào, hay chúng ta khóc cho người lính bằng những trang
thơ vớ vẩn? Và có ai, có ai trong chúng ta cảm thấy thẹn khi ta đã đôi
lần hãnh diện vì ta nói tiếng Anh trôi chẩy hơn họ, xe ta đẹp, nhà ta
to. Ngày nay, Người Cộng Sản ở quê hương với đôi tay đẫm máu của thuở
nào cũng nói lời phản tỉnh. Vậy còn ta, bao nhiêu người Quốc Gia sẽ thức
tỉnh để vẽ chân dung kỳ vĩ và nhiệm màu của Người Lính chúng ta.
Có ai trong chúng ta sẵn sàng chi tiêu những bữa tiệc đắt tiền trong
những nhà hàng danh tiếng, mua những tấm vé vào cửa của đại nhạc hội
lừng tên mà ta tiếc bỏ tiền ra để quyên góp, xây lại tượng Người Lính ở
thủ đô đã ngã xuống hôm nào. Ðể một mai, khi quê hương không còn giống
Cộng Sản, ta đem anh về trở lại quê hương. Ðể anh được đứng lên chính
nơi anh ngã xuống như cùng thời với đất nước lúc hồi sinh. Bao nhiêu
chuyên gia nhóm họp nhan đề "xây dựng lại đất nước trong thời hậu Cộng
Sản".
Vậy có ai đã đặt kế hoạch tri ân cho người lính ? Bởi, một
ngày nào mà ta chưa biết tri ân người lính và đặt họ ở một địa vị xứng
đáng mà đáng lẽ họ phải ở từ lâu, thì làm sao ta có thể xây dựng được
một xã hội đáng gọi là nhân bản.
Hãy vinh danh người lính Việt
Nam Cộng Hoà... Hãy giữ gìn và bảo vệ tinh thần Vị Quốc Vong Thân của họ
như giữ gìn ngọn lửa thiêng trong lòng dân tộc, thì dân tộc ta mới mong
có được những truyền nhân xứng đáng với thế hệ tương lai...
Nước
mắt anh không rơi trong ngục tù Cộng Sản, nước mắt anh rơi khi anh được
trả tự do. Anh bước về, anh đi giữa lòng quê hương. Anh ngỡ ngàng như
thức từ cơn mộng. Có thật chăng đất nước Việt Nam, tàn hơn 30 năm chinh
chiến và tù đày, để anh có được một đất nước thanh bình điêu tàn hơn
thời chiến?
Tác giả : Nguyễn thị Thảo An
Đêm đêm mẹ đốt cây hương ngát / Mẹ khấn đôi lời con có nghe / Vì nước bỏ mình là bất tử / Xưa nay chinh chiến mấy ai về.
Monday, April 8, 2019
Sunday, April 7, 2019
Saturday, April 6, 2019
Xin mời đọc như một tài liệu tham khảo nhân ngày 30/4 sắp đến Cần trả lại sự thật cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu 30-4-2019 Bùi Anh Trinh
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho tới trước khi chết Ông vẫn cúi đầu nhận chịu trách nhiệm đã làm cho mất nước, một lỗi lầm quá to lớn mà cá nhân một người không thể nào gánh vác. Nếu có một người nào đó đứng ra nhận chịu thì quả là vô lý, thế nhưng Ông Nguyễn Văn Thiệu đã làm.
Kể từ ngày lập quốc, nước Mỹ thực sự sụp đổ vào năm 1975 với 3 triệu cựu chiến binh tại chiến trường Việt Nam, 58 ngàn người đã chết, và 3.000 quân nhân còn mất tích. Xã hội Mỹ phân hóa trầm trọng với tranh cãi đổ lỗi cho nhau.
Chính vì vậy mà những người quân nhân VNCH không bao giờ động chạm tới nỗi đau của người bạn chiến đấu Mỹ, họ đã làm hết sức của họ rồi, họ đã phải chết tới 58.000 người và đã hao tốn 300 tỉ USD, lại còn phải nuôi 3 triệu cựu chiến binh Mỹ mà người nào cuộc đời cũng tan nát do bị khủng hoảng, bị thất bại vì không thể trở lại trường để làm lại cuộc đời.
Hai chữ “Bỏ Rơi” là do BBC và RFI dùng để xoa dịu sự oán hận của người Việt sau khi Mỹ cắt ông tiếp huyết cho VNCH. “Bỏ Rơi Đồng Minh” khác với “Phản Bội Đồng Minh”. Bỏ Rơi có nghĩa là tôi thích thì tôi giúp, khi thấy mệt mõi quá thì tôi không giúp nữa. Còn Phản Bội là phỉnh gạt, lừa đảo. Cho nên người Mỹ muốn nhận là họ Bỏ Rơi VNCH còn hơn là nhận Phản Bội VNCH.
Năm 1968 anh sinh viên Frank Snepp quyết định làm đơn xin đầu quân vào CIA để tránh khỏi phải đi lính và chiến đấu tại VN. Năm 1969 Snepp bắt đầu làm viêc tại chi nhánh CIA tại Sài Gòn trong tư thế một nhân viên mới vào nghề. Năm 1971 ông trở về Trung tâm CIA tại Mỹ với nhiệm vụ phân tích những tin tức thu thập từ báo chí của Bắc Việt.
Đến năm 1972 ông bị đày đi VN vì tội đã báo trực tiếp cho Tòa Bạch Ốc một thông tin ông đọc được trên báo của Hà Nội mà không qua các xếp lớn của CIA. Nhiệm vụ lần thứ hai của Frank Snepp tại Việt Nam là đọc báo và nghe đài phát thanh của CSVN và VNCH để trình cho Polgar, trưởng CIA tại Sài Gòn, những tin nào mà ông ta thấy đáng quan tâm.
Sau biến cố 1975 Frank Snepp quyết định viết thành sách về những gì ông chứng kiến trong vai trò một nhân viên CIA làm việc tại VN trong giai đoạn Hoa Kỳ cuốn cờ ra khỏi Việt Nam. Nhờ đó ông nhanh chóng trở thành nhân chứng sống duy nhất dám tiết lộ những bí mật mà một nhân viên CIA không được phép tiết lộ.
CIA đã đưa ông ra tòa vì ông đã hành động trái với lời tuyên thệ khi ông bước chân vào tổ chức CIA. Tòa án đã phán quyết Frank Snepp không bị tội tiết lộ bí mật nghiệp vụ nhưng cũng quyết định cho thu hồi quyển sách “Decent Interval” của Frank Snepp. Tuy nhiên phán quyết này chỉ có hiệu lực hình thức bởi vì cả thế giới đều đã đọc Decent Interval..
Theo Frank Snepp thì mọi chuyện đều bắt đầu từ khi ký kết Hiệp Định Paris. Rồi 3 tháng sau khi ký kết Hiệp Định, Tổng Thống Nixon cử Martin làm đại sứ Mỹ tại VN thay Bunker. Frank Snepp mô tả vai trò của Đại sứ Martin: “Mỹ buộc phải bỏ khỏi Việt Nam trong tư thế đường hoàng, và muốn tạo được ấn tượng như vậy thì cần phải có một chuyên gia về ảo thuật và kịch nghệ mà Martin thuộc vào hạng sư phụ. (Trang 75, nguyên văn: “The United States was obliged to crawl out of Vietnam standing up, and to foster that illusion required the kind of conjuring and stagecraft at which Martin so adept”). Như vậy màn kịch bỏ rơi Việt Nam đã được lên giàn từ tháng 4 năm 1973.
Năm 1974 giữa năm, Tổng Thống Mỹ Nixon đệ trình Quốc Hội Mỹ bản dự thảo hiệp ước giao thương giữa Mỹ và Liên Xô. Đến lúc này Quốc Hội Mỹ mới biết rằng đây là cái giá mà Nixon đã trả cho việc Liên Xô ngưng cung cấp vũ khí cho Hà Nội và ép Hà Nội phải ký hiệp ước ngưng bắn 1973. Dĩ nhiên khi đưa ra trước Quốc hội, Nixon tin rằng sẽ được thông qua dễ dàng vì lợi ích chung của cả hai nước, nhất là từng bước giải quyết chiến tranh lạnh là điều mà dân chúng Hoa Kỳ mong chờ.
Tuy nhiên ông đã tính lầm, Quốc Hội Mỹ đoán rằng còn nhiều cái giá khác nữa giữa Nixon và Liên Xô, Trung Quốc, Hà Nội vào năm 1972. Vì vậy Quốc Hội bác bỏ thẳng thừng hiệp ước thương mại Xô – Mỹ để buộc Nixon phải lòi ra những thỏa thuận khác. Dĩ nhiên là Nixon không đưa ra, ông dùng đặc quyền hành pháp để từ chối.
Vì vậy Quốc Hội có một cách khác để moi ra những gì mà Nixon đã cam kết với LX, TQ và Hà Nội vào năm 1972; đó là cách lợi dụng vụ Watergate để triệu tập một Ủy ban điều tra đặc biệt về sai phạm của Nixon trong vụ nghe lén, nhờ đó công tố viên của ủy ban điều tra có quyền bắt Nixon phải đưa ra tất cả những cam kết ngầm với Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa và cả Hà Nội.
