Friday, January 5, 2024

Đại Tá Bùi Dzinh - Thủ Khoa Khóa 3 Võ Bị Đà Lạt 1951

Từ một thiếu uý ra trường vào năm 1951 mà đơn vị đầu tiên là Tiểu đoàn lưu động 21 (một trong những đơn vị tiền thân của Sư đoàn 1 BB sau năm 1955), ông Dzinh đã dũng cảm chiến đấu trên các chiến trường miền Trung và Cao nguyên VN với nhiều lần thương tích đầy mình. 

Người sĩ quan Khoá Thủ Khoa Khóa Trần hưng Đạo đã làm cho các bạn đồng khoá hãnh diện khi mà chẳng bao lâu sau ... vào năm 1958, đã thay thế Trung tá Nguyễn văn Vĩnh nắm quyền chỉ huy SĐ 15 khinh chiến đóng tại Dục Mỹ, tiếp đó dời sư đoàn về Ban mê Thuột. Tại đây, Sư đoàn được cải danh lại là sư đoàn 23 BB. Vì thế có thể nói ông Bùi Dzinh là vị Tư lệnh đầu tiên của hai Sư đoàn 23BB (1958) và Sư đoàn 9BB (1962). Ngoài ra ông Dzinh còn là tư lệnh phó Sư đoàn 21BB (vào năm 1960) mà Đại tá Trần thiện Khiêm là Tư lệnh. Năm kế tiếp ông ta cũng là Tư lệnh phó Sư đoàn 5BB (1961) mà Đại tá Nguyễn đức Thắng là Tư lệnh; trước khi được thăng chức Đại tá Tư lệnh Sư đoàn 9BB vào năm 1962; ở sư đoàn này vào thời gian đó không có Tư lệnh phó! Mà chỉ có một người bạn đồng khoá 3 VB là Trung tá Tôn thất Đông làm tham mưu trưởng (sau này là Đại tá Tỉnh trưởng tỉnh Vĩnh Bình và là dân biểu dưới thời Đệ Nhị Cộng Hoà. Ngoài ra còn có các Trung Đoàn trưởng là Thiếu tá Chương dzềnh Quay (là Chuẩn tướng tư lệnh SĐ21 BB), Thiếu tá Nguyễn Cả (sau này là Đại tá Chánh văn phòng phủ Tổng thống Nguyễn văn Thiệu)...

Đời binh nghiệp của Đại tá Bùi Dzinh chấm dứt vào giữa tháng 11/1963 vì đã không tán thành cuộc đảo chánh lật đổ TT Ngô đình Diệm; Ngược lại trong cương vị Tư lệnh Sư Đoàn 9 BB vào ngày 01/11/1963 mặc dầu đang bận hành quân ở Bến Tre ông đã điều binh từ Bộ Tư lệnh đóng tại Sa Đéc về Sài Gòn cứu TT.Diệm; Nhưng không thành vì Đại tá Nguyễn hữu Có vừa thay thế Đại tá Bùi đình Đạm trong chức vụ Tư lệnh SĐ 7 BB (vào ngày 31/10/1963) dàn quân ra chặn ở ngã ba Trung Lương và mặt khác ông này ra lệnh cho vị Tỉnh trưởng tỉnh Định Tường rút hết những chiếc phà về phía Mỹ Tho để cản trở binh lính SĐ9 BB chuẩn bị vượt Bắc Mỹ Thuận … Ngày 06/11/1963, theo lệnh của Bộ TTM/QLVNCH Đại tá Bùi Dzinh bàn giao Sư đoàn 9 BB cho vị Phó Tư lệnh là Trung tá Đoàn văn Quảng rồi về Sài Gòn trình diện Hội đồng Cách Mạng Quân nhân do Trung tướng Dương văn Minh lãnh đạo .Ngày đó cùng với các ông Thiếu tướng Huỳnh văn Cao, Đại tá Cao văn Viên, Bùi đình Đạm , Nguyễn Phước và một danh sách chừng 30 sĩ quan cao cấp. Đại tá Bùi Dzinh đã nhận được giấy «nghỉ dài hạn không lương..vì lý do kỷ luật» ?!... Vài năm sau đó ông ra Hội đồng Giám định y khoa (Trung tâm miễn dịch) nhận giấy giải ngũ với cấp độ tàn phế 100°/° vì ba miểng súng cối (mortier) thời kỳ năm 1954 trước trận Điện biên phủ còn ghim trong hộp sọ cho đến ngày hôm nay... Năm 1965 Đại tá Bùi Dzinh cùng Thiếu tướng Lâm văn Phát, các vị Đại tá Huỳnh văn Tồn, Nhan minh Trang, Phạm ngọc Thảo và Trung tá Lê hoàng Thao ... làm cuộc chính biến ngày 19/2 nhằm lật đổ Quốc trưởng Đại tướng Nguyễn Khánh với mục đích là để ổn định tình hình rối ren về chính trị cũng như quân sự trong thời điểm này. Việc làm này không có sự ủng hộ của người Mỹ nên thất bại?! Ông Dzinh bị bắt vài tháng sau đó và bị giam hai năm ở nhà tù Chí Hoà, mãi đến 01/4/1967 nhân dịp TT.Nguyễn văn Thiệu ban hành hiến pháp của nền Đệ Nhị Cộng Hoà, ông mới được trả lại tự do ...

Ngày 30/4/1975, ông Dzinh và gia đình ở lại VN vì không có phương tiện trốn chạy như bao người khác. Mặc dầu giải ngũ đã lâu ông vẫn bị nhà nước Cộng sản bắt đi cải tạo ở ngoài miền Bắc cùng với các sĩ quan cao cấp của Quân đội VNCH (Liên tục chuyển qua các trại giam Hoàng liên sơn - Yên bái - Hà nam ninh). Sau tai nạn lao động động cuối năm 1976 (xảy ra trong lúc cải tạo ở trại tù Yên Bái) do trong lúc đốn cây cho Lâm trường làm giấy bị cây đổ chạm mạnh vào đầu, nên bị trọng thương hôn mê trong suốt một tuần vì sự kiện này mà đến nay một số người tù cải tạo cùng trại những tưởng ông Dzinh đã chết rồi! vì thường xuyên các trại viên bị cách ly, phân tán và chuyển đến các trại khác nhau).

Trung Tá Bùi Dzinh, Đại Tá Trần Thiện Khiêm và Chuẩn Tướng Hồ Văn Tố, Fort Leavenworth 1960

Ông được thả về cuối năm 1980, không được ở yên vì lệnh chính quyền địa phương cưỡng bức đi khu Kinh tế mới; chỉ vài tháng sau ông cùng hai người con vượt biên đến Trại tỵ nạn Thái lan bằng đường biển, cuối cùng đã quyết định đi tỵ nạn tại nước Pháp.

Tóm tắt những giòng kể trên là những điều mà tôi biết được về cha tôi ( ông Bùi Dzinh sinh năm 1929 tại làng Xuân Hòa, huyện Lệ Thủy, Tỉnh Quảng Bình). Ông ấy không tỏ mình ra trước mọi người; chán ghét chiến tranh và buồn thân phận lưu vong; ông không muốn nói nhiều với thế hệ con cháu về cuộc chiến tranh VN trước đây. Hầu như ông muốn giữ cho mình được một sự thanh thản ở độ tuổi 82 cho đến cuối đời; không buồn viết nhật ký hay tiểu sử đời binh nghiệp như một số quý vị tướng lãnh lưu vong thường làm (để tự đề cao mình và bôi nhọ cho người khác), bằng cách ra sách để biện hộ cho những sai lầm của họ đã gây ra vào thời kỳ trước năm 1975..   

Đại sự bất thành của ba Đại tá dân Ông Tạ trong tuần tam nhật các thánh 31-10, 1-11, 2-11-1963 Hai cái chết thảm ở ngoại ô và một án tử hình.

Thủ Khoa Khóa 3 sau này là Đại Tá Bùi Dzinh
(Tôi không phải là người viết sử mà chỉ ghi nhận thông tin từ góc người Ông Tạ. Nhưng lịch sử Việt Nam Cộng hòa chắc chắn sẽ phải viết lại hoàn toàn nếu mưu sự ấy thành công)
Trên đường Thánh Mẫu (nay là Bành Văn Trân, Tân Bình, TP.HCM) có một ngôi nhà khá lặng lẽ. Dân trong xóm này gọi bà chủ nhà lịch thiệp, nét sang trọng này là o Khôi. Ít ai biết đó là vợ đại tá Việt Nam Cộng hòa Lê Quang Tung.
O Khôi ở với con gái là Lan. Chồng cô Lan là đại tá Cầu, sĩ quan thuộc quyền đại tá Tung, tư lệnh Lực lượng Đặc biệt Việt Nam Cộng hòa, kiêm Chỉ huy trưởng Lữ đoàn Liên binh Phòng vệ Tổng thống phủ. Phó của ông Tung là đại tá Trần Khắc Kính; con rể cụ lý Sóc trong ngõ Con Mắt, cách nhà cũ của nhà thơ Đỗ Trung Quân chừng vài chục mét; gần sát nhà cụ Vũ Hữu Soạn, cha đại tá hạm trưởng HQ4-Trần Khánh Dư tham gia Hải chiến Hoàng Sa 1974 Vũ Hữu San.
Đại Tá Trần Khắc Kính

Sau này, cả nhà o Khôi đi định cư ở Marseille (Pháp), nhà để lại nhà nước. Phần sau nhà để lại cho một người giúp việc lâu năm của gia đình tên Thôi. Bà Thôi có tật nhẹ, chân đi hơi cà nhắc. Bà sống một mình, hàng xóm không thấy có anh em thân thích gì nên khi bà mất, hàng xóm xúm lại lo tang cho bà. Một nét sống chia sẻ chòm xóm của người Ông Tạ.
Trước khi đi Pháp, o Khôi hay đến thăm gia đình một người bạn rất thân đồng hương là bà cựu đại tá Việt Nam Cộng hòa Bùi Dzinh nhà trên đường Cách Mạng Tháng Tám, Tân Bình, đối diện hồ tắm Cộng Hòa; cách nhà bà vài trăm mét.


