Đứng
trong hàng rào kẽm gai của khu thăm nuôi. Bé Mai cố nhướng mắt để tìm
người cha thân yêu của mình trong số những đoàn người gầy guộc, xanh
xao, vàng vọt đang lếch thếch cất bước trên đường về trại tù. Với ánh
nắng trưa hè gay gắt,mọi nguời đi thăm nuôi đều đứng trong mái hiên
ngẩng cổ nhìn ra. Riêng bé Mai bất chấp những tia sáng nóng đang rọi
trên đôi má ửng đỏ, những giọt mồ hồ đang rịn trên trán. Cô bé cố giơ
cao những con cào cào xanh hướng về phía đoàn người đang lần lượt đi
qua, hầu mong cha của mình sẽ mau chóng nhận ra. Ông Sinh đã nhận ra con
gái , ông giơ cao lon gô vẫy vẫy. Bé Mai sung sướng reo lên :
“Má ơi. Con thấy ba rồi! Con thấy ba rồi !
Đoàn
tù vẫn bình thản bước lên đồi. Ông Sinh vừa đi vừa ngoảnh cổ lại đằng
sau nhìn con..Khi không còn thấy hình bóng cha nữa, bé Mai mới chịu chạy
lại bên mẹ thút thít khóc
Thiếu phụ rút khăn tay lau mồ hôi trên trán con, vuốt mái tóc bé an ủi :
“Nín đi con, tí nữa mẹ con mình gặp cha rồi.”
Thời
gian thăm nuôi thật ngắn ngủi, chỉ mười năm phút. Ông Sinh chỉ kịp ôm
con vào lòng, hôn lên má con. Hỏi han vợ năm ba câu, chẳng nói được gì
nhiều, đã gần hết giờ.
Mọi người trong phòng thăm nuôi
chỉ biết nhìn nhau khóc và khóc. Đến gìơ. Tên cán-bộ oắt con quơ quơ
khẩu súng AK. về phía mọi ngừời:
“ Đã hết giờ, yêu cầu mọi người đứng lên ra về.”
Ông
Sinh vôi vàng nắm chặt hai bàn tay vợ và ôm hôn con lần cuối, sách bị
gói lương khô cùng mấy con cào cào theo chân mọi người ra cửa.
Ngồi
trên chuyến xe lô trở về thành phố, hầu hết là những bà vợ đi thăm nuôi
chồng, họ đều mệt mỏi trong cuộc hành trình dài. Phần vì đường xa, phần
vì phải thức khuya dậy sớm để nấu thức ăn, giờ đây tất cả đều cố nhắm
mắt thiu thiu ngủ dưỡng sức. Riêng bé Mai không tài nào ngủ được, dù rất
muốn ngủ và mệt mỏi. Hình dáng của người cha luôn luôn lởn vởn trong
trí óc bé, thân hình gầy gò, đen đủi cùa ông khác xa với hình dáng trắng
trẻo, hồng hào, mập mạp trước kia rất nhiều. Bé là người được cha
thương yêu nhất. Đêm nào ông cũng ru bé ngủ, kể truyện cho bé nghe,
trước khi rời khỏi phòng ông không quên hôn lên nút ruồi son trên cổ bé,
mà ông thường gọi đùa là : Nốt ruồi mang đến nhiều sự may mắn.”
Ông
có đôi bàn tay rất khéo léo và nghệ thuật. Chính ông đã dậy cho bé xếp
hình những con thú, đồ vật bằng giấy nhất là thắt hình những con cào cào
bằng lá dừa non thật là tuyệt, trông chúng đẹp, hùng dũng, oai phong
biết bao! Bé rất thích và thường thắt để tặng bạn bè, vì thế chúng
thường chọc và gọi bé lá con cào cào xanh. Biệt hiệu này bé rất thích và
thường hay kể lại với cha. Ông nói con cào cào xanh với đôi chân cứng
cáp, nhẩy xa, biểu hiện cho sự tương lai vững chắc. Cha muốn con gái của
cha sau này cũng giống như những con cào cào này.
Riêng
ông Sinh, ông không thể không cầm được nước mắt khi nhìn giỏ quà của vợ
con. Sau gần hai năm tù cải tạo, đây là lần đầu tiên ông được thăm
nuôi. Giỏ qùa dù ít nhưng nó đã gói ghém biết bao nhiêu mồ hôi, nước
mắt, tình thương của gia đình, dù ít nhưng ông rất ấm lòng. Nhất là mấy
con cào cào xanh, nhìn chúng ông cảm thấy vui vui và xao xuyến trong
lòng. Cô bé không biết đã bỏ biết bao nhiêu công sức, tình thương yêu
gói trọn vào đó để dành cho cha. Nghĩ tới đó tim ông như thắt lại.
Đây
là lần đầu và cũng là lần cuối ông gặp mặt vợ con. Kể từ ngày thăm nuôi
cho tới mấy năm sau này, ông không hề nhận được bất cứ tin tức gì về
gia đình. Lòng ông như rối bời, tâm tính như mất trí, thân xác kiệt
quệ.. Mấy lần ông đã ngã qụy, tưởng không thể sống nổi, may nhờ bạn bè
an ủi, giúp đỡ về vật chất cũng như tinh thần, ông đã qua khỏi.
Cuộc sống tù đầy cứ như thế: Chịu đựng, đau khổ, đói khát. Cho tới cuối năm 1981 ông được thả về.
Ra
khỏi tù , ông không còn nơi nương tựa. Theo chòm xóm cho biết : Vợ con
ông đã vượt biên năm 1976. Gia đình bên vợ thì đã bán nhà dọn đi nơi
khác, không biết biệt tích nơi đâu. Còn bên ông thì không có ai cả, vì
ông vô Nam chỉ có một mình khi ông mới mười hai tuổi. Thế là hết ! không
biết đâu mà mò.
Điều làm ông lo âu
nhất, là vợ con ông có thật sự đi vượt biên không, hay là tin đồn nhảm?!
Nếu đúng như vậy, liệu có thoát không? Hay là đã bị…..ông không dám
nghĩ tiếp. Nếu thoát, tại sao không gửi thư về để cho ông biết tin Những
câu hỏi tại sao ?....tại sao?...làm cho ông điên đầu. Hiện giờ ông mù
tịt, và cũng không hiểu vì sao.?!
Ra
khỏi nhà tù nhỏ, ông lại vô nhà tù lớn. Cũng lao động thân xác để kiếm
miếng ăn, cũng phải học tập, trình diện hàng tháng. Người ông càng ngày
càng tiều tụy, nhưng ông phải ráng sống để có ngày gặp lại mặt vợ con
May
mắn nhờ một người bạn tù cùng chung một tổ trong trại tù, đưa ông về
nhà cho tá túc qua ngày, cùng chỉ ông cách thức vá giầy, dép cũ. Cuộc
sống của ông cũng tạm đủ.
Dạo này trời Sài-Gòn hay đổ
những cơn mưa bất tử, làm ông Sinh dọn hàng ra, vô muốn bở hơi tai. Hai
năm sau này công việc làm ăn của ông đâm khá ra. Giầy dép cũ mới, chôm
chỉa gì ông cũng mua tuốt luốt, đem sửa chút ít, dánh bóng lại bán được
gía cao.
Một người khách đi đến gian hàng ông. Ngắm nghía lựa một đôi, sỏ vừa chân,, cầm lên hỏi :
“Bác , Đôi này bao nhêu?”
Đang
cúi lau giầy, ông vội vàng ngửng đầu lên định trả lời. Nhưng thấy người
khách ông bỡ ngỡ, cảm thấy rất quen nên chưa kịp đáp. Người thanh niên
thấy mặt ông cũng giật mình lùi lại, trơn mắt như gặp phải ma. Cậu ta
định thần nhìn kỹ. Vội hỏi :
“Xin lỗi, xin lỗi. Bác có phải…..phải tên Sinh không?”.
Cũng
vừa kịp lúc ông Sinh nhận ra người khách lạ, chẳng ai khác hơn chính là
cậu em vợ của mình. Như bắt được vàng. Ông Sinh rối rít dọn hàng không
bán nữa.
Hai anh em kiếm một quán cà phê ngồi tâm sự.
Thì
ra vợ con ông đi vượt biên thực sự, hiện định cư ở Mỹ. Vợ ông đã có
chồng khác và đã có hai con, một trai, một gái. Cha mẹ vợ đã bán nhà ở
thành phố, dọn về quê ở.. Mấy năm nay ông bà vẫn đều đặn nhân được tiền
bạc do con gái chu cấp hàng tháng, và hiện cậu em trai vẫn còn ở với cha
mẹ. Không hiểu vì lý do gì, cố ý hay có uẩn khúc gì khác, ông bà lại
báo với con gái là ông đã chết trong trại tù.
Ngay
ngày hôm sau. Ông Sinh cùng cậu em vợ vội đáp xe đò về thăm gia đình
vợ. Chuyến thăm này đã khiến ông Sinh nhận nhiều sự đắng cay tủi nhục.
Sự ơ hờ, tiếp đón tẻ nhạt đã làm ông thất vọng. Ông không có địa chỉ
cũng như không có tin tức gì về vợ con. Ông chỉ biết đạì khái là : Vợ
ông không muốn cho ông biết nơi ở của nàng. Chuyện ông bị chết là do
công an tới nhà báo tin.
Nhưng nhờ vào
lòng tốt của cậu em vợ, cuối cùng ông cũng có được địa chỉ của vợ con
trong tay. Nhưng làm được gì với địa chỉ này ? Đối với vợ, ông có lỗi
với nàng chứ không phải nàng có lỗi với ông. Ở vậy chờ chồng nuôi con là
việc tốt, nếu không thì đành phải chấp nhận, không thể oán trách. Nhưng
với con, ông phải có bổn phận và trách nhiệm. Ông nhớ cô bé vô cùng
không kể xiết.
Ông đã viết thơ nhiều lần, nhưng chẳng bao giờ được hồi âm. Lại mu tin, mù tịt. Đầu óc ông rối rắm tơ vò. Con ông ra sao rồi ?!
Sau
đó chương trình HO được cứu xét, đưa các sĩ quan tù nhân cải-tạo qua
Mỹ. Ông sung sướng bán tín, bán nghi. Nhưng sự thật đã đến. Giờ đây ông
đã ngồi trên máy bay đến Mỹ theo diện HO.8. Việc đầu tiên của ông dự
định là sau khi lo thủ tục giấy tờ xong, ông sẽ đi tìm vợ con.
Đứng
trước cánh cổng sắt của căn nhà sang trọng, trong một thành phố thuộc
tiểu bang Illonois. Ông Sinh lưỡng lự không dám bấm chuông, lòng ông hồi
hộp, tim đập loạn xạ.. Ông đang tưởng tượng hình dáng vợ mình bây giờ
thế nào? Con mình đã lớn khôn ra sao? Cô bé giờ đã hai mươi mốt tuổi rồi
còn gì, không biết ông có còn nhận ra không?!
Rồi
ông tự hỏi có nên vào hay không ? Gia đình người ta đang hạnh phúc,
mình vào có đúng lúc không?! Đang lúc suy nghĩ miên man. Chợt ông thấy
một thiếu phụ từ trong nhà đi ra, tay cầm bình tưới cây nhỏ, tưới vào
những chậu hoa trước cửa. Ông không thể nhầm được, đó chính là vợ mình
dù thời gian có thay đổi. Ông tính rướn người lên gọi nhưng kịp ngừng
lại.Một người đàn ông tóc vàng từ bên hông nhà đi tới, đến sau lưng
người thiếu phụ ôm choàng lấy nàng, hai người hôn nhau thắm thiết. Ông
lặng người tê tái, quay gót bỏ đi.
Về
quán trọ, ông viết vội vài chữ gửi cho vợ, hẹn nàng cho ông gặp mặt dù
chỉ một vài phút. Ngồi trước mặt vợ, ông nhận thấy nàng rất đẹp, đẹp hơn
trước nhiều, nhưng cũng không đấu được nhiều nếp nhăn trên trán khóe
mắt, vành môi.
Để phá tan bầu không khí ngỡ ngàng. Ông Sinh khen vợ:
“Em. Trông em đẹp lắm !”.
“Cám
ơn anh. Anh qua đây từ bao giờ? Trông anh già và ốm yếu quá ! Anh có
cần sự giúp đỡ gì không? Chồng em quen biết rất nhiều.”
Ông Sinh thấy nàng tự nhiên qúa, không có nét xúc cảm nào lộ trên khuôn mặt. Ông cũng bình thản.
“Cám
ơn em. Anh, chữ nghĩa tiếng Anh, tiếng u còn kém lắm, vả lại mới qua
chưa cần gấp. Anh muốn gặp con, nó dạo này thế nào rồi ?”.
Không trả lời vội. Nàng đẩy ly cà phê sữa tới trước mặt ông:
“Cà
phê Starbuck này ở Mỹ có tiếng lắm. Em còn nhớ anh thích uống cà phê
nên em kêu. Còn con hả, em cũng muốn mong gặp nó đây. Mấy năm nay nó
chẳng hề ghé thăm mẹ. Lâu lâu gọi phôn lấy lệ”.
Ông Sinh nhỏm dậy:
“Em đã làm gì nó? Bây giờ nó ở đâu? Cho anh xin số phôn và địa chỉ của nó!
“Nào em biết. Nó không muốn cho em biết bất cứ điều gì.”
Ông Sinh như chết điếng :
“Em nói thật đó chứ?!”.
“Em
không dối gạt anh. Dù chúng ta không còn là vợ chồng. Nhưng đối với con
em rất mực thương yêu. Có anh đây em rất mừng, anh sẽ lo cho nó. Nó là
đứa con rất có hiếu. Sự việc không hay xẩy ra, hoàn toàn do lỗi tại em.
Anh đi tìm con dùm em. Cho anh biết thêm là hiện nay nó đang học nghành
y-khoa, sắp ra trường. Anh cứ đi hỏi mấy trường đại học xem sao! Em đã
dò hỏi khắp mọi nơi rồi, nhưng vẫn biệt vô âm tín. Anh mới qua chắc cần
tiền bạc, em giúp.”
Vừa nói, nàng vừa mở bóp lấy cuốn chi phiếu.
Ông Sinh nghe vợ nói một hồi như lùng bùng lỗ tai. Không cần nghe thêm, ông xô ghế đứng dậy.
Nhờ
những người quen biết chỉ dẫn. Ông Sinh đăng tin tìm người trên báo chí
cả Mỹ lẫn Việt, cùng phôn tới tất cả các trường đại học xa gần, vẫn
không có kết qủa. Ở nước Mỹ to lớn này gồm năm mươi tiểu bang, có biết
bao nhiêu trường đại học mà kể, tìm người như tìm kim đáy biển, biết đâu
mà mò. Rồi ông lại suy nghĩ vớ vẩn, nhỡ con bé tự tử. Nghĩ tới, nghĩ
lui làm ông rối trí thêm. Cuối cùng ông đành buông xuôi cho số phận thời
gian.
Để mưu sinh và cũng để tạo cơ
hội tìm kiếm, ông ghi danh đi học khóa đào tạo y công, phụ giúp trong
các bệnh viện, hầu hy vọng có một ngày nào đó gặp được con mình.
Thời
gian cứ thế trôi qua. Ông đã phục vụ rất nhiều bệnh viện trong tiểu
bang California này mấy năm rối, cũng thăm hỏi nhiều rồi, sự hy vọng của
ông càng ngày càng giảm, hầu như tuyệt vọng.
Niềm vui
thú duy nhất của ông hiện thời là mấy con cào cào xanh, mà ông cất rất
kỹ từ khi thăm nuôi tới giờ, dù chúng đã khô héo quắt queo. Mỗi khi nhớ
con ông lại mang ra ngắm nghía, tâm hồn ông lúc đó hoàn toàn chìm đắm
trên khuôn mặt cuả bé Mai.
*
Jennifer
Trần là một bác sĩ trẻ, đẹp, làm việc rất siêng năng, cần mẫn, hay giúp
đỡ mọi người. Ai cần việc gì, khó khăn gì hay trong nhà cần chuyện gì,
cần người thay thế, bác sĩ vui lòng giúp đở, dù đó là ngày nghỉ của
mình.Bác sĩ đã có vị hôn phu cùng phục vụ trong cùng một bệnh viện. Hai
người tính làm đám cưới lâu rồi, nhưng không hiểu vì sao cứ lần này rồi
lại lần khác, không thể thực hiện được. Bạn bè thúc giục, khuyên nhủ,
nàng chỉ cười.. Tuy là người vui tính thích bong đùa, nhưng bác sĩ Trần
vẫn không dấu được nét buồn của mình. Nét buồn đó càng làm tăng thêm vẻ
đẹp dịu hiền, mà ai cũng gọi đùa là “nữ hoàng sầu muộn” Dù còn trẻ, nàng
vẫn không thích nơi hội hè đình đám, những chỗ đông người, mà chỉ muốn
sống cho riêng mình, nhưng đối với bạn hữu nàng cũng quậy ra trò.
Hôm
nay ông Sinh nghỉ không đi làm. Ông rảnh rỗi cùng người bạn gìa đi thăm
cháu gái của ông ta bị bệnh nằm trong bệnh viện. Tiện thể ông mang mấy
con cào mà ông mới thắt đêm qua, cho cháu gái làm qùa.
Ngày
chủ nhật, bệnh viện sao có qúa nhiều ca mổ! Bác sĩ Trần đã thấm mệt, mồ
hôi rịn đầy trán. Nàng lấy khăn mui xoa chấm chấm mồ hôi, bây giờ nàng
mới thực sự được rảnh tay.
Bác sĩ Trần
đi qua dẫy phòng khoa nhi để đến phòng ăn, vì từ sáng đén giờ nàng chưa
có cái gì vào bụng. Những tiếng cười khanh khách của một bé gái nào đó
vang lên từ phòng khoa nhi. Cảm thấy vui vui nàng ghé lại nhìn thử. Một
bé gái, nằm quay mặt vào phía trong, hình như đang giỡn với vật gì đó,
làm cho cô bé khoái chí cười nắc nẻ. Tính tò mò thúc đẩy, nàng rón rén
lại gần, nhìn vào phía trong.. Bất gíác nàng run người lên , mắt mở trợn
trừng. Cô bé đang cho hai con cào cào xanh đá nhau, hai con cào cào
được thắt bằng lá dừa xanh , trông thật là đẹp. Nàng run run cầm lên mân
mê. Hỏi :
“Ở đâu bé có hai con cào cào này?”.
Như sợ bị la mắng, chơi đồ chơi trong phòng bệnh. Cô bé phân bua:
“Không phải của con mua, mà của ông gìa lúc nẫy cho con”.
Bác sĩ Trần không kềm được xúc động , hỏi dồn:
“Bao lâu rồi ? Ông đi đâu ?”.
Cô bé hốt hoảng :
“Dạ…dạ, con cũng hổng biết. Đã lâu rồi!”
Bác
sĩ Trần hốt hoảng bước ra khỏi phòng, dáo dác nhìn quanh. Mặc kệ cho
bụng đói, nàng chạy từ phòng nọ qua phòng kia, từ dẫy nọ qua dẫy kia để
tìm kiếm. Trước sự lạ lùng đó, mọi nhân viên trong bệnh viện đều vây lại
hỏi thăm, Nàng hỏi bâng quơ :
“Có ai thấy ông gìa nào đó trong bệnh viện không?”
Trước câu hỏi ngây ngô đó, mọi người đều không nín được cười, nhưng không ai dám cười trước vẻ nghiêm trọng của bác sĩ Trần.
Trong
bệnh viện này, biết bao nhiêu ông gìa, bà cả đi thăm con cháu, người
thân. Cảm thấy câu hỏi của mình qúa ngớ ngẩn, nàng cười gượng :
“Thôi. Không có gì, cám ơn các bạn.”
Tuy
nói vậy nhưng trong lòng nàng vẫn không yên, tự nghĩ: ”Chỉ có cha mình
mới thắt kiểu đó, nhưng ông đã chết rồi mà! Chẳng lẽ vì quá nhớ cha mà
đâm ra mê sảng ?.!”
Thôi đi ăn cơm!.