Nixon chỉ còn có cách từ chức để né tránh Ủy ban điều tra bởi vì ông và Kissinger đã có những thỏa thuận mật với đối phương mà không xin phép Quốc Hội. Một khi ông từ chức thì những cam kết của ông trở thành vô hiệu lực. Quốc Hội sẽ không còn cớ để truy xét.
Sau khi Nixon từ chức thì Quốc Hội Hoa Kỳ cho thông qua đạo luật cấm HK buôn bán với các nước Cộng Sản vào cuối năm 1974 (Đạo luật Jackson-Vanik). Sự trở mặt của Quốc Hội Mỹ đã khiến Liên Xô tức giận bởi vì những cam kết của Nixon khi ông ta viếng thăm Liên xô vào năm 1972 đã không được thi hành. Vì vậy, cuối năm 1974, Đại Tướng Kulikov của Liên Xô đến Hà Nội để xúi Hà Nội đưa quân đánh chiếm Miền Nam, Liên Xô sẽ cung cấp vũ khí và chiến phí..
Theo như 7 mục, 23 điều khoản của Hiệp Định Paris thì Hà Nội ngưng bắn vô điều kiện, trao trả cho Mỹ 591 tù binh Mỹ vô kiện, trao trả tù binh VNCH để đổi lại VNCH trao trả 28 ngàn tù binh Bắc Việt. Trong khi đó Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không phải từ chức, 38 ngàn tù chính trị của mặt trận GPMN vẫn tiếp tục bị giam giữ.
Đặc biệt là “ngưng chiến da beo”, nghĩa là quân đội CSVN vẫn ở trên rừng và quân đội VNCH kiểm soát thành thị và thôn quê Nam Việt Nam. Biên giới hai miền Nam Bắc vẫn được tôn trọng theo như Hiệp Định Geneve 1954.
Nhìn bề mặt của Hiệp Định Paris quá vô lý cho nên giới quan sát quốc tế thừa biết bên trong phải có một mật ước riêng. Quả nhiên sau này vào năm 1977 Tổng Thống Jimmy Cater của Mỹ xác nhận có một mật ước riêng đằng sau Hiệp Định Paris được Nixon ký với Hà Nội 4 ngày sau khi ký kết Hiệp Định Paris 1973. Vào tháng 10 năm 1988 Hà Nội cho công bố toàn văn bản mật ước Nixon & Phạm Văn Đồng.
Theo đó thì Nixon hứa sẽ viện trợ tái thiết cho Bắc Việt 3,25 tỉ USD và viện trợ phát triển kinh tế cho Hà Nội 1,5 tỉ USD. Trong vòng 30 ngày sau khi người tù binh HK cuối cùng rời khỏi VN thì hai bên sẽ thiết lập xong hệ thống viện trợ tái thiết, và trong vòng 60 ngày sau đó thì lập xong hệ thống viện trợ phát triển kinh tế.
Bản mật ước do đích thân Kissinger mang tới Hà Nội cho Phạm Văn Đồng ký nhận. Từ đó Lê Duẩn ngày đêm trông chờ món tiền của Kissinger và đến cuối năm 1974, Liên Xô cử tướng Kulikov sang Hà Nội xúi Lê Duẩn đánh chiếm Miền Nam thì có nghĩa là Hiệp Định Paris coi như tờ giấy lộn. Rốt cuộc Hà Nội biếu không 591 tù binh Hoa Kỳ mà chẳng nhận được đồng nào, suốt 10 năm chiến đấu gian khổ, hằng triệu người chết, hằng chục tỉ đô la nợ chiến phí… đến nay chỉ còn là con số không (sic).
Tướng Kulikov xúi Hà Nội phát động chiến tranh trở lại nhưng Lê Duẩn và tập đoàn lãnh đạo CSVN thực sự trắng mắt. Dân chúng Miền Bắc đã kiệt sức, trong 5 năm nhà nước đã đóng cửa tất cả 18 trường đại học và cao đẳng, bòn vét nhân lực đến độ phải gọi lính ở tuổi 16, tại Miền Bắc chỉ còn một trời đàn bà góa… thì lấy đâu để gây chiến tranh trở lại.
*(Theo hồi ký của tướng CSVN Hoàng Văn Thái thì cho tới năm 1974 Hà Nội đã động viên đến 16% dân số, không thể nào động viên thêm được nữa. Trong khi Miền Nam là 5,88%)
Bắt đầu từ năm 1975 Đại Tướng Cao Văn Viên viết tường trình cho Ngũ Giác Đài về những ngày cuối cùng của chiến tranh Việt Nam nhưng đến năm 1983 mới được in thành sách với tựa đề “The Final Collapse” và hai mươi năm sau, 2003 The Final Collapse được nhà nghiên cứu sử Nguyễn Kỳ Phong dịch ra tiếng Việt với tựa đề “Những ngày cuối của Việt Nam Cộng Hòa”. Trong sách có kèm theo những chú giải mới nhất của Đại Tướng Cao Văn Viên. “Một sự thực không thể chối cãi là quân đội VNCH sẽ hết đạn và nhiên liệu vào tháng 6 năm 1975…” (Tài liệu của Ngũ Giác Đài: Cao Văn Viên, The Final Collapse, bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong trang 136).
Năm 1974 tháng Giêng, theo tài liệu của CIA: “Từ cuối tháng 12-1973 đến đầu tháng Giêng 1974 Tướng John Murray và ban tham mưu của ông đã làm việc ngày đêm để cố gắng tìm đáp số cho bài toán viện trợ quân sự. Nhưng mỗi lần họ tìm ra một giải pháp để giải quyết vấn đề thì lại phát sinh một vấn đề khác mà kết quả cũng chỉ đưa tới bí lối” (Frank Snepp, Decent Interval, trang 95).
Tướng John Murray là Tư Lệnh cuối cùng của quân đội Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam.. Ông đến Việt Nam sau Hiệp Định Paris 1973, sang đầu năm 1974 ông và Bộ Tham Mưu Hoa Kỳ tại Việt Nam phải tính toán sổ sách về viện trợ quân sự cho Nam Việt Nam trong nửa cuối 1974 và đầu năm 1975. Tuy nhiên Ngũ Giác Đài đã cho ông biết trước là có thể dưới 700 triệu đô la nhưng theo các chuyên viên tham mưu của John Murray thì 700 triệu chỉ đủ giữ được Vùng 4.
Năm 1974 cũng theo Frank Snepp, ngày 16-8 John Murray họp buổi họp chót với Đại Tướng Cao Văn Viên (Tổng Tham Mưu Trưởng), Tướng Đồng Văn Khuyên (Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận) và một số tướng lãnh của Bộ TTM. John Murray khuyên Tướng Viên nên liệu cơm gắp mắm, gấp rút lên kế hoạch sẵn sàng bỏ Vùng 1, Vùng 2 và cả Vùng 3 để về cố thủ Vùng 4. Tuy nhiên “Tướng Viên lẫn Tướng Khuyên đều nói rằng lên kế hoạch về quân sự thì được, nhưng về mặt chính trị thì không thể nào thi hành nổi”. Sau buổi họp này thì John Murray giải ngũ, trở về Hoa Kỳ.
Năm 1974 tháng 5, theo Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng (Bộ Trưởng Bộ Kế Hoạch của VNCH) thì ông đã tình cờ trông thấy bản kế hoạch “Cắt Đất Theo Lượng Viện Trợ” của Murray nằm trên bàn của Tổng Thống Thiệu vào tháng 5 năm 1974, nghĩa là 2 tháng trước khi Nixon từ chức. Như vậy Murray chính là tác giả của kế hoạch bỏ Vùng 1, Vùng 2 vào năm 1975, một kế hoạch mà cho tới 40 năm sau người ta vẫn cho là sáng kiến (tối kiến) của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Sự thực Tổng Thống đã bị báo chí Mỹ cố tình gieo tiếng oan mà lúc đó Ông không thể lên tiếng thanh minh.
Năm 1974, ngày 24-12: Theo hồi ký của Đại Tá Phạm Bá Hoa “Ngày 24-12-1974, lúc quân CSVN đang tấn công Phước Long sang ngày thứ 10; một buổi tiệc mừng Giáng Sinh được Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu, tổ chức trên lầu của Câu lạc Bộ trong BTTM”. Khách tham dự gồm có Tướng Smith (Chỉ Huy Trưởng cơ quan quân sự HK tại VN; Tướng Quân Y Phạm Hà Thanh; Tướng Công Binh Nguyễn Văn Chức; Đại Tá Phạm Kỳ Loan (Tổng Cục Phó Tiếp Vận); Đại Tá Phạm Bá Hoa (Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận); Đại Tá Pelosky (Phụ Tá của Tướng Smith); Trung Tá Nguyễn Đình Bá (Chánh Văn Phòng của Tướng Khuyên)..
Tướng Smith tiết lộ rằng: “Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ có kế hoạch với ngân khoản dự trù hơn 300 triệu đollar để di tản sang Hoa Kỳ khoảng 40 ngàn sĩ quan và gia đình, nhưng thời gian thì chưa rõ” (Phạm Bá Hoa, Đôi Dòng Ghi Nhớ, Bản in lần 4, trang 264). Khi sách của Phạm Bá Hoa phát hành thì tất cả các nhân vật trong bữa tiệc đều còn sống mạnh khỏe nhưng không ai phản đối, kể cả Tướng Smith; chứng tỏ chuyện này hoàn toàn có thật.
