Monday, August 9, 2021

Tượng Đài Việt Mỹ ở Westminster, CA Qua cách nhìn của khoa Phong Thủy.

Thứ năm - 19/04/2012 05:55
Tượng Đài Việt Mỹ ở Westminster, CA Qua cách nhìn của khoa Phong Thủy.
Hải Quân Bắc Việt đã chủ động tấn công trước vào các giang đỉnh của lực lượng Hải Quân Hoa Kỳ đang tuần tiểu ngoài khơi vịnh Bắc Việt ngày 31 tháng 7 năm 1964 . Đó chính là lý do cần thiết mà chính phủ Hoa Kỳ đã nhiều năm chờ đợi để đưa quân vào tham chiến tại chiến trường Việt nam. Ngày 4 tháng 8 năm 1964, TT Johnson đề nghị Quốc Hội Hoa Kỳ chấp thuận Nghị Quyết Vịnh Bắc Việt, The Gulf of Tokin Resolution, lên án hành động tấn công của Bắc Việt, thì các chiến sĩ của Không Lực Hoa Kỳ cũng đã nhảy vào vòng chiến.
Ngay sau đó, tại chiến trường Bình Giả, các lực lượng Bộ Binh Hoa Kỳ cũng phải đụng độ lần đầu với một lực lượng cộng quân cấp Trung Đoàn, được trang bị đầy đủ các loại vũ khí tối tân nhất của khối cộng sản. Thế nhưng, chiến sử của Quân Đội Hoa Kỳ thì ghi trận Ấp Bắc, cạnh Mỹ Tho, vào những ngày cuối của năm 1963 mới là trận đầu tiên người lính trận của Hoa Kỳ chiến đấu cùng một chiến hào với các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa. Ngay trận đụng độ đầu tiên, cho dù cộng quân bỏ lại hơn 100 xác tại chiến trường, nhưng 3 chiến binh Hoa Kỳ và 65 chiến sĩ của Quân Lực VNCH cũng đã ngã xuống. Cuối năm 1965 quân đội Hoa Kỳ đã đổ 184.300 quân vào chiến trường Việt Nam. Tháng 12, 1966 chưa kể đến trên 30.000 chiến sĩ của các biệt đội thuộc Lực Lượng Đặc Biệt và Dân Sự Chiến Đấu, số quân tăng vọt lên 385.300 người - Gần bằng với con số ở các thời điểm cao nhất - thuộc đủ cả 3 binh chủng Hải, Lục và Không Quân. Có phải vì Cộng Sản Bắc Việt đã vô cớ tấn công vào lực lượng Hải Quân, cho nên Hoa Kỳ phải ào ạt đổ gần nửa triệu quân, thuộc đủ các binh chủng vào chiến trường Việt Nam tham chiến để trả đũa, hay vì một lý do nào khác? Và, lý do tại sao các chiến sĩ của Quân Lực Việt nam Cộng Hòa đã anh dũng chiến đấu bên cạnh người Mỹ, để sau ngày 27 tháng 1 năm 1973, người Mỹ rút đi rồi mà họ vẫn phải kiên cưòng tiếp tục chiến đấu? Đọc lại “Người Mỹ và Chiến Tranh Việt Nam“, Vietnam Bibliography 2001, trang 92 và trang 202, tác giả Nguyễn Kỳ Phong ghi lại thì rõ biết : “..........John F Kennedy khi còn là Dân Biểu Quốc Hội nhân dịp viếng thăm Việt Nam vào tháng 11 năm 1951 trong một buổi họp tại tòa Đại Sứ Mỹ tại Saigòn đã luôn miệng hỏi tại sao người Việt chiến đấu bên cạnh người Pháp để Pháp giữ quê hương cho họ như là một thuộc địa? Tại sao chúng ta phải hùa theo người Pháp, một quốc gia đang cố gắng nắm giữ một tàn tích đế quốc ở Đông Dương? (Trang 92).
...........Mười năm sau, ở cương vị Tổng Thống Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, Kennedy đã không ngần ngại tiết lộ rõ cho báo chí biết là ông đã quyết định ngăn chận ảnh hưỡng cộng sản ở ĐNÁ và sau khi được giới quân sự phân tích ưu và khuyết điểm của 2 chiến trường Lào và Việt Nam, Kennedy đã nói với Ngoại Trưởng Rusk là ông chọn VN vì VNCH quyết tâm chống cộng và sẽ chiến đấu. Việt Nam là mặt trận “. Đúng ! Việt Nam là một mặt trận Người chiến binh Hoa Kỳ đã đến Việt Nam không phải để gây chiến mà để nhằm ngăn chận ảnh hưởng cộng sản ở Đông Nam Á. Và, người Chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thì đã sát cánh cùng với các chiến sĩ của quân đội Hoa Kỳ rõ ràng là vì lý tưởng Tự do. Họ đã không chiến đấu bên cạnh người Mỹ để người Mỹ giữ quê hương cho họ như là một thuộc địa. Cũng đã hơn 30 năm rồi. Bao nhiêu người lính trận Hoa Kỳ đã ngã xuống trên đất Việt Nam? 58.156 người ? Trong đó bao nhiêu người đã chết và bao nhiêu người vẫn còn ghi nhận là mất tích ? Cho dù con số vẫn còn chưa dứt khoát. Là vì vẫn còn nhiều hình quả trám chưa được khắc đủ đậm trên 2 bức tường đá cẩm thạch đen Vietnam Veterans Memorial, trên công viên The National Mall tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn , để xác quyết tên người đã vĩnh viễn hy sinh. Nhưng dù sao thì các chiến sĩ của Hoa Kỳ vẫn cũng còn đỡ tủi, vì ít ra họ cũng còn được người dân Hoa Kỳ ưu ái dựng cho họ một Đài Tưởng Niệm ngay tại trung tâm Thủ Đô của đất nước họ. Còn hàng triệu chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Sẽ không bao giờ có được một con số thống kê tin cậy là bao nhiêu người đã nằm xuống để bảo vệ cho quê hương và cho chủ nghĩa Dân Chủ -Tự Do. Đọc Nhớ Huế, trang 97, để nghe tác giả Phạm Thành Châu kể lại một trong hàng vạn mảng bi tráng của người lính chiến Quân Lực VNCH vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến “ ...........Sau này tôi mới biết, không phải chỉ riêng tôi, biết bao đơn vị hành chánh, cảnh sát , quân đội... cấp chỉ huy đã chạy đâu mất tiêu mà người chiến sĩ vẫn không rời vị trí chiến đấu cho đến khi gục chết vẫn không hề ân hận điều gì. Họ cảm thấy đất nước lâm nguy , bi đát đến độ chỉ biết đem thân ra chống đỡ một cách vô vọng, quên cả bản thân, cha mẹ, vợ con ..............” , Mồ hôi và Máu của triệu chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã đổ xuống. Người Việt yêu chuộng Dân Chủ và Tự Do vẫn chưa quên được hình ảnh những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã không rời vị trí chiến đấu cho đến khi gục chết vẫn không hề ân hận điều gì! Vậy mà ngay trên quê hương của họ, người sống cũng không có đất để sống thì làm sao mà mong cầu cho được một tượng đài để kỷ niệm? Rõ biết như thế, thì mới có thể đồng cảm với những người Việt tha hương trên đất khách, cho dù gặp phải khó khăn đủ mặt, mà họ vẫn quyết tâm xây dựng cho bằng được một Tượng Đài Việt Mỹ tại Westminster, tiểu bang California Hoa Kỳ.
