Monday, April 8, 2024

Lễ khánh thành Đài Tưởng Niệm Tri Ân Việt - Mỹ Tại Kentucky, Hoa Kỳ

13,568 views Oct 12, 2023 

Một công trình tôn vinh những người lính Việt Nam Cộng Hòa, những người lính Hoa Kỳ và đồng minh đã hy sinh để bảo vệ cho nền tự do và hòa bình cho miền Nam Việt Nam khánh thành vào ngày 9 tháng 10 tại ở ngoại ô thành phố Louisville Tiểu bang Kentucky Hoa Kỳ. Công trình này cũng sẽ đóng vai trò như một viện bảo tàng ngoài trời để nâng cao nhận thức của công chúng về người tị nạn cộng sản Việt Nam. Phóng viên Vũ Nhân từ Kentucky tường trình trong phóng sư sau đây: 

Quý vị hãy ủng hộ SBTN bằng cách liên lạc với các hãng Cable địa phương hoặc Directv ở số 1 866 687 7109 để bắt đài SBTN hoặc có thể xem SBTN qua hệ thống SBTN GO với giá $9.99 một tháng hoặc $99.99 một năm. Xin hãy vào trang nhà WWW.SBTNGO.COM để biết thêm chi tiết. Quý vị có thể download SBTN Go App trên Iphone, Ipad, Android phone, Chromecast, Apple TV, Android TV, Amazon Fire TV, Roku TV và Xbox One. Những sản phẩm lưu niệm của SBTN. quý vị có thể mua ủng hộ để chúng tôi tiếp tục gìn giữ và bảo tồn văn hóa Việt Nam tại hải ngoại. 

www.sbtnhomeshopping.com https://teespring.com/stores/sbtn

RẢI TRO THEO GIÓ Tác Giả: Nguyễn Tường Thiết

      Tặng Nhung, “đứa con đầu lòng” của nhà văn Thạch Lam.
       Tôi gặp anh tất cả bốn lần. Bốn lần đó trải dài hơn ba thập niên. Không nhiều. Đã thế dường như trong cả bốn lần đó ngoài cái gật đầu chào, chúng tôi không hề trao đổi với nhau lấy một tiếng. Anh vốn ít lời. Còn tôi thì e dè. Tôi vốn có tính rất ngại bắt chuyện với một người nổi tiếng, đặc biệt nếu người ấy lại là người có quyền thế. Trong thâm tâm tôi biết nếu tôi mở chuyện thì anh cũng sẽ vui vẻ bắt chuyện ngay. Đằng sau gương mặt lầm lì ít nói ấy anh là người rất bình dị. Nhưng lần nào cũng thế sau cái gật đầu chào, tôi không bao giờ cất tiếng. Để đến bây giờ ngồi trước bàn máy vi tính một buổi sáng mùa thu miền Tây Bắc nước Mỹ, tôi viết đôi dòng về anh mà lòng không khỏi gợn chút nuối tiếc: bài viết của tôi vì thế sẽ không ghi lại một mẩu đối thoại nào, dù ngắn, để làm kỷ niệm giữa anh và tôi. Mà nào giữa chúng tôi đâu có phải người xa lạ gì cho cam? Anh là nguời rất thân cận trong đại gia đình Nguyễn Tường chúng tôi, là chồng của người em họ tôi, trưởng nữ của nhà văn Thạch Lam.
 
      Tôi nhớ lại hình ảnh anh trong bốn lần gặp ấy. Bốn lần thì có đến ba anh hiện lên trước ly rượu. Đó cũng là hình ảnh cha tôi thường thoáng hiện mỗi lần tôi nhớ về ông. Trước ly rượu anh trầm ngâm yên lặng. Cha tôi cũng thế. Và bao giờ cũng vậy mỗi lần nghĩ về anh lòng tôi không khỏi có ngầm một sự hãnh diện thầm kín rằng dòng họ tôi có được một người rể như anh nổi tiếng là người thanh liêm. Cách đây sáu năm khi tái bản cuốn truyện của cha tôi, cuốn Giòng Sông Thanh Thủy, tôi đã viết lời đề tặng anh trên trang đầu cuốn sách những lời thật lòng: “Tặng anh Ngô Quang Trưởng, với cả tấm lòng quí mến và ngưỡng mộ”.
 
      Cơ duyên nào mà một vị Tướng lừng danh của Quân Lực miền Nam Việt Nam lại kết duyên với cô con gái lớn của nhà văn tài hoa nhất Tự Lực Văn Đoàn? Tôi không biết nhiều để trả lời thật đúng cho câu hỏi này. Người có thẩm quyền trả lời là bà Trưởng. Mang dòng máu của nhà văn Thạch Lam tôi nghĩ Nhung nếu muốn viết cũng sẽ dễ thôi. Tôi cũng không có ý định viết hồi ký về anh vì thật tình tôi không biết nhiều. Chỉ xin ghi lại đây đôi chút kỷ niệm với anh trong dăm lần gặp gỡ hiếm hoi.
 
      Trước khi gặp anh lần đầu tiên vào năm 1962 tôi đã nghe lan truyền câu chuyện về một mối tình tay ba của hai sĩ quan trẻ thuộc hai binh chủng khác nhau của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, một Không Quân và một Nhảy Dù, với cô con gái lớn của một nhà văn nổi tiếng. Hai quân nhân cùng yêu một cô gái. Đó là chuyện thường tình trong cuộc chiến. Điểm đặc biệt họ lại là đôi bạn rất thân nhau. Trước cái chết có thể đến bất cứ khi nào, họ giao ước với nhau trong tình bạn là nếu người nào nằm xuống trước thì người kia nguyện sẽ suốt đời chăm lo cho cô gái kia. Người phi công sau đó tử nạn máy bay và định mệnh đã đẩy cô em họ tôi gắn liền cuộc đời với anh Trưởng. Sau này nhiều lần gặp Nhung tôi toan hỏi Nhung về câu chuyện tình này có đúng sự thực hay không, nhưng tôi lại thôi không hỏi. Với tôi đó là một huyền thoại đẹp, hãy cứ để nguyên vẹn như thế trong trí tưởng tượng của tôi.
 
      Năm 1962 tôi ở Sài Gòn và dạy học tại trường trung học Minh Tân ở Biên Hoà. Một bữa anh Triệu tôi, hiệu trưởng trường Minh Tân, chở tôi từ Biên Hoà về Sài Gòn trên chiếc xe Lambretta của anh. Đến Thủ Đức anh tôi đề nghị ghé thăm Nhung lúc này đang ở đó. Trong lúc nói chuyện với Nhung thì có tiếng xe đỗ ở ngoài cửa. Tôi nhìn ra. Từ trên xe jeep một sĩ quan bận đồ dù nhảy xuống. Hai bông mai trên ve áo trận. Anh Trưởng lúc ấy cấp bậc Trung Úy giữ chức vụ Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù. Anh người tầm thước, nước da ngâm đen, khuôn mặt sần sùi khắc khổ. Cảm tưởng đầu tiên của tôi là anh không những không đẹp trai, lại không có cái “tướng” hùng của một quân nhân. Trí tôi lúc ấy thoáng hiện câu chuyện tình tay ba và tôi hình dung khuôn mặt anh chàng phi công tử trận chắc là phải hào hoa và đẹp trai hơn anh Trưởng.
 
      Năm 1967 tôi gặp anh Trưởng lần thứ nhì ở Huế thì trên ve áo trận của anh hai bông mai đã thay thế bằng một ngôi sao. Anh đã lên Tướng! Người sĩ quan tôi trông không có “tướng” ấy, năm năm sau đã được thăng Tướng trong một thời gian ngắn kỷ lục. Trong họ tôi bắt đầu có lời đồn đãi là từ khi anh Trưởng lấy Nhung thì như diều gặp gió đường binh nghiệp của anh lên vùn vụt. Từ một Trung Úy Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù anh bây giờ là Chuẩn Tướng Sư Đoàn Trưởng Sư Đoàn 1 Bộ Binh. Năm ấy từ Sài Gòn tôi bay ra Huế hai tuần lễ và tá túc tại đại học xá Nam Giao, nơi mà hai năm trước tôi đã từng là sinh viên nội trú để theo học ở Đại Học Khoa Học Huế. Từ Nam Giao tôi đi bộ đến thăm cô em họ, lúc này đã khó gặp vì ở một nơi rất “kín cổng cao tường”. Tư dinh của Tướng Trưởng là một biệt thự trên đường Lê Thánh Tôn gần nhà bưu điện Huế. Chung quanh toà nhà giây thép gai giăng đầy, ở bốn góc là bốn lô cốt thiết lập bằng những bao cát với những họng súng chĩa ra từ lỗ châu mai. Người lính gác cổng vào trong nhà báo và Nhung đã ra tận cổng để tiếp tôi. Chúng tôi đang nói chuyện ở sa lông thì anh Trưởng về. Trông anh mệt nhọc nhưng oai phong hơn hẳn lần tôi gặp anh 5 năm trước. Thuở ấy tôi chưa nhập ngũ, vẫn còn là sinh viên, dù vậy trông anh tôi cũng có cảm giác hơi khớp. Không biết có phải vì ngôi sao trên ve áo anh khiến tôi thấy anh oai vệ hơn không. Tôi đứng dậy chào anh trong lúc Nhung nói với anh Trưởng:
 
      – Anh Thiết, con bác Tam đấy!
 
      Anh không nói gì, chỉ khẽ gật đầu, rồi lẳng lặng ra chỗ quầy rượu nơi có đặt mấy chai Martell có ngâm những củ sâm bên trong, anh rót rượu vào ly rồi cầm ly rượu trên tay không uống, anh chậm rãi bước tới bước lui trong phòng khách, đầu cúi nhìn sàn nhà vẻ mặt đăm chiêu suy nghĩ.
 