Đại tá Bùi Dzinh là võ khoa (thủ khoa) khóa 3 trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt tháng 7-1951. Khi tốt nghiệp, ông được đích thân Hoàng đế Bảo Đại trao kiếm và được đại diện anh em trong khóa bắn cung "tang bồng hồ thỉ". Ông cùng lứa tuổi và thân với đại tá Lê Quang Tung.

Đại Tá Bùi Dzinh
Đại Tá Bùi Dzinh

Như vậy, nhà ba ông đại tá Việt Nam Cộng hòa Lê Quang Tung, Bùi Dzinh, Trần Khắc Kính cùng dân Ông Tạ và ở rất gần nhau: ông này giáo xứ An Lạc, ông kia giáo xứ Nghĩa Hòa, Chí Hòa; nhà này cách nhà kia chỉ năm bảy trăm mét. Tất cả đều là giáo dân Công giáo nhiệt thành.

Hai đứa con cụ lý Sóc, em vợ ông Kính tên Hùng và Cường là cặp giúp lễ đầu tiên ở nhà thờ An Lạc. Thậm chí có lúc anh Cường còn dự tính nhập tu ở Đan viện Thánh Mẫu Châu Sơn - Đơn Dương. Cùng thời và bạn bè với cặp giúp lễ này ở nhà thờ An Lạc là anh em Đinh Trung Nghĩa (sau này là linh mục Dòng Tên) - Đinh Tiến Luyện (nhà văn nổi tiếng này thì có lẽ nhiều người biết)...

Đại sự bất thành của ba Đại tá trong cuộc đảo chính 1-11-1963
Ông Dzinh, ông Tung cùng Công giáo nhiều đời như gia đình Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm, thậm chí đồng hương Lệ Thủy (Quảng Bình), Huế với ông Diệm nên không khó để biết hai vị này rất ủng hộ ông Diệm. Riêng ông Tung, người tuyệt đối trung thành với ông Diệm; từng được ông Ngô Đình Nhu giao nhiệm vụ thành lập Quân ủy Trung ương đảng Cần Lao. CIA lúc đó xếp ông là người có quyền lực nhất ở Nam Việt Nam sau anh em ông Diệm và ông Nhu.
Ông Kính và ông Dzinh sinh cùng năm 1929. Ông Tung lớn hơn vài tuổi. Cũng là cùng trang lứa.
Cuối năm 1956, ông Tung được đích thân Tổng thống Diệm gọi vào Dinh Độc Lập phỏng vấn rất lâu, sau đó phong trung tá, đưa làm giám đốc Sở Liên lạc. Phó giám đốc là ông Kính, lúc đó mới đại úy. Có lúc sở này mang tên Sở Khai thác địa hình.
Ngay sau đó, ông Tung đi Honolulu học khoá đặc biệt về hoạt động bí mật và xâm nhập. Ông Kính và em ông Tung là trung úy Lê Quang Triệu cũng đi Saipan (một hòn đảo thuộc đảo Guam) học về tình báo.


Ngày 15.3.1963, Tổng thống Diệm đổi Sở Liên lạc thành Lực lượng Đặc biệt, thăng ông Tung lên đại tá, tư lệnh Lực lượng Đặc biệt, ông Kính làm phó. Đại tá Tung thật ra chỉ lo về hoạt động tình báo, gián điệp ở miền Bắc, còn việc tổ chức, huấn luyện Lực lượng Đặc biệt thuộc ông Kính, lúc đó là thiếu tá.

Lực lượng Đặc biệt là đơn vị chỉ huy Lữ đoàn Liên binh Phòng vệ Tổng thống phủ, lực lượng tinh nhuệ nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa; trang bị hỏa lực rất mạnh, có cả xe tăng lẫn cao xạ bắn máy bay và trung thành tuyệt đối với chế độ Ngô Đình Diệm.

Lữ đoàn Liên binh Phòng vệ Tổng thống phủ đóng ở thành Cộng Hòa (nay là khu vực Trường đại học Dược và Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn) trên đại lộ Thống Nhứt (nay là đường Lê Duẩn, quận 1, TP.HCM); cách Dinh Độc Lập (nay là Hội trường Thống Nhất) vài trăm mét. Và họ chỉ chịu buông súng đầu hàng sáng 2-11-1963, sau cú điện thoại trực tiếp của Tổng thống Diệm lúc ấy đang trú ẩn ở nhà thờ Cha Tam, cuối đường Trần Hưng Đạo (Chợ Lớn) khi ông quyết định gặp đại diện nhóm tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa làm đảo chính.

Lực lượng Đặc biệt là nỗi ám ảnh thất bại của nhóm tướng lĩnh đảo chính với hậu thuẫn của Mỹ - như đã từng thất bại trong cuộc đảo chính năm 1960. Ngày 19.10.1963, tướng Paul D. Harkins, chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Viện trợ Quân sự Mỹ ở Việt Nam Cộng hòa thông báo cho Tổng thống Diệm biết ngân khoản Hoa Kỳ dành cho Lực lượng Đặc biệt bị cắt giảm.

Rõ ràng phía Mỹ đã ngửi mùi một kế hoạch, âm mưu đáng sợ từ Lực lượng Đặc biệt mà hai vị tư lệnh và phó tư lệnh là Lê Quang Tung và Trần Khắc Kính – đều là dân Ông Tạ: một nhóm lính thuộc Lực lượng Đặc biệt mặc đồ thường dân sẽ phóng hỏa đốt Tòa đại sứ Mỹ; ám sát đại sứ Mỹ Henry Cabot Lodge, Jr. và một số quan chức chủ chốt của tòa đại sứ.

Hai ông Tung - Kính lên kế hoạch này, chắc chắn có sự chỉ đạo của hai ông Diệm - Nhu, chí ít là ông Nhu, do đã nắm được toan tính của phía Mỹ trong việc đứng sau lưng cuộc đảo chính này.
Và nhóm tướng lĩnh đã làm đảo chính, với hậu thuẫn của Mỹ và đại sứ Mỹ Henry Cabot Lodge, Jr., ra tay trước.


Ngày lế các thánh, các linh hồn 1 và 2-11-1963 đẫm máu
Trong Giáo hội Công giáo Rôma, có ba ngày đại lễ liên tiếp, gọi là Tuần tam nhật Các thánh: 31-10 lễ Vọng các thánh (Halloween), 1-11 lễ Các thánh, 2-11 lễ Các đẳng (hay Lễ Các đẳng linh hồn, lễ Các linh hồn). Ba ngày lễ này dựa trên việc hiệp thông công đức (thông công), lời cầu nguyện giữa ba vùng: trần thế, thiên đàng và luyện ngục.


Cả Tổng thống Diệm và ba vị đại tá kia đều là người Công giáo nhiệt thành chắc chắn không bỏ qua việc dự thánh lễ những ngày này. Thực tế sáng 2-11, ngay trong cơn dầu sôi lửa bỏng, thập tử nhất sinh, trước khi quyết định gọi điện thoại cho phe đảo chính báo nơi ẩn náu của mình, ông Diệm và em trai là ông Nhu vẫn bí mật dự lễ Các linh hồn ở nhà thờ Cha Tam.

Cuộc đảo chính của nhóm các tướng lĩnh, do tướng Dương Văn Minh làm chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng, có lẽ đã tính toán cả những chuyện này khi quyết định chọn ngày D cho cuộc đảo chính: 1-11-1963. Trước đó, sáng 1-11-1963, ngay ngày lễ Các thánh, đại sứ Lodge vẫn gặp Tổng thống Diệm.

Hai đại tá Lê Quang Tung và Trần Khắc Kính chắc chắn cũng đã chuẩn bị cho việc dự những ngày "lễ buộc" (buộc phải dự) của Công giáo này.

Tuy nhiên, ngày 1-11, trong khi đại tá Kính cùng gia đình chuẩn bị bước vào nhà thờ An Lạc dự lễ Các thánh thì đại tá Lê Quang Tung lại phải chuẩn bị đến Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa (nay là Bộ Tư lệnh Quân khu 7) cách khu An Lạc khoảng cây số - theo yêu cầu của nhóm tướng lĩnh tổ chức cuộc đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm.

Lý do triệu tập: Nghe nói có một cuộc đảo chính Tổng thống Diệm nên trung tướng Trần Văn Đôn, quyền tổng tham mưu trưởng triệu tập tất cả các vị tư lệnh mọi quân binh chủng và giám đốc nha sở ở Sài Gòn về họp ở Bộ Tổng tham mưu.

Trước đó, nhóm tướng lĩnh đảo chính đã tạo tin giả: “Việt cộng đang tập trung quân ở Hố Bò, Củ Chi, chuẩn bị tấn công Sài Gòn”. Lực lượng Đặc biệt đã bị điều ra đây. Sư đoàn 5 Bộ binh về bảo vệ Đô thành Sài Gòn. Tổng thống Diệm không ngờ tư lệnh Sư đoàn 5, đại tá Nguyễn Văn Thiệu (sau là tổng thống nền Đệ nhị Cộng hòa, nhà ở lúc đó là cư xá sĩ quan Trần Hưng Đạo, gần đầu đường Thoại Ngọc Hầu, nay là Phạm Văn Hai) thuộc nhóm sĩ quan làm đảo chính.

Đại Tá Lê Quang Tung
Đại Tá Lê Quang Tung

Trong cuộc gặp này, ông Tung đứng lên phản đối cuộc đảo chính, bị lôi ra ngoài giết chết. Theo đại tá Phạm Bá Hoa, lúc đó là đại úy, ông được thiếu tướng Trần Thiện Khiêm yêu cầu gọi điện thoại “mời” các tướng tá về họp và có mặt ở buổi họp đó nói ông Tung bị Quân cảnh gác phòng họp còng tay đưa ra ngoài bắn chết, Nhưng cũng có thông tin nói ông Tung bị đại úy Nguyễn Văn Nhung – cận vệ của tướng Dương Văn Minh đâm chết. Đến giờ vẫn còn ý kiến khác nhau về chuyện này.