Sáng ngày 27 tháng 4 năm 2003, trên vạn người Việt yêu chuộng Tự Do các nơi đã đổ về để tham dự Lễ Khánh Thành Tượng Đài Việt Mỹ tại công viên Freedom Park, cạnh Tòa thị chính thành phố Westminster. Cờ Vàng Ba Sọc và cờ của Hoa Kỳ tung bay rợp cả khu Little Saigon và hình ảnh các cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa, hùng khí vẫn còn cao ngất, vào hàng thẳng tắp, nghiêm chỉnh chào kính, đã làm cho hàng ngàn người không cầm được nước mắt. Craig Mandeville, Phó Chủ Tịch Hội Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ tại Orange County cũng hòa với lòng người Việt, hảnh diện cho rằng cho đến hôm nay, chưa có nơi nào có tượng hai chiến binh Việt Mỹ đứng bên nhau như ở Westminster. Người Việt yêu chuộng Tự Do ở khắp mọi nơi, bằng mọi cách, đã hằng bày tỏ lòng mình với đất nước, với huynh đệ chi binh. Tại vùng Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn, khu Eden, trước hành lang Phở Xe lửa, một số cựu chiến binh, vào những ngày cuối tuần, dù thời tiết có khắc nghiệt mấy, họ vẫn kiên nhẫn đứng bán lẻ từng tờ báo. Tiền lời thu được, phần lớn được chuyển về Việt Nam gởi tặng cho những gia đình thương phế binh VNCH. Khách thử ghé qua một lần, đọc vài lá thư từ Việt Nam gởi sang, thì lòng mới thấm nỗi khốn cùng của số cựu chiến binh đang còn tại quê nhà. Ngay cạnh khu thương mại Little Saigon hàng ngày vẫn biết bao người âm thầm chắt chiu gom góp, có được ít nhiều là họ gởi về cho trẻ em mồ côi và các gia đình nghèo khó, chỉ vì cha hoặc chú của các gia đình nghèo này một thời là chiến sĩ chống cộng. Anh Thanh Lê, người bạn 40 năm, gặp lại mới biết pháp danh của anh là Tâm Chơn, lại chính là người đang nỗ lực quyên góp để mua đất xây dựng Trung Tâm Tu Học Viên Giác tại Ấn Độ. Vừa nghe nhắc đến Tượng Đài, anh liền sẳn sàng tạo mọi điều kiện để khách xa mới đến có dịp được đi thăm. Anh cho rằng đó cũng là cách để bày tỏ lòng, là mình vẫn còn mang nặng ơn nghĩa của những chiến sĩ VNCH đã hy sinh xương máu và sự sống còn cho non sông gấm vóc Việt Nam. . . . . . . . . . . . . Tinh thần huynh đệ chi binh của các Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Công Hòa mỗi nơi thể hiện một cách , tùy điều kiện và hoàn cảnh địa phương. Thế nhưng, cho đến bây giờ, quả thật chưa có nơi nào có tượng hai chiến binh Việt Mỹ đứng bên nhau như ở Westminster.
Tượng Đài vĩnh viễn sẽ là biểu tượng cho tinh thần của người Việt Nam yêu chuộng tự do và cũng là hình thức để bày tỏ lòng biết ơn sâu xa nhất đến các Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa và các chiến binh Hoa Kỳ đã chiến đấu và đã nằm xuống trên đất nước Việt Nam thân yêu. Nhân kiệt với địa linh: Khách có thể dọc theo Westminster Ave., gặp Monroe thì quẹo trái vào đường All American Way. Hoặc từ Beach Blvd vừa qua khỏi Hazard Av, nhớ quẹo phải vào con đường 13. Vừa mới quẹo vào, khách sẽ thấy ngay Tượng Đài là hai pho tượng bằng đồng cao 11 feet sừng sững dưới cờ Vàng Ba Sọc và lá cờ Hoa Kỳ luôn phất tung bay trong gió. Nếu tính từ tâm công viên Freedom Park , nhìn về hướng Tây thì hai pho tượng ở bên góc trái sát kề bãi đậu xe. Khách có thể nhìn thấy rõ tượng đài là 2 chiến binh một Mỹ, một Việt, đứng kề bên nhau. Người lính Mỹ có vẻ như ngóng trông, như đang dùng dằng lưỡng lự, tay súng buông lỏng và nón sắt trên tay. Người chiến binh Việt Nam đứng lùi sau một bước, trang bị chuẩn bị vẫn trong thế sẳn sàng, nón sắt trên đầu và súng vẫn ở trên vai, ngón trỏ của tay trái chỉ xuống, biểu lộ thái độ cương quyết. Tiếng súng tạm ngưng, tương đối an toàn để có thể thảnh thơi đôi chút. Vũ khí trang bị còn đủ. Lựu đạn vẫn còn bên hông và lưỡi lê chưa cài trên đầu súng thì trận này chưa hẳn phải là trận cuối. Họ vẫn còn cơ hội mặt đối mặt để cận chiến với quân thù, thì cớ sao người lính Mỹ đã lộ vẻ hoang mang? Có phải vì người lính Mỹ đang phải đối đầu vơí đằng trước là hỏa lực khủng khiếp của cả khối cộng sản, mà sau lưng là những áp lực nặng nề của quá nhiều mưu toan chính trị?
Ngay sau Tượng Đài là một khoảng trống, không gì che chắn để bảo vệ, ôm ấp cho Tượng Đài đủ ấm. Giòng Westminster Channel từ phía Đông ngỡ như bươn bả chảy dồn sinh lực, vừa về tới gần công viên Freedom Park thì đột ngột đổi hướng, quả thiệt hết sức là vô tình. Có khác chi năm 1973, chính phủ Hoa kỳ đã đột ngột rút quân, để lại một mình cho Quân Lực VNCH gánh vác cuộc chiến đang thời kỳ sôi động nhất? Khách đến tham quan Tượng Đài sao khỏi ngậm ngùi khi mắt rõ thấy hình ảnh của người chiến binh Việt Nam Cộng Hòa xông pha đầu tuyến mà không được trang bị áo giáp an toàn để che thân như người lính Mỹ. Tượng Đài không đủ ấm là vì giòng Westminster channel đột ngột chuyển hướng xoay lưng vô tình và người lính trận lại không được trang bị bảo vệ an toàn. Nếu đem so lại với thực cảnh của cuộc chiến tranh Việt Nam thì cả hai đều như bị những móc xích vô hình ràng buộc không rời được nhau. Tất cả hoàn toàn như đang bị vây phủ bởi vòng tương quan nhân quả, thì rõ ràng Đất Trời cũng đã cảm ứng được với lòng người. Lòng người