      Năm 1970 khi tôi gặp lại anh lần thứ ba thì tôi đã là một quân nhân. Sau biến cố Tết Mậu Thân tôi nhập ngũ khoá 2/68 Thủ Đức. Ra trường tôi phục vụ ngành Chiến Tranh Chính Trị tại Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị ở Sài Gòn. Năm ấy khoảng gần tết thím Sáu tôi tức là bà Thạch Lam mất tôi đi viếng thím trong bộ quân phục. Quan tài thím đặt tại tư dinh Tướng Trưởng trong cư xá sĩ quan Chí Hoà. Họ hàng chúng tôi đứng chật hai bên quan tài đặt chính giữa phòng khách. Xe jeep đậu trước cửa. Anh Trưởng bước vào. Bỏ chiếc mũ lưỡi trai cặp tay —chiếc mũ gắn hai ngôi sao đen— anh đứng yên lặng trước quan tài mẹ vợ cúi đầu. Đứng ở bên này quan tài, đối mặt anh lần đầu trong tư thế một quân nhân, một Thiếu Úy trước một Thiếu Tướng, tôi cảm nhận tất cả cái trọng trách lớn lao của vị Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn IV, quân Khu 4, hằn trên gương mặt khắc khổ của anh. Hai phút sau anh đội mũ lên đầu rồi vội vã bước ra xe đi mất.
 
      Năm 1972 sau “mùa hè đỏ lửa” tôi là một trong ba sĩ quan của Khối Kế Hoạch Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị đi thanh tra vùng giới tuyến. Ba người ấy là Trung Tá Vĩnh Huyền, Thiếu Tá Nguyễn Công Luận và tôi với cập bậc Trung Úy. Phái đoàn bay ra Huế trú đóng hai tuần lễ ở Mang Cá trong cổ thành Đại Nội. Không khí nơi đây đượm mùi chiến tranh. Lần đầu tiên kể từ ngày ra trường tôi trực diện với cuộc chiến. Cộng quân lúc này thỉnh thoảng vẫn tiếp tục nã pháo vào cổ thành Huế. Mỗi lần nghe tiếng đạn rít trên không trung tôi quơ nón sắt chụp lên đầu nhào xuống giao thông hào nơi hàng trăm binh sĩ thuộc đủ loại binh chủng và cấp bực cùng nhào xuống trú pháo. Theo bản năng tự nhiên mỗi lần nghe tiếng đạn pháo rít trên cao là tôi lại chúi đầu xuống đất mặc dù tôi biết rằng nghe được tiếng đạn rít tức là mình đã thoát chết vì đạn đã bay qua khỏi đầu.
 
      Chính trong lúc trú pháo này mà tôi hiểu được nỗi kinh hoàng mà anh vợ tôi Trung Úy Nguyễn Thái Hoà và những chiến sĩ Sư Đoàn 5 Bộ Binh tử thủ An Lộc đã phải hứng chịu trước những trận mưa pháo dữ dội hơn gấp cả ngàn lần. Trước khi ra Huế lần này tôi đã đi chôn anh Hoà tại nghĩa trang Quân Đội Biên Hoà. Anh tử trận ngày 7-7-1972 đúng ngày Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bay xuống An Lộc gắn lon Đại Úy cho anh và ngay đêm đó anh bị pháo chết. Nội trong 24 tiếng đồng hồ ông anh vợ tôi đã lên chức hai lần, từ Trung Úy lên cố Thiếu Tá. Và cũng chính trong lần ra Huế này mà tôi được nghe được rất nhiều giai thoại về anh Trưởng, “người hùng tái chiếm Quảng Trị” lúc này đã được vinh thăng Trung Tướng với ba sao trên ve áo và giữ chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn I, Quân Khu 1. Tất cả những giai thoại đó nếu được ghi lại đầy đủ tôi nghĩ có thể viết thành một quyển sách. Giai thoại về sự thanh liêm trong sạch của anh cũng có. Giai thoại về tác phong chỉ huy của anh cũng có. Giai thoại về lòng thương lính dưới quyền của anh cũng có.
 
      Tôi nhớ là trong giao thông hào giữa hai đợt pháo kích một vị sĩ quan cạnh tôi sau khi biết sự liên hệ rất gần giữa tôi với anh Trưởng hỏi tôi có đi thăm Tướng Trưởng trong lần ra Huế này không. Tôi trả lời không. Rồi tôi nói thêm: “Mình chả dại. Đang ngon lành trong ngành Chiến Tranh Chính Trị lại ở hậu cứ, gặp ổng nhỡ ổng lại ký giấy tống mình ra tiền tuyến thì mệt lắm. Mà không phải tôi nói giỡn đâu. Một người anh họ tôi cùng khoá với tôi 2/68 đã bị lãnh búa rồi. Ông Tướng hãnh diện đi khoe với cố vấn Mỹ là có người anh họ đang chiến đấu ở ngay tuyến đầu!
 
      Lần thứ tư tôi gặp anh Trưởng là vào tháng 7 năm 1993 tại Virginia, tiểu bang êm đềm của nước Mỹ. Như một khúc phim được quay nhanh, hai mươi ba năm sau ngày tôi gặp anh lần chót ở Việt Nam tôi lại thăm anh Trưởng tại tư gia, một căn nhà khiêm nhường tại vùng thủ đô Hoa Kỳ. Cuộc chiến Việt Nam như một giấc mơ hãi hùng nhưng không thực lúc này đã trở thành dĩ vãng. Năm đó vào tháng 7 chúng tôi bay qua miền Đông nhân ngày giỗ thứ 30 của cha tôi được tổ chức tại nhà anh cả tôi, anh Việt, ở Virginia. Lần đầu tiên gặp anh Trưởng trong bộ thường phục, trông anh là lạ. Anh bận chiếc áo mông-ta-gu màu đỏ trông anh mập ra, trẻ trung và khoẻ mạnh.
 
      Lần đầu tiên tôi nhìn thấy ở anh vẻ an bình hiện trên gương mặt. Nhưng đó chắc chỉ là bề ngoài. Bên trong chắc hẳn anh mang nặng nỗi đau và niềm cay đắng của một vị Tướng bại trận sẽ mang theo anh cho đến tận cuối đời. Anh đích thân rót rượu và ân cần mời tất cả mọi người. Tôi toan tiến lại gần anh, nói với anh vài lời, đặc biệt là bầy tỏ tấm lòng của tôi đối với anh, nhưng tôi lại thôi. Tôi nghĩ trong bụng anh có thể đã nghe những lời bầy tỏ tương tự như thế rất nhiều lần rồi, nói ra lại thành khách sáo, vả lại chúng tôi là người nhà, còn thiếu gì những dịp khác để gặp anh tâm tình. Nhưng tôi đã lầm. Dịp khác để gặp anh đã không bao giờ đến, cho đến khi anh ra đi vĩnh viễn vào ngày 22 tháng 1 năm 2007. Tôi không thể ngờ lần thứ tư tôi gặp anh ở Virginia đó cũng là lần chót. Và chúng tôi vẫn chưa bao giờ trao đổi với nhau được lấy một lời. Tôi chỉ còn cách tự an ủi là ba năm trước khi anh mất anh đã đọc những lời chân tình của tôi viết về anh trên trang đầu cuốn sách Giòng Sông Thanh Thủy tôi gửi tặng.
 
      Trưa hôm nay tôi lái xe đến thăm anh Phạm Hậu. Nhà anh Hậu ở Bothell, cách Shoreline chỗ chúng tôi ở khoảng 20 phút lái xe. Từ mấy năm nay chúng tôi có một giao ước. Cứ cách khoảng hai tháng là hai đứa phải ới cho nhau một tiếng, hẹn nhau tại một quán ăn, ăn trưa rồi ngồi hàn huyên. Luân phiên chúng tôi trả tiền. Nhưng dạo này anh hơi lẫn, ngại lái xe, nên tôi thường đến nhà anh chở anh đi.
 
      Từ trong nhà bước ra anh nói ngay:
 
      – Tôi quên mất rồi. Không biết lần này ai trả tiền, ông hay tôi?
 
      – Tôi cũng không nhớ. Nhưng nhầm nhò gì. Để tôi trả cho. Anh cứ “vô tư” đi cho tôi nhờ!
 
      – Này này! Ông đừng có lợi dụng cái bệnh Alzheimer của tôi nhé! Cái gì cũng phải cho nó sòng phẳng...
 
      Trong lúc lái xe tôi nghĩ đến sự tình cờ hi hữu đã khiến chúng tôi gặp lại nhau và ở gần nhau trên nước Mỹ. Bốn mươi năm trước chúng tôi có một thời gian cùng phục vụ tại Khối Kế Hoạch Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị. Anh Hậu lúc ấy là Thiếu Tá nhưng anh chỉ tạm trú ở Tổng Cục vài tháng trước khi chờ biệt phái sang Phủ Tổng Thống. Hồi đó tôi nghe đồn anh có “gốc” lớn lắm. Sau này kể anh chuyện ấy anh cười nói:
 
      – Gốc mẹ gì! Toàn là đồn nhảm không à!
 
      Tôi cũng nhớ là sau khi biết tôi là con của ông cụ, anh Hậu, tác giả tập thơ Chuyện Chúng Mình, có đọc cho tôi ngay câu thơ mà anh đã làm trước đó mười năm: “Yêu Nhất Linh tôi chọn tên Nhất Tuấn”. Cùng sang Mỹ năm 1975 và cùng chọn tiểu bang miền Tây Bắc nước Mỹ để định cư, chúng tôi đã có dịp gặp nhau thường xuyên từ hơn ba mươi năm nay.
 