Bác
sĩ Trần, chính là bé Mai. Từ khi theo mẹ đi thăm nuôi cha, trở về nhà,
không ngày nào bé không nghĩ đến cha của mình. Ngày vượt biển ra đi, bé
nhất định không chịu, đợi ngày cha trở về đi cùng. Vì sự hăm dọa của ông
bà ngoại cùng những lời khuyên giải của mẹ, bé đành chịu phép. Sang đến
Mỹ bé nhất định phải học giỏi để có tiền gửi cho bà ngọại đi thăm nuôi
cha đều đều. Bé sẽ nhẩy cao, sẽ cứng cáp như những con cào cào xanh mà
cha đã từng nói.
Cuộc vượt biên êm
xuôi. Sau hơn một năm ở trên đảo, bé cùng mẹ được định cư tại Hoa-Kỳ.
Dòng đời đưa đẩy, mẹ lấy chồng khác, một anh chàng Mỹ giầu có.. Cô bé có
thêm hai đứa em gái.
Giờ đây, bé Mai đã mười chín tuổi,
cái tuổi bước vô ngưỡng cửa đại học. Càng lớn nàng càng giống cha. Đã
nhiều lần nàng biên thư và gửi tiền cho ngoại để hỏi thăm tin tức, cùng
sức khỏe của cha trong trại tù, nhưng không ai trả lời. Có hỏi mẹ, chỉ
được biết :
“Cha con đã chuyển đi ra ngoài Bắc rồi. Bà ngoại đã già không thể đi được.”
Nói sao nàng tin vậy. Mỗi lần nhớ ông, nàng lại mang hình hai cha con ra ngắm. Tấm hình nàng đã mang theo khi đi vượt biên.
Sống
chung đụng trong cùng một mái nhà.. Điều làm cho nàng ghê tởm, xấu xa,
bỉ ổi nhất là anh chàng Mỹ kia cứ nhởn nhơ mặc quần lót đi trong phòng
khách. Có lần hắn đã dám xàm xở ôm nàng xờ xoạng khi không có mẹ ở nhà.
Từ đó nàng đã bỏ nhà đi sang tiểu bang khác, chỉ biết học và làm việc tự
lo cho bản thân, lâu lâu hỏi thăm mẹ qua điện thoại công cộng.
Vào một ngày, khi điện thoại về thăm mẹ, được bà báo cho biết : Cha đã chết trong tù!
Mọi vật như xụp đổ. Nguồn hy vọng bám víu cuối cùng cũng không còn. Thế là hết!
Nàng
đã khóc đến khô cả nước mắt, cuộc sống như tẻ nhạt, chán chường không
còn tha thiết gì nữa! Nàng chỉ biết vùi đầu vào sách vở cho quên nỗi
buồn, và phải chiến đấu, chiến đấu, cứng cáp như những con cào cào xanh
mà cha nàng khi còn sống hằng mong mỏi. Cuối cùng nàng cũng lấy được
mảnh bằng chuyên khoa giải phẩu.
Qua tin tức báo chí.
Bác sĩ Trần được biết các sĩ quan tù cải tạo được chính phủ Mỹ cứu xét
cho định cư tại Hoa kỳ theo chương tình HO. Không hiểu sao nàng hồi hộp
lạ thường.
Rồi quyết định bỏ miền đông tuyết phủ, trở về với nắng ấm Cali.
Hôm
nay là ngày lễ Thanksgiving day, nàng muốn đi ra biển. Không phải để
tắm hay hóng gió mà nàng muốn làm một công việc, công việc này nàng đã
dự tính từ lâu nhưng vì qúa bận rộn nên không thể thực hiện được. Nhân
ngày lễ tạ ơn nàng phải làm điều gì để nhớ ơn cha. Nàng sẽ thắt thật
nhiều, thật nhiều con cào cào thả xuống biển, để chúng mang lời cầu
nguyện của nàng đến người cha thân yêu. Nàng tin tưởng rằng ở nơi xa xăm
vĩnh cửu nào đó cha nàng sẽ nhận được lời khấn nguyện này.
Nàng
rủ bác sĩ Hải (vị hôn phu) cùng đi chơi biển. Chàng rất thích thú lẫn
ngạc nhiên về lời yêu cầu này, khác với bản tính trầm lặng không thích
nơi ồn ào của nàng từ trước đến giờ, bèn okay chấp nhận liền.
Trong
khi chờ đợi vị hôn phu đi mua thức ăn. Nàng dã kiếm đựợc khá nhiều lá
dừa xanh, cẩn thận chau chuốt tước từng lá và bắt đầu thắt những con cào
cào.Nàng để hết tâm trí vào công việc, chìm đắm trong niềm thương nhớ
cha.
Ngoài kia. Sau khi đã mua thức ăn,
trên đường trở về chỗ cũ nơi bãi biển, chàng thấy một đám con nít đang
vây chung quanh một cụ già Việt-Nam, trên tay đứa nào cũng cầm một con
cào cào, thấy hay hay chàng cũng xin một con.
Vừa đi vừa
ngắm con cào cào, chàng cảm thấy nó rất đẹp và còn có vẻ oai phong nữa.
Chàng sẽ cho vị hôn thê, chắc nàng sẽ thích thú lắm! Về đến nơi. Thật,
chàng không thể tin vào mắt mình, nàng cũng đang thắt…..con cào cào.
“Em đang làm gì vậy.”
“Thắt con cào cào.”
Chàng cầm con cào cào mới xin được, vẫy vẫy trước mặt nàng.
“Anh cũng có một con.”
Nhìn con cào cào, mặt nàng tái mét, hỏi dồn:
“Ở đâu anh có nó?”
Chàng chỉ về hướng đám trẻ:
“Một cụ già Việt-nam cho anh.”
Chẳng
nói chẳng rằng, nàng nắm tay chàng chạy như bay về hướng chỉ. Một ông
già, tóc bạc qúa nửa. đeo cặp kiếng lão, Hai tay đang thoăn thoắt thắt
những con cào cào. Dù thời gian, tuổi tác có thay đổi, nhưng với hình
dáng kia, nét mặt kia đã in sâu vào tâm khảm, nàng không thể nhầm được,
chính là cha nàng. Qúa xúc động, nàng ngất xỉu.
Sự
việc xẩy ra qúa đột ngột, bác sĩ Hải hoảng hốt la cầu cứu. Ông Sinh
(vâng, chính ông Sinh) ở vị trí gần nhất nghe tiếng hét vội vàng nhào
tới. Ông vội thọc tay vào túi quần lấy lọ dầu xanh thoa lên hai thái
dương cô gái, giựt tóc mai, giựt gân cổ. Bỗng người ông run lẩy bẩy, tim
như muốn ngừng đập, khi ông thấy nốt ruồi son trên cổ cô gái, trên tay
cô còn nắm chặt con cào cào. Như có linh tính, ông định thần nhìn kỹ
khuôn mặt thiếu nữ. Ông gào lên trong tiếng nức nở, nghẹn ngào:
“Trời ơi! Mai….Mai, con tôi.”
Cũng
vừa lúc xe cứu thương tới nơi, đưa bệnh nhân lên xe. Ông Sinh, bác sĩ
Hải cũng vội vàng leo lên theo. Cầm tay con gái, lòng ông Sinh bồi hồi
xúc động, ông không nghờ gặp con trong hoàn cảnh này. Hai hàng nước mắt
ngắn, dài chẩy trên hai gò má nhăn nheo. Nhưng ông cảm thấy sung sướng
và ấm áp vô cùng.
*
Tin bác sỹ Trần thị
Mai gặp lại được cha già sau hai mươi năm xa cách đã loan truyền khắp
trong bệnh viện, một vụ trùng phùng đầy đau thương, thích thú, khiến ai
cũng mủi lòng.
Hôm nay nhà bác sỹ Mai thật đông đảo
khách tới thăm, bạn bè, thân hữu nghe tin mang hoa tới chúc mừng. Trong
mấy năm qua , bây giờ mọi người mới thấy được nét tươi vui, rạng rỡ thực
sự trên khuôn mặt u sầu của vị bác sỹ mà họ mến yêu. Nhưng người sung
sướng nhất vẫn là bác sỹ Hải.
Dương Thịnh
Đêm đêm mẹ đốt cây hương ngát / Mẹ khấn đôi lời con có nghe / Vì nước bỏ mình là bất tử / Xưa nay chinh chiến mấy ai về.
Saturday, April 4, 2020
Friday, April 3, 2020
Con Tàu Chỉ Có Một Người – Phan Xuân Sinh
Anh cũng như bao nhiêu người sĩ quan khác ở miền Nam. Sau 75, đều
bị tập trung cải tạo. Những tháng đầu anh được vợ gửi cho một hai lần đồ
ăn, sau đó thì biệt tăm. Anh được phép viết thư về cho gia đình nhiều
lần. Nhưng không thấy vợ trả lời. Như thế kể như anh bị vợ bỏ. Sống
trong trại cải tạo mà không có người thăm nuôi, không được tiếp tế đồ
ăn, người đó kể như chết. Anh biết mình nằm trong số người bất hạnh đó.
Nên anh phải tự lực cánh sinh. Nói chơi cho vui vậy chứ tự lực gì nổi.
Có được thăm nuôi hay không, người tù nào cũng co cúm lại. Thức ăn dành
dụm từng chút. Ra ngoài lao động, con mắt của họ dáo dác tìm bất cứ thứ
gì có thể bỏ vào bụng cho đở đói. Cho nên người có quà thăm nuôi cũng
như dân mồ côi, khi ra ngoài lao động cũng xục xạo tìm kiếm đào bới như
nhau. Ai tìm được nấy ăn.
Chuyển ra ngoài Bắc anh lại càng tơi tả hơn. Không quen với cái lạnh
thấu xương, bụng thì đói meo. Trông anh như một ông cụ già hom hem. Công
việc nặng nhọc làm cho anh còm lưng. Ngày trở về thì không thấy hy
vọng. Anh cứ nghĩ mình kéo dài tình trạng đói khát, nặng nhọc nầy mãi,
thì thế nào cũng bỏ xương tại cái xứ đèo heo hút gió nầy. Trốn trại thì
không can đảm. Mà cũng chẳng biết trốn đi đâu, giữa núi rừng trùng trùng
điệp điệp. Đành phải bó tay chịu trận.
Bỗng nhiên một hôm anh nhận được gói đồ ăn gửi bằng đường bưu điện. Anh nghĩ chắc vợ anh gửi cho. Nhưng khi cầm gói quà trên tay nhìn tên người gửi lạ hoắc, anh phân vân, đắn đo. Chắc chắn đây là một sự nhầm lẫn. Tuy nhiên vì đói quá anh không có can đảm hoàn trả lại cho cán bộ, khi mà sự thèm khát đã lên tới tột đỉnh. Mà chắc gì gói quà được trả về cho khổ chủ của nó! Cán bộ trại đời sống cũng chẳng hơn tù bao nhiêu, thế nào họ cũng chia nhau. Trong lúc mình đang cần, anh an ủi mình như vậy. Anh về trại. Bạn bè tới chúc mừng anh. Như vậy, kể từ nay anh thuộc thành phần có thăm nuôi. Không còn mồ côi như trước. Gói quà đã được mở ra kiểm soát, cột lại sơ sài trước khi giao cho anh nhận lãnh.
Ai nhận quà về đến chỗ nằm của mình, đều bóc ngay ra. Còn anh thì không dám đụng đến. Lúc đầu cái đói, cái thèm khát lâu ngày làm cho anh bấn loạn. Anh nghĩ nhận quà về bóc ra ngay ăn một bữa cho đã. Nhưng khi cầm gói quà trên tay, không phải tên vợ mình gửi, anh đâm ra đắn đo. Anh nằm gác tay lên trán nghĩ ngợi về tên người gửi. Anh đào bới hết trí nhớ, vẫn không tìm ra tên người đàn bà nầy, được viết trên góc của gói quà. Bạn bè tù cùng phòng với anh thì nghĩ khác. Họ cho rằng lâu quá không được nhận quà, không nghe tin tức vợ, nên anh muốn kéo dài cảm giác sung sướng. Không bóc vội gói quà. Thế nhưng rồi cũng đến lúc gói quà được mở. Sau khi ăn cơm chiều xong, anh leo lên chỗ nằm, ngồi quay mặt vào vách. Anh trịnh trọng mở gói quà. Quan trọng với anh bây giờ không phải là trong gói quà có những gì để ăn. Giữa lúc nầy, sự thèm khát bỗng nhiên trốn mất. Mà là lá thư trong gói quà nói gì.
”Anh yêu quý,
Anh đã mất tích từ lâu, tưởng rằng anh đã chết. Em và các con lập bàn thờ mấy năm nay. Không ngờ, cách đây mấy hôm, vô tình đến thăm một người bạn, có người anh được thả ra từ trại cải tạo miền Bắc. Em hỏi thăm là có bao giờ anh nghe tên người nào là Nguyễn Hữu trong trại của anh không? Anh đó trả lời là có một người cùng đội sản xuất với anh mang tên ấy, trước là đại úy thuộc Sư Đoàn 2, người Bắc Kỳ. Từ bao nhiêu năm nay không được ai thăm nuôi. Em nghe xong muốn quỵ xuống, đúng là anh rồi. Thế là từ nay em phải hạ bàn thờ xuống. Các con có bố chứ không còn mồ côi cha nữa. Em mừng quá, mang tên anh, tên đội, tên trại đến Ủy Ban Quân Quản Thành Phố để xin giấy phép gửi quà thăm nuôi. Lý do vì loạn lạc, di chuyển nhiều lần, địa chỉ không còn chỗ cũ, nên không nhận được giấy gửi quà thăm nuôi.
Anh đừng để vi phạm nội quy, ráng học tập tốt, sẽ được nhà nước khoan hồng để sớm về đoàn tụ với gia đình. Có dịp được trại cho phép viết thư, anh viết thư về cho em biết sức khỏe của anh. Anh cần những gì lần sau có giấp phép em sẽ gửi ra cho anh. Em và các con bao giờ cũng mong chờ anh về.
Thư nầy không viết dài được, em ngưng đây. Chúc anh luôn luôn khỏe mạnh.
Vợ anh
Lê Thị Hồng”
Anh không dám đọc lại lần thứ hai. Một sự trùng hợp lạ kỳ, anh và ông Hữu kia cùng thuộc Sư Đoàn 2, cùng là người Bắc. Chỉ khác nhau là ông ta mất tích trong chiến tranh, còn anh thì trình diện đi cải tạo. Người đàn bà nầy vì quá thương chồng không điều tra cặn kẽ, chứ trong một sư đoàn, chuyện trùng tên, trùng họ là chuyện bình thường. Mà cán bộ kiểm duyệt thư từ cũng lơ đễnh, không thấy chữ mất tích từ đầu lá thư. Anh nhìn gói đồ ăn mà lòng trĩu nặng. Một bên vợ người ta, chồng mất tích bao năm mà vẫn chờ đợi. Còn mình sống sờ sờ vợ chẳng thèm ngó ngàng tới.
Đọc thư xong, anh bỏ thư lại trong gói đồ rồi cột lại như cũ. Anh nằm gác tay lên trán suy nghĩ miên man. Các bạn chung phòng đến hỏi thăm tin tức gia đình anh ra sao, anh trả lời nhát gừng cho qua chuyện. Họ nghĩ, có lẽ gia đình anh đang gặp rắc rối gì đó, nên anh buồn ít nói.
Sáng hôm sau ra lao động, anh không mang thêm cái gì để ra ăn buổi trưa. Anh không biết phải làm sao với gói quà mà anh đã nhận. Anh cảm thấy mình giống như một thằng ăn trộm, oa trữ đồ gian. Không biết phải giải quyết thế nào cho ổn thỏa đây. Mấy năm trời đói khát, thèm ăn. Chụp được một con dế, con cóc thì xem như được một bữa tiệc lớn. Thế mà khi nhận quà có thịt chà bông, cá khô, muối sả ớt v.v… anh lại sờ sợ. Lương tâm ư? Làm gì có thứ nầy ở đây. Anh không biết phải diễn tả thế nào tâm trạng của anh lúc ấy. Vì đụng vào đó, anh thấy mình như bị phạm tội. Buổi trưa, anh ra nhận cơm với vài cọng rau muống, nước muối. Anh lại thèm các thứ mà mình đang giữ. Sự thèm khát lại bắt đầu dằn vặt, hành hạ anh. Anh không thể nào chống lại nổi sự đòi hỏi hợp lý nầy. Thôi thì tới đâu hay tới đó.
Ngày hôm sau anh mang tí ti đồ ăn theo, chia cho một số bạn cùng cảnh ngộ với anh, nghĩa là thuộc dạng mồ côi, không có ai thăm viếng hay gửi quà. Họ ăn một cách ngon lành. Anh ăn cũng ngon miệng nhưng khi ăn xong, anh thấy nghèn nghẹn. Mấy ngày đầu anh mang tâm trạng nầy, nhưng dần dần về sau nguôi ngoai. Hình như sự phạm tội thường xuyên, ít bị lương tâm cắn rứt hơn là phạm tội một đôi lần.
Vài ba tháng sau đó, anh được trại cho phép viết thư về gia đình. Đây là một điều khó khăn cho anh. Gửi thư cho vợ hay gửi cho chị Lê Thị Hồng? Gửi cho vợ thì bao nhiêu cái vẫn biệt vô âm tín, còn gửi cho chị Lê Thị Hồng, thì biết nói sao cho chị hiểu là anh không phải là chồng chị ta. Nếu thư không bị kiểm duyệt thì chuyện nầy dễ nói. Còn thư tù như anh thì qua biết bao nhiêu cửa ải. Biết đâu khi cán bộ kiểm duyệt phát giác chuyện nầy sẽ tống cổ anh vô cùm. Cái tội mạo nhận ẩu để lãnh đồ thăm nuôi. Một lần cũng là mang tội, mà cái tội nầy bạn bè biết được thì khinh khi lắm. Nhưng mọi chuyện đã lỡ rồi, đành phải theo lao vậy. Anh đánh liều viết theo cái kiểu người chồng viết cho vợ.
“Hồng em,
Cám ơn em rất nhiều về gói quà vừa rồi em gửi cho. Em đừng lo gì cho anh nữa, ở đây anh được nhà nước cách mạng lo cho đầy đủ, ăn uống không thiếu. Em yên tâm để dành lo cho các con. Em ở nhà cố gắng dạy dỗ các con nên người, cố gắng chấp hành chính sách và pháp luật của nhà nước cách mạng.
Nhờ ơn cách mạng, nhờ ánh sáng soi đường, nhờ chính sách khoan hồng của nhà nước ta. Anh học tập đã hiểu thế nào con đường lầm lẫn của mình trước đây. Anh đã ăn năn hối cải và mong sao sau khi được khoan hồng trở về với gia đình, anh sẽ làm lại cuộc đời tốt hơn. Đừng lầm lẫn đi theo con đường cũ nữa, phải sống hòa đồng với nhân dân và tuân thủ pháp luật nhà nước.
Nhắc lại cho em rõ, đừng gửi quà cho anh nữa. Ở đây anh ăn uống rất đầy đủ, hãy dành dụm cho con, lo cho tương lai các con.
Cầu chúc em và các con khỏe mạnh.
Chồng em
Nguyễn Hữu”
Anh nhắc lại hai lần chữ “lầm lẫn”, để chị Hồng biết đoán ra mọi sự, không dám viết đi viết lại nhiều lần, sợ cán bộ trại nghi ngờ. Hai ngày sau, văn phòng trại gọi anh lên làm việc. Anh điếng hồn, không biết chuyện gì xẩy ra. Có lẽ vì mấy chữ lầm lẫn đó sao? Người kiểm duyệt sao thông minh quá vậy. Anh vừa đi, vừa tìm cách chạy tội. Nhưng không nghĩ ra cách nào giải thích, anh đổ liều, cứ chối đại ra sao thì ra. Mỗi lần gọi người nào một cách bất thần như vậy, là người đó có vi phạm điều gì. Các bạn tù cùng phòng lo lắng cho anh.
Anh bước vào phòng cán bộ quản giáo, đầy lo âu và không biết chuyện lành dữ ra sao. Người công an chấp cung ngồi trước lá thư của anh viết cho chị Hồng. Anh ta tươi cười mời anh ngồi đối diện, rút trong túi gói thuốc lá mời anh. Một thái độ thân thiện lạ lùng. Anh rút một điếu và chậm rãi hút. Người cán bộ nhìn anh nói: “Trong trại nầy, ai viết thư về cho gia đình cũng xin cái nầy cái nọ. Riêng anh thì không, lại bảo chị đừng gửi gì cả. Cũng lạ thật. Anh thật sự không thấy cần thiết sao?”