Như vậy là kịch bản bỏ rơi Miền Nam đã được lên giàn trước khi mất Phước Long chứ không phải là sau khi mất Ban Mê Thuột. Người ta đã tính toán sẵn kế hoạch để cho VNCH sụp đổ trước tháng 6 năm 1975, kể cả ước tính trước ngân sách chi dụng cho kế hoạch.
Năm 1975, ngày 7-1: Phản ứng của Mỹ sau khi mất Phước Long là: “Nhà Trắng nói rằng: Tổng Thống Ford không có ý vi phạm những điều cấm chỉ (của Quốc Hội) về việc sử dụng lực lượng quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam” (Hồi ký của Tướng CSVN Hoàng Văn Thái, trang 161). Khi vừa nghe tin này Phạm Văn Đồng tuyên bố: “Cho kẹo quân Mỹ cũng không dám trở lại VN”(trang 146).
Ngay sau khi nhận được tin, Lê Duẩn chỉ thị cho Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Hoàng Văn Thái lên kế hoạch tiến chiếm miền Nam: “Một tháng sau chiến thắng Phước Long, ngày 5 tháng 2, anh Văn Tiến Dũng lên đường vào Tây Nguyên” (Hoàng Văn Thái, trang 172).
Ngày đó cơ quan USIS của CIA tung tin quân VNCH thua tại Phước Long là do Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cố tình bỏ Phước Long để thử xem phản ứng của Mỹ.
Sở dĩ CIA đổ cho Nguyễn Văn Thiệu là để Quốc Hội Mỹ có cớ biểu quyết ngưng viện trợ quân sự cho VNCH.
-Tuần đầu của tháng 3 năm 1975. Trong một cuộc họp đầu tuần của Bộ Ngoại Giao HK, Kissinger đã giải thích hành động viện trợ “Lấy Có” cho Cam Bốt: “Chính Phủ Lon Nol đang trên đà sụp đổ, đây là nguyên do chính khiến chúng ta phải tiếp tục viện trợ để cho sau này không ai có thể trách chúng ta vô trách nhiệm”. (Frank Snepp, Decent Interval, trang 175). *(Nguyên văn: “…he say, the Lon Nol Government was on the brink of collapse, it was essential to keep open the aid pipeline so no one could later blame the United States for the disaster”).
– Ngày 7-3-1975, Kissinger chỉ thị cho các viên chức Ngoại Giao HK trước khi ông ta lên đường đi Trung Đông: “Hãy làm mọi cách để Quốc Hội tiếp tục duy trì viện trợ (Lấy Có) cho Cam Bốt và Việt Nam. Không phải để cứu vãn hai nước đó, mà vì không thể nào cứu vãn được hai nước đó” (Frank Snepp, Decent Interval trang 176). *(Nguyên Văn: Do every thing possible to ensure that Congress lived up our aid commitments to Cambodia and Vietnam- not because the two countries were necessarily salvageable, but precisely because they might not be).
Hai ngày sau khi Kissinger nói câu này thì Văn Tiến Dũng ra lệnh tấn công Ban Mê Thuột.
Kissinger không muốn thiên hạ nghĩ rằng Việt Nam sụp đổ do không còn viện trợ. Và với mức độ viện trợ nhỏ giọt thì đến ngày 30-6-1975 quân đội VNCH sẽ không còn Gạo và không còn Đạn (Tài Liệu The Final Collapse của Đại Tướng Cao Văn Viên). Vì thế Kissinger mong cho Quân đội VNCH tự tan rã trước khi hết Gạo và Đạn trước tháng Sáu năm 1975. Lúc đó thiên hạ sẽ nghĩ rằng Quân Đội Sài Gòn đã thua chạy trước sức tiến công vũ bão của quân Hà Nội.
Năm 1975 ngày 11-3, một ngày sau khi mất Ban Mê Thuột. Theo Đại Tướng Cao Văn Viên “Ngày 11-3 Tổng Thống Thiệu mời các Tướng Khiêm, Viên, Quang ăn sáng tại Dinh Độc Lập và sau đó trình bày ý định muốn cắt bỏ bớt lãnh thổ cho vừa với mức viện trợ quân sự của HK vào năm 1975”. Tướng Viên ghi lại cảm nghĩ của ông lúc đó: “Quyết định của Tổng Thống Thiệu cho chúng tôi thấy đây là một quyết định ông đã suy xét thận trọng. Hình như Tổng Thống Thiệu đã ngần ngại về quyết định đó, và bây giờ ông chỉ thổ lộ cho ba người chúng tôi trong bữa ăn sáng…”
*“… Tổng Thống Thiệu phác họa sơ: …Một vài phần đất quan trọng đang bị Cộng Sản chiếm, chúng ta sẽ cố gắng lấy lại bằng mọi gía…Ban Mê Thuột quan trọng hơn hai tỉnh Kontum và Pleiku nhập lại…” (Cao Văn Viên, The Final Collapse, bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong, trang 129-131).
“Ngay sau khi Phước Long bị tấn công, Hoa Kỳ không có một phản ứng nào … . Một thực tế gần như hiển nhiên là Hoa Kỳ không muốn cuộc chiến tiếp tục và biểu quyết viện trợ để VNCH đánh tiếp là chuyện sẽ không xảy ra. Đối với Hoa Kỳ cuộc chiến Việt Nam đã kết thúc” (trang 132).
Henry Kissinger viết trong hồi ký của ông:
“Cho đến hôm nay tôi kính trọng ông Thiệu như là một gương hào hùng của một kẻ dám chiến đấu cho nền tự do dân tộc của ông, một kẻ sau này đã chiến bại bởi những hoàn cảnh ngoài tầm tay cá nhân ông, đất nước ông và ngay cả ngoài vòng quyết định của chúng ta…” ( Henry Kissinger, Years of Upheaval, 1981, Bản dịch của Xuân Khuê)
Kissinger là người mà T.T. Nguyễn Văn Thiệu ghét cay ghét đắng cho tới khi xuống mồ. Trong khi ngược lại, Kissinger cũng làm ra vẻ ghét cay ghét đắng T.T. Nguyễn Văn Thiệu, kẻ mà báo chí và nhân dân Mỹ luôn luôn nguyền rủa là cản trở và phá hoại hòa bình.
Tuy nhiên cuối cùng, khi mà hòa bình đã đạt được bằng cái giá phản bội dân tộc Việt Nam, Kissinger mới bình tâm thú thực cảm nghĩ của ông ta về người anh hùng lãnh đạo đất nước Việt Nam trong thời gian gay cấn nhất của lịch sử. Kissinger nói :
“… Sau khi ngưng bắn, quân đội chúng ta sẽ rút về bên kia bán cầu, còn dân tộc của ông vẫn còn cảnh một đội quân tiếp tục hy sinh cho những hy vọng mong manh của nền độc lập tại Đông Dương. Chúng ta đã chắc rằng biện pháp của chúng ta sẽ kềm hãm tham vọng của Hà Nội. Nhưng mắt của ông T.T. Thiệu chỉ quan ngại vào những điều mong manh về sau này…” ( Bản dịch của Xuân Khuê ).
Kissinger cũng thú thực là vì không còn cách lựa chọn nào khác cho nên Mỹ đành phải hy sinh Nam Việt Nam, và cũng vì vậy mà Kissinger đành phải đóng vai làm kẻ thù của T..T. Nguyễn Văn Thiệu nhưng tự sâu xa trong đáy lòng, Kissinger khâm phục T.T. Thiệu :
“…Như là một phép lạ phát xuất từ lòng dũng cảm, ông Thiệu đã cố gắng lèo lái quốc gia trong giai đoạn cam go này, chiến đấu chống lại quân thù cố tâm xâm lấn và làm an tâm đồng minh nào chưa thông hiểu ông …
… Về riêng tư tuy tôi dành ít cảm tình về ông T.T. Thiệu nhưng tôi rất kính nể ông vì ông là một người kiên tâm chiến đấu trong nỗi cô đơn ghê gớm ( nguyên văn: terrible loneliness ) sau cuộc rút quân của Hoa kỳ. Ông chấp nhận những cảm tình và thông hiểu ít ỏi dành cho ông. Chuyện đó không làm phẩm chất của ông hao mòn đi…” ( Bản dịch của Xuân Khuê).
Ngày 22-10-1972 Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã nổi giận khi Kissinger ép buộc ông phải chấp nhận bản dự thảo Hiệp định đình chiến mà Kissinger đã cùng Lê Đức Thọ soạn thảo tại Paris. Ông khuyến cáo Kissinger :
“Tôi không đồng ý về việc một số nhân viên của quý vị đi nói khắp Sài Gòn là tôi đã ký. Tôi chưa ký kết gì cả. Tôi không phản đối hòa bình nhưng tôi chưa nhận được một trả lời thỏa đáng nào của quý vị cho nên tôi sẽ không ký”.
