Đêm đêm mẹ đốt cây hương ngát / Mẹ khấn đôi lời con có nghe / Vì nước bỏ mình là bất tử / Xưa nay chinh chiến mấy ai về.
Tuesday, January 29, 2019
Sunday, January 27, 2019
QLVNCH: Quân sử Không Quân – Các Giám Đốc Trường (Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang) –
Các Giám Đốc Trường (Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang) –
– Trường Chỉ Huy & Tham Mưu Trung Cấp
– Trường Phi Hành T-37
– Trường Phi Hành T-41
– Trường Kỷ Thuật
– Trường Truyền Tin & Điện Tử
– Trường Mưu Sinh & Thoát Hiểm
– Trường Quân Sự
– Trường Anh Ngữ
Theo tổ chức, TTHLKQ trên là Chỉ Huy Trưởng, dưới có Trưởng Khối Huấn Luyện, vị này có nhiệm vụ phối hợp giữa các trường, nhưng chính các Giám Đốc Trường là những vị điều hành trực tiếp các quân trường kể trên. Nếu so sánh theo bản cấp số thì các vị Giám Đốc Trường này ngang hàng với các vị Không Đoàn Trưởng của dơn vị tác chiến của các Sư Đoàn Không Quân.
Hầu hết quân nhân Không Quân không ai không khỏi phải qua Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân một đôi lần để học quân sự hay chuyên môn nhứt là giai đoạn sau năm 1970, có chương trình Việt Nam Hóa Chiến Tranh, các quân trường ở đây đã tổ chức những khóa học dây chuyền mới có thể đạt được chỉ tiêu do Bộ Tư Lệnh Không Quân đề ra, có lúc số khóa sinh lên trên năm ngàn(5,000) quân nhân. Trách vụ của các vị Giám Đốc Trường này cũng nặng nề không kém trách vụ của các vị chỉ huy đơn vị tác chiến. Nhưng ngày mất nước ra đi, có đến 7 trong 8 vị Giám Đốc Trường đã kẹt lại, chịu biết bao đọa đày của hỏa ngục trần gian. Cho dầu so sánh với các cấp chỉ huy cao cấp của các đại đơn vị Không Quân khác, như Sư Đoàn 6 Không Quân, thì đây là một trường hợp quá đau thương. Nay số phận của các vị Giám Đốc Trường này ra sao?
Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân có lệnh di tản, rời nơi đóng quân muôn thuở là thành phố Nha Trang ngày 1 tháng 4 năm 1975, về đồn trú trong Căn Cứ Không Quân Tân Sơn Nhứt. Thời gian tạm trú ở đây đúng một tháng thì mất nước.
Từ ngày 22 tháng 4 năm 1975, Bộ Tư Lệnh Không Quân đã cho di tản gia đình quân nhân ra khỏi nước, ưu tiên là gia đình của các vị Tướng, các Tham Mưu Phó, các sĩ quan cao cấp thuộc Bộ Tư Lệnh Không Quân, thứ đến là gia đình của các hoa tiêu khu trục, rồi mới đến gia đình các sĩ quan các đơn vị; ưu tiên theo cấp bậc và chức vụ. Tính đến ngày 28 tháng 4 năm 1975, một số lớn gia đình sĩ quan cấp úy của các đơn vị khác đã được cấp cho phi cơ rời Việt Nam, riêng Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân chỉ có gia đình duy nhất của Chuẩn Tướng Chỉ Huy Trưởng được chính thức đi mà thôi, ngoài ra không có một gia đình nào khác trong đó có cả gia đình của vị Chỉ Huy Phó. Nên nhớ, việc sắp xếp chỗ cho đi do Đại Tá Đỗ Văn Ri, Chánh Văn Phòng Tư Lệnh điều khiển, chứ không phải do Phòng Chuyển Vận thuộc Tham Mưu Phó Tiếp Vận trách nhiệm như thường tình. Không biết Văn Phòng Tư Lệnh này đã căn cứ vào ưu tiên nào; giả dụ rằng Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân, ưu tiên kém hơn các đơn vị tác chiến như các Sư Đoàn Không Quân, thì mọi người cũng có thể chấp nhận được, nhưng những gia đình của các vị Giám Đốc này không thể di tản sau các dân sự, đa số là những người Trung Hoa Chợ Lớn. Chuyện này tôi đã nói ra ở bài “Ngày Ra Đi”.