Sau đó, em trai ông Tung là thiếu tá Lê Quang Triệu, tham mưu trưởng Lực lượng Đặc biệt vào Bộ Tổng tham mưu tìm anh cũng bị giết.

Thân xác của hai anh em ông Tung và ông Triệu bị vùi ở đâu đó khu vực nghĩa trang Bắc Việt (nay là khu vực chùa Phổ Quang, Tân Bình), bên hông Bộ Tổng tham mưu mà tới giờ vẫn chưa tìm thấy. Những kẻ sát hại hai ông đến nay vẫn chưa rõ là ai. Đại úy Nhung sau đó vài tháng cũng “lấy dây giày thắt cổ tự tử” khi bị tướng Nguyễn Khánh ra lệnh bắt giam, điều tra để “trả thù cho Ông Cụ (Ngô Đình Diệm)” nên sự thật lịch sử này tới giờ vẫn còn chìm trong bí mật.

Một ngày sau khi hai anh em ông Tung – ông Triệu bị thảm sát, ngày 2-11-1963, hai anh em ông Diệm và ông Nhu cũng bị thảm sát đẫm máu. Khám nghiệm tử thi cho thấy trên người hai ông đầy vết bầm dập, vết đâm và những phát đạn. Ai chủ mưu và quyết định, ai thủ phạm trực tiếp tới giờ cũng chưa rõ, dù đa số dư luận cho đó là đại úy Nhung nổi tiếng hiếu sát – cận vệ của tướng Dương Văn Minh.

Điều trùng hợp là thoạt đầu, trước khi dời mộ về nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi (nay là công viên Lê Văn Tám), hai ông Diệm – Nhu cũng được chôn cất gần nơi hai anh em ông Tung – Triệu bị giết (nghĩa trang Bắc Việt). Cụ thể hai ông Diệm, Nhu ban đầu đã được an táng trong một nghĩa trang thuộc chùa Hưng Quốc (hay An Quốc?) trong khuôn viên Bộ Tổng Tham mưu, cạnh mộ Lê Văn Phong, em ruột Tổng trấn thành Gia Định Lê Văn Duyệt…

(Ông Lê Văn Phong là phó tổng trấn Bắc Thành năm 1818, dưới quyền của Tổng trấn Lê Chất. Năm Minh Mạng thứ 5 - Giáp Thân, 1824, ông về thăm quê, trở bệnh qua đời ở Gia Định. Ông từng lãnh chức chưởng tả dinh, nên còn được người đời gọi là "Ông Tả Dinh". Mộ ông ban đầu rất kiên cố do chính Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt, anh ruột ông xây trong khu vực sau này thuộc xã Tân Sơn Hòa, nằm trong khuôn viên Bộ Tổng tham mưu, sau nhà tướng Đặng Văn Quang. Năm 1961, để mở rộng bãi đáp trực thăng, người ta khai quật mộ, dời về phía sau, cũng trong khuôn viên Bộ Tổng tham mưu, gần đường Hồ Văn Huê, Phú Nhuận hiện nay. Mộ phần hai ông Diệm – Nhu thoạt đầu chôn ở khu vực này).

Sáu tháng sau, ngày 22-4-1964, em trai Tổng thống Diệm là ông cố vấn miền Trung Ngô Đình Cẩn bị Tòa án Cách mạng tuyên án tử hình. Ông Cẩn đệ đơn lên Quốc trưởng Dương Văn Minh xin ân xá. Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình cũng gửi một lá thư tới Dương Văn Minh xin ân xá với lý do là ông Cẩn đang bị bệnh rất nặng, không còn sống được bao lâu cho nên không cần thiết phải hành quyết. Ông Minh bác đơn. Ngày 9-5-1964, ông Cẩn bị hành quyết bằng xử bắn và chôn cất cũng ở nghĩa trang Bắc Việt – xã Tân Sơn Hòa.

Như vậy, ban đầu cả ba anh em ông Diệm – Nhu – Cẩn đều được chôn cất trên phần đất xã Tân Sơn Hòa, chỉ cách khu Ông Tạ (cũng thuộc xã Tân Sơn Hòa) vài trăm mét.
Sau khi nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi bị giải tỏa 1983 – 20 năm sau khi hai ông Diệm – Nhu bị ám sát, phần mộ hai ông Diệm - Nhu dời về nghĩa trang Lái Thiêu (tỉnh Bình Dương). Nhiều nghĩa trang khác ở TP.HCM cụng bị giải tỏa trong đó có nghĩa trang Bắc Việt. Phần mộ ông Cẩn được cải táng, đưa về bên cạnh mộ mẹ là bà Phạm Thị Thân và hai anh Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu.

Sau cuộc đảo chính, đường Ngô Đình Khôi trước mặt Bộ Tổng tham mưu đổi thành đường Cách Mạng 1-11 (nay là đường Nguyễn Văn Trỗi).


Viên Đại tá hai lần phản đảo chính, một lần đảo chính bị tuyên tử hình với tội danh “chuyên viên đảo chính”

Ngày 1-11-1963, hay tin cuộc đảo chính nổ ra ở Sài Gòn, đại tá Bùi Dzinh đã lập tức điều động Trung đoàn 15 thuộc Sư đoàn 9 bộ binh và một pháo đội của Tiểu đoàn 9 pháo binh về phản đảo chính.
Nhưng đại tá Nguyễn Hữu Có thuộc phe đảo chính đã dàn lính Sư đoàn 7 bộ binh chặn ở ngã ba Trung Lương sau khi ra lệnh cho tỉnh trưởng Định Tường - trung tá Nguyễn Khắc Bình rút hết phà tại bến bắc Rạch Miễu và Mỹ Thuận về bờ phía Mỹ Tho để ngăn Sư đoàn 9 vượt sông Tiền…


Năm ngày sau, 6-11-1963, đại tá Bùi Dzinh phải bàn giao Sư đoàn 9 cho tư lệnh phó là trung tá Đoàn Văn Quảng, về trình diện Hội đồng Quân nhân Cách mạng tại Bộ Tổng tham mưu. Tại đây, ông đã có cuộc tranh luận dữ dội với thiếu tướng Tôn Thất Đính khiến ông Đính nổi nóng, móc súng đòi bắn. Tướng Lâm Văn Phát nhảy vào can thiệp và tướng Khiêm kéo sang phòng khác, rồi mời "về nhà nghỉ ngơi".
Mấy ngày, đại tá Bùi Dzinh sau nhận quyết định "Nghỉ dài hạn không lương" của Hội đồng Quân nhân Cách mạng (chỉ huy là trung tướng Dương Văn Minh) cùng một danh sách 31 sĩ quan cao cấp (thiếu tướng Huỳnh Văn Cao, đại tá Cao Văn Viên, đại tá Bùi Đình Đạm, đại tá Nguyễn Văn Phước...).


Đây không phải là lần đầu tiên ông Dzinh phản đảo chính cứu Tổng thống Ngô Đình Diệm, người đồng hương huyện Lệ Thủy, Quảng Bình của mình. Ba năm trước, ngày 11-11-1960, ông Dzinh, lúc ấy là trung tá, tư lệnh phó kiêm tham mưu trưởng của Sư đoàn 21 bộ binh cũng từ miền Tây mang một pháo đội 105 cùng đại úy Lưu Yểm, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1/33 của của Sư đoàn 21 bộ binh kéo về Sài Gòn nhổ chốt Phú Lâm do Tiểu đoàn 8 nhảy dù trấn giữ; thẳng đường về Dinh Độc Lập dẹp tan cuộc đảo chính do đại tá Nguyễn Chánh Thi cầm đầu.

Sau khi chống đảo chính thất bại và bị Hội đồng Quân nhân Cách mạng của tướng Dương Văn Minh tước binh quyền, gia đình ông Dzinh đã từ dinh tư lệnh Sư đoàn ở Sa Đéc dọn về cư xá Lữ Gia, Phú Thọ, cạnh nhà nữ tài tử Kiều Chinh.
Tại đây, năm học 1963-1964, các con ông như Bùi Dzũng, học nội trú lớp đệ ngũ – nay là lớp 8, cùng hai em trai: Cường, lớp đệ thất (lớp 6) và Bình, lớp nhì (lớp 4) trường Đắc Lộ của linh mục Vũ Khánh Tường. Anh trai tôi cùng tuổi, cùng khối học, cùng nội trú với Bình, con ông Bùi Dzinh ở đây.


Năm 1964, ông Dzinh mướn nhà thầu Vũ Thịnh xây ngôi nhà đầu tiên ở vườn cao su Phú Thọ trên đường Nguyễn Văn Thoại (nay là đường Lý Thường Kiệt) nhìn xéo sang khu đất nay là chợ Tân Bình. Đối diện bên kia đường là nhà của đại tá Quỳnh, chỉ huy trưởng Trường Sĩ quan Chiến tranh chính trị Đà Lạt.

Ông Dzinh không chịu ngồi yên. Ngày 19-2-1965, ông cũng ra tay: tham gia cuộc đảo chính nhằm lật đổ tướng Nguyễn Khánh, do thiếu tướng Lâm Văn Phát chỉ huy cùng đại tá Phạm Ngọc Thảo. Cụ thể ông lên kế hoạch cùng trung tá Lê Hoàng Thao mang quân từ Long An chiếm Bộ Tư lệnh Biệt khu thủ đô (nay là Bộ Tư lệnh TP.HCM) và quản thúc trung tướng Trần Văn Minh, tư lệnh Biệt khu Thủ đô tại trại Lê Văn Duyệt suốt 24 giờ trước khi rút lui ngày 20-2-1965.