Anh lắc đầu: “Nhiều năm không được thăm nuôi, quen rồi. Hơn nữa gia đình tôi cũng nghèo. Vợ tôi lo cho các cháu đủ mệt. Lo thêm cho tôi, kiệt sức mất.“
“Anh nghĩ vậy cũng đúng. Các anh ngày trước sung sướng quen rồi, không quen chịu cực khổ. Mới có vài năm đã thấy thèm khát đủ thứ. Chúng tôi mấy chục năm đánh giặc. Ăn uống kham khổ. Không hề hé răng.”
Người cán bộ nói tiếp: ”Chúng tôi có bỏ đói các anh đâu. Nuôi ăn đầy đủ đấy chứ. Chúng tôi cũng muốn cho các anh về với gia đình. Nghẹt vì các anh chưa thông suốt chính sách cách mạng, nên chúng tôi phải tạm giữ thêm một thời gian nữa.”
Anh ấp úng: “Vâng, thưa cán bộ.”
Người cán bộ nhìn thẳng vào mặt anh, trịnh trọng nói: ”Thay mặt Quản Giáo trại, tôi biểu dương tinh thần ý thức của anh. Thư anh gửi có giá trị thuyết phục. Anh là trại viên gương mẫu, sẽ được Ban Quản Giáo Trại đề bạt để anh được về sớm với gia đình.”
Mấy thằng làm ăng-ten, cũng nghe cái lời hứa cho về sớm. Nên chúng nó ra sức kiếm điểm, mà có thấy thằng nào được về trước đâu. Anh cười thầm trong bụng với cái chiêu dụ nầy.
Người cán bộ tiễn anh ra cửa và bắt tay thân thiện. Anh hú hồn, thoát được sự căng thẳng. Anh về chỗ nằm. Mấy người bạn tới hỏi thăm tin tức về chuyện nầy. Anh trả lời với họ là bị cán bộ cảnh cáo, vì lá thư viết không đúng tiêu chuẩn. Anh nghĩ thế nào rồi câu chuyện nầy cũng đổ bể. Rồi cũng sẽ đi cùm vài tháng, với cái tội mạo nhận ẩu để lấy quà gửi. Chị Hồng thế nào cũng nhận ra nét chữ, và chữ ký của anh, không phải của chồng. Không cần mấy chữ “lầm lẫn” kia, chị Hồng cũng hiểu hết mọi sự là chồng chị đã chết.
Ngày nầy qua tháng khác, anh vẫn lao động đều đặn. Anh vẫn yên tâm là mình trở lại với vị trí mồ côi muôn thuở. Anh không còn hy vọng có ai đó ngó ngàng tới để gửi cho chút quà thăm nuôi. Người ta có gia đình gửi quà. Người ta có quyền tưởng tượng các món ăn để vỗ an cho cái dạ dày. Vì thế nào có ngày cũng được thăm nuôi, món ăn mình ao ước sẽ được người nhà mang đến. Còn anh chỉ ăn hàm thụ các món đó thôi. Cũng không sao nghĩ ra, cái đói khát triền miên, đã làm cho anh chai lì mọi ao ước. Thần kinh tê liệt và suy sụp đến tận cùng.
Nhận quà thăm nuôi bằng bưu điện lại có tên anh. Lại thêm một lần ngạc nhiên. Lần trước anh không dám mở gói quà, vì biết đó không phải là quà của mình. Không dám đọc thư vì biết thư đó không viết cho mình. Lần nầy thì ngược lại. Về đến chỗ nằm thì anh xáo tung để tìm lá thư ra đọc. Thư viết cũng thắm thiết như lần trước, không hề đá động gì sự lầm lẫn mà anh đã nhấn mạnh. Nét chữ cứng cỏi thể hiện người viết có học thức, thế mà tại sao không biết mọi sự lầm lẫn đó. Trong thư nầy chị Hồng lại hiểu sai vấn đề, nghĩ rằng vì mấy năm không nhận quà thăm nuôi, nên anh giận dỗi. Biết làm sao đây, khi mà anh không có khả năng bày tỏ tự sự. Mặc kệ, cứ thản nhiên mọi chuyện, cứ ăn cho sướng. Phó mặc mọi chuyện cho trời đất. Anh đổ ra cáu kỉnh và lì lợm. Hình như anh muốn tạo ra tình huống nầy, để dễ dàng nuốt trôi mấy miếng thực phẩm thăm nuôi, mà không thẹn với lương tâm.
Mỗi lần sực nhớ lại chuyện quà cáp, anh vội vàng xua đuổi ngay. Nhủ với lòng mình như vậy, nhưng dễ gì quên được điều đó. Mỗi đêm, khi cơn đói hành hạ, các món ăn trong trí tưởng tượng tuôn ra, là hình ảnh chị Hồng lại hiện lên. Đẹp hay xấu lúc nầy đối với anh chẳng cần thiết, nhưng tấm lòng thương chồng của chị đã làm cho anh cảm phục. Thực sự, anh thương hại cho hoàn cảnh côi cút của chị và mấy đứa con. Sống giữa sự khó khăn chung của xã hội, nuôi mấy miệng ăn cũng thấy khó lắm rồi, đừng nghĩ gì xa xôi hơn như chuyện thăm nuôi chồng. Tệ hại hơn nữa, đây không phải là chồng của mình.
Mọi chuyện vẫn bình thường, ngày nầy qua ngày khác trong trại cải tạo. Anh vẫn sinh hoạt chung với các anh em. Bỗng nhiên một ngày, sau khi đi lao động về, anh được loa phóng thanh gọi tên ra khu thăm nuôi, có vợ là Lê Thị Hồng đến thăm. Lần nầy thì anh bối rối thật sự. Anh biết sự gặp nhau nầy rất bẽ bàng và ngượng ngập. Mọi sự thật sẽ làm cho chị Hồng đau khổ biết mấy. Với anh thì không sao, anh đã biết trước mọi chuyện, anh đã chuẩn bị tinh thần. Dù gì thì anh cũng phải trả lại sự thật nầy. Anh không muốn nó cứ mãi kéo dài, cứ mãi gây cho anh cảm giác phạm tội. Anh cố gắng diễn tả cho chị ấy biết, anh không phải thứ lừa đảo để kiếm miếng ăn. Dù có chết anh cũng chấp nhận, chứ không thể thuộc loài vô loại nầy. Anh nói nhiều, nhiều hơn nữa, để cảm ơn, để chị tha thứ. Anh sợ một vài tháng bị cùm, sợ mất mấy miếng ăn, mà phải để lại sự hiểu lầm trầm trọng. Để chị phải lặn lội khó nhọc, leo đèo vượt suối, từ Sài Gòn ra tận nơi đây thăm một người mà không phải là chồng mình.
Người cán bộ phụ trách dẫn anh ra khu trại thăm nuôi. Từ xa anh nhìn thấy người đàn bà đang ngồi nơi bàn chờ đợi. Tự nhiên anh hồi hộp. Tự nhiên chân anh bước cảm thấy nặng nề. Rồi anh cũng bước tới chỗ chị ngồi. Tim anh muốn vọt ra khỏi lồng ngực. Anh e thẹn như con gái. Thấy xấu hổ và hối hận. Chị Hồng nhìn anh rồi bật khóc. Chị khóc nức nở. Mặt cúi xuống bàn. Tiếng khóc ấm ức như đang gặp sự bất trắc. Anh ngồi vào vị trí đối diện. Nước mắt anh cũng chảy dài. Anh không nói được với chị câu gì. Những gì anh đã chuẩn bị bay đi đâu cả. Người cán bộ ngồi ở đầu bàn kiểm soát thấy hai người cứ khóc mãi.. Có lẽ anh ta nghĩ rằng vì vợ chồng lâu ngày xa nhau, thương nhớ chồng chất lâu ngày, để họ khóc cho đã nư. Anh ta cũng chẳng cần để ý tới họ. Anh ta vừa đứng dậy đi ra cửa sổ khạc nhổ, anh chụp ngay cơ hội nói với chị: “Xin lỗi… xin lỗi chị”.
Chị ngẩng mặt lên đưa ngón tay giữa miệng, ngụ ý cho anh biết đừng nói gì thêm. Anh thở dài. Tiếng thở của anh nghe rất não nuột. Nhưng trong tiếng thở ấy, như hàm chứa tất cả những gì anh đã chuẩn bị nói ra với chị. Chị lau nước mắt nhìn anh, rồi ấp úng hỏi anh những câu về sức khỏe, những lời khuyên cố gắng học tập tốt để về với gia đình, cho vừa lòng cán bộ kiểm soát. Chị cũng bịa ra những chuyện là con cái vẫn đi học bình thường, cha mẹ khỏe mạnh, tất cả gia đình, dòng họ, trông anh mau về sớm. Anh chỉ gật đầu mà không thốt được lời nào. Chị khóc chiếm hầu hết thời gian thăm nuôi. Hơn ai hết, anh hiểu tiếng khóc của chị. Mọi hy vọng gặp lại chồng xem như hoàn toàn không còn nữa. Chị khóc cho số phận hẩm hiu của mình, thương cho phần số ngắn ngủi của chồng.
Cán bộ báo cho biết giờ thăm nuôi chấm dứt. Chị đưa tay nắm lấy tay anh. Anh đưa hai bàn tay ra ôm lấy tay chị. Tự nhiên, không biết tại sao anh bật khóc lớn. Có lẽ anh thấy tủi thân. Anh thấy lòng thương hại của chị dành cho anh, đây là lần cuối. Làm sao anh đòi hỏi gì hơn, với người đàn bà không phải là vợ mình. Khóc cho mình, mà cũng thương cho chị lặn lội đường xa tìm chồng. Chị lủi thủi trở về với niềm tuyệt vọng. Rồi anh chị chia tay. Anh gánh phần quà của chị mang tới cho anh, vào trại. Chị đứng dựa vào cột tre nhìn theo. Thỉnh thoảng anh quay đầu ngó lại, lần nào chị cũng đưa tay lên vẫy chào. Mọi người trong trại từ xa nhìn thấy cảnh nầy. Ai cũng thông cảm cho cảnh vợ chồng khắng khít, bây giờ phải lìa xa.
Anh gánh vào tới phạm vi giam giữ, thì các bạn anh chạy ra phụ mang đồ về phòng. Anh đứng lại nhìn ra khu thăm nuôi, đưa tay vẫy chào chị cho đến khi chị ra khỏi cổng trại khuất dạng. Anh lầm lũi về chỗ nằm. Đồ đạc còn để lăn lóc dưới đất. Anh chẳng màng sắp xếp. Anh vẫn chưa kịp định thần lại. Những giây phút thật bất ngờ đến với anh nhanh quá. Suốt trong nửa giờ gặp nhau, anh chỉ nói ra được hai tiếng xin lỗi. Màn kịch do chị diễn ra thật xuất sắc, xuất sắc đến nỗi anh là người trong cuộc, vẫn cảm thấy rất tự nhiên không ngượng ngịu. Không sao hiểu nổi được lòng chị.
Ngồi nhớ lại cảnh gặp gỡ, khi chị ngước mắt lên nhìn anh. Khuôn mặt chị thật đẹp, đôi mắt thật hiền từ. Anh nghĩ chị cũng đã biết trong mấy lá thư gửi về, không phải là thư của chồng. Thế nhưng chị vẫn hy vọng, mong manh hy vọng. Trong mong manh đó chị đổi một giá cho sự phũ phàng, cay đắng. Có lẽ khi nhận thư hồi âm, sau khi đọc, chị thấy thương hại cho anh, thông cảm nỗi thống khổ của anh. Chị quyết định tiếp tục liên hệ với anh, giúp đỡ anh. Khi ra thăm nuôi, chị vẫn biết anh không phải là chồng, nhưng chị vẫn đi. Để xác định rõ ràng, khi gặp anh tức là chồng chị đã chết. Nghiệt ngã thật. Chị bật khóc, vì thương cho chồng thì ít, mà lại thương anh nhiều hơn. Sống một đời tù tội, lao khổ, bị gia đình bỏ rơi. Dù sao chồng nằm xuống cũng đã lâu, nước mắt của chị đã bao năm khóc cho chồng, bây giờ đã khô cạn. Gặp anh trong một hoàn cảnh thật bi thương, sống giữa một trại tù vô cùng cực khổ, không tin tức gia đình vợ con. Anh đang chơi vơi giữa tận cùng khổ đau, dày xéo trên thân thể những vết hằn tủi nhục. Nước mắt của chị trào ra, khi ngước mắt trông thấy một con người thân thể vừa tiều tụy, vừa đờ đẫn, đang đứng đối diện..
Đêm nay anh nằm đây, nghĩ lại cái cảnh chị lầm lũi bước lên tàu trở về Sài Gòn. Con tàu chạy vùn vụt trong đêm tối. Chỉ còn một mình chị thức, nhìn ra bên ngoài với sự trống vắng. Chị ôm một nỗi buồn sâu lắng. Đất nước đang trải qua một cơn sốt kinh khủng, đày đọa biết bao người lâm vào cảnh khốn cùng. Chị nghĩ sao về anh? Chị có còn giữ liên lạc với anh không?… Dù sau nầy thế nào, dù có giữ liên lạc hay cắt đứt, ơn nầy với anh suốt đời không quên được. Anh hứa với lòng mình, sau khi được trở về, anh sẽ tìm thăm chị. Sẽ nói với chị thật nhiều, cám ơn chị thật nhiều. Thay cho lần gặp gỡ trong trại không nói được.
Anh thấy trên con tàu trở về kia, chỉ có mỗi một mình chị. Còn tất cả đều nhạt nhòa. Một mình chị thôi, chứa trên đó nỗi đoạn trường, bất hạnh của một đời người. Nhưng thật vô cùng quý báu của một tấm lòng. Tội nghiệp chị, con tàu đang chở chị lao vào màn đêm, xé tan bóng tối và lạnh lẽo.
Phan Xuân Sinh
Bỗng nhiên một hôm anh nhận được gói đồ ăn gửi bằng đường bưu điện. Anh nghĩ chắc vợ anh gửi cho. Nhưng khi cầm gói quà trên tay nhìn tên người gửi lạ hoắc, anh phân vân, đắn đo. Chắc chắn đây là một sự nhầm lẫn. Tuy nhiên vì đói quá anh không có can đảm hoàn trả lại cho cán bộ, khi mà sự thèm khát đã lên tới tột đỉnh. Mà chắc gì gói quà được trả về cho khổ chủ của nó! Cán bộ trại đời sống cũng chẳng hơn tù bao nhiêu, thế nào họ cũng chia nhau. Trong lúc mình đang cần, anh an ủi mình như vậy. Anh về trại. Bạn bè tới chúc mừng anh. Như vậy, kể từ nay anh thuộc thành phần có thăm nuôi. Không còn mồ côi như trước. Gói quà đã được mở ra kiểm soát, cột lại sơ sài trước khi giao cho anh nhận lãnh.
Ai nhận quà về đến chỗ nằm của mình, đều bóc ngay ra. Còn anh thì không dám đụng đến. Lúc đầu cái đói, cái thèm khát lâu ngày làm cho anh bấn loạn. Anh nghĩ nhận quà về bóc ra ngay ăn một bữa cho đã. Nhưng khi cầm gói quà trên tay, không phải tên vợ mình gửi, anh đâm ra đắn đo. Anh nằm gác tay lên trán nghĩ ngợi về tên người gửi. Anh đào bới hết trí nhớ, vẫn không tìm ra tên người đàn bà nầy, được viết trên góc của gói quà. Bạn bè tù cùng phòng với anh thì nghĩ khác. Họ cho rằng lâu quá không được nhận quà, không nghe tin tức vợ, nên anh muốn kéo dài cảm giác sung sướng. Không bóc vội gói quà. Thế nhưng rồi cũng đến lúc gói quà được mở. Sau khi ăn cơm chiều xong, anh leo lên chỗ nằm, ngồi quay mặt vào vách. Anh trịnh trọng mở gói quà. Quan trọng với anh bây giờ không phải là trong gói quà có những gì để ăn. Giữa lúc nầy, sự thèm khát bỗng nhiên trốn mất. Mà là lá thư trong gói quà nói gì.
”Anh yêu quý,
Anh đã mất tích từ lâu, tưởng rằng anh đã chết. Em và các con lập bàn thờ mấy năm nay. Không ngờ, cách đây mấy hôm, vô tình đến thăm một người bạn, có người anh được thả ra từ trại cải tạo miền Bắc. Em hỏi thăm là có bao giờ anh nghe tên người nào là Nguyễn Hữu trong trại của anh không? Anh đó trả lời là có một người cùng đội sản xuất với anh mang tên ấy, trước là đại úy thuộc Sư Đoàn 2, người Bắc Kỳ. Từ bao nhiêu năm nay không được ai thăm nuôi. Em nghe xong muốn quỵ xuống, đúng là anh rồi. Thế là từ nay em phải hạ bàn thờ xuống. Các con có bố chứ không còn mồ côi cha nữa. Em mừng quá, mang tên anh, tên đội, tên trại đến Ủy Ban Quân Quản Thành Phố để xin giấy phép gửi quà thăm nuôi. Lý do vì loạn lạc, di chuyển nhiều lần, địa chỉ không còn chỗ cũ, nên không nhận được giấy gửi quà thăm nuôi.
Anh đừng để vi phạm nội quy, ráng học tập tốt, sẽ được nhà nước khoan hồng để sớm về đoàn tụ với gia đình. Có dịp được trại cho phép viết thư, anh viết thư về cho em biết sức khỏe của anh. Anh cần những gì lần sau có giấp phép em sẽ gửi ra cho anh. Em và các con bao giờ cũng mong chờ anh về.
Thư nầy không viết dài được, em ngưng đây. Chúc anh luôn luôn khỏe mạnh.
Vợ anh
Lê Thị Hồng”
Anh không dám đọc lại lần thứ hai. Một sự trùng hợp lạ kỳ, anh và ông Hữu kia cùng thuộc Sư Đoàn 2, cùng là người Bắc. Chỉ khác nhau là ông ta mất tích trong chiến tranh, còn anh thì trình diện đi cải tạo. Người đàn bà nầy vì quá thương chồng không điều tra cặn kẽ, chứ trong một sư đoàn, chuyện trùng tên, trùng họ là chuyện bình thường. Mà cán bộ kiểm duyệt thư từ cũng lơ đễnh, không thấy chữ mất tích từ đầu lá thư. Anh nhìn gói đồ ăn mà lòng trĩu nặng. Một bên vợ người ta, chồng mất tích bao năm mà vẫn chờ đợi. Còn mình sống sờ sờ vợ chẳng thèm ngó ngàng tới.
Đọc thư xong, anh bỏ thư lại trong gói đồ rồi cột lại như cũ. Anh nằm gác tay lên trán suy nghĩ miên man. Các bạn chung phòng đến hỏi thăm tin tức gia đình anh ra sao, anh trả lời nhát gừng cho qua chuyện. Họ nghĩ, có lẽ gia đình anh đang gặp rắc rối gì đó, nên anh buồn ít nói.
Sáng hôm sau ra lao động, anh không mang thêm cái gì để ra ăn buổi trưa. Anh không biết phải làm sao với gói quà mà anh đã nhận. Anh cảm thấy mình giống như một thằng ăn trộm, oa trữ đồ gian. Không biết phải giải quyết thế nào cho ổn thỏa đây. Mấy năm trời đói khát, thèm ăn. Chụp được một con dế, con cóc thì xem như được một bữa tiệc lớn. Thế mà khi nhận quà có thịt chà bông, cá khô, muối sả ớt v.v… anh lại sờ sợ. Lương tâm ư? Làm gì có thứ nầy ở đây. Anh không biết phải diễn tả thế nào tâm trạng của anh lúc ấy. Vì đụng vào đó, anh thấy mình như bị phạm tội. Buổi trưa, anh ra nhận cơm với vài cọng rau muống, nước muối. Anh lại thèm các thứ mà mình đang giữ. Sự thèm khát lại bắt đầu dằn vặt, hành hạ anh. Anh không thể nào chống lại nổi sự đòi hỏi hợp lý nầy. Thôi thì tới đâu hay tới đó.