đã được Đất Trời cảm ứng. Âm với Dương nhất định đã hòa hợp và sinh khí phải được tạo thành thì chắc chắn Phong Thủy nơi này phải có xảo diệu chi đây. Có phải giòng Westminster channel thoạt mới nhìn, tưởng như đang dồn hết sinh lực bươn bã chảy về. Nhìn kỷ mới thấy giòng Channel đã gần cạn, nước đã bị ố dơ. Thủy cạn và bị ố dơ là phạm phải vào Ngũ Hung của Thủy. Vậy nên Westminster channel đột ngột trở mình, không chịu ôm Tượng Đài Việt Mỹ vào lòng, mới thoạt nhìn thì ai cũng nghĩ là Hung, nhưng đâu ngờ lại trở thành Cát . Từ ngàn xưa người ta đã biết nguồn nước có sâu hay nông, mà đoán được khí thế của Long mạch mạnh hay yếu. Nhìn nước đục hay trong mà đoán biết huyệt chân hay giả. Phía đằng sau Freedom Park còn có giòng Santa Anna nước tràn đầy sinh lực, lượn ôm toàn cục vào lòng, da diết hữu tình. Long mạch mạnh mẽ đầy khí thế như thế thì không lẻ khu vực Tượng Đài lại không đủ Ấm? Biết bỏ gần mà lấy xa, bỏ cái xấu mà lấy cái tốt, bỏ cái nhỏ mà lấy cái lớn, thì sao không là Xảo Diệu? Đất trời đã cảm ứng với lòng người. Đạo người đã hòa hợp với Đạo Trời. Địa mạch đã được tốt lành. Tượng Đài chắc hẳn phải linh thiêng. Lại còn biết bỏ gần mà lấy xa, bỏ ngắn mà lấy dài, thì ngày 30 tháng 4 năm 1975 chắc gì là ngày cuối cùng của cuộc chiến?
Nếu cho rằng kết luận như vậy là vội vã, thì thử toán thêm quẻ Mai Hoa. Có phải dưới chân Tượng Đài là bệ đá cẩm thạch, màu đen tuyền, bao tròn nửa vòng ôm kín Lư hương Hỏa khí. Khoa Địa Lý Phong Thủy xưa nay đều cho rằng Đá hành Kim - Vòng tròn cũng hành Kim - Lưỡng Kim tương ngộ - tương sinh với Thủy thì Thủy phải Tướng. Trong lòng của Thủy Khí là Lư hương khí Hỏa thì đúng là Thủy ngoại Hỏa nội, Thủy thượng Hỏa hạ, Thủy Hỏa Ký Tế là tượng nước ở trên lửa, nước lửa giao nhau. Trong 64 quẻ Dịch, chỉ Kỷ Tế mới có đủ 6 hào cư đúng vị. Nghĩa của Kỷ tế là đã qua sông, là chuyện đã xong rồi, hay chuyện đã nên, đã cùng, thì coi như cuộc chiến Việt Nam đã tàn, đã xong. Nhưng nếu không vội vã, mà phải nhìn kỷ toàn cục thì có phải Lư hương Hỏa khí lại được đặt để ngay trên một hồ nước đầy tràn: Lửa trên nước là Hỏa thượng Thủy hạ, tượng của quẻ Hỏa Thủy Vị Tế? Sau Kỷ Tế đến Vị Tế, trời đất cũng đã sắp bày như vậy. Kinh Dịch cũng xếp thứ tự như thế. Kỷ Tế là việc đã xong mà Vị Tế là quẻ của sự việc Chưa Cùng. Theo dự án thiết kế ban đầu, Lư Hương cao 4 thước Tây để tỷ lệ hài hòa với chiều cao của tổng thể Tượng Đài. Nhưng vì điều kiện an toàn quy định, để công trình xây dựng được phép tiến hành, buộc phải nâng chiều cao của Lư Hương lên 6 thước Tây. Hai khí Thủy Hỏa đang giao nhau mà Lư hương khí Hỏa thấp yếu, thì sẽ bị Thủy đương Vượng dập tắt tức thời. Hỏa mà bị dập thì coi như mọi chuyện đã an bài. Lư Hương may nhờ phải tăng chiều cao lên 6 thước Tây, chỉ vì quy định an toàn trong thiết kế, mà Khí Hỏa hữu lực để thành tựu được Hỏa Thủy Vị Tế. Vị Tế là quẻ của chuyện Chưa Cùng, là chuyện vẫn còn sinh sinh, tiếp diễn, thì cuộc chiến chắc gì đã dứt? Mặt khác, vì an toàn của hệ thống dẫn Gaz, Lư Hương phải đặt xoay hai chân ra đằng trước, một chân phía sau. Xưa nay tất cả Lư Hương trước chùa, đình hay miễu thường được đặt một chân đằng trước, hai chân đằng sau. Lâu ngày quen mắt, trở thành cái Lệ trong luật tục, cái Nghi trong Lễ Đạo. Lư Hương trước Tượng Đài hai chân phía trước như vậy là ngược khác với lệ thường. Hướng của Tượng Đài xê dịch trong khoảng 260 độ Tây - Tây Nam. Khoa Phong Thủy gọi là chung là hướng Dậu. Nhưng theo phái Phong Thủy Cổ Dịch Huyền Không, phía sau Tượng Đài gọi là Sơn và trước gọi là Hướng thì 260 độ, phải gọi chính xác là Địa Nguyên Long, Sơn Giáp Hướng Canh. Tượng Đài hoàn thành năm 2003 thuộc cuối vận 7, thì Ngũ sẽ đáo Sơn và Cữu sẽ đáo Hướng. Sơn tinh Ngũ và Hướng tinh Cữu nhập giữa đều bay thuận. Tượng Đài đang bị Phạm thượng Sơn hạ Thủy, quẻ Hướng bị sinh xuất: Hung. Lại theo Hiệp Kỷ Biện Phương Thư, năm Quý Mùi 2003, thuộc vận 7 Hạ Nguyên thì Lục Bạch nhập Trung Cung. Bát Bạch tại Đoài và Tứ Bích tại Chấn. Tam Sát: Thân Dậu Tuất thì hướng Dậu của Tượng Đài đang phạm vào Tam Sát. Tang môn cũng lại đang lãng vãng hướng này. Vậy cái Lư hương đặt ngược khác với lệ thường, mà lại tránh được Họa của Tang Môn và Tam Sát, đồng thời tránh được Hung của hướng Tây vận 7. May mắn lạ thường như vậy, làm sao mà Tượng Đài không linh cho được ? Ấn sâu sau Tượng Đài Việt Mỹ là những trang chiến sử oai hùng. Trên đường dây điện thoại, vẫn còn nghe Nam Lộc nhắc là Khách đến có thể lật lại từng trang chiến sử, để có dịp gặp lại những người bạn cùng chiến đấu năm xưa. Đôi lúc khách cũng có thể gặp lại chính mình hoặc người thân, ruột thịt của gia đình mình trong đó. Có quá nhiều kỷ niệm buồn vui để nhớ, nhưng chắc chắn tự trong tim, khách không khỏi thấy dấy lên niềm tự hào. Khách nhớ đừng có quá bận tâm tại sao Lư Hương để ngược, chỉ vì Tượng Đài vẫn còn đang đặt tạm tại xứ người. Khách cũng đừng hỏi tại sao những thành viên người Việt trong Ủy Ban Xây Dựng Tượng Đài, phải chịu nhiều sóng gió bão bùng trong suốt quá trình thực hiện, chỉ vì họ là những Chiến Sĩ tuyến đầu của cuộc chiến. Chiến hữu Hải Quân: Hồ Ngọc Minh Đức vừa mới được các đồng đội Hải Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vinh danh là tin vui mới nhất có thể vay mượn được để làm quà tặng tiễn khách ra về.
Tác giả bài viết: Quảng Đức