Kissinger mất bình tỉnh với tuyên bố của Tổng thống Thiệu, ông nói ông đã thành công ở Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa và Paris mà bây giờ ông phải thất bại tại Sài Gòn : “Nếu ngài không ký, chúng tôi sẽ xúc tiến một mình”.
Tới phiên Thiệu nổi giận, ông buộc tội Kissinger là thông đồng với Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa để bán đứng Miền Nam. Hồi ký của Kissinger ghi lại lời lẽ của Thiệu:
“Là một quân nhân thì lúc nào cũng phải chiến đấu, nếu tôi không phải là một quân nhân thì tôi đã từ chức khi HK yêu cầu tôi từ chức và còn mặc cả với tôi về ngày giờ từ chức… … Tôi chưa hề nói với ai là người Mỹ đã đòi tôi từ chức, vì như vậy là nhục; cho nên tôi đã làm như tự mình chọn lấy quyết định đó…” (Kissinger, White House Years, trang 1385).
Kissinger đáp lại : “Tôi cảm phục tính hy sinh và lòng can đảm của ngài qua lời phát biểu vừa rồi. Tuy nhiên, là một người Hoa Kỳ, tôi không khỏi phiền lòng khi ngài cho rằng chúng tôi thông đồng với Liên Xô và Trung Quốc.
Làm sao ngài có thể nghĩ như vậy được trong khi quyết định ngày 8-5 của Tổng thống Nixon ( Thả bom Hà Nội và phong tỏa các hải cảng Bắc Việt ) đã liều cả tương lai chính trị của mình để giúp quý ngài. Chúng tôi điều đình với Liên Xô và Trung Quốc là để làm áp lực, buộc họ phải làm áp lực với Hà Nội… Nếu như chúng tôi muốn bán đứng quý ngài thì đã có nhiều cách dễ dàng hơn để hoàn thành việc đó…”( Kissinger, White House Years, trang 1385, 1386 ).
Rồi tới phiên Đại sứ Bunker mất bình tỉnh : “Vậy thì thưa Tổng thống, lập trường chót của ngài là không ký, có phải không?”
T.T. Thiệu đáp : “Vâng, đó là lập trường cuối cùng của tôi. Tôi sẽ không ký và tôi xin ngài thông báo cho Tổng thống Nixon biết như thế. Xin quý vị trở lại Washington và nói với Tổng thống Nixon rằng tôi cần được trả lời”.
Tổng thống Thiệu chỉ tay vào bản đồ Việt Nam rồi nói : “Có gì quan trọng khi Hoa Kỳ để mất một quốc gia nhỏ bé như Nam Việt Nam? Chúng tôi không hơn gì một chấm nhỏ trên bản đồ của thế giới đối với các ông… … Nhưng đối với chúng tôi, đó là một sự chọn lựa giữa sự sống và sự chết.
Đối với chúng tôi, đặt bút ký vào một hiệp ước tương đương với sự đầu hàng là chấp nhận một bản án tử hình, vì cuộc sống không có tự do là sự chết. Không, nó còn tệ hơn là sự chết” ( Larry Berman; No Peace, No Honor; trích từ Văn khố Bộ ngoại giao HK, bản dịch của Nguyễn Mạnh Hùng trang 230 ).
Sau 1975 thì người Mỹ muốn lái sự oán hận mất nước của nhân dân Miền Nam vào ông T.T. Nguyễn Văn Thiệu và quân đội VNCH để quên đi hành động “bán đứng đồng minh” của Mỹ *( Lời của ông T.T. Nguyễn Văn Thiệu nói thẳng vào mặt Kissinger năm 1972 ). Họ vận động các phương tiện truyền thông tiếng Việt tại hải ngoại kết án ông Thiệu làm cho mất nước. Họ kết án quân đội VNCH hèn nhát, tham nhũng v.v,… Họ dập tắt tiếng nói thanh minh của ông Thiệu và của những quân nhân VNCH. Họ thuê bọn vô lại biến phong trào chống Cọng sản tại hải ngoại thành những trò thối tha vô liêm sỉ…..!
Hằng năm cứ vào mùa tháng Tư thì các phương tiện truyền thông tiếng Việt như RFA, BBC, …lại rộn lên những luận điệu kêu gọi hòa hợp hòa giải giữa chế độ CSVN và những người đã bị đuổi chạy ra nước ngoài. Họ coi những người rượt đuổi và những người bị đuổi đều tội lỗi như nhau.
Trong khi đó cuộc chiến Nam Bắc Hàn cũng giống hệt như cuộc chiến Việt Nam. Nhưng ngày nay RFA, BBC… nói cho con cháu Nam Hàn rằng năm 1950 quân Bắc Hàn tràn qua vĩ tuyến 38 đánh chiếm Nam Hàn. Quân đội Mỹ đã giúp nhân dân Nam Hàn đẩy lui quân Bắc Hàn về Bắc. Tội lỗi đều là phía Bắc Hàn chứ phía Nam Hàn không có lỗi.
Nhưng đối với cuộc chiến Việt Nam thì quân Bắc Việt cũng tràn qua vĩ tuyến 17 đánh chiếm Miền Nam nhưng Mỹ lại nói : Phía CSVN và phía VNCH đều có lỗi cho nên Mỹ đứng giữa không biết giúp bên nào !! Cho tới nay cũng chưa ngã ngũ bên nào phải bên nào trái.
Cũng vì chưa ngã ngũ bên nào phải bên nào trái cho nên cho tới nay danh dự của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vẫn chưa được phục hồi. Người Mỹ vẫn muốn con cháu Việt Nam nhìn Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu như là một kẻ luôn luôn cản trở và phá hoại hòa bình.
Bùi Anh Trinh
Khóa 16 trường VBQGVN
Khóa Sinh K16 trình diện nhập học
tại TVBQGVN cũ
1. TỔNG QUÁT.
Nhằm đào tạo Sĩ Quan Hiện Dịch cho cả 3 Quân
Chủng: Hải, Lục và Không
Quân, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa,
Tổng Thống Ngô Đình Diệm
đã ký Sắc Lệnh số 317/QP/TT ngày
29-7-1959 cải tổ Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt thành
Trường Võ Bị Quốc Gia
Việt Nam (TVBQGVN) với chương trình Văn Hóa và Quân Sư 4 năm. Sinh Viên Sĩ Quan
(SVSQ) Khóa
16 được tuyển chọn và huấn luyện theo tinh thần sắc lệnh này.
Sau ngày mãn khóa,
các tân sĩ quan có trình độ Văn Hóa tương đương năm thứ 2
Đại Học Dân Sự và trình
độ Quân Sự vững chắc để chỉ huy
đơn vị
cấp
Trung Đội và Đại Đội trong cuộc chiến
tranh mới chống lại ý thức hệ cộng sản. Khóa 16 là khóa
đầu tiên đặt nền móng cho chương trình huấn luyện mới, tạo tiền lệ cho các khóa sau,
phải trải qua những giai đoạn thanh lọc và thử thách cam go.
-
Nhập Trường: Ngày 23-11-1959.
-
Số Khóa Sinh Nhập Trường: 326.
- Thời Gian Thụ Huấn: Từ
ngày 23-11-1959 đến ngày
22-12-1962.
- Mãn Khóa: Ngày 22-12-1962.
-
Số sĩ quan tốt
nghiệp: 226.
- Vị Chủ Tọa Ngày Mãn Khóa: Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
- Tên Khóa: Khóa Ấp Chiến Lược.
- Thủ Khoa: SVSQ Bùi Quyền.

Khóa sinh K16 được các NT K14 tiếp đón tại phi trường
Liên Khương
2- KHÓA 16
- THỜI GIAN THỤ HUẤN.
Năm thứ 1.
- Nhập học tại Trường
Cũ, gần Hồ Mê Linh.
- Chỉ Huy Trưởng: Thiếu Tướng Lê Văn Kim.
- Trong 8 tuần sơ khởi, một số
khóa sinh bị loại vì lý
do sức khỏe và lý lịch.
- Ngày 5-6-1960, TT Ngô Đình Diệm đặt
viên đá đầu tiên xây Trường mới trên đồi 1515.
Khởi
đầu 8 tuần lễ sơ khởi
SVSQ K14 gắn Alpha cho TKS/K16 sau 8 tuần lễ Sơ Khởi.
Tổng Thống Ngô Đình Diệm
đặt viên đá đầu tiên
xây cất TVBQGVN trên đồi 1515, ngày 5-6-1960.
xây cất TVBQGVN trên đồi 1515, ngày 5-6-1960.
trên đồi 1515 với 2 khóa 16 và 17.

SVSQ/K16 năm thư 1, quân phục làm việc
Năm thứ 2:
- Chỉ Huy Trưởng: Tr/Tá Trần Ngọc Huyến thay
thế Th/Tướng
Lê Văn Kim sau biến cố Chỉnh Lý ngày 11-11-1960.
- 52 SVSQ, vì số điểm văn hóa dưới trung bình, mặc dầu điểm quân sự cao, được chuyển về thụ huấn Khóa 2 Trường Hạ Sĩ Quan tại Nha Trang, tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn Úy Hiện Dịch.
- 52 SVSQ, vì số điểm văn hóa dưới trung bình, mặc dầu điểm quân sự cao, được chuyển về thụ huấn Khóa 2 Trường Hạ Sĩ Quan tại Nha Trang, tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn Úy Hiện Dịch.