Cuộc đảo chính thất bại và bị toà án quân sự kết án tử hình khiếm diện với tội danh “chuyên viên đảo chính và sử dụng quân đội bất hợp pháp” (sau hạ xuống chung thân rồi tha bổng), ông Dzinh đã chạy về khu Ông Tạ, ẩn náu ở lò bánh mì nhà ông bà Dần trên đường Thánh Mẫu, sau đó sang Nhà hưu dưỡng các linh mục ở nhà thờ Chí Hòa cách đó khoảng 100m…

Bị lùng sục ráo riết, ông chạy về nhà một ông trùm giáo xứ Lạng Sơn ở Xóm Mới (Gò Vấp) một thời gian, sau đó bị bắt, đưa về tạm giam ở Tổng nha Cảnh sát Quốc gia - Sài Gòn trước khi bị giải sang khám Chí Hòa tháng 5 - 1965.
Chính quyền Sài Gòn tịch thu nhà của ông ở đường Nguyễn Văn Thoại. Vợ ông và chín người con tạm nương nhờ nhà người cậu ruột là trung tá Lý Trọng Lễ (sau này là dân biểu tỉnh Bình Long rồi làm tỉnh trưởng Khánh Hòa thời Đệ nhị Cộng hòa – Nguyễn Văn Thiệu) ở dãy nhà lầu đối diện hồ tắm Cộng Hòa. Sau đó qua ông Lễ, mua căn nhà số 203 đường Lê Văn Duyệt nối dài (sau năm 67 đổi số 207 rồi cuối cùng là số 211 đường Phạm Hồng Thái, Gia Định – nay là Cách Mạng Tháng Tám); nhờ người dì đứng tên và ở đó từ tháng 9-1965 tới giờ.


Cạnh nhà ông Dzinh là nhà trung tá Trần Ngọc Châu, chuyên gia chống phiến loạn của Việt Nam Cộng hòa, cựu dân biểu thời Đệ nhị Cộng hòa (ông vừa qua đời tháng 6-2020 ở tuổi 96 ở Mỹ, do biến chứng của bệnh Covid-19).
Căn nhà ở đầu đường Sở Mỹ (nay là đường Lê Minh Xuân) và Nguyễn Văn Thoại, xéo chợ Tân Bình được chính phủ trả lại năm 1967 sau khi ông ra khỏi khám Chí Hòa - nhân dịp Tổng thống Thiệu ban hành hiến pháp nền Đệ nhị Cộng hòa.


Gia đình ông ở chính tại ngôi nhà đối diện hồ tắm Cộng Hòa cho đến khi đi nước ngoài cuối năm 1980. Căn nhà luôn đóng kín cửa phía đường Cách Mạng Tháng Tám. Khách ra vào bằng cửa sau. Bà cựu đại tá Bùi Dzinh tướng to cao, phúc hậu…
Cùng số phận đau buồn, trước khi định cư ở Pháp, hai bà cựu phu nhân hai đại tá Việt Nam Cộng hòa Lê Quang Tung, Bùi Dzinh thường qua lại thăm viếng nhau…


Ngày 2-11-1971, sau tám năm lật đổ nền Đệ nhất Cộng hòa, chính quyền Việt Nam Cộng hòa lần đầu tiên cho phép tổ chức tưởng niệm, lễ giỗ Tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu công khai tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi.
Sáng hôm ấy, đại tá Bùi Dzinh được cựu trung tá Trần Thanh Chiêu trong ban tổ chức tưởng niệm thông báo trước đã lái xe chở theo con trai là Bùi Dzũng đến dự buổi lễ này.


Trung tá Trần Thanh Chiêu, nguyên tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh. Năm 1960, Quân Giải phóng xâm nhập và lấy đi một số vũ khí tại căn cứ Trảng Sụp do một trung đoàn thuộc Sư đoàn 21, đóng ở đây. Ông bị Tổng thống Ngô Đình Diệm cách chức tư lệnh sư đoàn, thay bằng đại tá Trần Thiện Khiêm. Ông Chiêu dân Quảng Nam, tánh tình cương trực và khí phách, nhận lỗi, không phàn nàn, oán trách một lời. Sau được tổng thống Diệm tín nhiệm trở lại, giao làm chỉ huy trưởng Lực lượng Bảo an & Dân vệ - tiền thân binh chủng Địa phương quân và Nghĩa quân. Thời Đệ nhị Cộng hòa, sau khi giải ngũ, gia đình trung tá Trần Thanh Chiêu dọn nhà về khu ngã tư Bảy Hiền cạnh nghĩa địa Quân đội Pháp, gần trường Quốc gia nghĩa tử - nay là Trường cao đẳng Lý Tự Trọng).

Hai cha con ông Bùi Dzinh đậu xe gần salon ôtô Trường Can (chủ là thiếu tá Trương Định) trên đường Hiền Vương, đi bộ đến trước cổng chính nghĩa trang. Nơi đây, từ 9h sáng đã có hàng ngàn người tụ tập, phần lớn là bà con Bắc 54 các nơi: Ông Tạ, Trung Chánh (Hóc Môn), Gia Kiệm, Dốc Mơ, Hố Nai... đến bằng xe đò, xe Lam.
Vì số người quá đông nên lính gác và cảnh sát không cho phép vào bên trong nghĩa trang thăm viếng, cầu nguyện. Như đã đoán trước, ban tổ chức đã cho dựng ngay một bàn thờ lộ thiên phía trong sát cổng chính vào nghĩa trang. Thánh lễ cầu hồn được tổ chức theo nghi thức đọc kinh của đạo Công giáo do một linh mục chủ tế và mọi người thầm lặng cầu nguyện. Anh Bùi Dzũng cho biết nhìn thấy có những dòng nước mắt rơi.


Buổi lễ kết thúc xế trưa. Các ông đại tá Bùi Dzinh, Đỗ Văn Diễn, Trương Văn Chương… vốn là những chiến hữu cùng tham gia vụ chính biến (bất thành) ngày 19-2-1965 nhằm lật đổ tướng Nguyễn Khánh đã cùng ăn trưa ở nhà hàng L'Admiral, phía sau trụ sở Quốc Hội (nay là Nhà hát lớn).
Cùng lúc đó, trước mắt tôi, một thằng nhỏ chín tuổi, nhiều xe hoa diễu hành, phát loa dọc các con đường ở khu Ông Tạ như Thoại Ngọc Hầu (nay là Phạm Văn Hai), Phạm Hồng Thái (nay là Cách Mạng Tháng Tám)... suy tôn và đòi phục hồi sự thật, danh dự cho ông Diệm…


Những ngày lễ của Tuần tam nhật Các thánh khu Ông Tạ ấy đầy oan khiên, máu và nước mắt.

Cù Mai Công

Nguồn: https://www.facebook.com/he.via.54/posts/1338953329884050

Thursday, December 28, 2023

QUÂN TRƯỜNG và CHIẾN TRƯỜNG.