Tuesday, July 27, 2021

Các căn cứ Thủy Quân Lục Chiến VNCH 1966

  

Hình ảnh thu thập từ bộ ảnh Frank Harris III Collection, US Marine Corps - trong bộ hình bao gồm Bộ Tư Lịnh TQLC ở Sài Gòn và Trung tâm Huấn Luyện gần Thủ Đức.
Vào năm 1966, chưa thành lập cấp Sư đoàn, Thủy Quân Lục Chiến VNCH, lúc đó còn là Lữ Đoàn TQLC, bao gồm 2 Chiến Đoàn A và B Thủy Quân Lục Chiến. Chiến Đoàn A hay còn gọi là Chiến Đoàn An Dương Vương, Chiến Đoàn B hay còn gọi là Chiến Đoàn Bắc Bình Vương. Bộ tư lệnh đặt tại trại Cửu Long, Thị Nghè.




 

Saturday, July 17, 2021

Chuyến xe tháng 5 (kỳ 3) - Vương Mộng Long

 

Lời giới thiệu: 

Tháng 5 năm 1975 chiến tranh đã hoàn toàn chấm dứt. Trên toàn cõi Việt-Nam không còn nghe bom nổ, không còn thấy đạn bay. Nhưng giữa tháng 5 năm 1975 cũng có những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa đã bị đem đi mất biệt, mãi mãi không về…

Tôi ghé phòng Y hỏi thăm một người đàn bà đang ngồi trước cửa,

– Chị ơi! Chị làm gì ở đây? Sao hôm nay phòng nào cũng trống không vậy chị? Bà con đi đâu hết rồi?

Người nữ quân nhân (hay công chức) trả lời,

– Tôi là nhân viên của Ty Cảnh Sát tỉnh Bình-Thuận bị tập trung ở phòng Y. Hôm nay xe đã tới chở các ông, các bà ở mấy phòng khác đi sạch trơn. Cán bộ canh gác cũng lên xe đi hết, chỉ bốn người của Quân Khu 6 chúng tôi còn ở đây thôi anh ơi!

– Mấy người ở phòng “Zét” đi lúc nào vậy chị?

– Mấy ông phòng “Zét” tập trung từ sáng sớm, mãi tới hơn 3 giờ chiều họ mới bị còng tay đưa lên xe, chẳng biết đi đâu.

Phòng Y và phòng Z ở sát vách nhau, vậy mà cả tuần lễ sau tôi mới biết phòng Y chứa những người bị gọi tập trung theo lệnh của Quân Khu 6.

(Quân Khu 6 gồm các tỉnh Quảng Đức, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Tuy.)

Tôi cám ơn chị nữ công chức Việt-Nam Cộng-Hòa rồi lên văn phòng chính của trại để hỏi cho rõ sự tình. Ngay cửa vào, tôi chạm mặt một cán bộ người Nam.

Vừa nghe tôi xưng danh, hắn đã hét lên,

– Anh là Vương Mộng Long hả? Anh đi đâu mà giờ này mới vác mặt tới đây? Xe của Quân Khu 5 chờ anh cả nửa ngày mà không thấy anh, họ đã khởi hành rồi! Anh đúng là thằng phá hoại!