- Khóa đầu tiên được tuyển chọn về
2 Quân Chủng Hải Quân và
Không Quân từ cuối năm thứ 2. Đại diện BTL/KQ lên
Trường chọn
30 SVSQ, và đại diện BTL/HQ chọn 15 SVSQ. Những SVSQ này sau khi
mãn khóa sẽ trình diện Quân Chủng liên hệ để theo học chương trình huấn luyện
chuyên môn.

SVSQ/K16
năm thứ 2, quân phục dạo phố Mùa Hè.

SVSQ/K16 trong một lớp học Văn Hóa.
Phòng thí nghiệm hóa học
Năm thứ 3:
- Sau ngày Khóa 15 mãn khóa, kể từ ngày 3-6-1961, Khóa 16 đảm trách Hệ Thống Tự Chỉ Huy Liên
Đoàn SVSQ/TVBQGVN (LĐ/SVSQ).
- Di chuyển sang
doanh trại Trường mới. LĐ/SVSQ gồm 2 Khóa 16 và 17.
- Ngày 23/11/1961 Khóa 18 nhập học, K16 đảm trách huấn luyện TKS Khóa 18.
- Du hành quan sát: Thăm các quân trường (Pháo
Binh, Hải Quân, Biệt Động Quân, Công Binh, Truyền Tin). Thăm các BTL/TQLC,
SĐ5/BB. Quan sát nhẩy dù biểu diễn tại bãi nhẩy dù Củ
Chi.
- Thụ huấn khóa Rừng Núi Sình Lầy nửa tháng tại TTHL/BĐQ Dục Mỹ, Nha Trang.

TVBQGVN chiếm giải Nhất Diễn Hành Quốc Khánh,
ngày 26/10/1961, với 2 khóa 16 và 17 tại Sài Gòn.


Du hành quan sát Lữ Đoàn Dù

Du hành quan sát TTHL/HQ Nha Trang

Năm thứ 4.
- Ngày 21-11-1962 K19 nhập học, LĐ/SVSQ có 4 khóa:
16, 17, 18 và 19.
- Hoàn tất chương trình thụ huấn 4 năm
thu gọn trong 3
năm 1 tháng theo chỉ thị của TT Ngô Đình Diệm vì tình hình chiến sự.
- Tuyển chọn đơn vị. Các tân thiếu úy
được phân phối:
TT Ngô Đình Diệm
và Đại Tướng Lê Văn Tỵ duyệt đội hình SVSQ/K16
TT Ngô Đình Diệm và Tr/Tá CHT Trần Ngọc Huyến
gắn cấp bậc Th/Úy cho Thủ Khoa Bùi Quyền
gắn cấp bậc Th/Úy cho Thủ Khoa Bùi Quyền
Tân Th/Úy K16
diễn hành qua khán đài

Tân Thiếu Úy K16 chụp hình lưu niệm
TT Diệm ăn trưa sau Lễ Mẵn Khóa 16
Lục Quân.
- Lưu dụng tại Trường:
Vì muốn duy trì các hệ thống chỉ huy và huấn luyện theo tinh thần cải
tổ của TVBQGVN, 15 tân sĩ quan K16 được BCH Trường đề nghị, Bộ TTM cho
lưu giữ sau khi tốt nghiệp, để đảm nhiệm các chức vụ chỉ huy trong
LĐ/SVSQ và huấn luyện viên quân sự. Sau đó, số sĩ quan này đã được
thuyên chuyển về các đơn vị. Thời gian sau lại có một số khác từ các
đơn vị tác chiến được thuyên chuyển về Trường .
- Nhẩy Dù: 3 tân sĩ quan được tuyển chọn. Sau này được thuyên chuyển về thêm 2 sĩ quan K16.
- Thủy Quân Lục Chiến: 10 tân sĩ quan được tuyển chọn. 3 SQ/K16 khác cũng đã được thuyên chuyển về Binh Chủng.
- Biệt Động Quân: 13 tân sĩ quan được tuyển chọn..
- Lực Lượng Đặc Biệt: Không ai được tuyển chọn. Về sau, 3 SQ/K16 được thuyên chuyển về.
- Các Sư Đoàn Bộ Binh: 166 tân sĩ quan chọn phục vụ 9 SĐ/BB.
Không Quân:
- 30
tân sĩ quan được chọn, tuy nhiên 2 người vì lý do an ninh nên
BTL/KQ chỉ nhận 28. Trong số này có 11 sĩ quan theo khóa hoa tiêu trực
thăng và 2 sĩ quan theo khóa hoa tiêu khu trục tại Hoa Kỳ. Số còn lại
theo học khóa hoa tiêu trực thăng tại phi trường Tân Sơn Nhất. Gần cuối
khóa, 2 sĩ quan qua ngành quan sát. Sau có 1 sĩ quan từ TQLC thuyên
chuyển về TTHL/KQ Nha Trang, một thời gian lâu sau lên giữ chức Liên
Đoàn Trưởng LĐ/SVSQ/KQ, và một sĩ quan bộ binh được tuyển về KQ phục vụ
tại đơn vị phòng thủ căn cứ.
Hải Quân:
15
tân Th/Úy được thực tập trên các chiến hạm trong thời gian chờ nhập
học Khóa 13/HQ vào tháng 5-1963. Nhưng vì không đồng ý đeo Alpha trở
lại, 8 SQ/K16 xin đổi Quân Chủng được bộ TTM chấp thuận, chỉ còn 7
SQ/K16 nhập học Khóa 13/HQ và tốt nghiệp ngành chỉ huy vào tháng 12-64.
3- KHÓA 16 - THÀNH TÍCH TỔNG QUÁT.
Sĩ
quan Khóa 16 mang cấp bậc cao nhất: 6 Đại Tá, trong đó 1 Đại Tá tử
trận, 1 Đại Tá bị bức tử trong trại tù lao động khổ sai CS tại Hoàng
Liên Sơn năm 1976, và 1 Trung Tá tử trận được truy thăng Đại Tá.
SQ đảm nhiệm các chức vụ quân sự tại:
- Trường VBQGVN:
Các sĩ quan cán bộ Trung Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn Trưởng, và Đại Đội
Trưởng của Trung Đoàn SVSQ; Trưởng Phòng Điều hành quân sự vụ, và các
SQ/HLV các bộ môn quân sự.
- Không Quân: 1
Không Đoàn Trưởng, 1 Không Đoàn Phó, 6 Phi Đoàn Trưởng, 1 Tham Mưu Phó
An Phi SĐ, 1 Trưởng Phòng kế hoạch BCH/Liên Đoàn Kiểm Báo, 1 Trưởng
Phòng Thống Kê & Huấn Luyện BCH/HQ/KQ, 1 sĩ quan phòng thủ căn cứ,
1 Liên Đoàn Trưởng LĐ/SVSQ thuộc TTHL/KQ Nha Trang.
- Hải Quân: 3
Hạm Trưởng, 1 CHT của BTL/HQ, 1 CHT/Căn Cứ HQ Nha Trang, 1 sĩ quan
Đại Diện HQ tại Bộ TTM, 1 sĩ quan đại diện HQ tại TT/Phát Triển Khả
Năng Tác Chiến.
- Bộ TTM: Trưởng Ban các Phòng, Sở và Tổng Hành Dinh, ĐĐT/ĐĐ1/Quân Cảnh.
- Nhẩy Dù: 2 Lữ Đoàn Trưởng (LĐT), 1 LĐ Phó, 1 Tiểu Đoàn Trưởng.
- Thủy Quân Lục Chiến:
2 LĐT, 2 LĐP, 3 Trưởng Phòng BTL/SĐ/TQLC, 5 TĐT, 1 LĐT và 1 LĐP mất
tích, 1 LĐT chết trong trại tù lao động khổ sai của CS tại Bắc Việt.
- Lực Lượng Đặc Biệt:
1 CHT Đoàn Công Tác 11 thuộc Sở Công Tác Nha Kỹ Thuật TTM, 1 Phụ tá B
Trưởng KonTum, 1 HLV/LLĐB tại Long Thành, 1 Chỉ Huy Toán.
- Biệt Động Quân: 1 Liên Đoàn Trưởng và một số TĐT.
- Bộ Binh:
7 Tr/Đoàn Trưởng (2 tử trận và 1 bị CS Hà Nội sát hại trong trại giam ở
Miền Bắc) và một số Trưởng Phòng cấp SĐ, Tr/Đoàn Phó, Liên Đoàn
Trưởng Địa Phương Quân.
* Nha Quân Pháp: 1 Giám Đốc Quân Lao, 1 CHT Trại Giam tù phiến cộng.
* Chức vụ hành chánh: 2 Tỉnh Trưởng, và 27 Quận Trưởng (6 QT đã hy sinh)
Một số Trưởng ty các Bộ trong chính phủ. BTL Cảnh Sát, và 4QT Cảnh Sát.
- Chức vụ Dân Cử: 3 Nghị Viên.