      Ăn trưa xong, bên tách trà nóng, chúng tôi ngồi ôn chuyện cũ. Lẫn trong câu chuyện hình ảnh của những người mà chúng tôi đã từng quen biết năm xưa, người mất kẻ còn, lần lượt hiện ra. Tội nghiệp Trung Tá Ngô Văn Hùng, Trưởng Khối Kế Hoạch Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, xếp của chúng tôi, đã chết vì ngộp thở trên chuyến tàu hoả chở những tù nhân cải tạo ra Bắc. Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, Trưởng Phòng Nghiên Cứu Kế Hoạch, xếp trực tiếp của tôi, cũng đã ra đi tại tiểu bang New Jersey miền Đông nước Mỹ. Trung Tá Vĩnh Huyền, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 50 Chiến Tranh Chính Trị, người mà anh Hậu vẫn khen là có gương mặt và tác phong rất bảnh, đã từ lâu tôi mất liên lạc, không biết còn ở Calgary bên Canada hay không. Và Thiếu Tá Nguyễn Công Luận nữa, không biết anh còn ở San José hay không, sức khoẻ anh hiện ra sao…
 
      Bên ngoài lướt qua khung kính của nhà hàng mưa nhẹ bay bay. Bãi đậu xe lá vàng phủ ướt nhẹp. Bây giờ là cuối thu, những chiếc lá của hàng cây phong trồng trên bãi đậu xe đã bắt đầu chuyển từ màu vàng óng sang màu đỏ tía. Mỗi lần cơn gió mạnh thổi lá rụng lả tả bay đậu trên mui trên kính những chiếc xe hơi nằm trên bãi.
 
      Tôi nhìn anh Phạm Hậu ngắm hàng râu mép của anh và bỗng thấy anh cũng bảnh y như Trung Tá Vĩnh Huyền trong hình ảnh ký ức tôi năm xưa. Chỉ khác là bây giờ râu tóc của nhà thơ này đã chuyển sang màu muối tiêu. Nhớ đến Trung Tá Vĩnh Huyền tôi lại liên tưởng đến lần chúng tôi ra Huế năm 1972 và tôi nói với anh Hậu:
 
      – Tôi đang viết dỡ một bài về Tướng Ngô Quang Trưởng, nghe nói anh có làm bài thơ về ông Trưởng hay lắm, anh có thể đọc cho tôi được không?
 
      Năm ngoái cũng trong một lần đi ăn trưa như hôm nay tôi đã kể cho anh Hậu nghe về ước muốn sau cùng của anh Trưởng là sau khi anh chết tro của anh được thả trên đèo Hải Vân. Vào mùa hạ năm 2008, một năm sau khi anh chết, ý nguyện đó đã được gia đình thực hiện. Theo lời Nhung kể cho tôi trong một lần điện đàm thì anh Trưởng có một người tài xế sống ở Việt Nam mà Nhung vẫn thường xuyên liên lạc và giúp đỡ từ nhiều năm nay. Chính chú tài xế ấy đã đón Nhung và các con Nhung tại phi trường Tân Sơn Nhứt khi Nhung mang bình tro anh Trưởng về Việt Nam. Từ phi trường chú tài xế chở mọi người về nhà chú tại ngoại ô thành phố Sài Gòn. Thật là một điều lạ lùng là nhà chú tài xế đó lại ở trên đường Thạch Lam, một con đường mới mở sau này khá lớn và dài ở sâu trong Chợ Lớn. Tôi có hỏi Nhung là chú ấy có biết Nhung là con của Thạch Lam hay không Nhung trả lời là chú ấy không biết và Nhung cũng không nói. Rồi sau đó tất cả bay ra Huế thuê xe lên đèo Hải Vân. Đến gần đỉnh đèo nơi một khúc ngoặt nguy hiểm có một cái miếu nhỏ thờ những người bị tai nạn chết ở đó Nhung quyết định chọn chỗ này để rải tro. Suốt ngày hôm đó trời âm u giông gió. Mấy mẹ con và chú tài xế khấn nguyện trước miếu. Một lát lâu sau khấn xong ngửng lên thì trời đất bỗng dưng quang đãng hẳn lên mây tan và trời trong xanh. Vợ con anh Trưởng từng người một kể cả người tài xế trung thành lần lượt rải tro theo gió, tro của vị Tướng lừng danh của quân sử Việt Nam Cộng Hoà bay trên ngọn đèo hùng vĩ Hải Vân nơi mà chú tài xế kia đã nhiều lần chở vị Tướng ba sao qua lại trên trục lộ Huế-Đà Nẵng, ngọn đèo đã đưa vị Tướng trấn lĩnh vùng địa đầu lên đỉnh vinh quang và cũng là ngọn đèo đã kéo vị Tướng ấy xuống chốn tãn cùng thảm bại.
 
      Rải tro theo gió… trên đỉnh đèo Hải Vân… ý nguyện của người đã khuất gợi lên trong tôi hình ảnh vừa bi hùng lại vừa lãng mạn, như là sự kết hợp tuyệt vời giữa mối tình của viên Dũng Tướng với cô con gái đầu lòng của nhà văn Tự Lực Văn Đoàn.
 
      Ngậm ngùi tôi lắng nghe anh Phạm Hậu đọc bốn câu thơ sau đây của anh:
 
      Lệnh sáng giữ, lệnh chiều bỏ Huế!
      Bao chiến công… cũng thế mà thôi
      Hải Vân… tro rắc bốn trời
      Hạt tro nào… lạc vào nơi cổ thành?
 
      Nhất Tuấn
 
      Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù VN (3/1954-9/1954).
      Nguyễn Tường Thiết

Friday, April 5, 2024

Nữ Đô đốc Linda L. Fagan, Tư lệnh Tuần duyên Hoa Kỳ .

Admiral Linda L. Fagan

Commandant, U.S. Coast Guard

U.S. Coast Guard

Admiral Linda L. Fagan assumed the duties as the 27th Commandant of the United States Coast Guard on June 1st, 2022. As Commandant, she oversees all global Coast Guard operations and 42,000 active-duty, 7,000 reserve, and 8,700 civilian personnel, as well as the support of 21,000 Coast Guard Auxiliary volunteers.

She previously served as the 32nd Vice Commandant. Prior flag assignments include Commander, Pacific Area, and Commander, Coast Guard Defense Force West; Deputy Commandant for Operations, Policy, and Capability; Commander, First Coast Guard District; and a joint assignment as Deputy Director of Operations for Headquarters, United States Northern Command.   

Admiral Fagan has served on all seven continents, from the snows of Ross Island, Antarctica to the heart of Africa, from Tokyo to Geneva, and in many ports along the way. Operational tours include Commander, Sector New York, more than 15 years as a Marine Inspector, and sea duty in USCGC POLAR STAR, a 399 ft heavy polar icebreaker.  Staff assignments include Executive Assistant to the Commandant and Vice Commandant, and Division Chief of the Foreign and Offshore Compliance Office.

Possessing extensive interagency as well as intergovernmental experience, Admiral Fagan has worked with both the International Maritime Organization and International Labor Organization on flag state and port state issues. This work includes the development of the International Ship and Port Security Code (ISPS), and the Consolidated Maritime Labor Convention.

Admiral Fagan holds a Bachelor of Science in Marine Science degree from the U.S. Coast Guard Academy, a Master of Science in Marine Affairs degree from the University of Washington, and a Master in National Resource Strategy degree from the Industrial College of the Armed Forces. She has earned numerous personal and team awards during her 37 years of Coast Guard service.  Admiral Fagan is the longest serving active duty Marine Safety Officer and holds the distinction of being the Coast Guard’s first-ever Gold Ancient Trident.

https://www.uscg.mil/Biographies/Display/Article/3048180/admiral-linda-l-fagan/

 

Nữ Đại tướngJacqueline D. Van Ovost, Tư lệnh, Bộ tư lệnh không vận Không quân Hoa Kỳ.