Một điều hết sức khôi hài là Văn Phòng Tư Lệnh nắm quyền cấp phát cho máy bay di tản từ đầu cho đến ngày 28 tháng 4 năm 1975, lúc đó tình hình quá hỗn loạn, khi căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhứt bị thả bom, mới trao trả sự điều hành chuyển vận này lại cho Phòng Chuyển Vận thuộc Tham Mưu Phó Tiếp Vận cùng bản danh sách hành khách ứ đọng với chỉ thị rằng “hãy tìm cách đưa hết số gia đình này đi”. Còn gì mỉa mai cho bằng. Đêm đó, rạng ngày 29 tháng 4 năm 1975, lúc 4 giờ sáng, Căn Cứ Không Quân Tân Sơn Nhứt lại bị Việt Cộng pháo kích. Sáng ra Bộ Tư Lệnh Không Quân tan hàng, mạnh ai tự thoát thân, chỉ có mấy vị Tướng Không Quân được D.A.O. chấp nhận cho di tản bằng trực thăng ra Hạm Đội 7 Hoa Kỳ mà thôi. Một số sĩ quan thân tín trong đó có cả các vị Chánh Văn Phòng của mấy ông Tướng đi theo, đều bị chận lại ở cổng D.A.O.Và tới giờ phút nguy nan này mới thấy tình đời và quyền hạn. Dầu một vị Tướng quyền hành tột đỉnh cũng không thể bảo vệ được người Chánh Văn Phòng thân tín nhất, là cánh tay mặt của mình. Thật là quá nhục nhã. Có người nhanh chân chạy thoát được, cũng có những kẻ bị kẹt bị tù đày trên mười năm. Nhóm người này có ăn có chịu, chỉ tội nghiệp cho những sĩ quan cao cấp khác, ngày ngày chỉ trông ngóng tin từ trên đưa xuống để có thể đưa gia đình di tản, nhưng chẳng bao giờ tin lành đến với họ nên đành kẹt lại, trong số này có các vị Giám Đốc Trường sau đây:
– Đại Tá Đặng Văn Hậu, Giám Đốc Trường Chỉ Huy & Tham Mưu Trung Cấp Không Quân, bị 13 năm tù. Đến Mỹ vào năm 1992 cùng với gia đình và hiện cư ngụ tại tiểu bang Virginia, vùng quanh Washington D.C.
– Trung Tá Đàm Thiện Nguơn, Giám Đốc Trường Phi Hành T-37 ở Phan Rang, bị tù trên mười năm, sang Mỹ vào năm 1991, cư trú tại Quận Cam, California, được ít năm thì từ trần vì bệnh phổi.
– Trung Tá Lê Bá Định, Giám Đốc Trường Phi Hành T-41, nếu có bị tù là ngoài ý muốn, vì anh ta không có ý định rời Việt Nam. Vì những ngày cuối tháng 4 năm 1975, tình hình nước nhà hết sức khẩn trương, ai cũng biết được, sắp mất nước đến nơi, nhưng anh Định đã bày tỏ ý kiến trong những buổi họp hằng ngày là, nếu có mất nước, anh ở lại vào bưng, tổ chức kháng chiến chống lại Việt Cộng. Bởi vậy, anh tỉnh bơ, trong lúc đa số các sĩ quan khác chạy đôn chạy đáo cố tìm cách cho gia đình di tản, nhưng đành bó tay. Tinh thần anh Định cao lắm làm mọi người thán phục và ngưỡng mộ. Không ai biết chắc chắn anh Định hiện thời ở đâu…Nhưng mọi người khen anh Định giỏi ngoại ngữ, nhất là Anh văn, đã từng làm thông dịch cho những buổi họp giữa các chính khách ngoại quốc và Việt Cộng nên đời sống anh được bảo đảm, khỏi bị chính quyền địa phương hăm dọa. Và nhờ dạy Anh văn nên anh có đời sống vật chất sung túc và giàu có nữa, nên càng không muốn rời Việt Nam. Nhưng cũng có nguồn tin cho rằng anh Định bị chính quyền Việt Cộng bắt buộc phải rời Việt Nam vì là thành phần tay sai cho gián điệp C.I.A. Cũng có thể đúng, vì đây là “chính sách vắt chanh bỏ vỏ” muôn thuở của người Cộng Sản. Trước đây, năm 1975, khi Việt Cộng mới chiếm miền Nam, rất ít người giỏi tiếng Anh nên mới dùng anh Định, nay sau hai mươi mấy năm, họ có người của họ nên không cần anh ta nữa, không có gì lạ.