- Bằng cấp đại học:
3 người, 1 đậu Cao Học Khoa Học vi tính (mất cuối năm 1992), 1 thương
binh loại 2 giải ngũ, đậu KS Công Nghệ tại TT/KT Phú Thọ, đậu thêm Cao
Học Đông Y tại HK, và 1 đậu bằng cử nhân Luật Công Pháp, năm thứ nhất
cao học.
4- KHÓA 16 - HY SINH 1, 2 NĂM ĐẦU.
Vì
tình hình chiến sự do CSBV gây ra từ đầu thập niên 1960, Bộ TTM/QLVNCH
theo lệnh của Tổng Thống, đã cho rút ngắn chương trình huấn luyện,
khởi đầu từ Khóa 16, giảm từ 4 xuống 3 năm, và các Khóa 17,18,19,20,21
và nửa Khóa 22 xuống 2 năm. Mấy năm đầu sau khi mãn khóa, các sĩ quan
Khóa 16 đã hứng chịu nhiều thương vong. Sau đây là một số hy sinh đáng
nhớ:
* Th/Úy NHỮ VĂN HẢI, SĐ21/BB, SQ tử trận đầu tiên của
Khóa 16. Đêm 21 tháng 3 năm 1963, Th/Úy Hải, đại đội phó một ĐĐ thuộc Tr/Đoàn 48/SĐ21/BB trú đóng tại đồn Biện Nhị, quận Thới Bình, An Xuyên, bị Tiểu
Đoàn U Minh VC bao vây tấn công và tràn ngập, Th/Úy Hải bị trọng
thương, bị bắt, nhưng không chịu quy hàng, bị tra tấn cho đến chết, lúc
đó mới 23 tuổi. Do gương can đảm cao độ, Tr/Tá CHT Trần Ngọc Huyến, đã đặt tên cho CLB trước cổng Trường là CLB Nhữ Văn Hải.
* Th/Úy LÝ VĂN QUẢNG TĐ8/ND, tử trận tháng 4-1963 lúc 26 tuổi.
* Th/Úy NGUYỄN TẤN MỸ Tr/Đoàn 44/SĐ23/BB tử trận giữa năm 1963.
* Th/Úy HỒ XUÂN QUANG Tr/Đoàn 45/SĐ23/BB tử thương giữa năm 1963.
* Th/Úy NGUYỄN THẾ ĐỨC tử thương ngày 1-4-1963.
* Th/Úy TRẦN THIỆN GÁI,
SĐ1/BB, tử trận tháng 5-1963 lúc vừa qua 24 tuổi, tại Căn Cứ A Lưới,
phía Tây Thành Phố Huế. Vài năm sau, một con đường trong Thành Nội được
đặt tên: Đường TRẦN THIỆN GÁI.
* Th/Úy VŨ CHẤN HÙNG BB, tử trận ngày 25-11-1963.
* Th/Úy TRẦN TRỌNG MINH tử trận ngày 27-10-1963.
* Th/Úy TRỊNH AN THẠCH TĐ1/TQLC, tử trận ngày 6-12-1963, mới 24 tuổi.
* Tr/Úy BÙI THANH TÂM SĐ22/BB, tử trận tại đồi Dương Liễu, Tam Quan, 1965.
* Th/Úy LÊ ĐỨC RIỆP, tử trận ngày 27-7-1964.
* Th/Úy NGUYỄN PHƯƠNG SANH, tử trận tháng 7-1964.
* Th/Úy TRẦN NGỌC SƠN, tử trận ngày 8-4-1964.
* Th/Úy BẢO SUNG và Th/Úy PHAN VĂN TÂN.
Cả 2 là phi công trực thăng H-34 bay chung 1 phi vụ hành quân ngày
3-12-1964, Th/Úy Sung là phi công trưởng, Th/Úy Tân phi công phụ. Trực
thăng bị hỏa tiễn VC bắn cháy, đã cùng tử trận.
* Tr/Úy NGUYỄN VĂN NHƯỜNG KQ, phi công trực thăng, Phi Đoàn 217 Tải
Thương. Trong một phi vụ tải thương tháng 9-1964 tại Bời Lời, vùng Tam
Giác Sắt, trực thăng bị đich bắn cháy, Tr/Úy Nhường bị phỏng nặng lúc
mới 26 tuổi, mang thương tật suốt đời, mất năm 2014 tại VN, thọ 77
tuổi.
* Tr/Úy TRẦN NGỌC TOÀN TQLC,
ĐĐT/TĐ4/TQLC tham dự trận Bình Giả, Bà Rịa cuối tháng 12-1964, bị
trọng thương, mang nhiều thương tích cho đến ngày nay.
* Đ/Úy NGUYỄN BẢO TÙNG KQ, phi công trực thăng H-34 thuộc Biệt Đội Delta,
Biệt Đoàn 83 (tiền thân của Phi Đoàn 219).. Biệt Đội có nhiệm vụ thả
các toán viễn thám Lôi Hổ dọc biên giới Việt-Lào. Ngày 18-10-1965, từ
Khâm Đức bay thả toán Biệt Kích của Th/Tá Larry Thorne, trực thăng
Tr/Úy Tùng vì mây mù bay lạc và mất tích. Năm 1999, qua nỗ lực tìm kiếm
QN mất tích, HK tìm lại được xác chiếc trực thăng và hài cốt của toán
Biệt Kích HK. Lễ an táng 4 hài cốt được tổ chức ngày 25-6-2003 tại
nghĩa trang Quốc Gia Arlington, VA, Cố Đ/U Nguyễn Bảo Tùng cũng được chôn cất tại đây, tử trận khi vừa 25 tuổi.
Biệt Đoàn 83 (tiền thân của Phi Đoàn 219).. Biệt Đội có nhiệm vụ thả
các toán viễn thám Lôi Hổ dọc biên giới Việt-Lào. Ngày 18-10-1965, từ
Khâm Đức bay thả toán Biệt Kích của Th/Tá Larry Thorne, trực thăng
Tr/Úy Tùng vì mây mù bay lạc và mất tích. Năm 1999, qua nỗ lực tìm kiếm
QN mất tích, HK tìm lại được xác chiếc trực thăng và hài cốt của toán
Biệt Kích HK. Lễ an táng 4 hài cốt được tổ chức ngày 25-6-2003 tại
nghĩa trang Quốc Gia Arlington, VA, Cố Đ/U Nguyễn Bảo Tùng cũng được chôn cất tại đây, tử trận khi vừa 25 tuổi.
* Đ/Úy MAI NGUYÊN HƯNG
KQ, phi công khu trục cơ AD-6. Sau một phi vụ Bắc Phạt năm 1965, trên
đường bay đêm về căn cứ KQ Biên Hoà, phi cơ của Tr/Úy Hưng, phần vì bị
trúng đạn phòng không địch, phần cạn xăng, phải đáp khẩn cấp xuống
phi trường Phước Long. Vì phi đạo ngắn, phi cơ lâm nạn, Tr/Úy Mai
Nguyên Hưng tử thương. được Truy Thăng Đại Úy, mất ở tuổi 24.
* Thiếu Tá HOÀNG LÊ CƯỜNG.
Từ
24-4-72 đến 1-5-72, địch vây hãm 2 căn cứ Bình Dương. Quận Phù Mỹ và
Đệ Đức, Quận Hoài Nhơn, Bình Định. Vì áp lực địch đè nặng lên khu vực
trách nhiệm, Th/Tá Cường cùng viên Cố Vấn Hoa Kỳ từ Quận lái xe qua cầu
Bồng Sơn đến TĐ/ĐPQ thuộc quyền để duyệt xét tình hình. Sau đó, Th/Tá
Cường đến BCH/TĐ2/40 để yêu cầu phối hợp phòng thủ Quận. Th/Tá Cường
trở về BCH Chi Khu để chỉ huy lực lượng tại đây đang trong tình trạng
nguy hiểm. Khi lái xe qua cầu Bồng Sơn trở về Quận, xe jeep của Th/Tá
Cường đã bị VC bắn cháy trên cầu, chỉ cách quận lỵ khoảng 500 thước,
Th/Tá Cường hy sinh tại chỗ. Bộ TTM đã đặt tên cho K29/TVBQGVN là: Khóa Hoàng Lê Cường.
5- KHÓA 16 - THÀNH QUẢ THEO THỜI GIAN.
Đại Úy TRẦN HỒNG VĨNH.
Tốt
nghiệp từ Trường Kỹ Sư Công Nghệ, Trung Tâm KT Phú Thọ, Sài Gòn.
South Baylor University, School of Oriental Medicine, CA, USA. MS in
Acupunctute and Oriental Medicine, 1993.
Đã phát hành:
Sổ Tay Đông Y (bìa mềm) 3 tập. Sổ Tay Đông Y (bìa cứng) 3 tập.
Khí Công. Khí Công Tái Bản (có bổ sung).
Phản Xạ Trị Liêu Phương (Giúp cho Kỹ Thuật Massage)
Dịch Cân Kinh của Đạt Ma Sư Tổ.
Sẽ phát hành:
Dược Thảo. Đông Y Bệnh Lý Lâm Sàng.
Đại Tá NGUYỄN HỮU THÔNG.
Trung Đoàn Trưởng Tr/Đoàn 42 SĐ/22BB.