La hét xong, y quay vào trong ra lệnh,

– Ðồng chí trực trại đem thằng này đi nhốt cho tôi!  

Thế là tôi bị còng hai tay dẫn tới góc rào, tống vào cái điếm canh bỏ trống nằm đằng sau một cái lô cốt lớn bên phải cổng trại.

Tới 6 giờ chiều thì kẻng tan sở gióng lên. Mấy người bị quản thúc trong phòng Y lần lượt theo nhau đi ra cổng.

Trong khi đó tôi ngồi bên song sắt ngó ra ngoài. Tôi không biết những bạn bè cùng phòng Z của tôi đã bị đem đi đâu. Nhưng cứ nghĩ tới câu nói mà tên cán bộ người Hải Hưng đã nói với tôi: “Nếu anh mà bị đưa về Quân Khu 5 thì khó toàn mạng đó! Có trốn được thì trốn đi! Cố gắng kín miệng, đừng cho ai biết tôi đã nói với anh điều này!”

Tôi thấy số mình còn hên. Có khi phải bất đắc dĩ chạy xe ôm không công một ngày mà tôi đã được toàn mạng cũng nên.

Ðúng 6 giờ 5 phút, tên cán bộ đã ra lệnh nhốt tôi chợt đi xăm xăm tới cửa điếm canh,

– Anh đã cơm nước gì chưa? Nếu đói thì chờ đó! Chút nữa sẽ có người đem cơm cho anh ăn.

Chợt nhớ tới cái giấy chứng nhận của tên Việt-Cộng ở Tòa Ðô Chánh, tôi nói với tên cán bộ,

– Hôm nay tôi tới trễ là có lý do! Cán bộ hãy mở còng tay để tôi lấy bằng cớ cho cán bộ coi.

Ðọc xong những chữ viết và săm soi kỹ cái dấu mộc đỏ, y gật gù,

– Tôi sẽ giữ cái giấy chứng nhận này. Bây giờ tôi cho phép anh về. Sáng mai đúng 8 giờ anh phải tới trình diện tôi trong phòng trực. 

Năm phút sau tôi ra tới cổng, chị Bền đang chờ tôi, mặt chị không giấu nổi nỗi âu lo,

– Chuyện gì vậy chú?

Tôi vắn tắt kể cho chị biết lý do vì sao tôi tới trễ và lặp lại những lời người nữ Cảnh Sát tỉnh Phan-Thiết đã nói với tôi cho chị nghe.

Ngày 21 tháng 5 tôi gửi xe sau quán của chị Bền rồi vào văn phòng chính của trại. Ở đây đã có bốn người, ba nam, một nữ của phòng Y ngồi chờ sẵn.

Năm chúng tôi là những người còn sót lại sau cùng của đợt tập trung ngày 11 tháng 5 năm 1975 của Ủy Ban Quân-Quản Thành Phố Sài-Gòn, Gia-Ðịnh.

Sau này tôi mới hay, hôm qua, 20 tháng 5 là thời hạn chót để các đơn vị địa phương tới tiếp nhận người.

9 giờ sáng chúng tôi được lệnh lên xe. Tôi lựa một chỗ ngồi bên trái, đằng sau xe để khi ra tới đường Lê Văn Duyệt tôi có thể vẫy tay báo hiệu cho chị Bền.

Xe vừa ra tới cổng, tôi đã thấy chị Bền và đứa con gái lớn của chị đứng bên lề vẫy tay. Tôi chắc mẩm rằng, thế nào chiều nay gia đình tôi cũng sẽ nhận được tin tôi bị đưa đi xa rồi.

Chúng tôi được chở đi quanh co một hồi rồi đậu trước khám đường Chí -Hòa.

Tên cán bộ trưởng toán ra lệnh cho chúng tôi xuống xe rồi dẫn chúng tôi đi vòng vòng một lúc sau thì chui vào một cái sân cỏ nhỏ. Y bảo chúng tôi đứng chờ nơi sát cổng, còn y thì ôm một tập hồ sơ đi vào phòng trực.

Tôi thấy dưới hiên một dãy nhà có vài người đứng chen chúc nhau. Trong số những người đang đứng lố nhố đó, tôi nhìn mặt được ba ông Biệt Ðộng Quân là Hồ Văn Hòa, Lương Ðình Chi và Nguyễn Hiệp. Tôi giơ tay vẫy họ, họ vẫn tỉnh bơ, có lẽ họ không nhận ra tôi.

Sau mười phút đợi chờ, tên cán bộ trưởng đoàn hối hả đi ra, y ngoắc tay cho chúng tôi đi theo.

Tới xe, y lớn tiếng nói với tên Việt-Cộng tài xế,

– Hết chỗ rồi! Chúng nó không nhận! Mình đi Quang Trung!

Xe nổ máy chạy ra ngoại ô Sài-Gòn, hướng về Trung Tâm Huấn Luyện Quang-Trung.

Tới cổng Trung Tâm Huấn Luyện Quang-Trung tên cán bộ trưởng đoàn lại lếch thếch ôm cái cặp đi vào.

Lần này chúng tôi không được xuống đất, mà phải ngồi yên tại chỗ.  

Mười phút sau thằng Việt-Cộng lại đi ra, lại ban lệnh cho thằng tài xế,

– Hết chỗ rồi! Chúng nó không nhận! Mình về Hoa Lư!

Trưa hôm đó chiếc GMC chở chúng tôi ngừng bánh trước một tòa nhà khá lớn nằm đối diện với sân vận động Hoa Lư trên đường Ðinh Tiên Hoàng. Vị trí này là cơ ngơi của một bộ gì đó tôi không nhớ, nay là chỗ đóng quân tạm thời của một đơn vị trực thuộc Quân Khu 7 Cộng-Sản. Trước sân có vài chiếc xe quân sự đang đậu.

Tên cán bộ dẫn giải ôm cặp hồ sơ đi vào cổng, mười phút sau lại đi ra.

Lần này y cho chúng tôi xuống xe. Chỉ tay về hướng căn phòng cuối dãy nhà, y ra lệnh,

– Các anh chị vào nghỉ trong đó, chờ phương tiện đi Quân Khu Ngoài!

Tôi nghĩ: “Quân Khu Ngoài chắc là Quân Khu 5 và Quân Khu 6”

Ngay khi đó, hai cán bộ Việt-Cộng khác từ sau khu dinh thự tiến ra vẫy tay gọi tên trưởng toán dẫn giải; rồi cả ba chụm đầu vào nhau bàn tán.