Ngày hôm sau anh mang tí ti đồ ăn theo, chia cho một số bạn cùng cảnh ngộ với anh, nghĩa là thuộc dạng mồ côi, không có ai thăm viếng hay gửi quà. Họ ăn một cách ngon lành. Anh ăn cũng ngon miệng nhưng khi ăn xong, anh thấy nghèn nghẹn. Mấy ngày đầu anh mang tâm trạng nầy, nhưng dần dần về sau nguôi ngoai. Hình như sự phạm tội thường xuyên, ít bị lương tâm cắn rứt hơn là phạm tội một đôi lần.
Vài ba tháng sau đó, anh được trại cho phép viết thư về gia đình. Đây là một điều khó khăn cho anh. Gửi thư cho vợ hay gửi cho chị Lê Thị Hồng? Gửi cho vợ thì bao nhiêu cái vẫn biệt vô âm tín, còn gửi cho chị Lê Thị Hồng, thì biết nói sao cho chị hiểu là anh không phải là chồng chị ta. Nếu thư không bị kiểm duyệt thì chuyện nầy dễ nói. Còn thư tù như anh thì qua biết bao nhiêu cửa ải. Biết đâu khi cán bộ kiểm duyệt phát giác chuyện nầy sẽ tống cổ anh vô cùm. Cái tội mạo nhận ẩu để lãnh đồ thăm nuôi. Một lần cũng là mang tội, mà cái tội nầy bạn bè biết được thì khinh khi lắm. Nhưng mọi chuyện đã lỡ rồi, đành phải theo lao vậy. Anh đánh liều viết theo cái kiểu người chồng viết cho vợ.
“Hồng em,
Cám ơn em rất nhiều về gói quà vừa rồi em gửi cho. Em đừng lo gì cho anh nữa, ở đây anh được nhà nước cách mạng lo cho đầy đủ, ăn uống không thiếu. Em yên tâm để dành lo cho các con. Em ở nhà cố gắng dạy dỗ các con nên người, cố gắng chấp hành chính sách và pháp luật của nhà nước cách mạng.
Nhờ ơn cách mạng, nhờ ánh sáng soi đường, nhờ chính sách khoan hồng của nhà nước ta. Anh học tập đã hiểu thế nào con đường lầm lẫn của mình trước đây. Anh đã ăn năn hối cải và mong sao sau khi được khoan hồng trở về với gia đình, anh sẽ làm lại cuộc đời tốt hơn. Đừng lầm lẫn đi theo con đường cũ nữa, phải sống hòa đồng với nhân dân và tuân thủ pháp luật nhà nước.
Nhắc lại cho em rõ, đừng gửi quà cho anh nữa. Ở đây anh ăn uống rất đầy đủ, hãy dành dụm cho con, lo cho tương lai các con.
Cầu chúc em và các con khỏe mạnh.
Chồng em
Nguyễn Hữu”
Anh nhắc lại hai lần chữ “lầm lẫn”, để chị Hồng biết đoán ra mọi sự, không dám viết đi viết lại nhiều lần, sợ cán bộ trại nghi ngờ. Hai ngày sau, văn phòng trại gọi anh lên làm việc. Anh điếng hồn, không biết chuyện gì xẩy ra. Có lẽ vì mấy chữ lầm lẫn đó sao? Người kiểm duyệt sao thông minh quá vậy. Anh vừa đi, vừa tìm cách chạy tội. Nhưng không nghĩ ra cách nào giải thích, anh đổ liều, cứ chối đại ra sao thì ra. Mỗi lần gọi người nào một cách bất thần như vậy, là người đó có vi phạm điều gì. Các bạn tù cùng phòng lo lắng cho anh.
Anh bước vào phòng cán bộ quản giáo, đầy lo âu và không biết chuyện lành dữ ra sao. Người công an chấp cung ngồi trước lá thư của anh viết cho chị Hồng. Anh ta tươi cười mời anh ngồi đối diện, rút trong túi gói thuốc lá mời anh. Một thái độ thân thiện lạ lùng. Anh rút một điếu và chậm rãi hút. Người cán bộ nhìn anh nói: “Trong trại nầy, ai viết thư về cho gia đình cũng xin cái nầy cái nọ. Riêng anh thì không, lại bảo chị đừng gửi gì cả. Cũng lạ thật. Anh thật sự không thấy cần thiết sao?”
Anh lắc đầu: “Nhiều năm không được thăm nuôi, quen rồi. Hơn nữa gia đình tôi cũng nghèo. Vợ tôi lo cho các cháu đủ mệt. Lo thêm cho tôi, kiệt sức mất.“
“Anh nghĩ vậy cũng đúng. Các anh ngày trước sung sướng quen rồi, không quen chịu cực khổ. Mới có vài năm đã thấy thèm khát đủ thứ. Chúng tôi mấy chục năm đánh giặc. Ăn uống kham khổ. Không hề hé răng.”
Người cán bộ nói tiếp: ”Chúng tôi có bỏ đói các anh đâu. Nuôi ăn đầy đủ đấy chứ. Chúng tôi cũng muốn cho các anh về với gia đình. Nghẹt vì các anh chưa thông suốt chính sách cách mạng, nên chúng tôi phải tạm giữ thêm một thời gian nữa.”
Anh ấp úng: “Vâng, thưa cán bộ.”
Người cán bộ nhìn thẳng vào mặt anh, trịnh trọng nói: ”Thay mặt Quản Giáo trại, tôi biểu dương tinh thần ý thức của anh. Thư anh gửi có giá trị thuyết phục. Anh là trại viên gương mẫu, sẽ được Ban Quản Giáo Trại đề bạt để anh được về sớm với gia đình.”
Mấy thằng làm ăng-ten, cũng nghe cái lời hứa cho về sớm. Nên chúng nó ra sức kiếm điểm, mà có thấy thằng nào được về trước đâu. Anh cười thầm trong bụng với cái chiêu dụ nầy.
Người cán bộ tiễn anh ra cửa và bắt tay thân thiện. Anh hú hồn, thoát được sự căng thẳng. Anh về chỗ nằm. Mấy người bạn tới hỏi thăm tin tức về chuyện nầy. Anh trả lời với họ là bị cán bộ cảnh cáo, vì lá thư viết không đúng tiêu chuẩn. Anh nghĩ thế nào rồi câu chuyện nầy cũng đổ bể. Rồi cũng sẽ đi cùm vài tháng, với cái tội mạo nhận ẩu để lấy quà gửi. Chị Hồng thế nào cũng nhận ra nét chữ, và chữ ký của anh, không phải của chồng. Không cần mấy chữ “lầm lẫn” kia, chị Hồng cũng hiểu hết mọi sự là chồng chị đã chết.
Ngày nầy qua tháng khác, anh vẫn lao động đều đặn. Anh vẫn yên tâm là mình trở lại với vị trí mồ côi muôn thuở. Anh không còn hy vọng có ai đó ngó ngàng tới để gửi cho chút quà thăm nuôi. Người ta có gia đình gửi quà. Người ta có quyền tưởng tượng các món ăn để vỗ an cho cái dạ dày. Vì thế nào có ngày cũng được thăm nuôi, món ăn mình ao ước sẽ được người nhà mang đến. Còn anh chỉ ăn hàm thụ các món đó thôi. Cũng không sao nghĩ ra, cái đói khát triền miên, đã làm cho anh chai lì mọi ao ước. Thần kinh tê liệt và suy sụp đến tận cùng.
Nhận quà thăm nuôi bằng bưu điện lại có tên anh. Lại thêm một lần ngạc nhiên. Lần trước anh không dám mở gói quà, vì biết đó không phải là quà của mình. Không dám đọc thư vì biết thư đó không viết cho mình. Lần nầy thì ngược lại. Về đến chỗ nằm thì anh xáo tung để tìm lá thư ra đọc. Thư viết cũng thắm thiết như lần trước, không hề đá động gì sự lầm lẫn mà anh đã nhấn mạnh. Nét chữ cứng cỏi thể hiện người viết có học thức, thế mà tại sao không biết mọi sự lầm lẫn đó. Trong thư nầy chị Hồng lại hiểu sai vấn đề, nghĩ rằng vì mấy năm không nhận quà thăm nuôi, nên anh giận dỗi. Biết làm sao đây, khi mà anh không có khả năng bày tỏ tự sự. Mặc kệ, cứ thản nhiên mọi chuyện, cứ ăn cho sướng. Phó mặc mọi chuyện cho trời đất. Anh đổ ra cáu kỉnh và lì lợm. Hình như anh muốn tạo ra tình huống nầy, để dễ dàng nuốt trôi mấy miếng thực phẩm thăm nuôi, mà không thẹn với lương tâm.
Mỗi lần sực nhớ lại chuyện quà cáp, anh vội vàng xua đuổi ngay. Nhủ với lòng mình như vậy, nhưng dễ gì quên được điều đó. Mỗi đêm, khi cơn đói hành hạ, các món ăn trong trí tưởng tượng tuôn ra, là hình ảnh chị Hồng lại hiện lên. Đẹp hay xấu lúc nầy đối với anh chẳng cần thiết, nhưng tấm lòng thương chồng của chị đã làm cho anh cảm phục. Thực sự, anh thương hại cho hoàn cảnh côi cút của chị và mấy đứa con. Sống giữa sự khó khăn chung của xã hội, nuôi mấy miệng ăn cũng thấy khó lắm rồi, đừng nghĩ gì xa xôi hơn như chuyện thăm nuôi chồng. Tệ hại hơn nữa, đây không phải là chồng của mình.
Mọi chuyện vẫn bình thường, ngày nầy qua ngày khác trong trại cải tạo. Anh vẫn sinh hoạt chung với các anh em. Bỗng nhiên một ngày, sau khi đi lao động về, anh được loa phóng thanh gọi tên ra khu thăm nuôi, có vợ là Lê Thị Hồng đến thăm. Lần nầy thì anh bối rối thật sự. Anh biết sự gặp nhau nầy rất bẽ bàng và ngượng ngập. Mọi sự thật sẽ làm cho chị Hồng đau khổ biết mấy. Với anh thì không sao, anh đã biết trước mọi chuyện, anh đã chuẩn bị tinh thần. Dù gì thì anh cũng phải trả lại sự thật nầy. Anh không muốn nó cứ mãi kéo dài, cứ mãi gây cho anh cảm giác phạm tội. Anh cố gắng diễn tả cho chị ấy biết, anh không phải thứ lừa đảo để kiếm miếng ăn. Dù có chết anh cũng chấp nhận, chứ không thể thuộc loài vô loại nầy. Anh nói nhiều, nhiều hơn nữa, để cảm ơn, để chị tha thứ. Anh sợ một vài tháng bị cùm, sợ mất mấy miếng ăn, mà phải để lại sự hiểu lầm trầm trọng. Để chị phải lặn lội khó nhọc, leo đèo vượt suối, từ Sài Gòn ra tận nơi đây thăm một người mà không phải là chồng mình.
Người cán bộ phụ trách dẫn anh ra khu trại thăm nuôi. Từ xa anh nhìn thấy người đàn bà đang ngồi nơi bàn chờ đợi. Tự nhiên anh hồi hộp. Tự nhiên chân anh bước cảm thấy nặng nề. Rồi anh cũng bước tới chỗ chị ngồi. Tim anh muốn vọt ra khỏi lồng ngực. Anh e thẹn như con gái. Thấy xấu hổ và hối hận. Chị Hồng nhìn anh rồi bật khóc. Chị khóc nức nở. Mặt cúi xuống bàn. Tiếng khóc ấm ức như đang gặp sự bất trắc. Anh ngồi vào vị trí đối diện. Nước mắt anh cũng chảy dài. Anh không nói được với chị câu gì. Những gì anh đã chuẩn bị bay đi đâu cả. Người cán bộ ngồi ở đầu bàn kiểm soát thấy hai người cứ khóc mãi.. Có lẽ anh ta nghĩ rằng vì vợ chồng lâu ngày xa nhau, thương nhớ chồng chất lâu ngày, để họ khóc cho đã nư. Anh ta cũng chẳng cần để ý tới họ. Anh ta vừa đứng dậy đi ra cửa sổ khạc nhổ, anh chụp ngay cơ hội nói với chị: “Xin lỗi… xin lỗi chị”.
Chị ngẩng mặt lên đưa ngón tay giữa miệng, ngụ ý cho anh biết đừng nói gì thêm. Anh thở dài. Tiếng thở của anh nghe rất não nuột. Nhưng trong tiếng thở ấy, như hàm chứa tất cả những gì anh đã chuẩn bị nói ra với chị. Chị lau nước mắt nhìn anh, rồi ấp úng hỏi anh những câu về sức khỏe, những lời khuyên cố gắng học tập tốt để về với gia đình, cho vừa lòng cán bộ kiểm soát. Chị cũng bịa ra những chuyện là con cái vẫn đi học bình thường, cha mẹ khỏe mạnh, tất cả gia đình, dòng họ, trông anh mau về sớm. Anh chỉ gật đầu mà không thốt được lời nào. Chị khóc chiếm hầu hết thời gian thăm nuôi. Hơn ai hết, anh hiểu tiếng khóc của chị. Mọi hy vọng gặp lại chồng xem như hoàn toàn không còn nữa. Chị khóc cho số phận hẩm hiu của mình, thương cho phần số ngắn ngủi của chồng.
Cán bộ báo cho biết giờ thăm nuôi chấm dứt. Chị đưa tay nắm lấy tay anh. Anh đưa hai bàn tay ra ôm lấy tay chị. Tự nhiên, không biết tại sao anh bật khóc lớn. Có lẽ anh thấy tủi thân. Anh thấy lòng thương hại của chị dành cho anh, đây là lần cuối. Làm sao anh đòi hỏi gì hơn, với người đàn bà không phải là vợ mình. Khóc cho mình, mà cũng thương cho chị lặn lội đường xa tìm chồng. Chị lủi thủi trở về với niềm tuyệt vọng. Rồi anh chị chia tay. Anh gánh phần quà của chị mang tới cho anh, vào trại. Chị đứng dựa vào cột tre nhìn theo. Thỉnh thoảng anh quay đầu ngó lại, lần nào chị cũng đưa tay lên vẫy chào. Mọi người trong trại từ xa nhìn thấy cảnh nầy. Ai cũng thông cảm cho cảnh vợ chồng khắng khít, bây giờ phải lìa xa.
Anh gánh vào tới phạm vi giam giữ, thì các bạn anh chạy ra phụ mang đồ về phòng. Anh đứng lại nhìn ra khu thăm nuôi, đưa tay vẫy chào chị cho đến khi chị ra khỏi cổng trại khuất dạng. Anh lầm lũi về chỗ nằm. Đồ đạc còn để lăn lóc dưới đất. Anh chẳng màng sắp xếp. Anh vẫn chưa kịp định thần lại. Những giây phút thật bất ngờ đến với anh nhanh quá. Suốt trong nửa giờ gặp nhau, anh chỉ nói ra được hai tiếng xin lỗi. Màn kịch do chị diễn ra thật xuất sắc, xuất sắc đến nỗi anh là người trong cuộc, vẫn cảm thấy rất tự nhiên không ngượng ngịu. Không sao hiểu nổi được lòng chị.
Ngồi nhớ lại cảnh gặp gỡ, khi chị ngước mắt lên nhìn anh. Khuôn mặt chị thật đẹp, đôi mắt thật hiền từ. Anh nghĩ chị cũng đã biết trong mấy lá thư gửi về, không phải là thư của chồng. Thế nhưng chị vẫn hy vọng, mong manh hy vọng. Trong mong manh đó chị đổi một giá cho sự phũ phàng, cay đắng. Có lẽ khi nhận thư hồi âm, sau khi đọc, chị thấy thương hại cho anh, thông cảm nỗi thống khổ của anh. Chị quyết định tiếp tục liên hệ với anh, giúp đỡ anh. Khi ra thăm nuôi, chị vẫn biết anh không phải là chồng, nhưng chị vẫn đi. Để xác định rõ ràng, khi gặp anh tức là chồng chị đã chết. Nghiệt ngã thật. Chị bật khóc, vì thương cho chồng thì ít, mà lại thương anh nhiều hơn. Sống một đời tù tội, lao khổ, bị gia đình bỏ rơi. Dù sao chồng nằm xuống cũng đã lâu, nước mắt của chị đã bao năm khóc cho chồng, bây giờ đã khô cạn. Gặp anh trong một hoàn cảnh thật bi thương, sống giữa một trại tù vô cùng cực khổ, không tin tức gia đình vợ con. Anh đang chơi vơi giữa tận cùng khổ đau, dày xéo trên thân thể những vết hằn tủi nhục. Nước mắt của chị trào ra, khi ngước mắt trông thấy một con người thân thể vừa tiều tụy, vừa đờ đẫn, đang đứng đối diện..
Đêm nay anh nằm đây, nghĩ lại cái cảnh chị lầm lũi bước lên tàu trở về Sài Gòn. Con tàu chạy vùn vụt trong đêm tối. Chỉ còn một mình chị thức, nhìn ra bên ngoài với sự trống vắng. Chị ôm một nỗi buồn sâu lắng. Đất nước đang trải qua một cơn sốt kinh khủng, đày đọa biết bao người lâm vào cảnh khốn cùng. Chị nghĩ sao về anh? Chị có còn giữ liên lạc với anh không?… Dù sau nầy thế nào, dù có giữ liên lạc hay cắt đứt, ơn nầy với anh suốt đời không quên được. Anh hứa với lòng mình, sau khi được trở về, anh sẽ tìm thăm chị. Sẽ nói với chị thật nhiều, cám ơn chị thật nhiều. Thay cho lần gặp gỡ trong trại không nói được.
Anh thấy trên con tàu trở về kia, chỉ có mỗi một mình chị. Còn tất cả đều nhạt nhòa. Một mình chị thôi, chứa trên đó nỗi đoạn trường, bất hạnh của một đời người. Nhưng thật vô cùng quý báu của một tấm lòng. Tội nghiệp chị, con tàu đang chở chị lao vào màn đêm, xé tan bóng tối và lạnh lẽo.
Phan Xuân Sinh
MỘT THÁNG TƯ BUỒN THẢM CỦA 45 NĂM VIỄN XỨ!
Kính dâng những Ngưởi Lính VNCH
Chúng ta lại đang bước vào tháng Tư, những tháng Tư u buồn của
trang sử tỵ nạn mà bất cứ người Việt lưu vong nào trên đất khách đều không khỏi
ngậm ngùi nhớ về nơi mình đã phải bỏ đi và nhiều người vẫn không thể trở về thăm
chốn cũ!
Tưởng niệm Quốc Hận 30 tháng Tư năm nay có lẽ còn sầu thảm hơn 45
lần đã qua. Không khí của đại dịch Vũ Hán bao phủ một mầu tang trên toàn thế
giới, con số tử vong mỗi lúc một cao. Tuần qua, tổng thống Hoa Kỳ đã chính thức
ban hành lệnh “cách ly” cho tất cả công dân trên toàn nước Mỹ cho đến hết ngày
30 tháng Tư, 2020. Và hình như nhiều quốc gia khác trên thế giới cũng đang lần
lượt áp dụng biện pháp này, khiến cho năm nay dù có muốn, chúng ta cũng không thể
tổ chức tụ họp đông đảo để làm lễ tưởng niệm ngày quốc hận như những năm trước
đây. Buồn hơn nữa là sẽ không có bất cứ một trung tâm ca nhạc nào thực hiện các
bộ Video, CD hay DVD để tưởng niệm những tháng năm viễn xứ như ngày trước, vì
hiện trạng sang băng, đĩa lậu và internet đã giết chết thị trường văn hóa nghệ
thuật này.
Trong nỗi niềm và hoàn cảnh đó, một số anh chị em nghệ sĩ tự do đã
hợp cùng đài truyền hình SBTN với phương tiện và chuyên viên điện ảnh sẵn có,
cùng nắm tay nhau một cách vô vụ lợi, chung lưng thực hiện một bộ DVD lịch sử
để tưởng nhớ năm thứ 45, ngày quê hương VN rơi vào tay Cộng Sản. Cá nhân tôi,
được mặc lại bộ quân phục của đơn vị mình phục vụ sau 45 năm xa cách lòng không
khỏi ngậm ngùi. Kỷ niệm chợt bùng về, nhớ lại ngày tôi xuống Lai Khê trình diện
đại úy Nguyễn Văn Quý, trưởng phòng báo chí của Sư Đoàn 5 Bộ Binh vào đúng Mùa
Hè Đỏ Lửa 1972, tiếp theo đó là những đêm dài nơi chiến tuyến. Tôi lại thích
viết về cuộc đời của những người lính thách đố với cái chết, luôn luôn tình
nguyện đi tuyến đầu, vì thế nên đêm đêm thường ngồi với các toán Biệt Kích của
Sư Đoàn, say sưa nghe họ kể những trận đụng độ nẩy lửa, vừa hãnh diện với bao
chiến công, vừa xót xa với những mất mát!