– Trung Tá Nguyễn Văn Kiên, Giám Đốc Trường Kỷ Thuật, bị kẹt lại không chịu trình diện để đi tù, nên đã dấu tông tích, cải trang làm nghề bán củi độ thân. Sau đó cùng con trai vượt biên và bị mất tích. Hiện gia đình chị Kiên đang sống ở San Diego, California.
– Trung Tá Tạ Minh Đức, Giám Đốc Trường Truyền Tin & Điện Tử, bị tù trong một thời gian ngắn, nên không đủ tiêu chuẩn để sang Mỹ theo diện H.O (Humanitarian Operations). Ra tù, anh mưu sinh bằng nghề đóng guốc Dakao, hiện nay anh làm việc cho một tiệm thuốc Bắc. Nhìn trông anh, thấy hình dung anh khắc khổ lắm. Anh cho biết anh bị đau bao tử mấy năm nay, còn chị Đức thì đau chân, đi đứng rất khó khăn.
– Trung Tá Nguyễn Minh Công, Giám Đốc Trường Mưu Sinh & Thoát Hiểm, bị tù gần 10 năm. Khi ra tù, anh Công bị đau nặng chỉ trong mấy năm thì qua đời. Tôi và anh Công là anh em kết nghĩa, khi nghe tin anh Công ở quê nhà bị khốn khổ, tôi hết sức đau buồn và lo lắng, nhưng cũng không giúp được gì thiết thực, ngoài những lời an ủi và món quà khiêm tốn mà thôi. Sau đó, nghe chị Công cùng các con cái đến được Mỹ, tôi rất vui mừng, nhưng không biết rõ hiện giờ gia đình chị Công ở đâu.
– Trung Tá Nguyễn Văn Qui, Giám Đốc Trường Quân Sự, bị tù mười năm. Qua Mỹ giữa thập niên 90. Chúng tôi có liên lạc với nhau bằng điện thoại khi anh chị còn ở California. Sau đó anh rời đi sang Úc vì có con cái vượt biên và cư ngụ bên đó. Một điểm lạ là anh Qui đau bao tử kinh niên. Hồi trước anh chỉ ăn gạo lức và muối mè. Thế mà khi ở tù một thời gian dài dưới chế độ hà khắc cộng sản mà anh chịu đựng được, đúng là phép lạ.
Vị giám đốc độc nhất thoát nạn tù đày cộng sản là Trung Tá Lê Bá Toàn, Trường Anh Ngữ, nhờ anh có người con đầu lòng là công dân Mỹ chính cống, sanh đẻ tại Mỹ khi chị Toàn cùng theo chồng sang Mỹ thời gian anh Toàn làm Sĩ Quan Liên Lạc từ giữa thập niên 50. Nhờ vậy mà Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam đã lo lắng cho gia đình anh chị Toàn sang Mỹ một cách thuận lợi. Gia đình anh chị Toàn hiện ở Houston, Texas.
Nay nếu có ai bắt gặp tại Mỹ những gia đình sĩ quan thuộc TTHLKQ trước kia là chính họ vào phút chót đã tự động xoay xở lấy bằng đủ mọi phương tiện để thoát nạn, chứ gia đình họ không được BTLKQ cắp chỗ phi cơ cho đi như những gia đình của các sĩ quan khác.
Biến cố nào cũng có sự mất mát và thiệt hại về nhân mạng và tài vật. Biến cố ngày 11 tháng 9 năm 2001 xảy ra tại New York thật thảm khốc và đau buồn, chết trên năm ngàn nhân mạng, thiệt hại hằng trăm tỷ đô la, đối với một nước giàu mạnh nhất thế giới với dân số trên 280 triệu người. Nhưng nếu so sánh về bách phân, thì sự thiệt hại của TTHLKQ quá to lớn, đến 7/8, trong biến cố mất nước tháng 4 năm 1975. Bảy trong số tám sĩ quan cao cấp, Giám Đốc Trường kẹt lại, bị tù đày trong hỏa ngục cộng sản. Ba trong bảy người này đã ra người thiên cổ. Bốn người còn tại thế ở ba lục địa khác nhau: Á, Mỹ, Úc với thân thể bệnh hoạn tiều tụy, và nhất là con cái học hành dở dang và lập gia đình muộn. Đáng buồn thay!