 
Gen. Jacqueline D. Van Ovost is the 14th Commander of U.S. Transportation Command, one of 11 combatant commands in the Department of Defense. USTRANSCOM’s mission is to project and sustain military power globally in order to assure our friends and allies, deter potential adversaries, and if necessary, respond to win decisively.
Gen. Van Ovost has a diverse operational and training background which includes command of an air refueling squadron, a flying training wing and the Presidential Airlift Wing. She is a graduate of the U.S. Air Force Test Pilot School and a command pilot with more than 4,200 hours in more than 30 aircraft, including the C-32A, C-17A, C-141B, KC-135R and KC-46A.
She has held several staff and joint assignments, serving as the Director of Staff for Headquarters Air Force, the Vice Director of the Joint Staff, the Deputy Director for Politico-Military Affairs (Europe, NATO, Russia), Strategic Plans and Policy Directorate (J5), Joint Staff, the Director of Mobility Forces for U.S. Central Command, the Vice Commander of the U.S. Air Force Expeditionary Center, and the Joint Operations Division Chief, Operations and Plans Directorate (J3), USTRANSCOM.
Gen. Van Ovost graduated from the U.S. Air Force Academy in 1988 with a degree in Aeronautical Engineering. She also holds master’s degrees in Mechanical Engineering from California State University, and Military Arts and Sciences, and Strategic Studies from the Air War College, Maxwell Air Force Base, Alabama.
Her decorations and awards include the Defense Distinguished Service Medal with oak leaf cluster, the Defense Superior Service Medal with oak leaf cluster, the Legion of Merit with oak leaf cluster, and the Bronze Star Medal with oak leaf cluster.
Prior to her current position, Gen. Van Ovost served as the Commander, Air Mobility Command.
EDUCATION
1988 Bachelor of Science, Aeronautical Engineering, U.S. Air Force Academy, Colorado Springs, Colo.
1994 U.S. Air Force Test Pilot School, Edwards Air Force Base, Calif.
1996 Squadron Officer School, Maxwell AFB, Ala.
1996 Master of Science, Mechanical Engineering, California State University, Fresno
1999 Master of Military Arts and Sciences, Air Command and Staff College, Maxwell AFB, Ala.
2004 Master of Strategic Studies, Air War College, Maxwell AFB, Ala.
2008 Air Force Enterprise Leadership Seminar, University of North Carolina, Chapel Hill
2009 National Security Management Course, Syracuse University, N.Y.
2009 Leadership Development Program, Center for Creative Leadership, Colorado Springs, Colo.
2017 Driving Government Performance, Kennedy School of Government, Harvard University, Boston, Mass.
ASSIGNMENTS
1. August 1988–August 1989, Student, Undergraduate Pilot Training, Reese Air Force Base, Texas
2. August 1989–June 1993, C-141B Pilot, 17th and 76th Airlift Squadrons, Charleston AFB, S.C.
3. June 1993–June 1994, Student, U.S. Air Force Test Pilot School, Edwards AFB, Calif.
4. June 1994–October 1997, Experimental Test Pilot, 417th/418th Flight Test Squadron, Edwards AFB, Calif.
5. October 1997–July 1998, Test Pilot Instructor and Chief, Scheduling Branch, U.S. Air Force Test Pilot School, Edwards AFB, Calif.
6. July 1998–June 1999, Student, Air Command and Staff College, Maxwell AFB, Ala.
7. June 1999–June 2001, Chief, C-17 Acquisition Branch and C-17 Program Element Monitor, Secretary of the Air Force for Acquisition, Arlington, Va.
8. July 2001–December 2001, Assistant Director of Operations, 350th Air Refueling Squadron, McConnell AFB, Kan.
9. January 2002–July 2003, Commander, 384th Air Refueling Squadron, McConnell AFB, Kan.
10. July 2003–June 2004, Student, Air War College, Maxwell AFB, Ala.
11. July 2004–April 2007, Chief, Standards Branch then Chief, Joint Operations Division, Operations and Plans Directorate, U.S.Transportation Command, Scott AFB, Ill.
12. May 2007–March 2008, Vice Commander, 12th Flying Training Wing, Randolph AFB, Texas
13. March 2008–February 2010, Commander, 12th FTW, Randolph AFB, Texas
14. February 2010–March 2012, Commander, 89th Airlift Wing, Joint Base Andrews, Md.
15. March 2012–September 2013, Vice Commander, U.S. Air Force Expeditionary Center, Travis AFB, Calif.
16. September 2013–February 2015, Deputy Director for Politico-Military Affairs (Europe, NATO, Russia), Strategic Plans and Policy Directorate (J5), Joint Staff, the Pentagon, Arlington, Va.
17. February 2015–August 2017, Vice Director, Joint Staff, the Pentagon, Arlington, Va.
18. August 2017–November 2017, Special Assistant to the Vice Chief of Staff of the Air Force, the Pentagon, Arlington, Va.
19. November 2017–April 2020, Director of Staff, Headquarters U.S. Air Force, the Pentagon, Arlington, Va.
20. April 2020–August 2020, Deputy Commander, Headquarters Air Mobility Command, Scott AFB, Ill.
21. August 2020–October 2021, Commander, Headquarters AMC, Scott AFB, Ill.
22. October 2021–present, Commander, U.S. Transportation Command, Scott AFB, Ill.
SUMMARY OF JOINT ASSIGNMENTS
1. July 2004–April 2007, Chief, Joint Operations Division, Operations and Plans Directorate, U.S. Transportation Command, Scott Air Force Base, Ill., as a lieutenant colonel
2. September 2013–February 2015, Deputy Director for Politico-Military Affairs (Europe, NATO, Russia), Strategic Plans and Policy Directorate (J5), Joint Staff, the Pentagon, Arlington, Va., as a brigadier general
3. February 2015–August 2017, Vice Director, Joint Staff, the Pentagon, Arlington, Va., as a major general
FLIGHT INFORMATION
Rating:  command pilot
Flight Hours:  more than 4,200
Aircraft Flown:  C-32A, C-12C, C-17A, C-23A, C-141B/A, KC-135R, KC-46A, F-15B, F-16B, T-1A, T-37B and T-38A
MAJOR AWARDS AND DECORATIONS
Distinguished Service Medal
Defense Superior Service Medal with oak leaf cluster
Legion of Merit with oak leaf cluster
Bronze Star Medal with oak leaf cluster
Meritorious Service Medal with three oak leaf clusters
Air Medal
Aerial Achievement Medal with oak leaf cluster
Joint Service Commendation Medal
Air Force Commendation Medal
Air Force Achievement Medal with oak leaf cluster
(Current as of November 2021)

Rear Adm. Okano (Phó Đô Đốc Okano)

Rear Adm. Okano is a native of Evanston, Illinois. She is a 1994 graduate of the U.S. Naval Academy where she earned a Bachelor of Science in Aerospace Engineering. She earned a Master of Science in Space Systems Engineering from the Naval Postgraduate School, where she was also selected for transfer to the engineering duty officer community.
Okano’s operational tours include gunnery and fire control officer, and electrical division officer on USS Belleau Wood (LHA-3) which she deployed to Somalia; and Amphibious Force 7th Fleet flag aide in Okinawa, Japan.  During Operation Iraqi Freedom she served on Joint Crew Composite Squadron One in Tikrit, Iraq to assist with defeating radio-controlled improvised explosive devices.
As an engineering duty officer since 2001, Okano had a number of tours in acquisition, starting with Space and Naval Warfare Systems Center, San Diego, California; Missile Defense Agency, Aegis Ballistic Missile Defense System; Military Satellite Communications Wing, Space and Missile Systems Center; and Naval Surface Warfare Center, Port Hueneme. Moving to the Program Executive Office for Integrated Warfare Systems (PEO IWS), Okano was the major program manager for Above Water Sensors (PEO IWS 2) overseeing the development and sustainment of all surface radars, electronic warfare systems, and directed energy programs.
Her last assignment was as the executive assistant to the Assistant Secretary of the Navy for Research, Development, and Acquisition. Her first flag assignment is as the program executive officer for Integrated Warfare Systems in July 2020.
Okano’s decorations include the Legion of Merit, Bronze Star, Defense Meritorious Service Medal, and various other individual, and unit campaign and service awards.

Last Updated: 24 September 2021


https://www.navy.mil/Leadership/Flag-Officer-Biographies/Search/Article/2283053/rear-admiral-seiko-okano/

 

Norah O'Donnell interviews female 4-star generals and admirals | "Person to Person"

 

Phỏng Vấn

Thursday, April 4, 2024

Adm. Lisa Franchetti

Adm. Lisa Franchetti is a native of Rochester, New York. She received her commission in 1985 through the Naval Reserve Officer Training Corps Program at Northwestern University, where she received a Bachelor of Science in Journalism. She holds a master’s degree in organizational management from the University of Phoenix.

Her operational tours include auxiliaries officer and first division officer on USS Shenandoah (AD 44); navigator and jumboization coordinator onboard USS Monongahela (AO 178); operations officer on USS Moosbrugger (DD 980); combat systems officer and chief staff officer for Destroyer Squadron (DESRON) 2; executive officer of USS Stout (DDG 55); and assistant surface operations officer on USS George Washington Strike Group. She commanded USS Ross (DDG 71) and DESRON-21, embarked on USS John C. Stennis (CVN 74). She also served as commander of Pacific Partnership 2010, embarked on USNS Mercy (T-AH 19).

Ashore, Franchetti’s assignments include commander, Naval Reserve Center Central Point, Oregon; aide to the Vice Chief of Naval Operations; protocol officer for the commander, U.S. Atlantic Fleet; 4th Battalion officer at the U.S. Naval Academy; division chief, Joint Concept Development and Experimentation, on the Joint Staff, J7; deputy director of International Engagement and executive assistant to N3/N5 on the Navy staff; and military assistant to the Secretary of the Navy.

Her flag assignments include commander, U.S. Naval Forces Korea; commander, Carrier Strike Group 9; commander, Carrier Strike Group 15; chief of staff, Strategy, Plans and Policy (J-5) Joint Staff; commander, U.S. 6th Fleet/commander, Naval Striking and Support Forces NATO/deputy commander, U.S. Naval Forces Europe and U.S. Naval Forces Africa; deputy Chief of Naval Operations for Warfighting Development, N7; director for Strategy, Plans and Policy (J-5), Joint Staff; and Vice Chief of Naval Operations. Franchetti assumed the duties as Chief of Naval Operations Nov. 2, 2023.

Her personal awards include the Defense Distinguished Service Medal, Distinguished Service Medal, Defense Superior Service Medal (two awards), Legion of Merit (five awards), Meritorious Service Medal (six awards), Navy and Marine Corps Commendation Medal (four awards), and the Navy and Marine Corps Achievement Medal (two awards).

 

Gen. Laura J. Richardson Commander, U.S. Southern Command


General Laura J. Richardson is a native of Northglenn, Colorado and a graduate of Metropolitan State University of Denver, Colorado. She was commissioned into the U.S. Army and trained as an Army Aviator. She holds a Master of Science in National Resource Strategy from the National Defense University’s Dwight D. Eisenhower School for National Security and Resource Strategy.