Mấy phút sau, ba tên này vừa nhìn về phía chúng tôi vừa viết viết, ký ký cái gì đó trên một mảnh giấy.

Cuối cùng, một thằng già Nghệ-Tĩnh bước tới trước mặt chúng tôi. Y hắng giọng “khạc! khạc!” vài ba cái rồi nói,

– Tôi đã ký nhận danh sách của các anh chị. Các anh các chị cứ ở tạm đây. Hôm nào có người ở Quân Khu Ngoài vào nhận, tôi sẽ cho các anh các chị đi. Bây giờ các anh các chị có thể về nhà, sáng mai đúng 8 giờ phải có mặt ngay chỗ này!

Nghe được câu này, tôi khoan khoái thở ra: “Thế là chưa sao! Chưa sao!”

Xế chiều, tôi mò về tới quán của chị Bền. Tôi kể cho chị hay diễn biến chuyện đã xảy ra trong ngày. Chị gật gật đầu,

– Như vậy chú còn hên hơn anh Bền! Không rõ giờ này anh Bền ở đâu? Chắc không lâu nữa chú sẽ bị chở đi gặp anh Bền. Gặp anh Bền, chú nhớ nói với anh ấy rằng, vợ con anh ấy suốt ngày cầu Trời Phật phù hộ, độ trì cho anh ấy. Vợ con anh ấy vẫn mong đợi từng ngày để gặp lại anh ấy!

Chị Bền đưa hai bàn tay lên vuốt mặt, nước mắt đã rơi, chị tôi không nói thêm được lời nào nữa…

Hôm đó tôi về tới nhà sớm hơn mọi ngày. Vợ chồng con cái chở nhau trên chiếc Honda đi quanh phố một vòng mà thấy trong lòng thật là vui, quên hết muộn phiền, lo âu.

Từ ngày 22 tháng 5 tôi không còn dùng Honda để làm phương tiện di chuyển nữa; tôi tới sân vận động Hoa Lư theo hai tuyến đường xe Lamb. Vì nếu tôi tiếp tục dùng Honda mà bất chợt người ta bắt tôi đi, thì gia đình tôi làm sao hay biết mà đi tìm xe? Vả lại cái sổ chủ quyền của chiếc xe lúc nào cũng phải nằm trong túi người lái nó. Lái xe mà không có sổ chủ quyền, gặp các trạm kiểm soát giao thông thì xe sẽ bị tịch thu ngay. Người nhà có tìm ra xe mà không có sổ chủ quyền thì cũng bó tay. Trong thời gian gửi xe ở quán cháo lòng của vợ anh Bền, tôi cũng gửi chị Bền cái sổ chủ quyền chiếc Honda của tôi.

Ðược cái là vấn đề kiểm soát giờ giấc của bọn Việt-Cộng này cũng rất dễ dãi, không chút khắt khe. Chúng tôi có tới trễ, tới muộn nửa giờ, một giờ, cũng không ai làm khó dễ gì.

Hàng ngày chúng tôi chỉ cần có mặt ký tên trên sổ điểm danh một lần, rồi muốn đi đâu thì đi, lâu lâu lại tạt về phòng cho có mặt.

Gần tới cuối tháng chúng tôi có thêm hai ông bạn mới. Hai ông này là hai ông thiếu tá khóa 10 Ðà Lạt; một ông làm Trưởng ty Cảnh-Sát, một ông làm Trưởng ty Chiêu-Hồi. Chẳng rõ các ông này do cơ quan nào mang tới gửi ở đây. Chắc hai vị này cũng là những người đang chờ bị bốc đi như chúng tôi.

Mãi hai ngày sau tôi mới biết ông Trưởng ty Cảnh-Sát tên là Nguyễn Hồ Ðịch, còn ông Trưởng ty Chiêu-Hồi tên là Trần Hướng Trung.

Một buổi trưa tôi rủ hai ông đàn anh Võ-Bị tản bộ ra ngã tư ăn bún bò. Khi chúng tôi quay về thì thấy bốn người Quân Khu 6 đang tụ họp trong văn phòng để làm việc gì đó. Lúc trở ra mặt người nào người nấy đều có vẻ tươi vui. Chúng tôi đang chuẩn bị đi về, nên không kịp hỏi han xem có chuyện gì đã xảy ra. Sáng hôm sau thì bốn người bạn này không xuất hiện nữa.

Thấm thoát đã qua đầu tháng 6, qua tin truyền đi trên Truyền Thanh và Truyền Hình thì Ủy Ban Quân Quản Thành Phố đã ra thông cáo rằng sĩ quan cấp thiếu tá trở lên sẽ phải trình diện đi học tập cải tạo tại vài địa điểm trong Sài-Gòn.

Tên Việt- Cộng thường ngồi nhận chữ ký hằng ngày của chúng tôi cho chúng tôi biết rằng từ nay Quân Khu 7 sẽ không cho phép các Quân Khu khác tới nhận người nữa. Như thế là chúng tôi không còn phải lo lắng chuyện sẽ bị chuyển giao cho các Quân Khu Ngoài.

Y nói, chúng tôi chỉ cần có mặt ở đây vào ngày các lớp học tập khai giảng thì đơn vị này sẽ cung cấp phương tiện để đưa chúng tôi tới trường, tới lớp. Y nhắc nhở chúng tôi nhớ chuẩn bị đem theo áo quần cùng những vật dụng cần thiết như kem đánh răng, bàn chải để tiện dùng trong thời gian một tháng học tập xa nhà.

Cũng từ ấy, chúng tôi có thể chia phiên nhau, một người có mặt, hai người kia ở nhà. Ba chúng tôi đều biết địa chỉ của nhau. Do đó, người trực có thể đi kêu hai người kia nếu có chuyện gì cần gấp.

Tên cán bộ quản chế cho chúng tôi biết rằng các trung tâm sẽ nhận người đăng ký từ ngày 13 tới 15 tháng 6 năm 1975. Chúng tôi sẽ được chở tới trung tâm vào ngày cuối, tức là 15 tháng 6 để khỏi phải chờ lâu tại trung tâm trước khi tới địa điểm học tập.