Nhìn ca sĩ Diễm Liên mặc chiếc áo dài đen trình bầy nhạc phẩm Người
Tình Không Chân Dung, thì cả một trời kỷ niệm hiện về với hình ảnh nữ tài tử
Kiều Chinh trong bộ phim này của gần 50 năm về trước. Nghe Thế Sơn hát Người Ở
Lại Charlie trong bộ quân phục Dù, để nhớ về cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo, thân
phụ của người bạn học cùng lớp với Thế Sơn, ai ai cũng nhận ra nỗi xúc động,
đôi lúc nghẹn ngào trong tiếng hát của anh. Nhìn Thanh Trúc với Nếu Vắng Anh của
nhạc sĩ Anh Bằng, thì không ai không khỏi nhớ đến khuôn mặt cùng giọng hát khả
ái của nữ ca sĩ Lệ Thanh một thuở hoàng kim với tình khúc kỷ niệm đầu đời của
những chàng trai trong thời gian đầu cuộc chiến, 1960... Và còn nhiều nhiều
nữa, Hồ Hoàng Yến, Quốc Khanh, Nguyên Khang, Hoàng Thục Linh, Vũ Anh Thư, Huỳnh
Phi Tiễn, Ca Đoàn Ngàn Khơi... còn Trả Lại Em Yêu, Cho Một Người Nằm Xuống, Thương
Vùng Hỏa Tuyến, Một Chuyến Bay Đêm, Tôi Nhớ Tên Anh, dĩ nhiên không thể quên
Chiến Sĩ Vô Danh... và đặc biệt là Thề Không Phản Bội Quê Hương! Gần 30 tiết
mục với hơn 50 ca sĩ góp mặt. Đối với tôi, đây quả là một công trình phi thường
mà anh chị em nghệ sĩ, các chuyên viên, và các tình nguyện viên có thể thực
hiện được trong giai đoạn cùng hoàn cảnh
hiện nay.
Hồ
Hoàng Yến với “Trả Lại Em Yêu”
Tôi chắc chắn là nếu không vì lòng yêu quê hương, đất nước, không
vì tình cảm dành cho những người lính QLVNCH, những người đã bị bỏ rơi, và nhất
là nếu không có sự phù hộ của những anh linh tử sĩ, thì có lẽ khó ai có thể
thực hiện được một tác phẩm nghệ thuật có tính cách lịch sử để lại cho hậu thế
những hình ảnh trung thực của cuộc chiến đấu đầy chính nghĩa để bảo vệ tự do,
dân chủ cho VN. Và cũng khó có một tác phẩm âm nhạc nào thể hiện được lòng biết
ơn chân thành cùng sự ngưỡng mộ đối với những tấm gương hy sinh quả cảm của
người lính VNCH để bảo vệ miền Nam VN, tiền đồn của thế giới tự do bằng DVD “Những
Người Lính Bị Bỏ Rơi”!
Thế Sơn và “Người Ở Lại Charlie”
Ước muốn duy nhất của anh chị em nghệ sĩ cùng nhóm thực hiện của
chúng tôi là mong mỏi mỗi gia đình người Việt tỵ nan nên có một bộ DVD này, vừa
để thưởng thức âm nhạc, vừa dùng làm tài liệu dành cho con cháu mỗi khi chúng muốn
tìm hiểu về cuộc chiến VN, và quan trọng hơn cả là để tưởng niệm quốc hận lần
thứ 45 trong không khí tang tóc của toàn thế giới hiện nay.
Hãy ủng hộ và tiếp tay chúng tôi,
Nam Lộc
Tháng Tư, 2020
Wednesday, April 1, 2020
Coronavirus - Trung Cộng Virus - Ngày Tàn Trung Cộng sẽ đến - BDQ Ngọc Hân
Sáng. Mưa âm thầm, mưa nhẹ, êm như lớp sương dày kiên nhẫn phủ xuống suốt đêm. Mưa vừa đủ để thấm ướt khoảng sân phía sau nhà. Mưa vừa đủ để hợp với không gian xám trắng nhờ nhờ; làm nên cái ảm đạm của buổi sáng đầu xuân. Từ trên mái nhà, những giọt nước trải hàng ngang, rơi xuống lả chả, kéo thành những vệt sọc, sáng lung linh như bức mành đang rung bên ngoài khung cửa.
Cây hoa táo đã xanh tươi sau mùa đông dài gầy guộc, trơ trọi, lạnh giá miền Đông Bắc. Những nụ hoa màu hồng phấn như ẩn như hiện xen lẫn với những mầm lá xanh non mơn mởn. Cây hoa táo già cỗi gãy xuống sau một cơn bão đã được cưa ngang. Cái gốc lâu ngày đã mục, đã được lấy đi. Những thân cây non giờ đã mạnh mẽ như những chàng thanh niên đặt những bước chân đầu tiên vào vùng lửa đạn năm xưa.
Giờ thì nguy nan không đến từ những trái phá của đạn pháo, nguy nan không đến từ những tiếng rít của đạn đạo; giờ, nguy nan đến từ những vi khuẩn li ti như kẻ thù vô hình. Nguy nan hiển hiện bằng những cái chết mỗi ngày mỗi tăng mau trên toàn thế giới. Hình ảnh những tàn phá của Thế Chiến Thứ Hai vẫn còn in hằn lên tâm trí con người nhưng cái đe dọa chết chóc hôm nay kinh hoàng hơn vì nó mang theo sự im lìm rình rập vô hình.
Cả thế giới rung lên như đang bị cơn chấn động cao tầng. Những tin xấu được loan tải càng ngày càng nhiều. Số người bị lây nhiễm tăng vùn vụt. Âu châu rung rinh như thân cây cổ thụ giữa cơn bão hung bạo. Anh, Ý, Tây Ban Nha, Pháp đã có những thành phố khựng lại, hoàn toàn vắng lặng; người ta được khuyến cáo đừng ra ngoài nếu không thật sự cần thiết. Ngày 26 tháng 3 năm 2020, nước Mỹ dẫn đầu con số người bị nhiễm bệnh.
Nước Mỹ đóng cửa biên giới, khoá chặt những phi trường quốc tế. Toàn bộ 50 tiểu bang không nơi nào không có người nhiễm bệnh. Thành phố Nữu Ước hứng trọn tai ương, số người bị lây nhiễm tăng vọt gần như không còn kiểm soát được.
Kẻ thù dấu mặt Covid-19 không phải đợi đến tháng ba này mới ra tay hạ sát hàng loạt con người. Covid-19 đã xuống tay từ trung tuần tháng 11 năm trước. Bốn tháng trước, tai hoạ đã giáng xuống Vũ Hán của lục địa Trung Cộng, thế nhưng, Đảng CS ở đó đã giữ kín những thông tin về sát thủ vô hình này. Chữ nhưng hung hiểm lúc nào cũng đến từ những chế độ độc tài, Cộng Sản. Tháng Giêng năm 2020, 10 triệu người gốc lục địa Trung Hoa tụ về dự Tết Nguyên Đán để rồi, từng ấy con người mang theo mình sát thủ vô hình đi khắp bốn phương trời; từ Á châu, Âu Châu, Mỹ Châu và Phi Châu, Úc Châu.
Tháng Hai 2020, khi những kẻ cầm đầu đảng CS Trung Hoa cho thế giới biết về những cái chết ở vũ Hán thì đã quá muộn để con người có thể chống đỡ.
Cả thế giới bị giáng xuống những đòn tấn công bất ngờ, tàn bạo. Đòn tấn công như ngọn giáo bén ngót từ sau lưng đâm xuyên thân lún cán. Không nơi nào con người có đủ phương tiện và dụng cụ y khoa để chống đỡ hữu hiệu. Và rồi, mạng người như lá mùa thu bay theo gió lớn. Cái chết đến từ từ, chậm chạp mà chắc chắn. Cái chết không đến mau như viên đạn xuyên tim; cái chết không bất ngờ như miểng đạn pháo đập mạnh vỡ tan đầu óc; cái chết không đau đớn như cả toà nhà đè sập xuống dưới sức phá của bom vỡ; cái chết không dễ dàng như trong hai trận Thế Giới Đại Chiến trước đây; cái chết, giờ đây, mang theo nó cái kinh hoàng chầm chậm-kéo dài cho cả nạn nhân và người chứng kiến. Lịch sử nhân loại đang ghi xuống những dòng chữ đậm màu máu. Thế Giới Đại Chiến Lần Thứ Ba.
Trong tháng 12 năm 2019, bác sĩ y khoa Li Wenliang đã báo động cho thân hữu về căn bệnh lạ này. Ông đã bị chính quyền Trung Cộng cảnh cáo và yêu cầu ngừng truyền đi thông tin mà chính quyền cho là thông tin giả. Vậy rồi, Ông đã là một trong những bác sĩ y khoa đầu tiên của thế giới nằm xuống vì Virus Wuhan. Cái chết của ông nằm trong đợt những chết vì đại dịch Trung Cộng đầu tiên trên thế giới. Mạng thông tin hện đại trên thế giới đã làm cho Trung Cộng không còn có thể che dấu tin tức về đại dịch. Nhưng khi thế giới hay tin thì đã quá muộn màng.
Liu Zhiming 51 tuổi, giám đốc Bệnh viện Vũ Xương ở Vũ Hán - một trong những bệnh viện đầu tiên được dùng làm nơi điều trị cho bệnh nhân nhiễm virus corona-cũng đã hy mạng sống ngay tuyến đầu chống đỡ nạn dịch. Nói cho đúng, Bác Sĩ Li Wenliang và Bác Sĩ Liu Zhiming là những Bác Sĩ y khoa đầu tiên trên thế giới đã hy sinh mạng sống của mình ngay tuyến đầu chống đỡ cái hệ quả của hệ thống cai trị mù loà CS. Chính sách cai trị phi nhân, lỗi thời của CS đã không cho những nhà khoa học được phép lên tiếng báo động cho nhân loại những nguy nan có tính cách toàn cầu. Từ lời báo động bị bóp nghẹt của Bác Sĩ Li Wenliang trong tháng 12 năm 2019 đến đầu tháng Ba năm 2020, virus Wuhan đã tràn ngập địa cầu.
Theo số liệu của WHO (Cơ Quan Y Tế Thế Giới) ngày 27/03/2020, số người tử vong vì Corona Virus trên toàn cầu là 23,335 trong đó số người tử vong chỉ tính trong ngày này là 2,501.
Cả thế giới gần như ngừng hẳn lại trong khi Trung Cộng tuyên bố ngày thứ ba nước Trung Cộng không có thêm bệnh nhân mới. Và rồi chính quyền Trung Cộng tuyên bố; Hoa Kỳ nợ họ một lời xin lỗi và thế giới nợ họ một lời cảm ơn. Khó có ai hiểu được ý nghĩa lời tuyên bố này. Nhưng rất nhiều người hiểu rõ vì đâu hằng trăm ngàn sinh mạng con người bị huỷ diệt; hằng trăm ngàn thân xác bị vùi vào lò thiêu. Hàng trăm ngàn con người oan ức từ giã cõi đời không có thân nhân bên cạnh đưa tiễn.
Những Bác Sĩ, Dược Sĩ ,Y Tá, Y Công làm việc nhiều giờ liên tiếp trong các bệnh viện; những Nhân Viên Công Lực giữ an ninh công cộng; những lính cứu hoả; những công nhân làm việc trong các ngành vận chuyển; những người làm việc trong những cơ sở sản xuất dụng cụ Y Khoa,; những nhân viên làm việc trong các siêu thị, ngân hàng …. Họ chính là những chiến sĩ đang ở tuyến đầu chống đỡ nạn đại dịch. Nhiều người đã hy sinh mạng sống trong lý tưởng quên mình cứu người. Nhiều người trong họ đang bị nhiễm Bệnh. Tất cả những đau thương mất mát này, hẳn phải có nơi chịu trách nhiệm và đã rõ như ban ngày, trách nhiệm nằm ngay trong hệ thống cai trị quá lỗi thời Cộng Sản.
Chính quyền CS Trung Hoa sẽ phải trả lời trước nhân loại câu hỏi vì sao qúy vị nhất định cấm không cho Bác Sĩ Li Wenliang được phát đi tín hiệu cấp cứu cho nhân loại? Tại sao quý vị đã biết nạn dịch đang lan nhanh trên lục địa Trung Hoa mà qúy vị vẫn dấu kín để đón nhận hàng 11 triệu người trên thế giới đến Trung Hoa nhân dịp Tết Âm Lịch và mang theo mần bệnh cực kỳ nguy hểm tỏa ra khắp thế giới gây nên nạn đại dịch mà ngày nay để dễ nhớ người ta gọi là đại dịch virus Trung Cộng.
Chưa ai có thể đoan chắc có bao nhiêu sinh mạng con người sẽ bị lấy đi. Chưa ai có thể đoan chắc đến bao giờ mối đe dọa chết chóc của Virus Trung Cộng sẽ lui vào bóng tối. Nhưng người ta có thể đoan chắc rằng, những kẻ cầm đầu đảng CS Trung Hoa sẽ phải nhận lấy hậu quả cách hành xử phi nhân của họ.
Vậy Trung Cộng được gì qua cơn hồng thủy này trong khi cả thế giới đang lao vào cuộc chiến đấu sống còn với đại dịch có xuất xứ từ Wuhan?
Người ta có thể nói, cơn đại dịch Virus Trung Cộng đã ngừng được những cuộc biểu tình dai dẳng của những anh hùng ở Hồng Kông; nó gỡ được cái gai trong mắt những thủ lãnh độc tài Trung Cộng; nó ngăn chặn được những cuộc biểu tình sẽ lan nhanh vào lục địa Trung Cộng. Hình ảnh sụp đổ của các đảng CS ở Đông Âu vẫn còn in đậm nét trong lịch sử nhân loại; khi con người không còn sợ hãi nữa thì vũ khí giết người cũng không còn tác dụng; chính con người ở các nước Đông Âu đã tự giải phóng mình mà không cần đến xe tăng, đại pháo.
Người ta có thể nói, Virus Trung Cộng đã hoá giải được những hoài nghi trong hàng ngũ cán bộ cao cấp thuộc đảng CS Trung Hoa khi thủ lãnh họ Tập liên tiếp lùi bước trước những đòn tấn công dồn dập không khoan nhượng của Tổng Thống Hoa Kỳ Donal Trump trong cuộc chiến thương mại giữa hai nước. Uy tính kẻ cầm đầu đảng CS lung lay mà ngay cả an toàn của đảng cũng bị đe dọa.
Trong cuộc chiến thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng, Khi thủ lãnh họ Tập liên tiếp lùi bước trước những đòn tấn công dồn dập không khoan nhượng của Tổng Thống Hoa Kỳ Donal Trump, một mối hoài nghi đã lan rộng trong hàng ngũ cán bộ cao cấp Trung Cộng: “Trung Cộng có thật sự là cường quốc như họ vẫn thường nghĩ không”. Điều này làm Uy tín kẻ cầm đầu đảng CS lung lay và ngay cả an toàn của đảng cũng bị đe dọa. Con Virus Trung Cộng đã giúp nhà cầm quyền độc tài nước này hoá giải mối lo ngại “ngọn giáo kề cổ” đó.
Còn nữa, trong khi đại dịch Virus Trung Cộng làm suy sụp kinh tế tất cả các quốc gia trên thế giới, các sàn chứng khoán của thế giới gần như sụp đổ thì sàn chứng khoán Trung Cộng vẫn đứng vững.
Tất cả những điều nêu trên, nếu đúng thì rõ ràng con Virus Trung Cộng đã tàn phá toàn cầu nhưng cũng đã mang lại lợi ích cho Đảng CS Trung Hoa. Từ suy nghĩ này, qua cách hành xử của Trung Cộng khi đại dịch xảy ra, khó cho người ta tin rằng, con người có thể sống hoà bình với chủ thuyết CS; khó cho người ta tin rằng các đảng CS không là mầm mống cho tai họa thế giới. Nói cho cùng, qua vụ đại dịch Corona Virus này, đã đến lúc con người phải nghĩ đến sự ra đi của các chế độ CS để nhân loại có thể an tâm sống bình đẳng tro.
**
**********
" Xin chia sẻ bài viết nầy của người bạn cùng Khóa BĐQ. Ngoc Hân nhờ post lên trang FB của ZZ94 vì bạn Ngọc Hân Khg có FB " Bài viết KHÔNG phải của ZZ94 nha !! .
Tuesday, March 24, 2020
TƯỞNG NIỆM 45 NĂM QUỐC HẬN với DVD “NHỮNG NGƯỜI LÍNH BỊ BỎ RƠI” Nam Lộc
Hôm nay là ngày thu hình cuối cùng cho bộ DVD “Những Người Lính Bị
Bỏ Rơi” do đài truyền hình SBTN thực hiện. Sau hơn 10 ngày liên tục làm việc
không ngừng nghỉ, nhìn khuôn mặt nhợt nhạt của Trúc Hồ và các chuyên viên thu
hình, âm thanh, ánh sáng, nhóm lo cảnh trí, sắp đặt sân khấu v..v.., tôi biết
là họ bắt đầu kiệt lực, vì đã bỏ ra tất cả công sức cùng lòng quyết tâm để thực
hiện bộ DVD quan trọng này. Cũng may, các ca sĩ thì đều tỉnh táo và rất là hăng
hái, vì họ chỉ cần phải xuất hiện khi tiết mục của mình được thu hình mà thôi.
Nhìn mọi người hùng hục
làm việc, tập trung dưới sự điều động của ông đạo diễn, mạnh ai nấy lo bổn phận
mình, không khí nặng nề, căng thẳng! Tôi có cảm tưởng họ vừa say mê phục vụ lý
tưởng của mình, vừa lo lắng về đại dịch Covid-19 đang hoành hành thế giới và
ngay tại Quận Cam, nơi địa điểm thu hình. Lệnh “giới nghiêm” và cấm các cuộc tụ
họp đông người vừa được ban hành.
Phần thu hình cho tiết mục
của ca sĩ Thế Sơn cũng vừa được chuẩn bị xong, và toàn bộ máy quay phim bắt đầu
làm việc. Nhìn Thế Sơn và những anh em phụ diễn trong các bộ quần áo trận trên
chiếc xe Jeep tiến vào vùng hỏa tuyến, tôi chợt hình dung lại hình ảnh của những
người lính Dù hay TQLC đang được điều động nhẩy vào miền Trung để chiến đấu bảo
vệ những thành phố đang sắp bị lọt vào tay Cộng quân vào những ngày cuối tháng
Ba, 1975! Liệu họ có thực hiện được sứ mạng trầm luân này vào giờ thứ 25 của một
cuộc chiến đang bước vào những giờ phút đen tối nhất trong lịch sử, khi mà các
“chiến hữu đồng mình” của mình đang bỏ chạy, và vũ khí, đạn dược thì cạn dần
không còn ngân quỹ để bổ sung?
Cảm tưởng này dù đã qua đi
sau 45 năm bão nổi, cùng với bao sự đổi thay của thời cuộc, nhưng hôm nay lại
chợt hiện về! Tôi tự nhủ, liệu với hoàn cảnh này, khi mà cả thế giới đang lo lắng
vì đại dịch Coronavirus, cộng với tình trạng xuy sụp của ngành Video, DVD hay
CD... Nhiều trung tâm ca nhạc đã ngưng hoạt động, như vậy thì liệu lần quốc hận
thứ 45 năm ngày 30 tháng Tư, 2020 sắp đến có ai làm điều gì không? Trước mặt
tôi, tất cả các chương trình ca nhạc tưởng niệm ngày quốc hận liên tục từ cuối
tháng 3, cho đến đầu tháng 5 mà tôi và đông đảo anh chị em nghệ sĩ đã nhận lời
tham dự, thậm chí đã mua cả vé máy bay. Từ Hoa Kỳ, đến Canada, Úc Châu, Pháp và
cả tại Osaka, Nhật Bản v..v.., tất cả đều đã bị hủy bỏ! Hâu như ai ai cũng buồn
pha một chút xót xa ở trong lòng. Nhưng có lẽ đó lại chính là động lực để tất cả
chúng tôi cùng nắm tay nhau, hy sinh công sức, và tiền bạc, đồng tâm thực hiện
bằng được bộ DVD lịch sử “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi” với 3 điều nguyện ước sau
đây:
1. Tưởng niệm 45 năm viễn
xứ bằng cách phổ biến một bộ DVD lịch sử của cuộc chiến VN qua hình thức nhạc
truyện, với những thước phim tài liệu giá trị, phản ảnh trung thực tinh thần
chiến đấu bảo vệ tự do và dân chủ của quân dân miền Nam VN cùng chính thể VNCH.