General Richardson previously served as the Commanding General of U.S. Army North (Fifth Army) at Fort Sam Houston, Texas, which is the Army Service Component Command for U.S. Northern Command. Other assignments as a General Officer include Deputy Commanding General of U.S. Army Forces Command at Fort Bragg, North Carolina; Chief of Army Legislative Liaison to the U.S. Congress in Washington D.C.; Deputy Chief of Staff for Communications at Headquarters International Security Assistance Force in support of Operation Enduring Freedom, Kabul, Afghanistan; Deputy Commanding General of the 1st Cavalry Division at Fort Hood, Texas; and Commanding General of the U.S. Army Operational Test Command at Fort Hood, Texas.

Over her career General Richardson has commanded from the Company to Theater Army level. She commanded an Assault Helicopter Battalion in combat in the 101st Airborne Division (Air Assault), deploying her unit from Fort Campbell, Kentucky to Iraq 2003-04, in support of Operation Iraqi Freedom. She has also served in numerous staff assignments at a myriad of locations, including Military Aide to the Vice President at the White House in Washington, D.C., the Army’s Legislative Liaison to Congress at the U.S. Capitol, and at the Pentagon as an Army Campaign Planner.

General Richardson’s awards and decorations include the Defense Distinguished Service Medal, Distinguished Service Medal (with Oak Leaf Cluster), Defense Superior Service Medal (with Oak Leaf Cluster), Legion of Merit (with three Oak Leaf Clusters), Bronze Star Medal, Meritorious Service Medal (with four Oak Leaf Clusters), and the Air Medal (with Numeral 7). She also has various unit, service and campaign awards, and numerous badges, including the Combat Action Badge, Parachutist Badge, Air Assault Badge, Senior Army Aviator Badge, Vice-Presidential Service Badge and the Army Staff Identification Badge.

She is married to Lieutenant General (Retired) Jim Richardson and they have one daughter and a grandchild.

Monday, April 1, 2024

HQ Đại tá Tuấn Nguyễn sẽ được chính thức thăng cấp Phó Đề Đốc (Chuẩn Tướng)

HQ Đại tá Tuấn Nguyễn là 1 trong 26 Đại tá (hiện dịch) ngành tác chiến/yểm trợ Hải quân (Line Officer) đã được Tổng thống đề cử thăng cấp Phó đề đốc (Rear Admiral (lower half) ) sau khi ông được Hội đồng thăng cấp Hải quân (Flag Officer Selection Board) chọn đề cử thăng cấp Phó đề đốc cho tài khoá FY-25. Hồ sơ đã được chuyển đến Uỷ ban Quân vụ Thượng viện bầu chọn ngày 23 tháng 3 năm 2024, theo thông báo từ 

Sau khi được chính thức thăng cấp, ông sẽ là Phó đề đốc Hải quân gốc Việt thứ hai và là vị tướng gốc Việt thứ sáu trong Quân đội Hoa Kỳ. Năm vị tướng Hoa Kỳ gốc Việt trước ông gồm có: 

Thiếu tướng Lapthe C. Flora, Phụ tá Tư lệnh vệ binh quốc gia Arlington, Virginia; 
Thiếu tướng William H. Seely III, chỉ huy trưởng tình báo, bộ tư lệnh thủy quân lục chiến Hoa Kỳ; 
Thiếu tướng John R Adwards, Giám đốc chiến lược năng lực Quốc phòng, Hội đồng an ninh Quốc gia Tòa bạch ốc, Washington, D.C;
Phó đề đốc Nguyễn Từ Huấn, nguyên chỉ huy phó an ninh mạng kỹ thuật điện tử, Bộ tư lệnh kỹ thuật hàng hải Hải quân Hoa Kỳ (NAVSEA), hồi hưu ngày 7 tháng 10 năm 2022;
Thiếu tướng Lương Xuân Việt, nguyên Tư lệnh Lục quân Hoa Kỳ tại Nhật Bản, hồi hưu vào tháng 6 năm 2021.

HQ đại tá Tuấn Nguyễn 

Hải quân đại tá Tuấn Nguyễn là một trong năm trung tá hải quân Hoa Kỳ gốc Việt được Tổng thống Trump đề cử thăng cấp đại tá vào tháng 5 năm 2017, và đã được Thượng viện chấp thuận. Các HQ trung tá được đề cử gồm có: Cao Hùng, ngành chiến tranh đặc biệt hải quân; Bùi H Quan, bác sĩ nha khoa hải quân; Trịnh Hiền, bác sĩ nha khoa hải quân; Tuanh C. Halquist, bác sĩ nha khoa hải quân và Tuấn Nguyễn, ngành công binh hải quân chuyển qua ngành giao tế hải quân.

HQ đại tá Tuấn Nguyễn sinh tại Vũng Tàu, Việt Nam, ông định cư tại tiểu bang Chicago và học hành tại tiểu bang California. Trước khi gia nhập hải quân Hoa Kỳ, ông làm việc cho hảng Rockwell International aerospace program và hảng Unocal Oil refineries tại Southern California.

Binh nghiệp:
Đại tá Tuấn Nguyễn gia nhập hải quân Hoa Kỳ mang cấp bậc thiếu úy ngành công binh hải quân năm 1996. Năm 2006, ông chuyển sang ngành giao tế ngoại giao (FAO) và cộng đồng của hải quân trong vai trò sĩ quan giao tế. Thời gian này, ông là sĩ quan giao tế cộng đồng phục vụ tại phòng nhân viên hải quân tại Millington, Tennessee.

Tháng 10 năm 2016, ông được biệt phái sang phục vụ tại trung tâm an ninh Á Châu – Thái Bình Dương Daniel K. Inouye ( Daniel K. Inouye Asia-Pacific Center for Security Studies ), tại đây ông là sĩ quan trong chương trình hợp tác an ninh quân sự với các quốc gia Đông Nam Á và Ấn Độ.

Ông có nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực giao tế ngoại giao trong vực khu vực Á Châu-Thái Bình Dương. Ông từng là sĩ quan phục vụ cộng đồng/sĩ quan xử lý thường vụ phụ trách xây dựng căn cứ tiếp vận hải quân Hoa Kỳ tại Singapore. đây là nơi đồn trú của lực lượng đặc nhiệm 73 tiếp vận hải quân của Đệ Thất hạm đội, và hải đội 7 khu trục hạm; Sĩ quan giao tế hải quân Hoa Kỳ tại các quốc gia Cam Bốt, Phi Luật Tân và Việt Nam kiêm gíam đốc kế hoạch và chính sách quốc tế cho tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương; Sĩ quan phụ tá cho tùy viên cao cáp quốc phòng Tòa đại xứ Hoa Kỳ tại New Delhi, Ấn Độ. Ông từng phục vụ tại đơn sị II yểm trợ xây cất hải quân tại Port Hueneme, California, LA; Chỉ huy trưởng hải quân khu vực tây Bắc Bangor, Washington; Và phục vụ trong lãnh vực kỹ thuật cơ khí hải quân tại Northwest, Bremerton.


Học vấn:
Đại tá Nguyễn hoàn tất văn bằng cử nhân khoa học cơ khí tại Đại học California tại Santa Barbara; Văn bằng cao học khoa học cơ khí tại Đại học Loyola Marymount; Văn bằng cao học quản trị kinh doanh tại Đại học Southern California. Ngoài ra ông đã thụ huấn và tốt nghiệp tại trường chỉ huy và tham mưu lục quân tại Fort Leavenworth, Kansas và trường tham mưu và chiến tranh hỗn hợp tại Norfolk, Virginia. Ông còn là hội viên hiệp hội quản trị chuyên nghiệp.

Thăng thưởng:
HQ Đại tá Tuấn Nguyễn được ân thưởng các loại huy chương cao quý như: the Defense Meritorious Service Medal, the Meritorious Service Medal (two), the Navy Commendation Medal (3), the Joint Service Achievement Medal (2), and the Navy and Marine Corps Achievement Medal (2).

Sĩ quan hải quân gốc Việt:
Sĩ quan gốc Việt phục vụ trong hải quân Hoa Kỳ tính đến tháng 3 năm 2018, có 17 đại tá, khoảng 50 trung tá và trên 100 thiếu tá (không tính sĩ quan cấp úy). Riêng sĩ quan cao cấp hải quân tên Tuấn cũng có 6 vị, đó là HQ đại tá Phạm Ngọc Tuấn, ngành tình báo hải quân; HQ đại tá Hoàng Ngọc Tuấn, ngành quân y hải quân; HQ đại tá Tuấn Nguyễn, ngành giao tế hải quân; HQ trung tá Đặng Quốc Tuấn (hồi hưu), HQ trung tá Nguyễn Anh Tuấn (hồi hưu) và HQ thiếu tá Trần M Tuấn (hồi hưu).

Nguồn tài liệu: Daniel K. Inouye Asia-Pacific Center for Security Studies; Congress.gov; Navy Personnel Command; Civil Engineer Corps; Đại tá Bác sĩ Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt Hoàng Ngọc Tuấn; A South China Sea Game Changer? By Captain Tuan Pham, U.S. Navy.

Hy vọng một ngày không xa, sẽ có phụ nữ Việt nam trở thành những nữ tướng trong quân đội Hoa Kỳ như một số phụ nữ gốc Nhật, Hàn, Hoa và Phi Luật Tân, đó là Thiếu tướng Không quân Susan Mashiko và Chuẩn tướng lục quân Miyako Schanely (gốc Nhật); Thiếu tướng không quân Sharon K.G. Dunbar và chuẩn tướng không quân Sarah H. Russ (gốc Hàn); Thiếu tướng không quân Carol A. Lee, Thiếu tướng vệ binh quôc gia Lisa J. Hou và chuẩn tướng lục quân Coral Wong Pietsch (gốc Hoa); Phó đô đốc Raquel C. Bono, Phó đề đốc Eleanor V. Valentin, Phó đề đốc Babette Bolivar và Phó đề đốc Eleanor Mariano (gốc Phi Luật Tân). Những nữ tướng gốc Á Châu trên đã hồi hưu, ngoại trừ chuẩn tướng không quân Sarah H. Russ và thiếu tướng Lisa J. Hou, theo các tài liệu tham khảo.