Ðúng 12 giờ trưa ngày 15 tháng 6 năm 1975 tôi và hai ông đàn anh được đưa lên xe để di chuyển tới các trung tâm tiếp nhận.

Xe chạy thẳng một lèo tới Trường Trung Học Lasan Taberd thì ngừng, tôi bị gọi xuống. Tên cán bộ hướng dẫn đem tôi vào văn phòng của trường, giao nạp tôi cho một sĩ quan Cộng-Sản.

Cầm cái biên nhận tù binh, tên cán bộ dẫn giải bắt tay tôi rồi nói,

– Mừng anh! Chúc anh học tập tốt, lao động tốt để sớm về sum họp với gia đình.

Sau đó tôi được một tên bộ đội dẫn lên lầu để nhập bọn cùng vài sĩ quan cấp thiếu tá đã trình diện sáng nay; vì vậy tôi không rõ hai ông thiếu tá khóa đàn anh của tôi bị đưa tới trung tâm nào. Mãi tới sáu năm sau, 1981 tôi mới gặp lại hai vị này ở Trại Z30C Hàm-Tân, Thuận-Hải.

Từ 15 tháng 6 năm 1975 tôi bắt đầu một chuyến đi xa dài ngày…

Nửa năm đầu, từ tháng 6 năm 1975 tới giữa tháng 10 năm 1975 tôi bị giam tại trại Long-Giao. Qua một tháng sống đời tù đày, tôi bắt đầu có ý định vượt ngục. Tôi đã bàn chuyện trốn trại cùng hai ông thiếu tá cựu quận trưởng, nhưng giờ chót hai ông này thối chí, nên tôi đành phải huỷ bỏ mưu đồ.

Nửa năm kế đó tôi bị chuyển về trại giam Suối Máu, Tam-Hiệp, Biên-Hòa, chờ ngày bị đưa ra Bắc.

Hai tuần lễ sau ngày bị đưa ra đất Bắc, nửa đêm 8 tháng 8 năm 1976, tôi vượt ngục lần đầu. Trải qua mười ngày lặn lội trong rừng dưới cơn bão số 6, tôi và người bạn đồng hành bị bắt lại, bị cùm, bị đánh đập, khảo tra, rồi được cho về Ðội 11, Trại 4, Liên Trại 4 để tiếp tục lao động.

Một hôm trời giăng giăng mưa phùn, tôi và bạn tù đi cấy lúa vần công cho Thôn Nam Xã Cẩm-Nhân, Yên-Bình, Yên-Bái thì thấy hai ông tù cải tạo khiêng một cái võng có người nằm bên trong.

Cái võng được phủ bằng chiếc mền Trung Cộng màu đỏ. Theo sau cái võng là một ông tù đeo cái balô, có lẽ trong balô là tài sản của người nằm trên võng.

Có một vệ binh Việt-Cộng đeo AK đi canh chừng đằng sau ông tù đeo balô. Chắc mấy người này đang đưa một ông tù bệnh nặng lên bệnh xá của liên trại để chữa trị.

Tôi ngừng tay cấy, lớn tiếng hỏi,

– Ê! Ai đó? Các cha?

Ông tù mang ba lô liền lớn tiếng đáp lời,

– Tước! Tước rằn ri!

– Phải Nguyễn Ðỗ Tước Biệt Ðộng Quân không?

– Ðúng rồi!

– Bệnh gì vậy?

– Kiết lỵ!

Chiều hôm đó cái võng lại quay về, vẫn có chiếc mền đỏ Trung Cộng phủ bên trên.

Tôi lại hỏi,

– Hết bệnh chưa?

Ông tù mang ba lô lại đáp lời,

– Chết rồi!

Tôi chỉ còn biết ngậm ngùi đứng nhìn theo bóng chiếc mền đỏ đi xa dần về hướng Trại 8 nơi Ðèo Lũng Ngàn.

Ngày xưa, trước tôi, Trung tá Nguyễn Ðỗ Tước đã là Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân ở Pleime.

Tết Dương Lịch 1978 vừa đi qua thì tôi vượt ngục lần thứ hai. Sau hai tháng lặn lội trong rừng, chưa vượt khỏi biên giới Việt-Lào, tôi lại bị bắt.

Thất bại lần này, qua những trận khảo đả dã man của kẻ thù mà tôi không thành người tàn phế cũng là nhờ phúc đức ông bà đã che chở cho tôi.

Năm 1981 tôi bị chuyển trại về Nam, trại tù mới có tên Z30C Hàm-Tân, Thuận Hải.

Rồi một sớm tinh mơ cuối năm 1984 tôi vượt ngục lần thứ ba.

(còn tiếp)

Tuesday, July 13, 2021

Những Giọt Lệ Khô. 13.07.2021 Út Bạch Lan

Không biết có phải vì ảnh hưởng của bão Elsa đang đổ bộ Florida hay không mà Houston mưa tầm mưa tã liên tục suốt mười ngày qua. Mưa, mưa rơi từng đêm, mưa triền miên như thầm khóc cho một người vừa mới ra đi, một người mang nặng kiếp sống chinh nhân nhưng luôn dệt mơ ước ngày nao quê hương không còn màu cờ máu.

Người đã đi, người đã đi rồi.
Ngày 11 Tháng 7 Năm 2021


Tôi vừa rời nhà quàn Vĩnh Phước để chào lần cuối Niên Trưởng Cựu Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường, nguyên Tư Lệnh Sư Đoàn 21 BB, trước khi đưa quan tài vào phòng hỏa táng. Chưa về đến nhà thì nhận được text của Chị Phúc, phu nhân của Niên Trưởng Trần Công Hạnh, nguyên là Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng TĐ2ND ” Khóa 20 VBQGVN ” Anh đã trút hơi thở cuối cùng vào lúc 3giờ30″.