Vinh danh các anh Võ Bị Đà Lạt : "Tô Quốc - Trách Nhiệm - Danh Dư"
QUÂN TRƯỜNG và CHIẾN TRƯỜNG.
Thế là tôi âm thầm giã từ đôi mắt đen láy “u uẩn chiều lung lạc” của cô láng giềng, người em gái nhỏ, lên đường vào quân ngũ…! Tôi nhập trường Võ Bị Đà Lạt vào tháng 12 năm 1965. Tính đến nay (2014) chỉ còn một năm nữa là một phần hai của thế kỷ. Năm mươi năm trôi qua cũng khá dài so với đời của một con người. Chặng đường “Binh Nghiệp” tuy không dài lắm đối với thiên lý tuế nguyệt và gió bụi thời gian, nhưng với tôi thân phận phàm nhân “bị” cuốn trôi lăn ngập chìm trong biển lửa, máu, nước mắt… chiến tranh…và hoài niệm cảnh cũ người xưa....... Mỗi khi nhắc đến thì dĩ vãng lại hiện ra như một đoạn phim sống thực còn lưu trử tận trong tiềm thức của chính mình. Nửa đời oan nghiệt, lẫn lộn tiếc nuối, chua xót cho thân phận của một thế hệ " Sinh Bất Phùng Thời "…! Hai năm trong Quân Trường, 8 năm với Chiến Trường, 39 năm đời “tù tội” và lưu vong xứ người.
”Quê Hương khuất bóng hoàng hôn,
Dậy lên khói sóng cho buồn lòng ai” !
Tổ Quốc là “tổ quốc” của người, Dân Tộc là “dân tộc” của người, Tổ Tiên là “tiên tổ” cũng của người, đất đai mồ mã lạ quắt, lạ quơ...! Còn lại cho riêng trong tôi vẫn là dòng sông ký ức một thời với Quân Trường và Chiến Trường.
- Quân Trường, nơi đó tôi có “đàn anh, đàn em: Khoá 21 (K21), Khoá 22 (K22) Khoá 23 (K23) và các Sĩ Quan Cán Bộ, Sĩ Quan Tham Mưu Hành Chánh được gọi là "Đồng Môn" cùng đã đổ mồ hôi như nhau, cùng dìu dắt nhau trên ngưỡng cưả binh nghiệp, với biết bao nhiêu ân tình nghĩa luỵ in hằn thành kỷ niệm… có mấy ai quên…?!
- Chiến Trường, nơi đó tôi có đồng đội cùng đồng cam cùng khổ, với máu và nước mắt qua những tháng năm miệt mài khói lửa… mà sự sống và cái chết chỉ cách nhau một sợi tóc, “cái” còn, “cái” mất như bọt nước chóng tan vỡ tưạ phù du… Nhưng rất thực và siêu nhiên mỗi lần vuốt mắt cho bạn bè đồng đội đã ngã xuống với vết đạn cày sâu ghim trong thân thể hãy còn chút hơi ấm và đang lạnh dần. Hồn thiêng như u uất vướng víu, lẫn khuất đâu đây, rờn rợn dưới làn gió âm u thổi qua và đạn pháo của quân thù đang nổ vang rền trên chiến địa ...!
o 0 o
Tháng12 Năm1967:
Tốt nghiệp K22 VBQGVN, tôi trình diện Bộ Tư Lệnh LLĐB và được bổ nhiệm về TĐ81BCND cùng hai người bạn cùng khóa. Hãnh diện sung sướng biết bao khi trình diện vị Tiểu Đoàn Trưởng Lê Như Tú Thiếu Tá K11 VBĐL...rồi được giới thiệu TĐP Đại Úy Nguyễn Quang Vinh K14, Đại Úy Bình Ban Ba K17, Đại Úy Táo Ban Truyền Tin K20, Đại Úy Hưởng Ban An Ninh K19, ĐĐT ĐĐ1 Trung Úy Thăng K20, ĐĐ6 Trung Úy Tuấn K20, ĐĐ3 Trung Úy Lâu K21...cón nhiều nữa kể không hết.
Tôi cảm thấy ấm lòng vì ngây thơ với ý nghĩ ngộ nghĩnh: may quá, mình may mắn về tiểu đoàn khét tiếng này vì “dân” Đà Lạt không hà, chắc mẫm thế nào cũng được bao che và nâng đỡ…!!! Nhưng tôi đã lầm to ! Dù các Niên Trưởng có "phe đảng" bao che cho mình như thế nào chăng nữa, thì có tài thánh cũng không ngăn chận được súng đạn vô tình…và cho dù Niên Trưởng có quyền thế cũng không nâng đỡ được nếu mình tỏ ra kém tài chỉ huy, hèn nhát và khiếp nhược trước quân thù, nhất là trước mặt thuộc cấp trong tình huống dầu sôi lửa bỏng…!
Chỉ một tuần lễ sau, ngay đêm giao thừa Tết Mậu Thân (1968)...Thiếu Tá Tú Tiểu Đoàn Trưởng (K11) tử trận, Đại Uý Tiểu Đoàn Phó Vinh (K14) bị thương nặng, không còn khả năng tác chiến, và hai người bạn cùng khóa K22 của tôi phút chốc cũng đã bỏ bạn bè, đồng đội. Hồn bay về nơi đâu khi tiết Xuân thì hãy còn khoe sắc lụa mượt mà trên những đọt chồi non mơn mỡn và nụ mấy Mai vàng đang lung linh run nhẹ trước gió sớm đầu mùa. Lại thêm một Đại Đội Trưởng bị tử thương, và rồi lại thêm Đại Đội Trưởng nữa bị thương mất một chưn…! Cũng may Đại Đội Phó ( ĐĐ3) là niên trưởng Nguyễn Đăng Lâu( K21) lên thay thế chỉ huy, điều động tác chiến…!!!
Thời gian chỉ có bốn tháng kể từ ngày ra trường, tôi đã trải qua ba cuộc hành quân chớp nhoáng, cường độ khốc liệt, đẫm máu tươi trên ba vùng chiến thuật II, I và III với những cuộc hành quân: “Giải Tỏa Thị Xã Nha Trang, Thung Lũng Ashao, Alưới, Giải Tỏa Mặt Trận Cây Quéo - Cây Thị…”. Thay đổi 4 vị ĐĐT đến vị ĐĐT thứ 5 là niên trưởng Nguyễn Văn Lân (K17). Anh Lân (xin phép tôi gọi bằng Anh) từ trại Lực Lượng Đặc Biệt biên phòng Pleimơreng về đây. Dáng người Anh cao dong dỏng, gương mặt trẻ măng như sinh viên đại học dù nước da rám nắng, ứng xử với ngôn ngữ nhã nhặn, dịu dàng, lịch sự với cả cấp trên lẫn người dưới.
Khi nhận bàn giao xong, Anh bảo tôi giới thiệu đơn vị và quân nhân các cấp cho Anh, sau đó gọi tôi vào phòng riêng căn dặn :” Út đã ở đơn vị này từ ngày ra trường cho đến bây giờ. Út giúp cho Anh trông coi đơn vị, có gì trở ngại hay cần những quyết định quan trọng báo cho Anh biết… Nếu đơn vị dưỡng quân ở hậu cứ, ngày thường Anh tà… tà rong chơi, Út cùng anh em sinh hoạt như: huấn luyện, chiến tranh chánh trị, bảo trì vũ khí quân trang quân dụng...chú trọng vấn đề lãnh đạo chỉ huy cho các cấp trưởng…
Vào những ngày cuối tuần, Anh cho xã trại 100%, riêng Anh thì tự chính mình cấm trại 100%... Út có thể xử dụng xe Jeep của Anh cùng các Sĩ Quan, Binh Sĩ đi chơi… nhưng nhớ giữ kỹ luật, đừng đánh lộn, đánh lạo…làm mang tiếng xấu cho đơn vị…”. Nhưng rồi "tai nạn" xảy ra một vụ bắn lộn. Anh Lân nghe báo cáo, vội phóng ra đồn Quân Cảnh Nha Trang thì lại gặp Ông Đồn Trưởng là Đại Úy Trương Văn Cao (K18) thế là mọi việc được “xử” êm xuôi trong tình “Huynh Đệ Chi Binh” với vài lời khiển trách nhẹ nhàng của hai Ông niên trưởng”: ”… mới ra trường chưa nứt mắt mà bắt đầu làm trò khỉ rồi..."!!!
Tiếp theo …Đơn vị tham dự hai cuộc hành quân xâm nhập Chiến Khu C, Chiến Khu Đ, giải tỏa núi Bà Đen, núi Heo, núi Cậu... Anh Lân đã trao trao truyền cho tôi những kinh nghiệm máu xương của chiến trường… Chính Anh là người đã khuôn đúc những viên gạch vững chắc để tôi vững bước trên con đường khói lửa chiến chinh sau này… Anh chỉ chỉ huy Đại Đội 3 Biệt Cách Dù (ĐĐ3BCND) chưa đầy một năm thì được chỉ định giữ chức vụ Tiểu Đoàn Phó cho Thiếu Tá Trần Phương Quế (K10). Sĩ Quan khác đổi về thay thế Anh, tôi vẫn là Đại Đội Phó ĐĐ3BCND.
Ba tháng sau, Anh gọi tôi lên Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn cười cười nói : “ Chuẩn bị tâm tư nhận lịnh phạt đó em” ! Thì ra Anh Lân và các niên trưởng khác đã hết lời thuyết phục TĐT bổ nhiệm tôi quyền ĐĐT/ĐĐ5/BCND khi tôi vừa tròn 23 tuổi, một Đại Đội Trưởng “măng non” miệng còn hôi sữa, chưa có “bề dầy” chiến trường so với các Đại Đội Trưởng khác cùng đơn vị…Sau…có vài tiếng thị phi phàn nàn, dèm pha của một vài Sĩ Quan cấp Trung Úy thâm niên hơn tôi: ”phe đảng"! Đảng gì đây? “Đảng Tự Thắng” để chỉ huy là châm ngôn của “Dòng Trưòng Mẹ Võ Bị Đà Lạt” !!!
o 0 o
Tháng12 Năm1969:
Đơn vị của tôi được cải danh là “Đaị Đội II Trinh Sát Nhảy Dù”, thống thuộc quản trị hành chánh của Lữ Đoàn II Nhẩy Dù. Sau hai tháng thụ huấn khóa viễn thám ở “lò Cừ” Dục Mỹ, Trung Tâm Huấn Luyện Vạn Kiếp, một số Hạ Sĩ Quan được gửi đi học mật mã truyền tin, tình báo… thì bắt đầu tham dự những cuộc hành quân cùng với các đơn vị khác… Phương thức và kỷ thuật tác chiến của hai binh chủng có nhiều khác biệt...Bên 81Biệt Cách Dù không bao giờ xử dụng pháo yểm mà hoàn toàn lệ thuộc vào không yểm… Nhảy Dù thì phối hợp cả hai trong bất cứ điều kiện cần thiết của chiến truờng…
Tôi bỡ ngỡ bối rối vì là một đại đội biệt lập, đơn vị trưởng phải phối hợp trực tiếp với Lữ Đoàn hoặc Sư Đoàn và lo liệu mọi bề…! May mắn thay, “lù khù có ông Cù độ mạng” Thiếu Tá Trần Đăng Khôi (K16) Trưởng Ban Ba hành quân của LĐIIND trạc trên dưới 30 tuổi, dáng người thanh nhã với ống bíp Havana trên tay, bụng hơi phệ. Nếu nói khẳng khái thì mọi điều hợp hành quân đều do Anh thiết kế. Tôi tham dự chiến dịch "Lùng và Diệt Địch", kế hoạch của Tướng Westmoreland và Tướng Đỗ Cao Trí… cuộc hành quân “Toàn Thắng“ vùng Tây Ninh Phước Long và Campuchia….
Tôi lạng quạng, lờ quờ ngu ngơ đến nỗi Anh Khôi phải gọi vào trình diện riêng trong hầm hành quân của Lữ Đoàn (TOC) moral với thái độ và giọng nói từ tốn, chậm rãi cố cho tôi hiểu: “…báo cáo diễn tiến hành quân, báo cáo tổn thất, báo cáo tình hình địch... Anh còn quá lượm thượm, nhất là phối hợp pháo binh Nhẩy Dù và Trực Thăng võ trang… Anh nên nhớ rằng có rất nhiều cặp mắt đang nhìn vào anh, và họ thèm rõ dãi chỗ của anh. Điều quan trọng nhất là chúng ta đang phối hợp hành quân với Sư ĐoànI Không Kỵ Hoa Kỳ...chỉ một lời báo cáo của cố vấn Mỹ bên cạnh anh, thì anh bị trả về đơn vị gốc của anh ngay!"
Tôi yên lặng thẩn thờ ngồi nghe. Anh lại tiếp lời: ”Thôi được. Tôi nói sơ sơ rồi ngày mai anh bay với tôi.”
Hành Quân Phối Hợp GAP (Ground & Air Preparation) là kỷ thuật dùng Pháo Binh và Air Strike cùng một lúc để dọn bãi đáp (LZ) hay bãi bốc (PZ). Điều phối hành quân sơ xuất hay không chính xác là pháo binh bắn rớt phi cơ, hoặc phi cơ nã Rocket vào đầu quân bộ chiến thì cả đám đi chỗ khác để “ngồi chơi sơi nước”. Muôn đời lục quân Việt Nam…!!!
Anh còn sắp xếp thời giờ tôi gặp các trưởng ban: Ban 4 Tiếp Liệu, Ban1 Quản Trị quân số, Ban 2 Tình Hình bạn-địch…để nắm vững dữ kiện trước khi lên C&C thả toán viễn thám hay trung đội trinh sát…
Như vậy trên những bước đường chập chửng của hai binh chủng Biệt Cách Dù và Nhảy Dù, tôi đã quá may mắn được hai “Đàn Anh” đở đầu, hướng dẫn và bao che… cho đến khi đủ lông, đủ cánh…!!! Nói lên lời “biết ơn”" thì khách sáo quá, tôi chỉ xin hứa cái đầu “mũ nồi Võ Bị” và hai cầu vai Greenberet và Redhat là cố gắng sống trọn tình nghĩa…Biết nói sao cho vừa…?
o 0 o
Năm 1972 - Đường Vào Binh Lửa:
Nhắc đến 1972 là phải nói đến “Mùa Hè Đỏ Lửa” đã có “nhà văn Quân Đội” Phan Nhật Nam (K18), Niên Trưởng Đoàn Phương Hải (K19), Niên Trưởng Huỳnh Văn Phú (K19) viết quá nhiều rồi… lại còn thêm hằng vạn trang sách báo viết về “Chiến Trận Mùa Hè” bằng máu, nước mắt và thân xác của đồng đội thuộc tất cả Quân Binh Chủng đã ngã xuống.
Biết bao nhiêu đồng bào trong chiến nạn đã may mắn sống xót, lê lết tấm thân thương tật trở về xóm làng điêu tàn tan hoang nhà cửa, ruộng vườn xơ xác … sau cuộc hành quân giải toả. Tôi chỉ gói ghém ngắn gọn những gì còn nhớ.
Cũng để “nói” nên lời tình tự với Võ Bị Đà Lạt và những “Chiến Binh Kiệt Xuất” đã không hổ danh "Tự Thắng Để Chỉ Huy", thiện xảo phát huy hết tất cả tài năng ứng chiến và quyền biến trên khắp mặt trận khốc liệt nhất, ở giai đoạn Mùa Hè 1972. 
 