Phần Mộ Chiến hữu VNCH đã hy sinh* 4. Ðại Úy Phi Công tên Vũ Chí Công * Đại Tá Nguyễn Hữu Thông nguyện SVSQVB ĐL K16 / TIN TỨC VỀ MỘ CHIẾN SĨ VIỆT NAM CỘNG HÒA HY SINH TẠI THỊ XÃ AN LỘC TỈNH BÌNH LONG NĂM 1972.

Phần Mộ Chiến hữu VNCH đã hy sinh* 4. Ðại Úy Phi Công tên Vũ Chí Công * Đại Tá Nguyễn Hữu Thông nguyện SVSQVB ĐL K 16
To:
 3. Có tin tức về mộ của 47 tử sĩ QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA chôn tại cột cờ Quân Y Viện Qui Nhơn do Bác Sĩ Quân Y Nguyễn Công Trứ và Dương Văn An là một trong những người lính còn lại trong Quân Y Viện chôn cất. Xin liên lạc qua email: lienlactimmo@att.net.

4. Ðại Úy Phi Công tên Vũ Chí Công sinh năm 1949
Ông Huỳnh Tấn Hải cho biết đã chôn một đại úy phi công tên Vũ Chí Công sinh năm 1949, quê Việt Bắc nơi ở Sài Gòn-Gia Ðịnh tử nạn trong buồng lái phi cơ. Phi cơ bị rơi trong vùng trên đường từ Gia Rai về Phan Rang.
Xin liên lạc qua email: lienlactimmo@att.net.
 
KÍNH NHỜ CHUYỂN TIẾP: TIN TỨC VỀ MỘ CHIẾN SĨ VIỆT NAM CỘNG HÒA HY SINH TẠI THỊ XÃ AN LỘC TỈNH BÌNH LONG NĂM 1972.
NGHĨA TRANG AN LỘC.
AN LỘC ĐỊA SỬ LƯU CHIẾN TÍCH
BIỆT CÁCH DÙ VỊ QUỐC VONG THÂN.
TỔ QUỐC GHI ƠN CHIẾN SĨ VÔ DANH.
TIN TỨC VỀ MỘ CHIẾN SĨ VNCH HY SINH TẠI THỊ XÃ AN LỘC - TỈNH BÌNH LONG - NĂM 1972.
-- Kính mong quý vị và các niên trưởng, cùng quý chiến hữu tiếp tay phổ biến rộng rải thông báo này tới với thân nhân và bà con của người quá cố sớm đoàn tụ với gia đình.
TIN TỨC VỀ MỘ CHIẾN SĨ VIỆT NAM CỘNG HÒA HY SINH TẠI THỊ XÃ AN LỘC TỈNH BÌNH LONG NĂM 1972.
● 15 ngôi mộ chiến sĩ Sư Đoàn 18 Bộ Binh là những mộ Lính duy nhứt tại thị xã An Lộc, tỉnh Bình Long còn sót lại chưa bị san bằng, đào bới hay cải táng nhờ nằm trong khu vườn trồng Điều của tư nhân. Những ngôi mộ này không người chăm sóc, có các tấm bia xi măng cũ kỹ, nhiều bia bị bể và mộ không còn vun đất mà gần như bằng phẳng với mặt đất. Chủ nhà mong muốn thân nhân cải táng các mộ, vì các mộ bị bỏ hoang phế nơi đây đã quá lâu.
DANH SÁCH MỘ
HỌ VÀ TÊN - NGÀY TỬ TRẬN, SỐ QUÂN, BINH CHỦNG.
1/ Lâm Xa Ry, 21/07/1972, 68/506.781, BI TĐ1/48 SĐ18 BB.
2/ Đặng Văn Lợi 22/04/1972 70 115 479 HSI TĐ1/48 SĐ18 BB.
3/ Nguyễn Văn Hai 21/06/1972 75 104 307 BI TĐ1/48 SĐ18 BB.
4/ Trần Văn Anh 03/07/1972 70 000 285 TSI TĐ1/48 SĐ18 BB.
5/ Nguyễn Thế Ty 10/07/1972 58 866 963 BI TĐ1/48 SĐ18 BB.
6/ Trần Văn Rớt 28/06/1972 24 432 232 BI TĐ1/48 SĐ18 BB.
7/ Đàm Quốc Tường 10/07/1972 65 138 137 TS.
TĐ1/48 SĐ18 BB.
8/ Liêu Văn Thành 21/06/1972, 72/141.633,  B1 TĐ1/48 SĐ18 BB.
9/ Tăng Văn Nhỏ 21/06/1972, 75/106.671, B1 TĐ1/48 SĐ18 BB
10/ Trần Bửu Tự 25/06/1972, 68/137.789, HSI TĐ1/48 SĐ18 BB.
11/ Nguyễn Tấn Hải 21/06/1972, 75/104.307, B1 TĐ1/48 SĐ18 BB.
12/ Phạm V 10/07/1972 59 52 HS TĐ1/48 SĐ18 BB.
13/ Triệu Văn Bắc 14/04/1972 72 337 88.
14/ Nguyễn Văn Hường, 57/154.870.
15/ Vô Danh.
-- Ghi chú:
– Số 12 bia bể, mất góc mặt, không rõ số quân.
– Số 13 và 14 có hai tấm bia chung trong một ngôi mộ, những chi tiết ghi được như trên.
– Số 15 mộ có bia bị đất lấp hết chữ ghi trên tấm bia.
Inline image