Tháng
3-1975, khi Ban Mê Thuột thất thủ, SĐ 22 chỉ còn 3 Tr/Đ để phòng thủ
Bình Định vì Tr/Đ 40 đã phải tăng phái cho SĐ23 BB tại tuyến bắc Khánh
Dương. Tại Bình Định, Tr/Đoàn 47 của Đ/Tá Lê Cầu (K18) được giao khu
vực bắc Bình Định, lo trấn giữ Bồng Sơn, cửa ngõ ra vào thung lũng An
Lão (Xem tiếp phần Đại tá Nguyễn Thiều, phần sau).
Trung Tá NGUYỄN XUÂN PHÚC.
Tiểu Đoàn Trưởng TĐ2/TQLC - LĐ Phó LĐ147 và LĐ Trưởng LĐ369/TQLC.
"Khi tôi về làm TĐT/TĐ2 thay ông Minh tử trận tháng 6-1966 thì ông Chùa làm TĐP, Phúc làm ĐĐT/ĐĐ4. Tôi đề nghị cho ông Chùa về Sư Đoàn để ông Phúc làm TĐ Phó.
Ngay những ngày đầu hành quân ở khu Cồn Thiên Gio Linh Quảng Trị, tôi đã nhận biết được Nguyễn Xuân Phúc TĐ Phó là một SQ gan dạ và là cấp chỉ huy tôi có nhiều cảm tình. Đến năm 67 tôi đề nghị cho anh đi học Chỉ Huy Tham Mưu. Đi học về, vì nhu cầu anh được làm TĐP/TĐ5, đánh trận Rạch Ruông, một trận chiến thắng lớn của TĐ5 năm 1968, sau đó anh được đi nhận chức TĐT/TĐ6 hành quân Mậu Thân ở Gia Định.
Năm 1969, tôi bị thương nặng anh ra lãnh trách nhiệm chỉ huy TĐ2 thay tôi. Năm 1970, TĐ2 do anh chỉ huy trong trận Preveng ở Miên, đã đem vể cho hiệu kỳ TĐ2 một ngành Dương Liễu, và đây là Dương Liễu thứ 8 nên TĐ2 được mang dây biểu chương mầu Tam Hợp.
Năm 1971 anh dẫn Trâu Điên sang Hạ Lào, anh thăng trung tá và vẫn coi TĐ2 cho đến khi đánh vào QT 1972 thì giao TĐ2 cho Thiếu Tá Hợp và đi làm Lữ Đoàn Phó 147...và sau đó làm Lữ Đoàn Trưởng LĐ 369/TQLC.
Anh là một SQ quan giỏi, không bao giờ biết đến đồng xu cắc bạc nào của anh em. Không làm điều gì mất danh dự của Quân Đội và TQLC. Anh mất đi để lại cho tôi niềm luyến tiếc.".Tr/Tá Phúc được ghi nhận mất tích sau cuộc triệt thoái của SÐ/TQLC khỏi Ðà Nẵng sáng ngày 29-3-1975.
Trung Tá ĐỖ HỮU TÙNG.
Tiểu Đoàn Trưởng TĐ6/TQLC - Lữ Đoàn Phó LĐ258 và 369/TQLC.
Mở đầu bài chiến sử "TĐ6/TQLC - Thần Ưng Xé Xác Xe Tăng Địch 1972", về trận thư hùng giữa TĐ6/TQLC và Trung Đoàn 66 thuộc SĐ304/CSBV tại căn cứ Phượng Hoàng đầu tháng 4-1972, Cựu Đ/T Phạm Văn Chung, LĐT LĐ369/TQLC đã viết:
"Qua
đợt đầu Cộng sản Bắc Việt tấn công mãnh liệt, hung hãn, ồ ạt, các căn
cứ hỏa lực Carroll (Trung đoàn 56 thuộc Sư đoàn 3 Bộ binh) đầu hàng và
Mai Lộc (Lữ đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến) phải cầm cự lui dần, khi căn
cứ Pedro trở nên tuyến đầu phòng thủ.. Thiếu tá Đỗ Hữu Tùng, Sĩ
quan khóa 16 đalat, phong thái trầm tĩnh, luôn như suy nghĩ điều gì, từ
từ, thủng thẳng trong mọi biến cố, kinh nghiệm chiến trường, một trong
các Tiểu đoàn trưởng cự phách của Thủy Quân Lục Chiến, là Tiểu
đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến biết thế nào căn cứ cũng bị
chiến xa cùng quân bộ Cộng sản Bắc Việt tấn công kế tiếp, nên anh phối
hợp với Lữ đoàn 258 xin đặt mìn chống chiến xa sâu về hướng Tây đường
tiến sát đến căn cứ...".
TĐ6/TQLC đã xử dụng tối đa mìn chống chiến xa, súng phóng hỏa tiễn
chống chiến xa M72 và đại bác không dật 57 ly cơ hữu để tiêu diệt chiến
xa địch, bắn cháy và gây tổn thất nặng cho gần 20 chiến xa địch. Th/Tá Đỗ Hữu Tùng được vinh thăng Trung Tá qua chiến thắng này. Ngày 1-10-1972, đảm nhận chức vụ LĐ Phó LĐ258, và ngày 1-7-1974 nhận chức vụ LĐ Phó LĐ369. Sáng ngày 29-3-1975, Tr/Tá Tùng được ghi nhận mất tích sau cuộc triệt thoái của SÐ/TQLC khỏi Ðà Nẵng.
Trung Tá NGUYỄN VĂN CẢNH,
Tiểu Đoàn Trưởng TĐ3 và TĐ14/TQLC.
Trung Tá NGUYỄN ĐẰNG TỐNG.
Lữ Đoàn Phó LĐ147 - Lữ Đoàn Trưởng LĐ468/TQLC.
Tháng 7-1974, sau khi được thăng cấp, Tr/Tá Nguyễn Đằng Tống được thăng chức LĐ Phó LĐ147 đến cuối tháng 3-1975. Ngày
24-4-1975, Tr/Tá Tống được bổ nhiệm làm LĐ Trưởng LĐ468 thay thế Đại
Tá Ngô văn Định, chỉ huy các Tiểu Đoàn TQLC phòng thủ tuyến Biên Hòa.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Tr/Tá Tống bị CS đi tù lao động khổ
sai CS ngoài Bắc, và chết tại trại tù Yên Bái năm 1977.
Trung Tá NGUYỄN KIM ĐỄ.
Tiểu Đoàn Trưởng TĐ9/TQLC - Trưởng Phòng 3/SĐTQLC.
Trước
khi về Sài Gòn thụ huấn Khóa CH/TM Cao Cấp tại Long Bình, ngày
1-10-1974 Tr/Tá Đễ bàn giao P3/SĐ lại cho Tr/Tá Trần Văn Hiển
TĐT/TĐ6/TQLC, vị TP3/SĐ cuối cùng của SĐ/TQLC. Cố Tr/Tá Nguyễn Kim Đễ qua đời ngày 9-12-2015 vì bạo bệnh tại TP Portland, TB Oregon, USA, hưởng thọ 76 tuổi.
Đại Tá ĐẶNG PHƯƠNG THÀNH.
Anh hùng Đặng Phương Thành, nguyên Đ/Tá Tr/Đoàn Trưởng Tr/ Đoàn 12/SĐ7BB QLVNCH là Danh Nhân Quân Sự Việt Nam.
Danh tánh, sự tích của Đ/Tá Thành được ghi vào Tân U Linh Việt Điện (quyển sách ghi chép sự tích thần kỳ của những người đã lao tâm lao lực cứu nước giữ nước trong lịch sử Việt Nam cận, trung và hiện đại).
Sự tích: Anh hùng Đặng Phương Thành đã tạo chiến thắng lớn trong trận cuối cùng tại Thủ Thừa tiêu diệt một trung đoàn VC trong tháng 4-1975, nhờ đó giữ vững đưọc Quốc Lộ 4 trong thời gian dầu sôi lửa bỏng này. Khi Đ/Tá Đặng Phương Thành đi tù CS ngoài miền Bắc, nhân lúc ông vượt ngục bất thành và bị bắt lại, hậm hực vì mối nhục thua trận Quốc Lộ 4, bọn cai ngục CS đã treo ông lên và đánh đập tàn nhẫn cho đến chết, ngày 9/9/1976.
Danh tánh, sự tích của Đ/Tá Thành được ghi vào Tân U Linh Việt Điện (quyển sách ghi chép sự tích thần kỳ của những người đã lao tâm lao lực cứu nước giữ nước trong lịch sử Việt Nam cận, trung và hiện đại).
Sự tích: Anh hùng Đặng Phương Thành đã tạo chiến thắng lớn trong trận cuối cùng tại Thủ Thừa tiêu diệt một trung đoàn VC trong tháng 4-1975, nhờ đó giữ vững đưọc Quốc Lộ 4 trong thời gian dầu sôi lửa bỏng này. Khi Đ/Tá Đặng Phương Thành đi tù CS ngoài miền Bắc, nhân lúc ông vượt ngục bất thành và bị bắt lại, hậm hực vì mối nhục thua trận Quốc Lộ 4, bọn cai ngục CS đã treo ông lên và đánh đập tàn nhẫn cho đến chết, ngày 9/9/1976.