"An Lộc quê hương của loài nai
Xanh xanh rừng cao su chạy dài…
Thấp thoáng trên đường quê đất đỏ
Em nhỏ tung tăng chân bước đến trường làng.
Chị duyên dáng áo vàng khoe nắng sớm
Mẹ hiền từ quẩy gánh buổi chợ đông
Năm Bẩy Hai, mùa Hạ chí trời trong.
Bắc Quân đến: Công Trường Năm, Bẩy, Chín…
Điện Biên, Sao Vàng, Tank, Pháo, Bình Long…
Hơn năm vạn quân vây kín trùng trùng…
An Lộc thoi thóp dưới mãn thiên mưa pháo !
Dân kinh hãi tìm đường lánh nạn !
Bỏ làng vượt lửa ngục trần gian !
Giặc điên cuồng nả pháo bắn tan hoang…
Thị xã thân yêu tan tác thãm sầu…!
Em nhỏ tan xác vỡ học trò đẫm máu…!
Cô giáo trẻ với tình yêu phấn, bảng…
Xác nơi nào hàng phượng trổ đầy hoa ?
Mầu của hoa hay máu thắm chan hoà ?
Đêm mưa gió nghe oan hồn ê …a…trong lớp học !
Tiểu Đoàn Sáu Dù vỡ, vòng vây xiết chặc
Đồi Gió tan tành tràn ngập bóng Bắc Quân
Đỉnh Charlie ôm xác người Anh Hào
Nguyễn Đình Bảo hy sinh đền nợ nước !
Liên Đội Hổ Xám lao vào trận địa
Cứu dân lành trước họng súng Bắc Quân.
Giặc bạo tàn bắn giết tấn công
Máu các Anh đổ đất Bình Long thêm đỏ !
Hoàng hôn xuống nắng tà vương mộ chí
Thiếu nữ u buồn nhỏ lê đề Thi
Lời Thơ lòng cảm kích chân thành
Trong chiến trận tình Quân Dân thắm thiết !
“ An Lộc địa sử ghi chiến tích,
Biệt Kích Dù vị quốc vong thân “ !
Giặc pháo hậu xung biển người lớp lớp…
Quyết tràn qua tàn sát Quân Dân Ta…
Đại Tá Vỹ bắn hạ chiến xa tại tuyến đầu
Quân phòng thủ vượt hào diệt Tank lẫm liệt… !!!
Lửa cháy rực bốn phương trời An Lộc
Bóng tử thần thấp thoáng điểm oan hồn
Nghe tiếng pháo đưa người qua cõi chết…!
Những phi tuần đánh bom thiêu đốt xác
Hoả pháo thổi tung địa đạo chiến hào
Vòng đai phòng thủ đạn xới cày vỡ đất
Ánh sáng hoả châu soi leo lét ngoài biên
Như nến lung ling đưa tiễn những linh hồn
Sinh đất Bắc vào Nam tìm huyệt mộ…!
An Lộc du du Thiên bất dung quỷ dữ
Quân Dân khôi khôi chiến đấu phi thường!
Tướng Hưng điều quân tử thủ kiên cường
Địch bỏ lại chiến trường xác Tank cháy nám.
Tháng Sáu mưa đầu mùa rơi rớt
Hàng mộ hôm qua đã lợp cỏ non
Xác người nằm, hồn vẫn sắt son
Giữ vững An Lộc địa danh vào Lịch Sử.
Đỉnh, Tiểu Đoàn Sáu Dù lướt qua An Lộc.
Biệt Kích Dù chiếm lại Đồng Long.
Tiều Đoàn Tám Dù, Biệt Động Quân phản công
Chiến Đoàn càn quét giải vây An Lộc
Tháng Tám rừng cao su sang Thu thay lá
Đất đỏ, mưa phùn thị xã vẫn còn đây
Lời thơ ngây em bé nói :” Mai nầy…
Khôn lớn con sẽ oai hùng như An Lộc …”.
(Hoàng Minh Uyên)
 