●●● Năm 2007 nhà nước địa phương cho dời hài cốt 73 chiến sĩ Biệt Động Quân tại nghĩa trang Biệt Động Quân để lấy đất bán cho dân cất nhà. Những hài cốt này được đem về chứa tại một nhà mồ cách thị xã 10 cây số. Nếu ai có người thân trong số hài cốt này, thì liên lạc với địa phương để nhận lại hài cốt.
-- DANH SÁCH HÀI CỐT.
HỌ VÀ TÊN TỬ TRẬN SỐ QUÂN BINH CHỦNG.
1/ Điểu Con 07/1972 BĐQ.
2/ Vô Danh 07/1972 ND.
3/ Trần Trọng Nhơn 15/04/1972 168 104 289 BĐQ.
4/ Nguyễn Tuấn Anh 25/05/72 71 128 548 B1 TĐ31 BĐQ.
5/ Nguyễn Văn Sơn 20/05/1972 66 128 438 B2 TĐ36 BĐQ.
6/ Trần Văn Tính 03/05/1972 72 112 416 B2 TĐ36 BĐQ.
7/ Hồ Văn Mão 10/04/1972 69 156 734 B2 TĐ36 BĐQ.
8/ Trần Văn Ba 14/06/1972 71 383 566 B1 TĐ36 BĐQ.
9/ Nguyễn Văn Đông 07/05/1972 71 103 521 TrS TĐ36 BĐQ.
10/ Nguyễn Văn Sơn 16/05/1972 66 157 819 HS1 ĐĐ3 TĐ52 BĐQ.
11/ Đỗ Ngọc Tuấn 12/05/1972 74 189 540 ĐĐ3 TĐ52 BĐQ.
12/ Vũ đình Thi 13/05/1972 HS1 ĐĐ3 TĐ52 BĐQ.
13/ Nguyễn Văn Trường 08/06/1972 TrS ĐĐ1 TĐ52 BĐQ.
14/ Dương Xú Hà 62 171 159 HS TĐ36 BĐQ.
15/ Trần Đức Lân 05/05/1972 515787478 B1 TĐ36 BĐQ.
16/ Phạm Văn Vũ 01/04/1972 61 000 376 B1 ĐĐ1 TĐ52 BĐQ.
17/ Nguyễn Văn Nam 01/07/1972 74 112 571 B1 ĐĐ3 TĐ52 BĐQ.
18/ Nguyễn Văn Sử 01/07/1972 72 101 886 TrS1 ĐĐ2 TĐ52 BĐQ.
19/ Nguyễn Minh Tâm 15/04/2011 63 111 171 ThT ĐĐ1 TĐ36 BĐQ.
20/ Đặng Văn An 13/06/1972 63 149 940 B2 ĐĐ2 TĐ31 BĐQ.
21/ Trần Văn Tuy 13/06/1972 73 114 120 B1 TĐ36 BĐQ.
22/ Lâm Lanh 05/05/1972 57 154 844 HS1 TĐ36 BĐQ.
23/ Kiều Văn Tách 17/05/1972 73 111 521 B2 TĐ36 BĐQ.
24/ Lê Văn Hiếu 13/05/1972 65 145 326 ĐU ĐĐ1 TĐ36 BĐQ.
25/ Nguyễn Văn Hoài 16/06/1972 66 400 108 HS1 TĐ52 BĐQ.
26/ Đổ Văn Hai 07/06/1972 72 102 446 HS TĐ52 BĐQ.
27/ Nguyễn Chuyên 15/04/1972 37 217 507 TrS1 ĐĐ1 TĐ36 BĐQ.
28/ Vô Danh.
29/ Vô Danh.
30/ Vô Danh.
31/ Hồ Văn Tám 08/06/1972 HS1 ĐĐ1 TĐ52 BĐQ.
32/ Vô Danh.
33/ Chu Văn Cường 27/05/1972 74 114 054 B1 TĐ31 BĐQ.
34/ Nguyễn Bá Long 11/06/1972 72 147 048 B2 TĐ31 BĐQ.
35/ Trèo Soul 08/05/1972 51 107 862 HS1 TĐ36 BĐQ.
36/ Nguyễn Ph. An 10/05/1972 TS ĐĐ4 TĐ52 BĐQ.
37/ Phương 11/05/1972 74 521 330 HS1 TĐ52 BĐQ.
38/ Lê Thạch 27/05/1972 72 204 083 B1 TĐ31 BĐQ.
39/ Nguyễn văn Hùng 15/03/1972 74 112 885 HS TĐ31 BĐQ.
40/ Trần Hòa 08/05/1972 74 109 370 B2 ĐĐ3 TĐ52 BĐQ.
41/ Nguyễn Văn Đang 11/05/1972 HS ĐĐ2 TĐ52 BĐQ.
42/ Trịnh Dũng 11/05/1972 73 108 848 B2 TĐ52 BĐQ.
43/ Phạm Văn 14/05/1972 73 225 395 B2 ĐĐ4 TĐ52 BĐQ.
44/ Lê Văn Thọ 14/05/1972 73 111 046 HS TĐ31 BĐQ.
45/ Đinh Văn Song 15/06/1972 70 109 172 HS1 ĐĐ2 TĐ36 BĐQ.
46/ Đỗ Ngọc Tâm 05/06/1972 70 149 960 B2 TĐ31 BĐQ.
47/ Nguyễn Văn Cảnh 18/06/1972 74 105 691 B1 TĐ31 BĐQ.
48/ Nguyễn Văn Thanh 22/05/1972 79 108 099 HS ĐĐ3 TĐ32 BĐQ.
49/ Phạm Hắc Sơn 29/05/1972 69 124 285 HS ĐĐ2 TĐ52 BĐQ.
50/ Tr Đinh Phúc 19/05/1972 69 209 955 TrU TĐ52 BĐQ.
51/ Nguyễn Văn Ngân 09/06/1972 67 823 830 B2 TĐ31 BĐQ.
52/ Trần Văn Huê 08/05/1972 73 125 612 B2 ĐĐ1 TĐ52 BĐQ.
53/ Nguyễn Văn Nghinh 12/05/1972 70 115 059 B2 ĐĐ3 TĐ52 BĐQ.
54/ Lê Văn Bình 15/05/1972 57 183 321 ThS ĐĐ3 TĐ 52 BĐQ.
55/ Lê Văn Cường 16/07/1972 64 215 135 HS ĐĐ4 TĐ 52 BĐQ.
56/ Bạch Lẻn 1972 70 107 746 ThS1 TĐ52 BĐQ.
57/ Nguyễn Văn Đính 1972 72 100 336 B1 TĐ36 BĐQ.
58/ Nguyễn Văn Thêm 13/06/1972 72 105 570 TĐ36 BĐQ.
59/ Nguyễn Văn Hưỡng 02/05/1972 73 123 516 ĐĐ2 TĐ52 BĐQ.
60/ Hồ Văn Lượng 11/06/1972 68 158 307 TĐ36 BĐQ.
61/ Trần Văn 12/05/1972 69 156 326 HS1 TĐ36 BĐQ.
62/ Lê Ninh Hải 03/07/1972 64 189 822 HS1 TĐ36 BĐQ.
63/ Nguyễn Văn Quang 07/06/1972 71 126 277 B2 TĐ36 BĐQ.
64/ Nguyễn Văn Được 15/05/1972 69 125 616 ThS TĐ36 BĐQ.
65/ Vô Danh.
66/ Phan Văn Nam 11/06/1972 63 112 131 B2 TĐ36 BĐQ.
67/ Vô Danh.
68/ Vô Danh.
69/ Vô Danh.
70/ Vô Danh.
71/ Vô Danh.
72/ Đinh Bá Tòng 21/06/1972 63 108 883 B2 TĐ36 BĐQ.
73/ Vô Danh.
● Tại một cơ sở tôn giáo địa phương thị xã An Lộc, có hủ hài cốt với tấm thẻ bài còn nguyên sợi dây đeo, đề tên:
Phan Văn Hiệp SQ 67/408.915 LM – B
Tại chỗ này cũng có mấy hủ hài cốt khác của Lính nhưng vô danh, không có thẻ bài, không tên tuổi. Họ là những người Lính hy sinh tại rừng cao su bên Quốc lộ 13, cổng vào thị xâ An Lộc, tỉnh Bình Long. Các hủ hài cốt Lính này do những người thợ hồ đào được đem gửi tại một cơ sở tôn giáo địa phương cho đến nay vẫn không có người thân đến nhận.
●● Tìm thân nhân của người quá cố có tên trên hai tấm thẻ bài để gửi lại thẻ bài. Hai tấm thẻ bài có tên như sau:
-- Nguyễn Văn Tắc SQ 50/539.002 LM – A.
-- Nguyễn Văn Lượm SQ 72/107.673 LM – A.
Nếu thân nhân cần tìm hài cốt hoặc nhận lại thẻ bài, liên lạc hh16976@gmail.com để biết thêm chi tiết.
23 –) Theo cụ Sáu, 76 tuổi. Tại phường Thạnh Lộc, P12, Quận 12, Sàigòn, có 1 mộ chung cho 3 người (1Canh Sat, 1ĐPQ, 1BKDù NKT).
Từ BlackApril 75 đến nay chưa có thân nhân cải táng!
● Khi cần xin liên hệ DĐ 841664461470
<để gặp cụ Sáu>
-- Trân trọng:
22 -) Xin quý vị vui lòng chuyển giúp tin nhắn sau đây:
-- Kính thưa quý thân nhân và bằng hữu những người có tên kê bên dưới, là bạn thân của nhân sĩ Võ Tụng (Quảng Nam) đã mất cùng thời với nhơn sĩ:
1) Ông Nguyễn Hoành.
2) Ông Phạm Tuệ (anh ruột của ông Phạm Phước hiện ở Hoa Kỳ.)
3) Ông Nguyễn Thứ.
4) Ông Nguyễn Tự Trị.
Nếu quý vị thân nhân và bạn bè của bốn vị nêu trên,muốn biết chi tiết phần mộ của từng người, xin liên lạc với văn phòng chúng tui.
Xin cám ơn tất cả quí vị.
Nguyện xin ơn trên hộ trì cho công cuộc của chúng ta.
Ðiện thoại: 559-273-1782
21 -)Kính gửi: Văn Phòng Liên Lạc Tìm Mộ
Đề nghị Quý vị xem thông tin sau:
--- Ai là thân nhân của Ông Trương – Q – Mâu, mất năm 1975, SQ: 69/213115, LM: O.
-- Xin liên lạc:
0918.373.693 để được chỉ mộ giùm”
Người gửi email này ghi lại nguyên văn. Thông tin thêm: lính VNCH, chết tại Huế, địa danh hiện nay là xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế
Thanks & Best regards,
—————————
Le Dinh Trung
Dream House Investment Corp.
331 Tran Xuan Soan Str., Tan Kieng Ward., Dist. 7, HCMC
Cellphone: 0983.86.86.38
Tel: (84-4) 38728148 Fax: (84-4) 38722701
20 -) liên lạc tìm mộ chiến sĩ VN Cộng Hòa.
Ở Nam Đông-TT Huế, có 1 nghĩa trang của các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, hiện có
môt số ngôi mộ, còn bia hoặc không còn bia. Liên lạc qua email của tui:
19 – )tui có biết 02 mộ của tử sĩ lính dù, có thể là biệt kích 81 dù.
tử trận năm 1972, tại khu vuc đồi gió, thuộc An Lộc - Bình Long.
01 mộ tên :
HÙYNH MINH THÔNG
SQ :70 21 21 43
LM:O.
Mộ thứ 02 - không có tên, hai mộ còn sát nhau va có xây gạch chung quanh, bia được làm bằng ciment , hiện đã hư và mòn.
Vậy ai là thân nhơn hoặc bạn bè, xin liên lạc qua email: Phuc Nguyen <nphuc29@yahoo.com.vn>:
Tel :0169 7030 637.
RẤT MONG CÓ HỒI ÂM.
18 -) - Văn phòng chúng tui vừa nhận được Hình ảnh và với thư sau đây do ông Phạm văn Bình tại - Đan Mạch và ông Phạm văn Việt tại - Nauy gửi đến.
Xin khẩn tin đến quý vị và nhờ quý vị cũng như các niên trưởng phổ biến tin này rộng rãi để thân nhân của các tử sĩ thuộc đơn vị Trung Đoàn 4 Sư Đoàn 2 Bộ Binh có thể tìm được hài cốt người thân. Nội dung vi thư như sau:
-- Kính thưa quý vị.