Đặc biệt với phần “Phụ Đề Anh Ngữ” để chia sẻ cùng thế hệ trẻ sinh ra và trưởng
thành ở nước ngoài.
2. Để tưởng nhớ đến những
người lính bị bỏ rơi như số phận ngặt nghèo của VNCH khi đồng minh tháo chạy. Để thắp
nén hương lòng cho tất cả những anh linh đã nằm xuống vì lý tưởng tự do.
3. VÀ NGUYỆN ƯỚC THỨ BA LÀ ĐƯỢC QUÝ VỊ ỦNG HỘ BẰNG CÁCH ĐẶT MUA DVD TRƯỚC ĐỂ CHÚNG TÔI CÓ
PHƯƠNG TIỆN HOÀN TẤT PHẦN THỰC HIỆN DVD “NHỮNG NGƯỜI LÍNH BỊ BỎ RƠI” HẦU CÓ THỂ
RA MẮT TOÀN THỂ QUÝ VỊ ĐÚNG VÀO NGÀY 30 THÁNG TƯ, 2020.
Xin vui lòng đặt mua tại: https://sbtnonlineshop.com/
Toàn bộ gồm 2 đĩa với giá $35.00 US (bao gồm cước phí).($50.00 Canadian / $60.00 Australian / $35.00 Euros)
Cần biết thêm chi tiết, xin gọi số điện thoại: (714)
636-1121
Trân trong cám ơn toàn thể quý vị,
Nam Lộc
(3/2020, 45 năm "tháng Ba gẫy súng" )
PS: Xin chia sẻ cùng quý vị một số hình ảnh của các
buổi thu hình:
Monday, March 23, 2020
Cờ Vnch Bay Thường Trực Trên Bầu Trời Arizona
Vào trưa Chủ-nhật, ngày 29 tháng Tư năm 2001, lần đầu-tiên trong lịch-sử người Việt tỵ-nạn trên thế-giới, sau đúng 26 năm ly-hương, quốc-kỳ Việt-Nam Cộng-Hoà chính-thức hiện-diện vĩnh-viễn tại công-viên Wesley Bolin Memorial Park, nằm trước mặt dinh thống-đốc và Quốc-hội tiểu-bang Arizona.
Công-viên này dành để xây cất đài tưởng-niệm
những chiến-sĩ, anh-hùng hay các đơn-vị tác-chiến thuộc tiểu-bang đã
hy-sinh vì chính-nghĩa trong các trận chiến từ năm 1861 đến nay. Hiện
công-viên có khoảng 16 đài lớn, nhỏ, trong đó có các đài tưởng-niệm Cựu
chiến-binh Đệ I thế-chiến, Đệ II thế-chiến, chiến-tranh Cao-Ly,
chiến-tranh Việt-Nam và cả chiến-tranh Vùng Vịnh (Persian Gulf War,
1991).
Đây cũng là lần đầu tiên tại Phoenix, kể
từ ngày đại-tướng Westmoreland cắt băng khánh-thành đài tưởng-niệm
Chiến-tranh Việt-Nam vào năm 1985, quốc-kỳ Việt-Nam Cộng-Hoà đã cùng
quốc-kỳ Hiệp-Chủng-Quốc và bang-kỳ Arizona ngạo-nghễ, thường-trực tung
bay trên bầu trời tự-do của Hoa-Kỳ.
Công-trình
nêu cao Ngọn cờ Quốc-gia của Cộng-đồng Người Việt tại Arizona, mà hội
Cựu Quân-nhân Quân-lực VNCH là nòng cốt, được ghi-nhận theo diễn-tiến
sau:
- Từ năm 1985 đến năm 1994, trong suốt 10
năm liền, người ta không hề thấy sự hiện-diện của lá cờ vàng ba sọc đỏ
trong dịp lễ thượng-kỳ thường-niên tại đài tưởng-niệm Chiến-tranh
Việt-Nam.
- Mãi đến năm 1995, hội cựu Quân-nhân
Quân-lực VNCH tại Arizona mới được mời tham-dự lễ tưởng-niệm nhằm
vinh-danh các chiến sĩ anh-hùng trong chiến-tranh tại Việt-Nam. Trong
khoảng thời-gian từ năm 1995 đến năm 1998, mỗi kỳ dự hội, hội Quân-nhân
phải đem theo một lá quốc-kỳ Việt-Nam Cộng-Hoà cỡ trung, treo trên một
cột nhỏ, chỉ dùng trong buổi lễ.
- Vào dịp 30
tháng 4 năm 1999, với sự đồng-ý của hội cựu Chiến-sĩ Hoa-Kỳ, quốc-kỳ
Việt-Nam Cộng-Hoà được treo trong vòng một tuần lễ ở phiáù dưới quốc-kỳ
Liên-bang và phía trên cờ của Quân-nhân Hoa-Kỳ bị mất-tích hay bị
giam-cầm tại Việt-Nam, mang chữ MIA-POW. Do đó ba lá cờ Hoa-Kỳ, Việt-Nam
Cộng-Hoà và MIA-POW đã được treo thứ-tự trên một cột cờ cao 40 feet,
tương-đương với 12.19 mètre. Chiều rộng của cờ Việt-Nam Cộng-Hoà nhỏ hơn
cờ Hoa-Kỳ khoảng một foot, tương-đương với 30.48 centimètres (cm),
nhưng bằng cờ MIA-POW.
- Đến tháng Tư năm 2000,
việc treo cờ Hoa-Kỳ và Việt-Nam Cộng-Hoà trên cùng một cột, khởi sự từ
năm 1999, đã được Thống-đốc tiểu-bang Arizona chính-thức chấp-thuận bằng
một văn-thư.
- Nhưng đặc-biệt sang năm 2001, lễ
thượng kỳ Việt-Mỹ thường-niên lần thứ 7 tại đài Tưởng-niệm Chiến-tranh
Việt-Nam, do Cộng-đồng Người Việt, hội cựu Quân-nhân Quân-lực VNCH
Arizona và hội cựu Chiến-binh Hoa-Kỳ tham-chiến ở Việt-Nam tổ-chức rất
trọng-thể. Cũng kể từ buổi lễ này, Quốc-kỳ Việt-Nam Cộng-Hoà được đứng
thẳng hàng cùng quốc-kỳ Liên-bang và Tiểu-bang trên đài tưởng-niệm của
Arizona.
Sự có mặt trường-cửu của quốc-kỳ Việt-Nam
Cộng-Hoà trên đài tưởng-niệm Phoenix đã được Quốc-hội tiểu-bang Arizona
thông qua sau nhiều lần điều-trần với sự hỗ-trợ nhiệt-tình của các cựu
chiến-binh Hoa-Kỳ có uy-tín tại tiểu-bang này.
Nhân
dịp này, thống-đốc tiểu-bang Arizona, bà Jane Dee Hull, đã long-trọng
ký bản tuyên-cáo đề ngày 2-4-2001 minh-định Ngày Tưởng-Nhớ đến các
anh-hùng đã chiến-đấu tại Việt-Nam. Ông Terry Goddard, nguyên thị-trưởng
thành-phố Phoenix, đã tuyên-đọc bản tuyên-cáo này trong buổi lễ vào
trưa ngày 29-4 tại đài tưởng-niệm như sau:
Xét
rằng, Hoa-Kỳ và đặc-biệt là những nhân-viên trong Quân-lực Hoa-Kỳ đã
thi-hành một nhiệm-vụ khó-khăn và lâu dài chính-thức bắt đầu kể từ ngày
5-8-1964 và kết-thúc ngày 7-5-1975 tại Việt-Nam;
Xét
rằng, trong khoảng thời-gian này, hai triệu năm trăm ngàn quân-nhân
thuộc quân-lực Hoa-Kỳ đã nối-tiếp thi-hành nhiệm-vụ và nhiều chiến-sĩ
không bao giờ trở lại. Trong số những người đã hy-sinh tính-mạng, có 613
chiến-sĩ là công-dân của tiểu-bang Arizona;
Xét
rằng, việc Hoa-Kỳ tham-dự cũng như yểm-trợ Nam Việt-Nam để chiến-đấu cho
tự-do bị chính-quyền Bắc Việt kiềm-chế đã khắc sâu vào tâm-khảm những
người trước đây là công-dân của Việt-Nam Cộng-hoà;
Xét
rằng, ngày hôm nay, Cựu chiến-binh Hoa-Kỳ trong chiến-tranh Việt-Nam và
Cộng-đồng Việt-Nam tại Arizona cùng thân-hữu và gia-đình tri-ân và
tưởng nhớ các chiến-sĩ Hoa-Kỳ và Việt-Nam Cộng-Hoà, đã từng phục-vụ và
chiến-đấu, đã bị thương hay tử-trận trong chiến-tranh Việt-Nam, và
Xét
rằng, cựu chiến-binh Hoa-Kỳ từng ở Việt-Nam và Cộng-đồng Việt-Nam tại
Arizona cùng chủ-trương tưởng-niệm thời-gian Hoa-Kỳ tham-chiến tại
Việt-Nam, đều tái xác-nhận rằng chiến-binh Hoa-Kỳ đã tận-tụy với
trách-nhiệm, nêu cao danh-dự và lòng dũng-đảm. Với tư-cách chiến-hữu của
các chiến-sĩ Việt-Nam Cộng-Hoà, họ sẽ biểu-dương tinh-thần đoàn-kết
bằng cách thượng lá quốc-kỳ Việt-Nam Cộng-hoà tại đài tưởng-niệm Cựu
Chiến-sĩ Hoa-Kỳ chiến-đấu ở Việt-Nam.
Bởi vậy, giờ
đây, Tôi, Jane Dee Hull, Thống-đốc Arizona, tuyên-bố ngày 29 tháng Tư
năm 2001 là Ngày Tưởng-nhớ Chiến-tranh Việt-Nam trên toàn lãnh-thổ bang
Arizona.
Tôi thành-khẩn kêu gọi toàn dân trong
bang Arizona, cơ-quan truyền-thông, giáo-chức, sử-gia, sinh-viên,
thương-gia, kỹ-nghệ-gia, nhân-viên trong quân-lực Hoa-Kỳ và toàn thể cựu
chiến-binh trong tiểu-bang hãy cùng nhau tỏ lòng biết ơn những cựu
chiến-sĩ tham-chiến tại Việt-Nam, hãy vinh-danh những người đã hy-sinh
tính-mạng và chắc-chắn kỷ-niệm chiến-tranh Việt-Nam vẫn trường-tồn trong
chúng ta.
Để minh-chứng những điều nói trên, Tôi ký tên và chỉ-thị đóng dấu tiểu-bang Arizona trên bản tuyên-cáo này.
Ngày
nay, trên đài kỷ-niệm, ngoài 10 tấm bia đá cỡ 42"x8", một khối tượng ba
chiến-binh dìu nhau ngoài chiến-địa bằng đồng đen và một cột cờ cao 40
feet đã có từ 16 năm trước, người ta còn thấy dựng thêm 2 cột cờ mới cao
35 feet một vòng lược-sử chiến-tranh Việt-Nam trong khoảng thời-gian từ
năm 1941 đến năm 1975, với những hàng chữ được chạm nổi trên 14 tấm
plaque bằng đồng đen cỡ 16"x24" và 1 tấm cỡ 18"x30" gắn chung quanh một
đài ciment hình tròn, được phủ kín bằng cờ Hoa-Kỳ và Việt-Nam Cộng-Hoà
và một bản-đồ nước Việt-Nam bằng đồng đen với 23 điạ-danh quen thuộc như
Hà-Nội, Huế, Sài-Gòn hay các trận-chiến lớn như Khe-Sanh, An-Lộc. Để
thực-hiện công-trình tân-trang, nới rộng diện-tích đài tưởng-niệm lớn
gấp đôi hầu có đủ chỗ phối-trí ba cột cờ, vòng lược-sử và bản đồ
Việt-Nam, ban chỉnh-trang kỳ-đài đã chi-phí một ngân-khoản hơn một trăm
ngàn Mỹ-kim, mà phần lớn do phía Hoa-Kỳ đài-thọ. Ngoài ra một số cựu
chiến-binh Hoa-Kỳ như các ông Oscar Urrea, George Notarpole, Steve
Corella và Art Luera đã tình-nguyện làm việc thường-trực tại đài
tưởng-niệm trong suốt bốn tuần-lễ liên-tiếp để kịp hoàn-tất kế-hoạch
trùng-tu.
Tưởng cũng cần nói thêm, sở dĩ năm nay
đài Tưởng-niệm có một bộ mặt mới, phần lớn là do sáng-kiến và công-trình
vận-đọâng kiên-trì trong suốt 6 năm trời của một sĩ-quan Quân-Lực
Việt-Nam Cộng-Hoà , thiếu-úy Bùi-Quang-Lâm. Ông Lâm đã bỏ ra nhiều
thời-giờ và công-sức, vận-động với hội cựu chiến-binh Hoa-Kỳ và các
giới-chức liên-hệ trong tiểu-bang, để thực-hiện thêm hai cột cờ mới cao
35 feet dựng trên đài tưởng-niệm. Một cột dành cho cờ Việt-Nam Cộng-Hoà,
cột còn lại dành cho cờ tiểu-bang Arizona. Đặc-biệt hơn nữa là quốc-kỳ
của Việt-Nam Cộng-Hoà, tiểu-bang Arizona và liên-bang Hoa-Kỳ đều có cùng
một cỡ như nhau (rộng 5 feet, dài 8 feet). Trong tương-lai, công-tác
bảo-trì kỳ-đài vẫn do tiểu-bang Arizona đảm-trách, mỗi tháng một lần, cả
ba quốc-kỳ đều được thay bằng cờ mới.
Lễ khánh-thành kỳ-đài được bắt đầu vào lúc 1 giờ chiều ngày 29-4-2001 bằng phần giới-thiệu chương-trình.
Sau
phần giới-thiệu, ban quân-nhạc trỗi khúc quân-hành, các toán thủ và hầu
kỳ lần-lượt theo con đường dốc hình cánh cung, dài khoảng 150 feet, lên
đồi.
Hai bên đường dốc, người ta nhìn thấy 22
cột khá cao treo cờ Việt và Mỹ tung bay đón chào đoàn đại-biểu cựu
chiến-sĩ diễn-hành. Họ nghiêm-trang và hùng-dũng tiến vào địa-điểm
hành-lễ, nằm trên đỉnh đồi, rộng khoảng 800 sq. ft.
Trước
hết là quốc và quân-kỳ hội cựu chiến-binh Hoa-Kỳ thuộc tiểu-bang được
rước bởi các cựu chiến-sĩ mặc sắc-phục đặc-biệt theo truyền-thống của
mỗi đơn-vị.
Kế đến là quân-kỳ của các đơn-vị
Hoa-Kỳ tham-chiến tại Việt-Nam, đặc-biệt các hiệu-kỳ này sau khi đến
địa-điểm hành-lễ đã được người thủ-kỳ cắm vào chỗ dành riêng cho từng
đơn-vị, ngay bên cạnh 10 tấm bia đá cẩm-thạch đen có khắc họ và tên của
659 chiến-sĩ Arizona tử-trận hay mất tích trên chiến-trường Việt-Nam.
Những tấm bia này được quây tròn ở vòng ngoài, trên nửa ngọn đồi, nhìn
về hướng Tây.
Tiếp theo là toán quốc-kỳ Việt-Nam
Cộng-Hoà và Hoa-Kỳ của hội cựu chiến-sĩ Việt-Nam Cộng-Hoà Nam California
do các sĩ-quan Biệt-Động-Quân, Nhảy Dù, Thủy-quân Lục-chiến rước và hầu
kỳ. Kế đến là toán quốc và quân-kỳ của hội cựu quân-nhân QLVNCH
Arizona, theo sau là quốc và quân-kỳ của binh chủng Biệt-động-quân. Tất
cả các quân-nhân VNCH đều mặc sắc-phục của mỗi quân, binh-chủng liên-hệ,
bước đều theo nhịp khúc quân-hành. Mầu cờ, sắc áo trông thật hùng-dũng,
hiên-ngang, khiến người Việt tỵ-nạn có mặt tại đây đã được sống lại với
những hình ảnh quen thuộc thuở nào. Họ rất xúc-động và hãnh-diện về một
thời oanh-liệt của QLVNCH trước đây 26 năm.
Sau
đó, hai sĩ-quan cấp-tá Thiết-giáp-binh và Biệt-Động-Quân thuộc hội cựu
quân-nhân QLVNCH Arizona trịnh-trọng ôm lá quốc-kỳ Việt-Nam Cộng-Hoà,
màu vàng ba sọc đỏ tươi-sáng, tiến đến chân cột cờ dành cho Việt-Nam
Cộng-Hoà và cẩn-thận buộc quốc-kỳ vào giây kéo cờ rồi đứng nghiêm chờ
lệnh.
Trong lúc khoảng hơn bẩy trăm dân-cư
Việt-Nam và Hoa-Kỳ tại Arizona và gần bốn chục cựu quân-nhân và đại-diện
Cộng-đồng Người Việt từ California và Texas tới tham-dự buổi lễ đang
hân-hoan hay rạo-rực đón chờ giờ phút lịch-sử sắp đến thì thình-lình từ
dưới chân đồi, ban quân-nhạc Lục-quân Hoa-Kỳ trỗi lên bản quốc-thiều
Việt-Nam Cộng-Hòa. Lá quốc-kỳ Việt-Nam Cộng-Hoà màu vàng, ba sọc đỏ được
nhẹ-nhàng kéo lên giữa tiếng hát vang dậy "Này công-dân ơi, . . ." của
cộng-đồng người Việt tề-tựu dưới chân đồi và trên đài tưởng niệm.
Trong
khi quốc-kỳ Việt-Nam Cộng-Hoà vươn lên và tung bay trước gió, người ta
nhận thấy trong số cựu quân-nhân Quân-lực Việt-Nam Cộng-Hoà và người
Việt tỵ-nạn hiện-diện có nhiều cặp mắt tràn đầy lệ-cảm. Ngay cả một số
cựu chiến-binh Hoa-Kỳ đang ngồi ở trong hay đứng bên ngoài khán-đài cũng
không khỏi bùi-ngùi xúc-động. Họ đã rơm-rớm nước mắt.
Tiếp theo lễ thượng kỳ Việt-Nam Cộng-Hoà là lễ thượng kỳ Tiểu-bang Arizona và sau cùng là lễ thượng kỳø Liên-bang do một sĩ-quan Hải-quân Hoa-Kỳ gốc Việt, con trai của một sĩ-quan Việt-Nam Cộng-Hoà, kéo lên.
Tiếp theo lễ thượng kỳ Việt-Nam Cộng-Hoà là lễ thượng kỳ Tiểu-bang Arizona và sau cùng là lễ thượng kỳø Liên-bang do một sĩ-quan Hải-quân Hoa-Kỳ gốc Việt, con trai của một sĩ-quan Việt-Nam Cộng-Hoà, kéo lên.
Kế
đó, những lá quốc-kỳ Việt và Mỹ phủ kín 15 tấm bảng đồng gắn trên vòng
lược-sử cũng được ban tổ-chức lần-lượt mở ra để quan-khách có thể tìm
hiểu diễn-biến của chiến-tranh Việt-Nam tính đến ngày 30-4-1975.