Ngày 24 tháng 10 năm 2001
Wednesday, January 23, 2019
Vụ án Trần Quang Trân ở trại tù Tiên Lãnh (Trích đoạn hồi ký của Bác Sĩ Phùng Văn Hạnh)
Tôi
muốn nói lên những đau khổ chất ngất của anh em tù chính trị và quân
đội trong ngục tù Tiên Lãnh. Làm y tế trại, tôi được gọi lên phòng kiên
giam để xác nhận cái chết của Nguyễn Công Vĩnh. Trước
kia anh to con, nhưng bây giờ xác anh teo tóp, co rúm, da bọc xương, gò
má lồi cao, hai mắt mở trừng trừng. Anh ta chết vì đói. Bọn cai tù có
lệnh không cho anh ăn uống. Bọn trật tự kể lại là những ngày cuối, trong
mê sảng, anh bốc những con dòi bò trong đường
cống lên ăn, chắc anh tưởng là hạt cơm. Ðường cống là một cái rãnh dọc
theo bờ tường phòng kiên giam, dùng cho tù phạm tiêu, tiểu tiện vào đấy.
Chắc có nhiều hồi ký trại giam Cộng Sản đã tả cái dã man, tinh vi của
cái cùm sắt dài xuyên từ bờ tường này đến
bờ tường kia. Cảnh cô độc, đói khát, mơ tưởng những món ăn thời tự do,
những tiểu xảo để giết thì giờ thiên thu và để kéo dài chịu đựng, nói
lên cái tàn bạo chưa từng có của kiên giam. Chuồng cọp Côn Ðảo là thiên
đường sánh với kiên giam.
Vụ
án Trần Quang Trân là một biến cố đặc biệt của trại Tiên Lãnh, nói lên
tinh thần bất khuất của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Ðây là một tổ chức
có mục đích, hệ thống. Một hoạt động dũng cảm, nhiệt
tình, có tính cách quy mô rộng lớn, bao gồm trên 100 sĩ quan và tù
chính trị. Bởi thế, khi vỡ lở, công an điều tra mất vài tháng trước khi
đưa nội vụ ra tòa với hai lần xử: phúc thẩm và chung thẩm. Bản án chung
thẩm là: Tuyên truyền chống phá cách mạng, tổ
chức cướp súng, cướp trại, âm mưu lật đổ chính quyền.
Sau đây là tên họ những người lãnh án phạt và thời gian ở tù thật sự:
-Thiếu Úy Trần Quang Trân, án tử hình. Xử tử ngày 19.06.1982.
-Thiếu Úy Trần Lân, án chung thân, ở tù 20 năm.
-Trung Úy Ngô Văn Thạnh, án 20 năm, ở tù 19 năm.
-Ðại Úy Nguyễn Văn Hưng, án 18 năm, ở tù 19 năm.
-Ðại Úy Ðỗ Ngọc Nuôi, án 12 năm, ở tù 16 năm.
-Xã trưởng Võ Kinh, án 13 năm, ở tù 15 năm.
-Trung Úy Ðỗ Văn Sĩ, án 13 năm, ở tù 16 năm.
-Ðại Úy Ðinh Văn An, án 10 năm (chết trong tù Hàm Tân năm 1990).
-Trung sĩ Lê Cao Phúc, án 10 năm, ở tù 14 năm.
-Bác sĩ Tôn Thất Sang, án 10 năm, ở tù 15 năm.
-Lê Phò, án 10 năm, ở tù 10 năm.
-Ðại Úy Nguyễn Minh, án 5 năm, ở tù 12 năm.
-Thiếu Úy Huỳnh Tiến, án 3 năm, ở tù 11 năm.