Sau chiến thắng có những vinh quang cho những Huynh- Đệ được tưởng thưởng vinh thăng, thì cũng có những đau thương như xé rách tâm hồn vì những Anh Em vừa "xanh cỏ" để tôi “ta”được "đỏ ngực" …!
Tháng 3 -1972, đơn vị ĐĐ2TSND được triệt xuất khỏi đồn điền Memot trở về hậu cứ Long Bình chờ lệnh. Hai ngày sau lên C130 trực chỉ Kontum. Xuống phi trường "tái ngộ" ngay với NT Lân, Anh đang giữ chức vụ Lữ Đoàn Phó LĐ81BCD vừa được triệt xuất ra khỏi vùng Tam Biên. Anh kéo tôi ra nói vội vàng vài ba câu trước khi lên C130 về Sài gòn: ”Út...em phải hết sức thận trọng...nhớ và áp dụng kỹ thuật tác chiến của Biệt Cách Dù để tránh tổn thất… Sư Đoàn Thép 320 của chúng nó đã áp sát Kontum với trọng pháo 130 và tăng T54 nữa đó...”!
Hai ngày sau cả tôi dẫn cả Đại Đội lên trực thăng vận ngay trên đỉnh 1049 (Căn Cứ Delta) cách hơn 10Km về hướng tây Căn Cứ Võ Định BCH/LĐ2ND thì bị Việt Cộng “phục kích độn thổ“ ngay tức khắc…! “Hand by hand” Đại Úy Budard hét lên trong máy báo cáo với cấp chỉ huy của hắn trong tiếng súng nổ vang trời…!!! Tôi lại nghe trong máy của tôi tiếng của Thiếu Tá Nguyễn Văn Thành tự “Thành Râu”( K19) phụ tá hành quân của Lữ Đoàn, từ chiếc trực thăng C&C do Đại Úy Phạm Công Cẩn (K21) Trưởng Tâm Hành Quân Phi Đoàn 229, Thiếu Tá Lê Văn Bút (K16) Phi Đoàn Trưởng) đang vần vũ trên không phận vùng đồi Delta:
- Út Bạch Lan...cho tôi biết cái gì đang xảy ra…!
- Đích thân chờ một chút...tôi bị phục kích độn thổ…!
Lại có tiếng réo của NT Nguyễn Trọng Nhi (K20) Trưởng Ban3Lữ Đoàn:
- Út Bạch Lan...báo cáo tình hình ngay...207 đang ngồi đây chờ!
(207 là Đại Tá Trần Quốc Lịch LĐT/LĐ2ND)…!
Tôi “ne pas”…!... để mặc cho họ chờ… thì chờ! Tôi làm gì có thì giờ để báo với cáo…tay đâu còn mà ôm hai ba cái ống liên hợp để “tường trình” cung cách quí phái thưa bẩm với trình “Đích Thân” như hồi còn làm “học sinh” trong Trường Võ Bị” Royal…?!!! Tại “hiện trường” tôi và mấy ông Tây (cố vấn Mỹ) đang cận chiến “face to face” vật lộn với..”vi xi” tưng bừng banh xác pháo… Chúng tôi ném lựu đạn xuống hầm đếm 1-2-3…chưa tới 6 thì chúng quăng ngược trở lên, thầy trò “hồi bộ” bò lăn bò càng te tua…!!! Mọi người sốt ruột lo lắng cho tôi, nhất là NT Thành Râu trên trực thăng C&C 24/24, NT Nhi cứ năm ba phút rống lên hỏi ra sao rồi, NT Cẩn thì hét to trong máy:
- UBT qua tần số UHF, tôi sẽ cho biết tình hình chung quanh của UBL...UBL đang bị bao vây rồi đó. Chúng nó đông như kiến… nói với Tây (CV Mỹ) xin khẩn cấp Trực Thăng Võ Trang (Cobra) trang bị M79. Ngồi với tôi có NT Thành, ở dưới đất có NT Nhi lo Pháo rồi...Nghe rõ không?!!!
Trước áp lực nặng nề của địch quân càng lúc càng thậm chí nguy… ! Nhưng tôi vẫn cảm thấy yên tâm, vì trên trời dưới đất, lúc nào cũng có những “Ông thần hộ mạng” là những Niên Trưởng đã một thời là "Hung Thần" hét ra lửa, mửa ra khói… của những Sinh Viên Sĩ Quan khóa đàn anh trong Trường Mẹ, đã thị uy dũng truyền thống phạt chúng tôi khoá đàn em tơi tả như cái mền rách bươm…!!! Nay đang trên trời ban ngày thì “Thành Râu19” với “Công Cẩn21”, ban đêm thì “Thẩm Quyền Bút16”, dưới đất thì “Trọng Nhi20” sáng trưa chiều tối thường trực “on” trên tần số, kề bên có NT “Ngọc Ngà19” TĐP TĐ2ND, Lê Thơm (K22) ngày đêm ghìm súng chờ “giặc từ ngoài Bắc...dzô đây...dzô đây...bàn tay vấy máu đồng bào…”…!!!
Hai ngày sau, CCDelta tạm lắng dịu vì có phi pháo yểm trợ. Tôi tạm được một chút nghĩ “dưỡng quân”, ngậm điếu thuốc, hớp một hớp cà phê… tôi chợt nhớ đến NT Khôi giờ này TĐ7ND của Anh đang trên đường vào vùng chiến địa cùng với TĐ11ND… Nhớ đến NT Khôi vì hôm nay bom, đạn pháo nổ tung xác giặc trên đồi… mà tôi đã phối hợp hữu hiệu với cố vấn Mỹ và Pháo Binh Nhảy Dù, áp dụng kỷ thuật GAP từ NT Trần Đăng Khôi đã “om” cho tôi hai năm về trước.
Một tuần lễ sau, TĐ11ND vào thay TĐ2ND ở CC Charlie, cách phía bắc CC Delta khoảng hơn một cây số... TĐT Nguyễn Đình Bảo (K14) TĐ11ND, TĐP/ NT Mễ(K18), Ban3/ NT Đoàn Phương Hải (K19),ĐĐT113/ Hùng Mập( K22), ĐĐT112/ Hùng Móm (K22), ĐĐT111/ Thinh (ĐĐP của TS2 ) vừa được bổ nhiệm.
TĐ7ND vào thay thế TS2ND ở Delta, TĐT/TĐ7ND là NT Khôi (K16), TĐP/T Đ7ND là NT Nguyễn Lô (K18), Ban3/NT Em (K19), ba ĐĐT nòng cốt Đăng (K22), Hải (K22), Cao (K22).
Trinh Sát II Nhảy Dù được bốc về CC Võ Định "dưỡng quân" hai ngày nằm dưới giao thông hào tránh pháo “sơn pháo”130, sau đó lại được bốc thả vào CCCharlie tăng cường cho TĐ11ND. Vừa đặt chân xuống bãi đáp nằm bên cạnh sườn đồi Charlie thì NT Hải chờ sẵn đó rồi: - Út theo tôi lên gặp Đích Thân cái đã...!
Trong căn hầm tối mù mù với ánh đèn pin vừa đủ soi bản đồ, NT Nguyễn Đình Bảo nói:
- Út giúp cho tôi tăng cường phía Bắc với Hùng Mập, phía Nam có Hùng Móm, phía Đông có Thinh, phía Tây tương đối không lo ngại vì phải qua một khe núi sâu khoảng 100 mét…!
Tôi vâng lệnh đeo Balô, súng đạn lên đường gặp Hùng Mập đang ngồi chàng hảng dưới gốc cây bên cạnh hố cá nhân như Thổ Địa trấn trạch. Thằng "ma cà rồng” này cùng ĐĐE22 Võ Bị Đà Lạt với tôi. Nó là dân “Bắc Kỳ ri cư” nên mồm chửi ròn rã “đ~t bố, đ~t…”…tùm lum. Tôi hỏi nó:
- Cái đ~t,… đồi này tên gì vậy Hùng mập…?
- Đồi Bắc...đồi bên kia (Charlie) là đồi 1515...!!!
Tôi ra lịnh nghỉ ngơi, ăn uống, đồng thời chỉ định ba toán viễn thám sẽ xuất hành đêm nay… “thằng” Hùng mập cười khình khịt… trong cổ họng, đầu lắc qua, lắc lại có ý chế diểu:
- Đ~t mẹ..Tank54 nó nằm đầy ở dưới chưn đồi mấy ngày nay. Tao không hiểu sao nó đ*o thèm bò lên. Nghe mày lệnh lạc cho các toán viễn thám của mày bung rộng lục soát mà tao lạnh toát mồ hôi…!!!
Đúng như lời Hùng mập bông đùa chiều nay, đêm hôm đó ba toán VT báo cáo y chang với vài tấm ảnh T54 chụp được bằng máy hình hồng ngoại tuyến… Tôi được lịnh trở lại CC Charlie để qua hướng Tây đóng quân trên ngọn đồi thấp hơn Charlie về phía tây khoảng 150 mét. Nhưng muốn qua đó phải vượt qua khe núi đá dựng đứng sâu 100 mét…phải mất 3 tiếng đồng hồ toàn bộ Đại Đội mới lên được đỉnh đồi với hai toán viễn thám đã thám sát trước. Chưa kịp nghĩ chân và bố trí quân thì bị Bắc Quân "Tapi" ngay...!
Đại Úy Budard (CV/TS2ND) hét trong máy với Đại Úy Muffy (CV/TĐ11ND):
- ”Help..Help…do or die...do or die…!!!
Đại Tá Mike (CV/ LĐ2ND ) xen vào tần số: - “Budard,listen to me. Calm down. I will give something right now. Calm down...ok...ok…”!!!
Chúng nó tràn lên như kiến, tôi hét Budard:
- ” Be careful...don't shoot my soldiers…!
Năm phút sau John Paul Van (CV/QĐ2) với chiếc Log và chiếc C&C của NT Cẩn cùng Đại Tá Lịch, NT Thành đã có mặt trên không phận. Lịnh của ĐT Lịch:
- UBL..step by step Romeo-Juliet...you understand what I mean… ???
- I got… it… !!!
Tôi áp dụng phương pháp "rút lui nhảy cóc", vì rút lui đồng loạt sẽ bị Địch tràn ngập ngay. Và mặc cho cấp trên điều động thế nào, tôi không có "quởn" nghĩ tới… Chỉ thấy sau lưng của tôi là cả một biển lửa giống như trong phim "We Are The Soldiers". Hằng loạt Bom Napal từ những phi tuần trên không dội xuống đốt cháy vạn vật như “trời cao” huỷ diệt sinh linh quả địa cầu tròn trịa nầy…Kinh hồn và khiếp hãi…!!! Phải bỏ lại hai toán VT và hơn 20 HSQ-BS, một số chết tại chỗ, số bị thương nặng nhẹ…tan tác…! Thôi đành xin lỗi các bạn...”không phải tại anh, cũng không phải tại em, tại trời xui khiến nên chúng mình xa nhau”. Tử biệt sinh ly mỗi giây phút, mỗi giờ và mỗi ngày. Chinh chiến có mấy ai trở lại?!!!
Ngày hôm sau TS2ND được bốc ra khỏi Charlie sau một đêm cùng TĐ11ND nằm vắt giò lên miệng hầm nghe tiếng “mưa rơi” từ hai Pass B52 cách Charlie chừng 300 mét. Sự việc đã phá lệ duy nhất trong Lịch Sử Chiến Trường Thế Giới và chỉ có ở Charlie, VN 1972 vì khoảng cách an toàn để B52 dội bom tối thiểu phải 1000 mét vòng đai tránh thiệt hại cho quân ta. Tôi ngồi trên chiếc trực thăng Mỹ cuối cùng rời Charlie, không một vẫy tay chào, không một lời giã từ "Đồi Bắc" nơi đó có Hùng Mập E22, "Đồi 1515" có các NT thân yêu của tôi mà chỉ cách đây hai tuần lễ còn ăn nhậu mệt nghĩ tại CLB/TĐ11ND với NT Bảo, NT Mễ, NT Hải, Hùng Móm, Thinh…!