Sau
lễ thượng-kỳ, ông Terry Goddard đọc tuyên-cáo của Thống-đốc Arizona. Kế
đó là lời chúc lành cho kỳ-đài và lời nguyện-cầu cho các anh-linh tử-sĩ
tuyên đọc bởi mục-sư tuyên-úy Hoa-Kỳ và thượng-tọa Thích-Chơn-Tôn. Sau
phần phát biểu cảm-tưởng, ông Nguyễn-Ngọc-Anh, chủ-tịch Cộng-đồng
Arizona, tới đặt vòng hoa tại tượng đài để tỏ lòng thành-kính tri-ân các
chiến-sĩ Việt-Nam Cộng-Hoà và Đồng-minh đã hy-sinh vì tự-do của dân
Việt.
Buổi lễ thượng-kỳ được kết-thúc vào lúc 3
giờ chiều bằng bản nhạc "Cờ bay" do ban quân-nhạc Lục-quân Hoa-Kỳ
hoà-tấu, nhưng mọi người vẫn còn bùi-ngùi, xúc-đọâng, chưa muốn chia
tay. Trong dịp này, ông Craig Borsheim, một thủy-thủ Hoa-Kỳ phục-vụ tại
Đà-Nẵng từ năm 1969 đến năm 1971, đã phát-biểu như sau: Chúng tôi đã
chiến-đấu và hy-sinh vì lá cờ Việt-Nam Tự-do, do đó chúng tôi đã hợp-tác
và cùng với Cộng-đồng Việt-Nam tranh-đấu để lá cờ vàng ba sọc đỏ
hiện-diện vĩnh-viễn tại đài tưởng-niệm Cựu chiến-binh Arizona. Tôi rất
cảm-động trước giây phút này.
Ngày 29-4-2001,
quốc-kỳ VNCH được trang-trọng kéo lên tại trung-tâm thành-phố Phoenix,
thủ-phủ của tiểu-bang Arizona, đánh dấu sự thành-công của Cộng-đồng
Arizona nhỏ bé, với trên dưới 10 ngàn người Việt. Trong bài diễn-văn đọc
trước kỳ-đài, ông chủ-tịch Cộng-đồng người Việt Quốc-gia tại Arizona,
phát-biểu như sau: Hôm nay là ngày đồng-hương và chiến-hữu của chúng tôi
có quyền hãnh-diện ngửng cao đầu nhìn lá quốc-kỳ của mình vĩnh-viễn
hiên-ngang sánh vai cùng Quốc và Bang-kỳ của nước bạn, tung bay
ngạo-nghễ trên nền trời tự-do.
(Hà-Mai-Việt tường-thuật)
Thursday, March 19, 2020
CUỘC LUI BINH NGHIỆT NGÃ - Bảo Định Nguyễn Hữu Chế
L.T.S: Tony Chế, Nickname mà anh em chúng tôi gọi anh khi anh vừa tái ngũ, đưa về phục vụ tại TĐ 31/BĐQ - Trắng trẻo, hơi hô hô, nên lúc nào nhìn anh cũng giống như đang cười vui với mọi người, tiếng Anh thuộc loại "vi vút" vì anh làm sở Mỹ, do đó mới có tên Tony - Một thời gian sau, anh được thuyên chuyển về SĐ18/BB và sau đó trở thành Tiểu Đoàn Trưởng xuất sắc của Sư Đoàn - Có một chút "hơi hướm" với BĐQ, nhưng cũng phải "dụ dỗ" mãi, anh mới viết cho một bài đầu tiên, để tưởng nhớ 30 năm(2005) ngày mất nước, mời các Bạn cùng theo dõi những lời kể của một nhân chứng sống.
Chẳng dám đem mình ví von với danh nhân - Nhưng đầu óc tôi cứ vơ vẩn nhớ tới câu nói của Napoléon Đệ Nhất:
"Nước
Anh đánh trận nào cũng thua, chỉ có trận cuối cùng họ thắng" - Anh em
chúng tôi, TĐ 2/43, SĐ18BB, ngược lại, đánh trận nào cũng thắng, chỉ có
trận cuối cùng là thua ....... Khởi đầu cho trận thua đau đớn này là
cuộc lui binh nghiệt ngã đêm 20-4-75 tại mặt trận Xuân Lộc, mà TĐ 2/43
chúng tôi phải rút lui trước địch quân. Một việc chúng tôi phải miễn
cưỡng làm, lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng .
Như
quý vị đã biết, hành quân Lui binh là loại hành quân rất khó khăn, nhất
là khi phải tiến hành dưới áp lực và hỏa lực của địch. Trong cuộc chiến
tranh Quốc-Cộng vừa qua giữa hai miền Nam-Bắc Việt Nam từ năm 1956 đến
năm 1975, QLVNCH đã hơn một lần bị thảm bại cay đắng, trong cuộc triệt
thoái, hay di tản chiến thuật, hồi trung tuần tháng 3 năm 1975 từ Cao
nguyên về Duyên hải miền Trung, với thiệt hại ít nhất 75% khả năng tác
chiến của Quân đoàn II. Cuộc Hành quân Lui binh do Sư đoàn 18BB thực
hiện trong đêm 20 rạng ngày 21 tháng 4 năm 1975 đã thành công tốt đẹp.
Toàn bộ Sư đoàn và các đơn vị tăng phái đã về đến Bình giã, Bà rịa thuộc
tỉnh Phước Tuy an toàn. Nói thế không có nghĩa là không có những tổn
thất nho nhỏ, mà Tiểu đoàn 2/43 là một trong những cái nho nhỏ đó.
Thật sự Tiểu đoàn 2/43, đơn vị rời
chiến trường sau cùng, vì có nhiệm vụ đánh nghi binh, đánh chặn hậu cho
đại quân rút an toàn, nên đã bị tổn thất đáng kể, khi đơn độc vượt qua
vòng vây trùng trùng điệp điệp của Cộng quân, nhưng không đến nỗi bi đát
như lời của Luật sư Nguyễn Văn Chức trích lại từ cuốn Việt Sử Khảo Luận
của LS Hoàng Cơ Thụy, viết theo ký giả Mỹ Frank Snepp trong cuốn Decent
Interval: "Trực thăng đã đến bốc cái tiểu đoàn chót của 4 tiểu đoàn
sống sót của sư đòan 18, kể luôn tướng Lê Minh Đảo. Có 600 người dưới
quyền đại tá Lê Xuân Hiếu tình nguyện ở lại sau cùng để che chở cho cuộc
triệt thoái. Trong vài giờ, họ bị tràn ngập bởi 40 ngàn quân Bắc Việt
đã được bố trí để trực tiếp đánh họ". Hai ông Luật sư, một ông ký giả
với những nhận định, trích dẫn của nhau về một trận đánh mà chẳng có ông
nào tham dự .......Tôi xin miễn có ý kiến về việc này, vì sự thật hiện
nay đã phần nào được chứng minh.
Anh em chúng tôi, những người đóng
vai chính trong trận đánh, vượt bao hiểm nguy, may mắn thoát chết, bây
giờ nghĩ lại vẫn còn thắc mắc: "phép lạ nào mà chúng tôi còn sống sót" -
Sự việc xảy ra vừa đúng 30 năm.(2005). Tuổi đời của tôi cũng sắp đến
"thất thập cỗ lai hy". Trí nhớ có phần giảm sút. Những ngày đêm hãi hùng
đó trong khu rừng rậm, trong những căn cứ địa của VC, bị Sư đoàn 341
CSBV truy đuổi và bao vây chặt. Có những điều tôi vẫn còn nhớ như in,
nhớ rất rõ ràng. Nhưng cũng có nhiều điều tôi chỉ còn nhớ mù mờ, nhớ lẫn
lộn, thậm chí đã quên hẳn!
Tên của các vị Sĩ quan trong Tiểu đoàn, tôi cũng nhớ không hết, ngoài các vị sau đây:
-Đại úy Tiểu đoàn phó Nguyễn Tấn Chi, K.12 Thủ Đức.
-Đại úy Sĩ quan Hành quân/Huấn luyện/TĐ Nguyễn Mỹ.
-Trung úy Nguyễn Văn Thắng, SQ Quản trị Nhân viên kiêm Chỉ huy Hậu cứ/TĐ
-Trung úy Nguyễn Văn Hào, ĐĐT/ĐĐ1
-Trung úy Võ Văn Mười, ĐĐT/ĐĐ2
-Trung úy Nguyễn Văn Hùng, ĐĐT/ĐĐ3
-Trung úy Hà Văn Dương, ĐĐT/ĐĐ4
-Trung úy Võ Kim Thạch, ĐĐT/ĐĐCH&YT
-Trung úy Tuyễn, SQ Truyền tin
-Trung úy Linh
-Trung úy Chánh
-Vị SQ Trợ Y/TD, SQ Tiền sát viên Pháo binh, Vị Trung đội trưởng Pháo binh,...
Có
nhiều đồng đội đã vĩnh viễn nằm xuống trong khu rừng oan nghiệt đó. Với
tư cách là Tiểu đoàn trưởng, người chịu trách nhiệm đến sự an nguy của
Tiểu đoàn trong cuộc Hành quân Lui binh, tôi xin nhận sự phán xét của
các Chiến hữu. Và cũng thay mặt các Chiến hữu, tôi xin kính cẩn nghiêng
mình trước Vong Linh của những đồng đội đã anh dũng nằm xuống để cho
chúng ta được sống, Nước Việt được trường tồn. Nhưng bất hạnh thay! cuộc
chiến đấu cho Chính Nghĩa của chúng ta đã bị phản bội. Rốt cuộc, miền
Nam thân yêu của chúng ta đã lọt vào tay bọn CSBV xâm lăng. Nhưng tôi
vẫn tin tưởng sự hy sinh của các bạn không oan uổng, không lãng phí.
Chúng ta chỉ mới thua một trận chiến, cuộc chiến vẫn tiếp tục, nhưng
dưới một hình thái khác. Ngày Quang Phục Quê Hương không còn xa. Chủ
Nghĩa Cộng Sản, Chế độ Cộng Sản nhất định phải bị tiêu diệt. Dân tộc
Việt, đất Nước Việt nhất định trường tồn. ĐỘC LẬP - TỰ DO - DÂN CHỦ và
HẠNH PHÚC - NO ẤM nhất định sẽ trở về với toàn dân.
Bảo Định
Khi Tiểu đoàn xuống núi, vừng đông đã
ló dạng. Một ngày mới bắt đầu. Những trái đạn pháo 105 ly được bắn đi
xối xả, bắn cho hết đạn, đã liên tục rót lên đầu giặc chỉ mới vừa ngưng.
Hai khẩu pháo thân thương hoàn thành xong nhiệm vụ thì nhận hai trái
lựu đạn nỗ tung bụng, đang nằm im lìm, trơ càng như hai đống sắt vụn ở
ngọn đồi phía dưới, cô đơn và lạnh lẽo.
Tiểu đoàn yên lặng di chuyển. Lộ
trình ấn định là Xuân Lộc - Bà Rịa, theo Liên TL2. Điểm tập trung tại
Đức Thạnh, Tỉnh Phước Tuy. Sau đó sẽ có xe đưa về căn cứ Long Bình nghỉ
ngơi, tái bỗ sung quân số và đạn dược, rồi nhận nhiệm vụ mới.
Buổi sáng ngày 20/4/75, lối 9 giờ,
Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, TL/QĐ III, Quân Khu 3 bay vào Xuân Lộc gặp
Tướng Đảo để chỉ thị việc rút quân. Chỉ trong một thời gian ngắn, Tướng
Đảo và Bộ Tham Mưu Sư đoàn đã cấp tốc soạn thảo một kế hoạch triệt thoái
rất tỉ mỉ. Vừa quá trưa, tôi đã nhận được Lệnh Hành Quân để kịp thời
chuẩn bị. Tôi đã thi hành đúng theo những chỉ thị ghi trong LHQ: Tiểu
đoàn giữ lại 2 khẩu pháo 105 ly, còn tất cả sẽ kéo về Xuân Lộc để di
chuyển cùng Sư đoàn. Hậu cứ Tiểu đoàn gồm cả kho lương thực, đạn dược sẽ
theo Sư đoàn đi trước. Tiểu đoàn vẫn duy trì hoạt động bình thường.
Hoạt động nghi binh - cũng giống như trường hợp của Trương Phi cùng 20
người ngựa, tại cầu Trường Bản, đã mưu trí dùng những nhánh cây cột vào
đuôi ngựa cho chạy lui, chạy tới trên đường, tạo đất bụi bay mù trời để
đánh lừa quân của Tào Tháo, nhờ thế, đại quân của Lưu Bị đã rút đi được -
Hai khẩu pháo vẫn tác xạ quấy rối liên tục vào vị trí địch. Các toán
tiền đồn, phục kích vẫn nằm tại vị trí. Nhất là Trung đội Biệt Kích Tiểu
đoàn hoạt động khu vực Núi Ma, đối diện căn cứ Núi Thị, bên kia đường
QL1 về hướng Bắc. Nhờ sự hoạt động hữu hiệu của Trung đội này, Cộng quân
đã không thể nào đến gần đặt súng cối bắn vào Tiểu đoàn.
Theo Lệnh Hành Quân, đúng 7 giờ tối,
Tiểu đoàn sẽ vào hệ thống truyền tin của Lữ đoàn 1 Nhãy Dù, đặt dưới
quyền chỉ huy của Lữ đoàn trưởng Dù. Đến 12 giờ đêm, Tiểu đoàn trở lại
hệ thống làm việc của Sư đoàn, phá hủy 2 khẩu pháo, rời bỏ căn cứ Núi
Thị, rút về điểm tập trung trước, sau đó là các đơn vị của Lữ đoàn Dù.
Đúng lúc 12 giờ, tôi gọi LĐ Dù cho tôi trở về với SĐ. LĐ Dù bảo chờ. Lúc
1 giờ sáng, tôi gọi lại, cũng bảo chờ! Lúc 2 giờ sáng, tôi gọi lần nữa,
cũng được trả lời: Chờ! Lúc gần 3 giờ, nhìn về hướng thị trấn, tôi thấy
có rất nhiều ánh đèn xe hơi di chuyển. Tôi liền gọi về LĐ Dù hỏi và
được trả lời: Nó đấy! Hãy xữ dụng pháo bắn. Nhưng pháo của tôi đã bắn
gần hết đạn từ lúc quá nửa đêm, chuẩn bị phá hủy để di chuyển. Và cũng
từ lúc đó tôi mới được lệnh cho Tiểu đoàn rời căn cứ. Nhìn đồng hồ, kim
chỉ vừa đúng 3 giờ - 3 giờ sáng! Tôi cho lệnh gom quân. Việc gom quân
không phải dễ dàng. Làm thế nào để các toán tiền đồn và phục kích rời vị
trí, trở về căn cứ mà địch không phát hiện được, không bám sát đi theo
là chuyện khó. Trong suốt cuộc chiến vừa qua, nhất là thời kỳ chiến
tranh Việt - Pháp, những đơn vị đi tiền đồn, phục kích về bị địch bám
sát theo rồi lợi dụng thời cơ, cướp đồn là chuyện thường xãy ra. Và phải
hơn một giờ sau Trung đội BK/TĐ mới về đến Tiểu đoàn.
Theo
tập Hồi ký của Trung tá Nguyễn Văn Đỉnh mà nhà Sử học George J. Veith
gửi cho tôi bản dịch tiếng Anh, thì vị cựu Lữ đoàn trưởng LĐ 1 Dù nói
đơn vị cuối cùng của LĐ, Tiểu đoàn 9 Dù cùng Trung đội Pháo binh đã rời
Long Giao lúc 4 giờ 30 sáng. Như vậy là toàn bộ LĐ Dù đã rút đi trước,
đã rời khỏi Mặt trận trước Tiểu đoàn 2/43. Và TĐ2/43 là đơn vị cuối cùng
rời bỏ Xuân Lộc!
Lúc
Tiểu đoàn đi đến gần Ấp Núi Đô thì trời đã sáng hẳn. Một số Nghĩa quân
và Địa Phương Quân vác súng chạy theo, muốn nhập theo đoàn quân. Nhưng
với tinh thần cảnh giác cao độ, tôi buộc phải đổi hướng, tránh xa họ. Vì
tôi không thể phân biệt được thật hay giả. Tôi phải nghĩ đến sự an nguy
của đơn vị trước tiên. Trong chiến đấu, ta không thể xử sự theo lối nữ
nhi thường tình. Tại mặt trận An Lộc, Bình Long hồi mùa hè đỏ lửa năm
1972, vì lòng nhân đạo, muốn cứu một thương binh Cộng quân, tôi đã mất
đi một y tá khi tên thương binh địch mở chốt lựu đạn ném vào người định
cứu mình!
Tại
Đức Thạnh, tỉnh Phước Tuy, Đại tá Lê Xuân Hiếu, Trung đoàn trưởng 43BB,
con chim đầu đàn của chúng tôi, gọi báo cáo với Tướng Đảo là TĐ2/43 vẫn
còn kẹt ở Xuân Lộc.
Lối 7 giờ sáng, khi Tiểu đoàn di
chuyển gần đến căn cứ Long Giao, đang đi trong khu rừng chồi, sắp đến
vùng đồn điền cao su thì tôi nghe tiếng trực thăng bay ngang đầu. Tôi
nghe tiếng gọi tôi. Đó là tiếng của Đại tá Ngô Kỳ Dũng, Trung đoàn
trưởng 52BB đang bay trên chiếc C&C của Tư lệnh, chuyển lệnh của
Tướng Đảo, ra lệnh cho tôi phải hủy bỏ lộ trình cũ trong Lệnh Hành quân,
mà phải chuyển hướng băng rừng ra Long Thành, trên QL15.
Xin nói rõ thêm một chút, để câu
chuyện được mạch lạc: Đường LTL2, Lộ trình triệt thoái theo LHQ, nối
liền Xuân Lộc, tỉnh Long Khánh và Bà Rịa, tỉnh Phước Tuy, dài trên 40 km
đã bị bỏ hoang phế từ lâu, kể từ sau Hiệp định Đình chiến Paris, khi
quân đội Đồng minh (Úc Đại Lợi) rút khỏi chiến trường. Khi Tướng Đảo
quyết định chọn con đường này để làm Lộ trình triệt thoái. Ông đã có một
quyết định táo bạo. Nhưng đã tạo được sự bất ngờ. Đoạn đường dài trên
40 km đó, lâu nay vẫn là vùng an toàn của Cộng quân. Ngoài những toán du
kích địa phương có nhiệm vụ canh giữ con đường, Trung đoàn 33 CSBV vẫn
thường xuất hiện hoạt động quấy phá. Con đường đã là hành lang giao liên
an toàn giữa các mật khu cuả VC. Quyết định táo bạo của Tướng Đảo, yếu
tố bất ngờ của cuộc Hành quân Lui binh do Sư đoàn 18BB thực hiện đã làm
cho Cộng quân trở tay không kịp. Chúng không thể tức thời điều quân đến
truy kích và ngăn chặn. Trong quyển "Lịch sữ Quân Đội Nhân Dân" của
CSBV, Quân đoàn IV Cộng quân của Tướng Hoàng Cầm thú nhận: "Chúng tôi đã
không phát hiện kịp thời cuộc di chuyển quân của Sư đoàn 18 để tổ chức
lực lượng truy kích và ngăn chặn." Nhưng những cuộc chạm súng, tấn công
vào đoàn quân triệt thoái, tuy không quy mô, nhưng cũng không phải là
nhỏ và đã gây cho lực lượng bạn một số tổn thất đáng kể: Đại tá Phạm Văn
Phúc, Tỉnh trưởng bị bắt. Trung tá Tham Mưu trưởng bị tử thương, đồng
thời cũng đã gây một số thiệt hại cho LĐ1 Dù, khi đơn vị này vừa chiến
đấu vừa bảo vệ thường dân các ấp Bảo Định, Bảo Hòa và Bảo Toàn di tản
theo. Sau khi đơn vị cuối cùng của LĐ1 Dù đi qua, con đường giờ đây lại
nằm dưới sự kiểm soát của Cộng quân - Yếu tố bất ngờ không còn nữa -
Chúng cố vớt vát những tổn thất mà chúng đã gánh chịu trong suốt 12 ngày
đêm tại Mặt trận Xuân Lộc, bằng cách phải tiêu diệt cho được đơn vị còn
lại của QLVNCH. Đó là Tiểu đoàn 2/43 Sư đoàn 18BB, vừa rời bỏ căn cứ
Núi Thị. Vì lý do đó mà Tướng Đảo đã lệnh cho chúng tôi thay đổi lộ
trình .