Ngoài
ra có một số bị kiên giam, song không bị án. Trong số những người kiên
cường này, phải kể Nguyễn Văn Ngật, Nguyễn Văn Ðiểu, Lê Quang, Lê Xuân
Mai, Phạm Lộc, Trần Thao, Châu Văn Mầu, Nguyễn
Ngọc Trai, Trương Quang Ðông… Tóm lại có chừng 75 người xử theo biện
pháp hành chánh, nghĩa là tập trung cải tạo vô thời hạn, không biết ngày
nào về, trung bình ở tù 10 năm. Trừ hai người ra đi vĩnh viễn là anh
Trân và An, số còn lại lãnh 9 thế kỷ tù tội.
Chín thế kỷ đau thương triền miên ray rứt. Ðiểm đặc biệt của vụ án là
lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ. Những người có án nặng là thiếu úy và
trung úy.
Người
được anh em mến phục nhất là anh Trần Quang Trân và Ðinh Văn An. Trân,
người thon nhỏ, mặt trắng thư sinh. Tính tình bặt thiệp, ưa đùa cợt, làm
thơ hay. Rất tiếc là thơ anh không ai ghi chép
lại, vì thơ làm trong kiên giam không giấy bút. Song anh hơn Nguyễn Chí
Thiện ở chỗ là anh đọc thơ cho bọn Cộng Sản giam giữ anh nghe. Làm thơ
xong, anh đọc sang sảng, rất to, cốt cho trại viên nghe, song cán bộ vội
xua đuổi trại viên đi, không cho nghe những
lời ca yêu nước, hạch tội bọn Cộng Sản vong bản, nô dịch chủ thuyết
ngoại lai, gieo rắc khổ đau cho nhân dân Việt Nam.
Trong đêm giao thừa đầu năm 1982, trong kiên giam lạnh lẽo, chờ ngày xử chung thẩm, anh ngâm nga:
Ðón giao thừa giữa bốn bức tường vôi
Xuân lạnh lùng quá mẹ Việt Nam ơi!
Bao giờ dẹp tan loài quỷ đỏ
Mẹ con mình no ấm, rộn niềm vui.
(chưa chắc đã đúng trong nguyên tác, chỉ vì nghe từ đàng xa, và lại thời gian xoi mòn trí nhớ).
Anh
Trân thông minh hiếu học. Nếu đến được bến bờ tự do, anh sẽ là một
chuyên viên điện tử có hạng. Trong tù, anh không ngừng trau dồi kiến
thức, học thêm ngoại ngữ. Ở Kỳ Sơn, anh được điều động
lên cơ quan của tổng trại 2 để sửa chữa máy truyền tin và lắp ráp điện
đài. Anh đã sửa chữa một máy dò tìm vàng nhãn hiệu Trung Cộng, mà nhiều
kỹ sư đào tạo ở miền Bắc bó tay. Anh là một chuyên viên điện tử tu
nghiệp ở Nhật do tài trợ của hãng Panasonic. Với
phương tiện nghèo nàn, anh tái tạo các linh kiện điện tử trong công
việc sửa chữa hàng ngày cho cơ quan, và lắp ráp những đài thu thanh nhỏ
cầm tay, phân phát cho các trại.
Ðể
che mắt bọn cán bộ, linh kiện được lắp vào các máy đo điện đã hư. Muốn
máy phát động, chỉ cần lắp vào một dây dẫn điện ngắn, và có thể nghe
nhiều đài phát thanh ngoại quốc như VOA, BBC v… v…
Nhờ thế, tin tức về cuộc tấn công của Trung Quốc vào miền Bắc, chiến
tranh lạnh giữa Nga và Mỹ đều được phổ biến bí mật cho trại viên để nuôi
dưỡng ý chí quật cường.
Trại
Kỳ Sơn, với quy chế tù binh, chế độ ăn uống, lao động không khắc nghiệt
như trại Tiên Lãnh. Tôi nghĩ rằng quân đội miền Bắc XHCN cũng tự hào về
thành tích của họ, song không biết họ có thấy
xấu hổ khi đem đồng loại khác chính kiến ra hành hạ, đem bắn lén nhiều
sĩ quan như vụ bắn Ðại Tá Võ Vàng, bề hội đồng Thiếu Úy Huỳnh Tiết, một
sĩ quan trẻ miền Nam giỏi võ. Hận thù giai cấp đã làm họ tối mắt, không
biết gì đến tinh thần thượng võ và tình thương
đồng loại. Chiến thắng lẫy lừng, cuối cùng là để nhốt đồng loại vào
trại tập trung hành hạ, còn Mỹ thì cao chạy xa bay rồi.