Theo thông báo của Gia đình tui tại Việt Nam về việc tìm hài cốt của anh ruột tôi, bị mất tích năm 1975, anh tui thuộc đơn vị Trung Đoàn 4 Sư Đoàn 2 Bộ Binh là cựu Thiếu Sinh Quân, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, theo sự chỉ dẫn của một người mà ở Việt Nam gọi là Ngoại cảm, gia đình tui đã nhận được hài cốt của anh tui.
Thưa quý vị, ngoài hài cốt của anh tui gần đó còn rất nhiều xương và những vật dụng. Theo người nhà cho biết nơi này đang bị ủi để làm đường làm cảng. Người lái máy cày có cho gia đình tui biết, họ có gom lại một số xương và vật dụng, lập miếu thờ tại gần cảng Ky ha Chu Lai. Tui viết thư này thông báo đến quý vị, ai có thân nhân thuộc Sư Đoàn 2 Bộ Binh QLVNCH mất tích khoảng tháng 3 năm 1975, thử liên lạc, có thể tìm kiếm . Mong quý vị được mọi may mắn.” xin Liên lạc: Binh Pham <pvbinh50@yahoo.dk>
Van Viet Pham <vvp@ilas.no>
Tel : 004560837109
Nếu cần thêm chi tiết về nguồn tin va hinh anh xin Liên lạc với Văn Phòng Tìm Mộ (E- mail: lienlactimmo@att.net
Tel : (559)273-1782).
Xin cám ơn tất cả quý vị. Nguyện xin ơn trên phù hộ chúng ta.
17- )Mộ nhắn tin cho thân nhân:
1/ Ông Võ Thanh Tùng, KBC 4506 (Củ Chi, Hậu Nghĩa), tử trận 1968. Tui đã cố nhắn tin cho hiền thê là Bà Nguyễn thị Phượng và tìm đứa con ông Tùng là Võ thanh Lâm sinh năm 1968 nhưng không được. Hài cốt ông Tùng tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, năm 1987 tui đã bốc, cốt và di ảnh hiện để trong nhà thờ Thánh Juse góc đường Phan đình Phùng (tên cũ) và đường Nguyễn Thiện Thuật, Quận 3, Saigon. Riêng cháu Lâm nếu được tin này xin gửi tấm ảnh.
Nếu ai biết tin , xin liên lạc :
E Mail : Ken Nguyen <ngken1944@yahoo.com>
phone (916) 6889629 .USA.
16. Một gia đình đã phát hiện và bảo quản hài cốt của một người lính tên:
Phạm Ngọc Châu, SQ: 65/161778, loại máu O, tại nhà số 335, Quốc Lộ 55, đối diện Khu Tái Ðịnh Cư thuộc khu phố Phước Sơn, thị trấn Ðất Ðỏ, huyện Ðất Ðỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Xin liên hệ ông bà “Lái Xe,” điện thoại: 064-3-688-143.
Xin kính báo đến thân nhân và bà con biết để giúp đỡ hài cốt của người quá cố sớm đoàn tụ với gia đình.
15. Hiện nay gia đình tui đang giữ hai bộ hài cốt: Một bộ của ông Ðỗ Văn Quang và một bộ của người lính vô danh.
Ông Ðỗ Văn Quang, số quân 69_16_19-71, loại máu B+. và cùng với 1 người bạn nữa không có tên (vô danh).
Xin liên lạc ông Vũ Khắc Khoan số điện thoại: 0906-612-071 hoặc 0613-921-091.
14. Nhắn tìm thân nhân tử sĩ quân lực VNCH Lê Thiện, tại bờ biển Qui Nhơn-Bình Ðịnh, có thẻ căn cước quân nhân ghi một số chi tiết còn đọc được như sau:
Họ tên: Lê Thiện, cấp bậc: B2, số quân: 74/420679, loại máu:… QÐ=819 10,66 TTALAP 02585. Trên nón sắt có ghi số: 1954 B2, hài cốt đã được cải táng tại Ðống Ða-Qui Nhơn. Xin liên lạc theo địa chỉ email Phạm Văn Trung: trungphvt@yahoo.com.vn
13. Mộ anh Xiêm, lính Tiểu Ðoàn 105 Ðịa Phương Quân, Tiểu Khu Quảng Trị.
Gia Ðình muốn biết thêm chi tiết xin liên lạc: Thầy Thích Từ Giáo, chùa Phước Huệ Quảng Trị, điện thoại: 093-248-3763 (gặp Thầy Thích Từ Giáo), email: thichtugiao@gmail.com
12. Sĩ Quan Trần Văn Thông và hạ sĩ quan mang máy truyền tin tên Bùi Duyệt, thuộc Sư Ðoàn I Bộ Binh đã tử trận 26 tháng 3, 1975 tại Huế. Thân nhân hai vị trên có thể liên lạc: quynhlansydney@yahoo.com.au hoặc địa chỉ: P.O.Box 665 Bankstown 2200, Autralia.
11. Danh tính của 6 chiến hữu Tiểu Ðoàn 2, Trung Ðoàn 5, Sư Ðoàn 2 Bộ Binh.
– Nguyễn Ban số quân 73/213952 loại máu A
– Nguyễn Chí Thành số quân 71/142744 loại máu AB+
– Tống Công Tòa số quân 74/207241 loại máu OA+
– Nguyễn Ðan số quân 73/213952 loại máu A+
– Nguyễn Minh số quân 75/211356 loại máu A.
– Nguyễn Văn Toi số quân 75/170972 loại máu O+
Xin quý vị hãy liên lạc: Thiếu Tá Lê Quang, 3806 SE 74th Ave., Portland, Or 97206.
Email: chanh le <chanhle2001@hotmail.com>
Ðiện thoại: (503) 788-3680 hoặc gửi lời nhắn (503) 740-1236.
10. Đã Có người nhận.
9. Thái Văn Thiệt
Một đồng bào ở Việt Nam hiện đang giữ một thẻ bài của anh Thái Văn Thiệt, tử sĩ VNCH, số quân: 69/12165, Loại máu: O.
Thẻ bài này nằm cạnh hài cốt của anh Thái Văn Thiệt trong một khu rừng (trước đây) thuộc huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Thân nhân của anh Thiệt xin vui lòng liên lạc để được hướng dẫn tiếp cận hài cốt người thân, qua email lienlactimmo@att.net.
8. Ðỗ Phước Thọ, Nghĩa (Cảnh Sát) và Em (SQ Quân Ðội ) và 10 ngôi mộ tù ở Trại Tân Lập/K1 tỉnh Vĩnh Phú từ năm 1977-1982, biết nơi chôn khoảng 10 ngôi mộ tù cải tạo, trong đó có 3 người mà ông còn nhớ tên, gồm anh Ðỗ Phước Thọ (sĩ quan Cảnh Sát, quê Bà Rịa), anh Nghĩa (không nhớ họ) (trưởng cuộc Cảnh Sát Phi Cảng Tân Sơn Nhứt) và anh “Em” (không nhớ họ) (SQ/QLVNCH).
Ðể biết thêm chi tiết, xin liên lạc với ông Diệp qua email: kimtran2006@hotmail.fr, hoặc số điện thoại tại Pháp: +01.40 34 50 17.
7. Tìm mộ Cha: Đã nhận được tin tức.
6. Có tin tức về mộ của Trần Văn Hoàng:
Gia đình tui hiện sống tại Hà Nội, cách đây mấy năm gia đình đào móng xây nhà, có đào được 1 bộ hài cốt còn lại ít xương kèm theo 1 miếng INOX khắc tên: Trần Văn Hoàng, Sài Gòn, 1948 – 64608 sau đó được cải táng tại nghĩa trang.
Xin liên lạc qua email: lienlactimmo@att.net.
5. Ông Trần Kháng ở Na Uy cho biết: Ông Võ Văn Hạp ở xóm Cồn Dầu, thôn 3, xã Hải Dương, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên đã chôn 6 tử sĩ VIỆT NAM CỘNG HÒA, hiện còn mộ 4 chiến sĩ trong đó có 2 người có tên trên bọc áo là: Nguyễn Lam và Phan Hiệp
Xin liên lạc qua email: lienlactimmo@att.net
4. Ðại Úy Phi Công tên Vũ Chí Công sinh năm 1949
Ông Huỳnh Tấn Hải cho biết đã chôn một đại úy phi công tên Vũ Chí Công sinh năm 1949, quê Việt Bắc nơi ở Sài Gòn-Gia Ðịnh tử nạn trong buồng lái phi cơ. Phi cơ bị rơi trong vùng trên đường từ Gia Rai về Phan Rang.
Xin liên lạc qua email: lienlactimmo@att.net.
3. Có tin tức về mộ của 47 tử sĩ QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA chôn tại cột cờ Quân Y Viện Qui Nhơn do Bác Sĩ Quân Y Nguyễn Công Trứ và Dương Văn An là một trong những người lính còn lại trong Quân Y Viện chôn cất. Xin liên lạc qua email: lienlactimmo@att.net.
2. Tin về Thiếu Tá Ðạt công tác tại Ban Tâm Lý Chiến Tỉnh Bình Ðịnh đi tác chiến tại quận An Túc, trên đường trở về đơn vị bị phục kích, anh đã bị thương và tự sát, được dân địa phương chôn lấp vội vàng bên lề đường. Xin quý vị hãy liên lạc qua email: lienlactimmo@att.net.
1. Ai là thân nhân của Trung Úy BÐQ Nguyễn Văn Quý, hãy liên lạc với Ðại Úy BÐQ Ðoàn Trọng Hiếu (Email: hieudoanbdq@yahoo.com) để biết nơi để hài cốt của Tr/U Quý sau khi cải táng.
Ngoài ra còn một số tin vừa nhận được, chúng tui sẽ loan báo trong bản tin kế tiếp.
Cầu mong anh linh các chiến sĩ phù hộ chúng ta.
Chúng tui nguyện làm một trung tâm thông tin kết nối, thâu thập tất cả mọi tin tức liên hệ đến việc tìm mộ.
Kính mong quý vị, cùng các niên trưởng và những chiến hữu, cùng tiếp tay san sẻ phổ biến thông báo này đến rộng rải với quý đồng hương được biết tới danh sách này.
Nguyện xin ơn Chúa che chở cho công cuộc tìm kiếm của chúng ta.
Mong quý vị chia xẻ cùng chung tay giúp giùm . Đa tạ. @người theo dõi @nêu bật
Trân trọng