Tôi bật khóc nhưng chẳng còn giọt lệ nào để khóc. Tiếng khóc thầm khô khốc như nắng gió Hạ Lào tức nghẹn ở cổ họng, không như tiếng khóc ràn rụa khi Anh ôm chầm lấy tôi ở căn cứ Khe Sanh Lao Bảo trong mặt trận Nam Lào Lam Sơn 719 năm 1971. Anh đã rời bỏ căn cứ 30 và dẫm chạy trên xác chết của quân thù lẫn quân bạn để vượt thoát về phía nam con đường số 9, rồi về căn cứ của Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của SĐ Nhảy Dù ở Khe Sanh với bộ quân phục hoa rừng của quân nhu giờ đã trở thành bộ đồ huyết của nhảy dù Pháp còn bốc mùi máu tươi lẫn máu khô của đồng đội. Tôi móc bi đông mở nắp, đưa anh vài hớp black and white rồi hai anh em ngồi bẹp dưới bóng râm của cây sao rừng hơn trăm tuổi. Anh nhìn bâng quơ vào một khoảng trời mông mênh nào đó, thỉnh thoảng lắc đầu thở dài dấu đi nỗi chua xót lẫn kinh hoàng như người vừa về từ địa ngục hay nói đúng hơn từ cõi chết. Thật vậy, Anh không nghĩ rằng anh vẫn còn sống khi phải vượt qua một vòng vây trùng trùng điệp điệp quân thù khát máu, như Triệu Tử Long thoát khỏi bàn tay của quân Tào Tháo.

Tôi không còn nhớ đã bao nhiêu lần, vì đã quá nhiều lần làm sao nhớ hết, tôi cùng Anh, Sông Lô, Phạm Như Đà Lạt, Phan Nhật Nam, Tô Phạm Liệu ngất ngưỡng anh hùng lương sơn bạc bên cạnh vài ba chai martell medaillon cạn đáy tới giọt rượu cuối cùng. Có một lần gần tới bến, Tubip Liệu đổ rượu vào chiếc giày bốt đờ sô rồi thay vì nâng ly thì nâng giày nốc cạn như Kiều Phong nốc cạn bầu rượu cùng hai đệ kết nghĩa Đoàn Dự và Hư Trúc, trong khi Sông Lô lọ rượu thì nghêu ngao ngâm bài thơ Hồ Trường lộn đầu lộn đuôi nhớ tới đâu ngâm tới với giọng lè nhè.

Ta biết rót về đâu?
Rót về Đông phương, nước biển Đông chảy xiết sinh cuồng loạn
Rót về Tây phương, mưa phương Tây từng trận chứa chan
Rót về Bắc Phương, ngọn Bắc phong vi vút cát chạy đá giương
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt có người quá chén như điên như cuồng
Nào ai tỉnh, nào ai say
Lòng ta ta biết, chí ta ta hay
Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ
Hà tất cùng sầu đối cỏ cây

Tới đây thì Sông Lô dừng lại vì quên mẹ nó đi rồi, Phan Nhật Nam đở tiếp:

Chí chưa thành, danh chưa đạt
Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc
Trăm năm thân thế bóng tà dương
Vỗ gươm mà hát
Nghiêng bầu mà hỏi
Trời đất mang mang ai người tri kỷ
Lại đây cùng ta cạn một hồ trường
Hồ trường! Hồ trường!


Bên cạnh đó Trần Công Hạnh dùng đũa gõ tô gõ chén thay trống, Phạm Như Đà Lạt mắt liêm diêm “anh không chết đâu anh người anh hùng mũ đỏ…lưu linh”.

Và cũng mới đây thôi, chỉ có khoảng hơn 10 ngày, từ ngày 25/6/2021 đến 29/6/2021, Anh Chị Trần Công Hạnh về Houston để tìm mua một căn nhà mới ở Houston. Suốt năm (5) ngày liên tiếp Anh ngồi bên bàn rượu với hơn 10 anh chị em của Gia Đình Bến Cũ từ Virginia, Atlanta, Louisiana cùng về Houston để gặp mặt Anh cạn bầu tâm sự. Bầu tâm sự chưa cạn mà cạn sạch hết ba kết Cordon Bleu 36 chai!

Út Bạch Lan
Houston Ngày 12 Tháng 7 Năm 2021Tiếc Thương
https://www.youtube.com/watch?v=otzrR5h8_uw

CHÀO TAY MŨ ĐỎ
Nghe hung tin lòng rung lên cảm xúc
Một cánh dù vừa lạc hướng bay
Đất lương sơn một ghế ngồi trống chỗ
Đệ huynh còn sao người nỡ đi xa
Những cuộc rượu bên trời một lứa
Những bi ai dốc cạn hồ trường
Những ngựa hồ còn mơ gió bắc
Từ nay chiếu rượu vắng hương nồng
Người hào sảng như Lương Sơn thủy bạc
Muốn chống gươm hành đạo thế thiên
Chỉ tiếc là bàn cờ chiến quốc
Lại trong tay những kẻ vô lương
Thân chốt thí sang sông tức tưởi
Chưa đánh phải hàng hận man man
Đất tạm dung tha hương gặp lại
Là đệ huynh chan chứa tình đầy
Vẫn cứ ngỡ
Tương lai còn rạng rỡ
Sẽ có ngày quang phục quê hương
Mộng chưa thành vẫn mơ về bến cũ
Tắm lại sông xưa một thuở thanh bình
Hỡi ơi!
Sao đi không biệt
Từ nay vắng bóng huynh rồi
Con ngựa chiến thành Troy bất tử
Tiểu đoàn hai mũ đỏ lừng danh
Người đã sống một đời lính trận
Đã tự nguyền da ngựa bọc thây
Đã đi qua những đoạn đường chinh chiến
Khói lửa tràn lan đất nước mù
Trong chiến trận bao lần chia lửa
Là bao lần chiến thắng đối phương
Gót giày saut lấm lem bùn đất
Nhưng không lấm cánh dù
Giữa trời đất mênh mông.
Anh em xa hay gần vẫn biết
Trần gian này biến ảo khôn lường
Công không tính bạc vàng không chuộng
Hạnh đức mới là mối nghiệp duyên
Anh đã sống trọn đời tâm huyết
Với anh em chiến hữu trước sau
Vẫn như một “không hai đâu nhé”
Anh đã cười cười nói thế nhớ không.
Trời chưa Thu mà lá vàng đã rụng
Cho hoa dù nương gió rơi theo
Chiếc ghế trống đồi Lương Sơn còn đó
Chỉ thiếu anh TRẦN CÔNG HẠNH vẹn toàn.
Ở rất xa, xa nơi anh nằm xuống
Chào tay này kính tiễn một quân nhân
Về với cõi vô cùng không ai biết
Sẽ vô ưu thanh thản với vĩnh hằng.
Bến cũ Túy Lúy
 

FB Đặng M Tâm