Đây là lần đầu tiên kể từ khi xuống
núi, tôi bắt được liên lạc với Sư đoàn. Nhưng khi chiếc trực thăng bay
qua, lệnh đã ban xong, tôi lại mất liên lạc hoàn toàn với bên
ngoài. Không còn đơn vị bạn nào ở gần để có thể liên lạc qua lại. Sư
đoàn, Lữ đoàn, Trung đoàn đều ở xa. Tất cả đang di chuyển. Chúng tôi lại
đang ở trong rừng. Máy truyền tin không thể hoạt động tầm xa. Chúng tôi
đã hoàn toàn cô độc. Chúng tôi lạc lõng giữa khu rừng rậm mênh mông với
nhiều mật khu, nhiều căn cứ địa của địch. Khu rừng này nối tiếp với mật
khu Hắc dịch nổi tiếng của VC. Hiện giờ, Sư đoàn 341 của Cộng sản Bắc
Việt đang chiếm cứ nơi này. Đây là một Sư đoàn tân lập, gồm các Tiểu
đoàn Chủ lực của hai tĩnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Chúng vừa mới được đưa vào
Nam hồi cuối tháng 2, sát nhập vào Quân đoàn IV do Tướng Hoàng Cầm chỉ
huy. Binh sĩ phát âm giọng Nghệ - Tĩnh, rất khó nghe.
Lối 9 giờ,Tiểu đoàn đến một khu rừng
cao su, phía tây căn cứ Long Giao. Đơn vị tiền phương chạm địch. Nhưng
địch quân chỉ là một toán nhỏ, cấp Tiểu đội. Chúng đã nhanh chóng bị
thanh toán. Liền sau đó, đơn vị tiền phương lại chạm địch. Lần này địch
phản ứng mạnh. Nhưng không có pháo binh và phi cơ yểm trợ. Phải giao
chiến trong tình trạng này thật là bất lợi. Tôi sợ quân sĩ bị thương
vong sẽ gây phiền phức. Tôi quyết định đoạn chiến. Vừa lúc đó, từ hướng
đông, một đoàn xe Molotova chạy vào -sau này đi ở tù cải tạo, được biết
đó là loại xe quân sự do Trung Cộng chế tạo để chở quân, có tên là Hồng
Kỳ, hơn 10 chiếc đang đổ quân. Chúng định đánh bọc hậu Tiểu đoàn. Chúng
định lùa Tiểu đoàn tôi vào khu rừng trước mặt, nơi đại quân của chúng
đang chờ sẵn để tiêu diệt. Tôi cho đổi hướng, Tiểu đoàn đi nhanh về
hướng Bắc, lẩn vào khu rừng chồi. Sau đó phải đổi hướng theo hướng Tây
trở lại. Khi đến một con suối, Đại đội 2 của Trung úy Võ Văn Mười báo
cáo phát hiện một túp lều, bên trong có mấy tên VC đang ngồi uống nước
trà. Một khẩu K.54 treo trên vách phên. Không thể lẩn tránh kịp. Tôi cho
lệnh nổ súng, thanh toán cho gọn. Toán VC bị tiêu diệt. Tiểu đoàn tiếp
tục tiến. Đến chiều, chúng tôi đến một khu rừng chồi tương đối thoáng,
nối tiếp là rừng rậm. Tôi cho lệnh nghỉ ngơi. Tôi hội ý với Đại úy Tiểu
đoàn phó Nguyễn Tấn Chi, K.12 Thủ Đức, và các Đại đội trưởng. Tiểu đoàn
sẽ chia làm hai cánh: một do tôi trực tiếp chỉ huy, và một do Đại úy Chi
chỉ huy, xuyên qua rừng rậm, tiến về Long Thành. Tôi còn nhấn mạnh
thêm: Tùy theo tình thế, các Đại đội trưởng có thể đơn độc dẫn đơn vị
mình về điểm hẹn. Tôi phải ra lệnh phân tán như vậy vì tình hình rất
nghiêm trọng, địch với một quân số rất lớn, lại đã biết chúng tôi đang
trong vòng vây của chúng, sớm muộn gì chúng cũng sẽ tìm được và tiêu
diệt trọn đơn vị chúng tôi .
Trời đã về chiều. Bóng đêm đến nhanh.
Tiểu đoàn tiến vào khu rừng rậm. Từ bìa rừng vào chưa đến 100 mét thì
cánh quân của tôi chạm súng dữ dội với địch. Sau một ngày hành quân mệt
mỏi, lại phải chạm địch liên miên. Tinh thần căng thẳng, thể xác rã rời.
Nhất là khi tôi cho lệnh cố tránh né địch, bão toàn sinh mạng. Nên vừa
chạm súng được một lúc là chúng tôi tìm cách "chém vè". Bây giờ toán
quân theo tôi tất cả chỉ còn 28 người, kể cả tôi. Chúng tôi đã bị bao
vây chặt. Đêm đó là một đêm trăng mờ. Hai mươi tám người chúng tôi mò
mẩm, im lặng, tìm đường thoát thân trong bóng đêm, dưới ánh sáng mờ nhạt
của vầng trăng khuyết:
Chàng từ đi vào nơi gió cát,
Đêm trăng này nghỉ mát phương nao?
Xưa nay chiến địa nhường bao,
Nội không muôn dặm, xiết bao dãi dầu."
Thật ra thì đêm trăng đó chúng tôi không thể nào nghỉ mát được. Chúng
tôi đã phải "dãi dầu" suốt 12 ngày đêm tại Mặt trận Xuân Lộc. Ngày hôm
nay phải hành quân đơn độc, chạm súng liên tục, nhưng lại thiếu sự yểm
trợ của phi pháo, là hai yếu tố quyết định thành công của bất cứ cuộc
hành quân nào. Tiểu đoàn lại đang lọt giữa vòng vây trùng trùng điệp
điệp của địch. Chúng tôi đang tìm kế thoát thân. Gần nửa đêm, chúng tôi
lần mò đến một khu rừng thấp. Một con đường mòn cắt ngang. Tôi định cho
vượt qua thì gặp một toán Cộng quân di chuyển. Chúng dừng lại ngay trước
mặt, và phát loa kêu gọi:
Đêm trăng này nghỉ mát phương nao?
Xưa nay chiến địa nhường bao,
Nội không muôn dặm, xiết bao dãi dầu."
"Thiếu tá Nguyễn Hữu Chế, Biệt hiệu
Bảo Định, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2/43, Sư đoàn 18BB Ngụy. Hiện Tiểu
đoàn bạn đang bị quân Cách Mạng bao vây. Hàng thì sống, chống thì chết."
Tên bộ đội phát loa, giọng đặc sệt
Nghệ - Tĩnh. Chúng thuộc Sư đoàn 341 CSBV. Có thể chúng chỉ là những đơn
vị chủ lực Tỉnh vừa mới đôn quân thành chính qui vì nhu cầu chiến
trường miền Nam, nên kinh nghiệm tác chiến còn kém cỏi. Nếu không, có
lẽ......
Chúng tôi đổi hướng. Nhưng lại gặp
tiếng loa kêu gọi đầu hàng với nội dung và giọng nói như lúc nãy. Có lẽ
chúng đã ghi âm - Đầu óc tôi căng thẳng, hiện tại anh em chúng tôi như
kiến bò trong chén, tứ bề thọ địch, có thể nói thật, không hề cường điệu
là chỉ với tay ra là chạm địch - Thập phần nguy hiểm, tôi suy nghĩ:
phần số tôi đến đây là tận cùng sao! Nếu vậy, tôi phải có quyết định thế
nào để bảo toàn tính mạng cho thuộc cấp chứ! - Tôi bò đến gặp từng anh
em và nói với họ: "Các anh có thể ra, nhưng tôi thì không. Đợi tôi lẩn
tránh xa thì các anh có thể bắt đầu". Nhưng tất cả đều nhất quyết
"KHÔNG" - Lòng tôi chùng xuống, hai cánh mũi cay cay, nước mắt muốn trào
ra - Tôi hít thở thật sâu để cảm xúc lắng xuống, huynh đệ chi binh là
những giây phút này đây, khốn khó có nhau, sống chết có nhau là lúc này
đây! Cám ơn các anh em đã có những hành động quyết liệt, để khích lệ
tinh thần tôi, đã cho tôi nguồn hy vọng để tiếp tục đấu tranh giành sự
sống, trong lúc thập tử nhất sinh .......
Tiểu đoàn 2/43, đơn vị thiện chiến
của Sư đoàn 18BB. Kể từ thời cố Trung tá Hắc Long Đỗ Văn Tân, K.7 Võ
Khoa Thủ Đức làm Tiểu đoàn trưởng, giao lại cho cố Trung tá Hắc Long
Nguyễn Văn Thoại, gốc Thiếu Sinh Quân, dân Thủy quân Lục chiến, đến
Thiếu tá Bảo Định Nguyễn Hữu Chế là tôi, từng phục vụ tại Binh chủng
Biệt Động Quân. Dù chỉ một thời gian ngắn, nhưng cũng học được kinh
nghiệm tác chiến "tốc chiến tốc thắng" của Binh chủng ưu tú này, nên đã
giữ cho Tiểu đoàn luôn luôn là đơn vị xuất sắc của Sư đoàn cũng như của
Quân đoàn III.
Sau trận chiến An Lộc của Bình Long
anh Dũng hồi mùa hè đỏ lửa năm 1972, tôi được đại diện đơn vị về Bộ Tư
Lệnh Quân đoàn nhận lãnh phần thưởng do Cố Thiếu tướng Lê Văn Hưng, lúc
đó giữ chức TLP/QĐ trao tặng. Tết năm 1974, Tiểu đoàn lại được chọn là
đơn vị xuất sắc để Ông Tổng trưởng Kinh tế - Tài chánh Hà Xuân Trừng đại
diện Chính phủ đến ủy lạo. Và năm 1974, Tiểu đoàn được Tuyên dương Công
trạng trước Quân đội, Hiệu kỳ của Tiểu đoàn được gắn thêm một Anh Dũng
Bội Tinh với Ngành Dương liễu. Những chiến công vang dội mà Tiểu đoàn đã
gặt hái được đã làm cho Cộng quân khiếp sợ. Từ trận Tái chiếm Phi
trường Quản Lợi tại Mặt trận An Lộc, Bình Long; trận Bố Lá thuộc Quận
Phú Giáo, tỉnh Bình Dương; trận Thái Hưng thuộc Quận Công Thanh, tỉnh
Biên Hòa; trận Võ Đắc - Võ Su thuộc Quận Hoài Đức, tỉnh Bình Tuy; trận
tái chiếm Ngã Ba Dầu Giây thuộc Tỉnh Long Khánh hồi Hiệp định ngưng bắn
Paris đầu năm 1973. Đặc biệt tại trận này, khi khai thác tên tù binh cấp
B trưởng, tức Trung đội trưởng thuộc Trung đoàn 33 Cộng quân, hắn nói:
"Chúng tôi được lệnh của Thủ trưởng E, tức Trung đoàn trưởng, mỗi khi
gặp TĐ2/43 thì phải đoạn chiến và tìm cách chém vè! Không biết đó là lời
thật hay dối lòng để tâng bốc mình. Nhưng thực tế, TĐ2/43 đã làm cho
Cộng quân phải e dè và kiêng nể.
Nhưng giờ đây chúng tôi như những con
thú bị săn đuổi trong khu rừng săn bắn của Triều đình Nhà Thanh từ thời
đại Khang Hy đến Càn Long. Con thú chỉ có thể chạy trốn trong khu rừng
săn bắn rộng mênh mông, nhưng khó vượt thoát ra ngoài. Chúng tôi đang bị
sa cơ thất thế - Đau hơn nữa là cảnh sa cơ thất thế của chúng tôi không
phải vì tài hèn, sức mọn, mà vì bị đồng minh trói tay, hay nói rõ hơn
là bị .... bán đứng .
Lúc gần sáng, chúng tôi gặp một con
suối. Sau khi vội vàng cho lấy nước đổ vào bi-đông, và những bao gạo
sấy, chúng tôi lại lên đường. Phải tránh xa các con suối. Vì đó là nơi
địch cũng thường xuất hiện để lấy nước hoặc tắm giặt. Toán 28 người
chúng tôi hầu hết là lính Văn phòng, Truyền tin, Quân Y, Pháo binh....
Tất cả chỉ được trang bị súng ngắn hay lựu đạn để dể dàng làm việc. Chỉ
có một số anh em thuộc Trung đội Biệt Kích/TĐ là có súng M.16. Nhưng chỉ
với 28 người, lại đang nằm trong vòng vây địch, đang bị lùng đuổi. Muốn
sống còn, chúng tôi phải tìm cách lẩn tránh bọn chúng. "Tránh voi cũng
chẵng xấu mặt nào!".
Bước
sang ngày thứ ba, kể từ khi rời bỏ Xuân Lộc. Hoạt động của chúng tôi
vẫn thế. Ngày nghỉ, tìm những nơi rậm rạp chui vào. Đêm đến thì di
chuyển. Cứ nhắm hướng Tây, hướng Long Thành mà đi.
Đến
ngày thứ tư, tôi cảm thấy đã thoát ra được khỏi vòng vây địch, nhưng
tôi vẫn chưa dám trả lời máy, mặc cho SĐ, TR/Đ lo lắng, và những người
vợ lính đang ngày đêm khắc khoải chờ tin chồng tại Tiền trạm Tiểu đoàn ở
Long Bình. Hàng ngày, buổi sáng và buổi chiều đều có máy bay, khi thì
trực thăng, khi thì L.19, do Phòng 3 Sư đoàn, Ban 3 Trung đoàn, và
thường do Đại tá Lê Xuân Hiếu, Trung đoàn trưởng 43BB đích thân bay đi
tìm.
Tại
Tiền trạm Tiểu đoàn, đặt tạm bên ngoài căn cứ Long Bình, đối diện với
BTL/SĐ, Trung úy Nguyễn Văn Thắng, Sĩ quan quản trị nhân viên TĐ, đã bận
rộn suốt ngày để điều động những chiếc xe GMC về Long Thành đón những
toán quân vượt thoát vòng vây địch vừa từ trong rừng ra. Cánh quân của
Đại úy Tiểu đoàn phó Nguyễn Tấn Chi đã về đến gần như nguyên vẹn. Chỉ có
cánh quân Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng là đụng độ mạnh, phải phân
tán. Nhưng những quân nhân sống sót, cuối cùng cũng lần mò ra đến điểm
tập trung. Trung úy Thắng lại còn phải trả lời, phân ưu những Bà Vợ
Lính, kể cả Bà vợ của Thiếu tá TĐT, những quân nhân còn ghi nhận là "MẤT
TÍCH". Những người vợ lính đợi tin chồng, đang khắc khoải lo âu. Hàng
ngày họ đến đây từ sáng sớm. Có người tay bồng, tay dắt những cháu bé
mới 3, 4 tuổi. Hoàn cảnh thật thương tâm!
Buổi sáng ngày thứ tư của cuộc triệt
thoái, tức là ngày 24/4/75, Trung úy Thắng nhận được chỉ thị từ Sư đoàn
là phải chuẩn bị hồ sơ để làm lễ "TRUY THĂNG - TRUY TẶNG" cho những quân
nhân được ghi nhận là "MẤT TÍCH". Tin này, Thắng hoàn toàn giữ kín.
Thỉnh thoảng, Trung úy Thắng cũng nhận được những cú điện thoại từ Sư
đoàn, Trung đoàn của Thiếu tướng Tư lệnh Lê Minh Đảo, và Đại tá Trung
đoàn trưởng Lê Xuân Hiếu hỏi thăm: Phu nhân Thiếu tá Chế còn đó không?
Lối 5 giờ chiều, chiếc máy truyền tin
của Tiền trạm Tiểu đoàn bỗng vang lên giọng nói yếu ớt: "Hoàng Yến, đây
Bảo Định; Hoàng Yến, đây Bảo Định, nghe rõ trả lời." Đó là tiếng gọi
của tôi khi khi toán quân đang tiến tới một một khu rừng chồi thấp, mà
tôi nghĩ có thể đã thoát ra khỏi vòng vây địch. Lúc đó vừa lúc chiếc
L.19 bay ngang đầu. Vị Đại tá Trung đoàn trưởng của tôi ngồi trên đó,
đang gọi tìm tôi:
- Tôi nghe tiếng ai như tiếng Bảo Định
- Bảo Định đây, Hoàng Yến - tôi vội trả lời.
- Anh cho tôi tọa độ điểm đứng, dọn bãi đáp.
- Không được, tôi sợ chưa thoát khỏi vòng vây. Để tôi đi xa thêm nữa. Đợi sáng mai.
- Được, hẹn Bảo Định sáng mai.
- Bảo Định đây, Hoàng Yến - tôi vội trả lời.
- Anh cho tôi tọa độ điểm đứng, dọn bãi đáp.
- Không được, tôi sợ chưa thoát khỏi vòng vây. Để tôi đi xa thêm nữa. Đợi sáng mai.
- Được, hẹn Bảo Định sáng mai.
Sau đó, chiếc L.19 trở về căn cứ.
Toán quân của tôi tiếp tục cuộc vượt thoát. Cố di chuyển càng xa về
hướng Tây càng tốt. Hy vọng thoát được vòng vây của địch. Đã 4 ngày 3
đêm kể từ khi xuống núi. Có lẽ đây là giờ phút sung sướng nhất!
Sáng
ngày hôm sau, tức 25/4/75, lối 9 giờ, một đoàn trực thăng 4 chiếc bay
vào vùng. Tôi cho trải "paneau" làm tín hiệu nhận nhau. Tôi cho sắp làm 3
toán. Địa thế là rừng chồi. Chỉ có một khoảng trống nhỏ có thể dùng làm
bãi đáp cho một chiếc trực thăng. Chiếc thứ nhất đáp xuống bốc toán đầu
tiên rồi cất cánh an toàn. Chiếc thứ hai, bốc toán thứ hai. Cũng cất
cánh an toàn. Nhưng đến chiếc thứ ba, tôi ở trong toán thứ ba - trực
thăng vừa đáp xuống thì từ hướng Đông, AK, B.40 đồng loạt khai hỏa cùng
những tiếng la "xung phong" dậy trời. Toán quân còn lại của tôi nhanh
chóng lao vào trực thăng - Trực thăng vội vàng cất cánh - Vì muốn tận
mắt thấy các thuộc cấp được an toàn trước, nên tôi tự xếp mình vào toán
thứ ba và là người cuối cùng - Nhìn chiếc trực thăng đang bốc lên, nghe
tiếng súng các loại nổ rền, hòa lẫn tiếng hô "xung phong" của địch - Tôi
sững sờ - Cái chết đang đến trong đưòng tơ, kẽ tóc - Nhưng bản năng
sinh tồn chợt trỗi dậy - Tập trung hết sức lực còn lại, tôi chỉ còn kịp
chạy đến, nhảy mạnh lên, hai tay vội chụp lấy càng máy bay, ôm chặt.
Trực thăng lướt nhanh trên đầu ngọn cây rồi từ từ tăng cao độ, trực chỉ
Long Bình. Người xạ thủ đại liên, gunner, cùng những người lính trong
lòng máy bay cố nắm chặt hai tay tôi, và kéo tôi lên. Nón sắt và bản đồ
đã rơi mất. Tôi mệt nhừ, ngồi im bất động. Cặp kính cận thị của tôi cũng
không còn. Những giọt nước, nước mắt hay là máu từ từ lăn xuống trên
khuôn mặt dãi dầu mưa nắng và trận mạc từ hơn hai tuần lễ nay, tôi cảm
thấy mằn mặn.
Trực
thăng hạ thấp, chuẩn bị đáp. Từ trên cao, tôi đã nhìn thấy mờ mờ vị Đại
tá thân yêu đã mấy ngày đêm lo âu cho sự an nguy của tôi và Tiểu đoàn
2/43 chúng tôi; đang đứng chờ trước đầu xe jeep, đậu sát LZ, đàng sau
văn phòng Tư lệnh. Ông đón tôi với tất cả nỗi mừng vui của người anh cả
đang dang tay đón đứa em thất lạc trở về mái nhà xưa. Ông nói: "Lên xe
vào gặp Thiếu tướng Tư lệnh. Ổng đang chờ anh!" .
BẢO ĐỊNH
2005
BẢO ĐỊNH
2005
Subscribe to:
Posts (Atom)