Trung Tá TRƯƠNG THÀNH TÂM.
Không Đoàn Trưởng KĐ 64 Chiến Thuật, KQ.
Là
một trong số 30 SVSQ K16 tình nguyện và được tuyển chọn về KQ vào cuối
năm thứ 2. Tháng 8-63, Th/U Trương Thành Tâm mãn khóa huấn luyện trực
thăng ở Ft Rucker HK, và được bổ nhiệm về Phi Đoàn (PĐ) 217 tân lập.
PĐ di chuyển về Cần Thơ gia nhập Không Đoàn (KĐ) 74 Chiến Thuật đầu năm
1964. Năm 1966, trách nhiệm Trưởng Phòng Hành Quân PĐ/217, rồi PĐ Phó
và sau khi mãn khóa học Squadron Officer Schơol ở HK năm 1968, về lại
PĐ 217 giữ chức vụ PĐ Trưởng tháng 6-1969.
- Tháng 6-1970, tình nguyện bay nhiều phi vụ trực thăng võ trang đầu tiên của KQ/VNCH yểm trợ cho 4 Tiểu Đoàn TQLC/VN tái chiếm thành phố Prey Veng Cam Bốt từ quân CSBV. Sau cuộc hành quân này, PĐ/217 được ân thưởng huy chương Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu.
- Tháng 1-1971 theo học Khóa CHTM Cao Cấp tại Long Bình và giữa năm này được thăng cấp Trung Tá.
- Năm 1972, gởi 2 bạn cùng K16 Trần Châu Rết và Lê Văn Châu đang bay ở PĐ/217 qua nhận lãnh chức vụ PĐ Trưởng PĐ/225 và 227.
- Tháng 5-1973, được chỉ định giữ chức vụ KĐ Phó KĐ/64 CT tân lập. Sau 3 tháng, đảm nhận chức vụ Không Đoàn Trưởng, chỉ huy 3 PĐ 217, 249 và 255, cùng Phi Đội Tải Thương 259 cho đến ngày 30-4-1975. Trung Tá Tâm định cư tại Nam California, qua đời ngày 6 tháng 9 năm 2016, hưởng thọ 77 tuổi.
- Tháng 6-1970, tình nguyện bay nhiều phi vụ trực thăng võ trang đầu tiên của KQ/VNCH yểm trợ cho 4 Tiểu Đoàn TQLC/VN tái chiếm thành phố Prey Veng Cam Bốt từ quân CSBV. Sau cuộc hành quân này, PĐ/217 được ân thưởng huy chương Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu.
- Tháng 1-1971 theo học Khóa CHTM Cao Cấp tại Long Bình và giữa năm này được thăng cấp Trung Tá.
- Năm 1972, gởi 2 bạn cùng K16 Trần Châu Rết và Lê Văn Châu đang bay ở PĐ/217 qua nhận lãnh chức vụ PĐ Trưởng PĐ/225 và 227.
- Tháng 5-1973, được chỉ định giữ chức vụ KĐ Phó KĐ/64 CT tân lập. Sau 3 tháng, đảm nhận chức vụ Không Đoàn Trưởng, chỉ huy 3 PĐ 217, 249 và 255, cùng Phi Đội Tải Thương 259 cho đến ngày 30-4-1975. Trung Tá Tâm định cư tại Nam California, qua đời ngày 6 tháng 9 năm 2016, hưởng thọ 77 tuổi.
Trung Tá NGUYỄN VĂN ỨC. KQ.
Không Đoàn Phó KĐ/64 Chiến Thuật, KQ.
- 11-1959: Gia nhập Khoá 16 Trường VBQGVN.
- 2-1962: Khi tốt nghiệp được tuyển về Quân Chủng KQ.
- 4-1963: Học Khóa Hoa Tiêu Trực Thăng tại Hoa Kỳ.
- 5-1964: Tốt nghiệp về phục vụ tại PĐ/217, KĐ/33 CT, sau được chuyển về KĐ/74 CT tại Cần Thơ.
- 10-1969: Sĩ quan liên lạc Không Quân tại Hoa Kỳ.
- 1-1971: Phi Đoàn Trưởng PĐ/221, KĐ43 CT, thuộc SĐ3/KQ tại Biên Hoà, trách nhiệm chỉ huy lực lượng trực thăng, yểm trợ cho mặt trận An Lộc.
- 1-1973: Không Đoàn Phó KĐ/64 CT, thuộc SĐ4/KQ tại Cần Thơ.
- Tham gia các sinh hoạt Cộng Đồng, đặc biệt ở các Hội Đoàn CQN tại TP Orange County, TB California từ tháng 4-1975 cho tới nay.
- 11-1959: Gia nhập Khoá 16 Trường VBQGVN.
- 2-1962: Khi tốt nghiệp được tuyển về Quân Chủng KQ.
- 4-1963: Học Khóa Hoa Tiêu Trực Thăng tại Hoa Kỳ.
- 5-1964: Tốt nghiệp về phục vụ tại PĐ/217, KĐ/33 CT, sau được chuyển về KĐ/74 CT tại Cần Thơ.
- 10-1969: Sĩ quan liên lạc Không Quân tại Hoa Kỳ.
- 1-1971: Phi Đoàn Trưởng PĐ/221, KĐ43 CT, thuộc SĐ3/KQ tại Biên Hoà, trách nhiệm chỉ huy lực lượng trực thăng, yểm trợ cho mặt trận An Lộc.
- 1-1973: Không Đoàn Phó KĐ/64 CT, thuộc SĐ4/KQ tại Cần Thơ.
- Tham gia các sinh hoạt Cộng Đồng, đặc biệt ở các Hội Đoàn CQN tại TP Orange County, TB California từ tháng 4-1975 cho tới nay.
HQ Trung Tá NGUYỄN NHƯ PHÚ.
Hạm Trương Dương Vận Hạm Quy Nhơn HQ504.
Trong
những tháng ngày triệt thoái kinh hoàng của Quân Dân vùng 1 chiến
thuật từ tháng 3 & tháng tư, 1975, chiến hạm HQ 504 của ông và
nhiều chiến hạm khác đã tham dự trợ giúp, cứu vớt cuộc di tản đầy đau
thương nhất trong lịch sử cận đại của hằng vạn Quân Dân từ Huế, Đà
Nẵng. Điễn hình nhất là HQ504 đã cứu gíup trên 3000 người từ Đà Nẵng
đến Cam Ranh...
Hạm Trương Dương Vận Hạm Quy Nhơn HQ504.
Trong
những tháng ngày triệt thoái kinh hoàng của Quân Dân vùng 1 chiến
thuật từ tháng 3 & tháng tư, 1975, chiến hạm HQ 504 của ông và
nhiều chiến hạm khác đã tham dự trợ giúp, cứu vớt cuộc di tản đầy đau
thương nhất trong lịch sử cận đại của hằng vạn Quân Dân từ Huế, Đà
Nẵng. Điễn hình nhất là HQ504 đã cứu gíup trên 3000 người từ Đà Nẵng
đến Cam Ranh...
Cũng
như một số rất đông Quân Dân Miền Nam không có phương tiện ra đi
ngày 30 tháng tư năm 1975, hoặc vì lý do này hay lý do
khác đã ở lại, HQ Nguyễn Như Phú đã phải trả một giá rất đắt:
trên 10 năm tù cải tạo. Khi ra tù, ông và con trai đã vươt biên
bằng đường biển vào cuối thập niên 1980 và định cư tại Bắc Cali. Vài
năm sau, may mắn thay, vợ và các con còn lại của ông được trùng
phùng qua diện Đoàn tụ sau những năm sống lao động cơ cực tại quê
nhà. Một lần nữa, họ tái định cư tại Anaheim, Miền Nam Cali tự do.
khác đã ở lại, HQ Nguyễn Như Phú đã phải trả một giá rất đắt:
trên 10 năm tù cải tạo. Khi ra tù, ông và con trai đã vươt biên
bằng đường biển vào cuối thập niên 1980 và định cư tại Bắc Cali. Vài
năm sau, may mắn thay, vợ và các con còn lại của ông được trùng
phùng qua diện Đoàn tụ sau những năm sống lao động cơ cực tại quê
nhà. Một lần nữa, họ tái định cư tại Anaheim, Miền Nam Cali tự do.
HQ
Trung Tá Nguyễn Như Phú qua đời sau cơn bạo bệnh tại Kaiser
Hospital, Anaheim, California ngày 6 tháng 3 năm 2016, hưởng thọ 78
tuổi. (Trích tin trên Net)
Trung Tá TRẦN ĐĂNG KHÔI, LĐT/LĐ3/ND.New Post
"... Về
phần Lữ Đoàn 4, từ Đà Nẵng được rút về Sài Gòn giữa tháng 02-74, biệt
phái Biệt Khu Thủ Đô. Chính Lữ Đoàn 4, dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Lê Minh Ngọc, mà anh em Dù chúng tôi âu yếm gọi là "Ngọc Nga", đã chận VC ở cửa ngõ Thủ Đô, ngang Xa Lộ Biên Hòa
Subscribe to:
Posts (Atom)




