Vài ngày hôm sau số phận Charlie kết thúc, để người Anh đáng kính Cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo của CC Nguyễn Huệ-Long Bình nay có vinh Danh "Người Ở Lại Charlie" qua dòng nhạc xót xa tiếc nuối của Nhật Trường…! Tưởng như vậy đã xong. Nhưng có bao giờ Nhảy Dù biết hai chữ "chấm hết"?... chỉ trừ khi nhắm mắt “an ngủ” giấc ngàn thu…! Có lệnh LĐ2ND được Galaxy C5 tại phi trường Pleiku không vận về Sài gòn khẫn cấp để "trên đường ra Quảng Trị..."
Trước khi rời khỏi Kontum, QĐ2 "cân hồ" xử dụng lực lượng Tổng Trừ Bị Nhảy Dù theo kiểu vơ vét cú chót: TĐ7ND và TS2ND được “có vé trực thăng" của Thiếu Tá Lê Văn Bút và Đại Úy Phạm Công Cẩn thuộc PĐ 229 bay “tham quan” đỉnh Chupao trước khi về phi trường Pleiku…Nhìn… cũng lại là “dân Đà Lạt”: NT Lô18, Đăng 22, Hải 22… đằng vân hạ thổ ngay trên đỉnh Chupao, NT Khôi16, NT Em19 cùng Cao 22 dẫn quân "tam bộ nhứt...bắn" xuôi nam, UBL nhảy xuống phía Tây Nam dưới chân đồi, NT Cẩn (C&C) ban ngày, NT Bút ban đêm.
Mạnh ai nấy lo trong tình huống tứ bề thọ địch “Tam Quốc Chí Tân Thời” Anam với “Quan Vân Trường Đà Lạt” đang “lăng ba vi bộ” trên Hoa Dung Lộ có trùng trùng “giặc từ miền Bắc dzô đây” bố trí quân phục kích và sẵn sàng “uýnh” Full Contact trận địa chiến…và trong khi Triệu Tử Long múa thương trường bản trên đỉnh Chupao…!!! Rồi nhiệm vụ nào cũng “thi thố” xong tuyệt vời…!!!
Đứng sắp hàng chờ lên Phi Cơ C5 (lần đầu tiên đơn vị Nhảy Dù được không vận bằng C5 của Mỹ ) từ thầy đến trò, từ anh xuống em, nhìn nhau với ánh mắt không nói nên lời, vì đã bỏ lại sau lưng bao nhiêu đồng đội cùng thành phố Kontum, với giòng sông PoKo có cô “sơn nữ phà ca” mang gùi đi đổi muối…!
Đường Vào Quảng Trị:
Có thể ví von là Đà Lạt “du ngoạn” vào tử địa Quảng Trị!LĐ2ND làm mũi dùi chính trên đường chiếm lại cổ thành Đinh Công Tráng. Thành có dạng hình vuông, sông Thạch Hãn bao bọc phía Tây uốn quanh một phần phía Bắc, phía Đông là Làng Tri Bưu, Hạnh Hoa Thôn nơi đóng quân của BTL/ SĐ304 CSBV, phía Nam là nhà thờ La Vang và ngã ba Long Hưn.
“Phái Đoàn Đà Lạt” gồm có:
- TĐ5ND/ NT Nguyễn Chí Hiếu (K15), NT Bùi Quyền (K16), NT Chí K20, TĐSĩ K21, NTViệt K23.
- TĐ7ND/ NT Trần Đăng Khôi( K16), NT Nguyễn Lô (K18), NT Em K19, ba ĐĐ nòng cốt Đăng, Hải, Cao K22, TV Quyền K23.
- TĐ11ND/ NT Mễ (K18), NT Thành( K19), NT Hải (K19), Hùng Móm (K22), NVN Long K23.
- Tăng cường: TĐ6ND/ NT Nguyễn Văn Đỉnh (K15), NT Tùng K19 và 2 Biệt Đội 81BCD dưới quyền chỉ huy của NTLân (K17).
Như vậy là “dân ĐàLạt” toàn phần nếu không “tiếu ngạo giang hồ” gọi đó là "Phái Đoàn Đà Lạt.." thì đã khoa ngôn chi thiện xảo ư từ chăng?
Với 27 ngày đêm, phái đoàn được đón tiếp bằng “pháo bông” rực rỡ mãn thiên hoa đạn liên ti tù tỳ từ nổ chụp trên đầu tới cày nát địa đạo không thua gì đêm pháo bông Tết Tây ở Time Square New York…!!! Chỉ có điều trớ trêu là “nhân sự” trong phái đoàn thưởng lãm địa pháo, sơn pháo…phải cảnh giác tối đa, chong súng đỏ mắt, nón sắt che đầu, ẩn nấp dưới giao thông hào hay hố cá nhân ngập nước bùn sình…
Tôi có một kỷ niệm khó quên ở đây khi dẫn quân đã xâm nhập vào được Quận Châu Thành - Mai Lĩnh, nín thở ém quân chờ TĐ7ND còn đang bị khựng lại ở ngả ba Long Hưng, lúc nửa đêm về sáng hôm sau, “Sông Lô” TĐP/TĐ7ND một mình với hai HSQ mang máy vượt một đoạn đường gần một cây số để bắt tay với TS2ND trong khi Bắc Quân bủa vòng vây kín, tứ bề thọ địch và chiến xa T54 của chúng đang tuần tiểu trên đoạn đường này.
Niên Trưỏng ”Ôn Lệnh Hồ Xung Lô Lọ Rượu” (K18VBĐL) mừng rỡ ôm chầm Út Bạch Lan tôi (K22VBĐL) cười khằng khặc sảng khoái như muốn Hồ Trường…hồ rượu ta muốn “trút” về phương mô cho cát bay đá chạy chôn trăm ngàn xác quân sinh Bắc tử Nam mà chưa cạn một Hồ Trường…!!!
“Ôn Sông Lô” trọ trẹ: - Mạ mi…Ta không ngờ mi mò vô tới đây…!!!
- Chuột mà...Niên Trưởng !!! (Huy hiệu Trinh Sát Dù là con Hải Sư nhưng trông giống như con chuột đầu Giáp thập nhị chi Tí Sửu Dần Mẹo…)
Vì "Danh Dự - Trách Nhiệm - Tổ Quốc" mà “đàn anh-đàn em” cùng chung dưới mái Trường Mẹ Võ Bị Đà Lạt kéo nhau lao vào những cuộc binh đao “chơi hết láng” bằng máu, nước mắt và thân xác gói Poncho miếng còn, miếng mất…! Tôi đã mất đi một NT Tùng K19, một thằng bạn Hùng Móm cùng khóa, một đàn em NVN Long K23...và còn nhiều nữa đã bị loại ra khỏi vòng chiến. Làm sao mà nhớ hết trong suốt quảng đời chinh chiến được? Đáng tiếc và ngậm ngùi…!
Đã có rất nhiều "Cây Viết có tầm cỡ”...viết tả lại những chiến trận Kontum, An Lộc và Quảng Trị với nhiều công sức truy tầm, nghiên cứu trên tài liệu sách báo…Nhưng hầu hết họ không và làm sao “lột tả” diễn đạt được hết những khốc liệt trên chiến trường mà người chiến binh phải vượt qua nỗi chết, để giành lấy sự sống khi thế chiến đấu ở An Lộc là Tử Thủ, Quảng Trị là Tử Chiến… Một là Thủ, hai là Công, hai tính chất khác biệt nhau nhiều lắm…
Vậy cho nên dù là Thủy Quân Lục Chiến, Nhẩy Dù, Biệt Động Quân, 81Biệt Cách Dù, Bộ Binh, Thiết Giáp, Không Quân, Hải Quân, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, Nhân Dân Tự Vệ … trong số những đơn vị của toàn thể Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã có không ít những “đứa con yêu” của trường Mẹ Võ Bị Đà Lạt nói riêng, và của Tổ Quốc nói chung, đã một mai rơi rụng như chiếc lá lìa cành dưới những tràng đạn, mưa pháo, lưới đạn phòng không nổ kinh hoàng, làm nên cơn địa chấn và vùng trời đầy bão lửa cháy rực đỏ thôn làng.
Máu xương dân lành đã đỗ xuống ... anh em cùng một bọc thai bào sinh ra gọi nhau là “Đồng Bào” lại tàn sát lẫn nhau…Ôi …có oan khiên nào hơn…! Thua cuộc hay thắng cuộc ? Tôi còn nhớ trong Đệ Nhất Thế Chiến khi Danh Tướng FOX đi ngang ngôi mộ của Napoléon có ghé lại chào và viết một câu trên mộ bia: " Công Danh -Sự Nghiệp của một con người không phải là lúc khởi đầu mà là lúc kết thúc." Hay câu viết của NT Lâm Quang Thi:” Chúng ta thua một trận chiến, chứ chưa phải thua một cuộc chiến."
Trải qua bao thế sự thăng trầm, sau nửa đời người, một phần hai thế kỷ, ngày nay kẻ còn người mất, giàu nghèo, sang hèn có khác gì nhau khi đã có mang chung một “dòng máu Võ Bị"?
- Nhảy Dù qua ngưỡng của phi cơ cùng tung cánh dù lộng gió lơ lững giữa trời không.
- Biệt Động Quân cùng nhẩy ào ra khỏi lòng slick trực thăng lội bãi sình lầy gian khổ.
- Thủy Quân Lục Chiến đỗ quân hay nhảy ùm xuống bờ biển nông sâu lõm bõm lội vào bờ trước họng súng đang chực chờ khai hoả của Cộng nô.
- Không Quân lao vào lưới đạn phòng không nã hoả tiễn, rãi từng tràng đạn liên thanh, bay sát mục tiêu để “thẩy lỗ” từng trái bom nổ bung xác Bắc Quân như những con thiêu thân đang tràn ngập căn cứ quân bạn, hoặc lắc cánh "né đạn" chào nhau hẹn mai tương phùng.
- Anh Thiết Giáp đang ngồi trên pháo tháp chiến xa, chợt nghe tiếng cà xịch cà xịch của SA7 vội lao mình xuống đất và húc trên xác địch mà tấn xa, khạc đạn…!!!
Quân Trường chỉ có đổ mồ hôi, nhưng Chiến Trường đổ mồ hôi, máu và nước mắt…! Các cấp Tướng lãnh, các Đại Niên Trưởng thì...thì...đổ mồ hôi " hột " nhiều hơn, bởi... "Nhứt Tướng Công Thành Vạn Cốt Khô" cũng phải lau giọt lệ khi nghe tin một khóa đàn em vừa nằm xuống hay vừa bị mất một quận một tỉnh nào đó. Không biết giọt mồ hôi hột có nóng hơn giọt máu đào hay không…?!
Nay ngồi đây với nỗi nhớ ngập tràn qua ly rượu, hồn mênh mang hồi tưởng lại chiến trường xưa mà đoạn đường Kontum bỏ lại sau lưng bao Niên Trưởng, vào An Lộc nằm xuống mấy kẻ "đồng môn", ra Quảng Trị chôn vùi bao nhiêu thân bách chiến và đoạn đường nào đốt cả quảng trời xanh…?!!! Màu xanh đó ...bây giờ chỉ còn là “chiếc áo dài Võ Bị” đi bên cạnh cuộc đời nơi xứ lạ quê người.
Võ Bị Đà Lạt còn đây! Những Anh Em một thuở Anh Hùng Bảo Quốc An Dân - Trấn Không - Phòng Vệ Lãnh Hải. Giặc Tàu Ô Man thừa gió bẻ măng chứ chưa thực sự dám động cuộc can qua.
Trương Văn Út (Mũ Đỏ Út Bạch Lan)