Cuối
năm 1978, sĩ quan trại Kỳ Sơn chuyển qua Tiên Lãnh. Công an là chuyên
viên cai quản tù trong XHCN. Những phương thức đàn áp như lao động cưỡng
bách, hạn chế dinh dưỡng, nội quy sắt máu, trừng
trị tàn bạo, tối đa là truyền thống quy củ trong quần đảo Goulag, nhà
tù Trung Cộng, và một loạt nhà tù miền Bắc mà nghe tên ai cũng giật
mình. Tất cả những phương thức ấy đều được áp dụng ở trại Tiên Lãnh. Vài
tháng sau nhập trại, toàn thể sĩ quan trở nên
rách rưới, ốm đói, phờ phạc, hãi hùng. Vài người quá tuyệt vọng đã tự
tử chết.
Trung
Tá Bình, Ðại Úy Quy trốn trại không thoát. Ðã có lệnh từ trên là bắn
chết một người để làm khiếp hãi trại viên. Trên đường áp giải hai người
trốn trại, bọn công an đã bắn lén từ phía sau,
giết Trung Tá Bình và tri hô lên là vì tù nhân chạy trốn. Tôi có khám
tử thi, và thấy vết thương có lỗ vào phía sau lưng, đen thuốc súng,
chứng tỏ nạn nhân bị bắn rất gần. Thật là một thời kỳ u ám. Nhiều sĩ
quan cấp tá bị kiên giam rồi chuyển đi trại Ðồng
Mộ. Số người sợ hãi bị chiêu dụ làm ăng-ten tăng lên đáng kể. Soát
phòng liên miên. Trại đông người lại có nhiều trại lẻ ở xa, ban giám thị
cần một hệ thống liên lạc hữu hiệu, nên anh Trân lại được kêu ra để
thiết lập một tổng đài điện thoại, đài liên lạc
vô tuyến với Ty Công an. Anh và Trần Lân được ở một căn nhà nhỏ riêng
biệt dùng làm xưởng sửa chữa máy móc điện tử. Các cán bộ trong trại cũng
nhờ sửa những máy thu thanh cá nhân. Vì là việc làm không công, họ
thường bồi dưỡng anh thịt, trứng… Nhưng anh Trân
không vì những ưu đãi ấy mà quên anh em. Anh lặp lại việc đã làm tại
trại Kỳ Sơn là lắp một máy thu thanh để nghe lén các đài ngoại quốc. Anh
đã thành công ở Kỳ Sơn vì không bị phát hiện, nhưng lần nầy không may.
Trong vụ án xử anh và bạn hữu, chỉ có độc nhất
một tang chứng là cái máy đo điện trở, trong đó anh có lắp linh kiện
điện tử để nghe đài phát thanh. Các người bị kêu án là những người có ký
vào bản nhận tội khi công an tra tấn hoặc đe dọa. Có nhiều người giữ
nhiệm vụ quan trọng, song một mực chối hết, nên
chỉ bị trừng trị bằng biện pháp hành chánh. Có bằng cớ gì đâu, chẳng
qua là nói miệng với nhau, chứ đâu có hội họp biên bản gì. Song cuối
cùng biện pháp hành chánh cũng giam giữ rất lâu, ít nhất là trên mười
năm. Nhiều khi hơn nữa. Xử án chỉ là bày trò hình
thức.
Phân
tích vụ án ta thấy hai phần rõ rệt: Phần loan truyền tin tức ngoại quốc
đem lại hưng phấn cho trại viên, ví dụ như cuộc nổi dậy của nhóm Fulro,
cuộc bao vây kinh tế Việt Nam của Tổng Thống
Mỹ Reagan. Vì oán hận lối đối xử dã man tàn bạo của bọn Cộng Sản, ai
cũng vui mừng khi nghe những tin bất lợi cho chúng. Chẳng thấy viễn ảnh
ngày về, những tin ấy mang lại chút hy vọng mong manh.
Ví
dụ trường hợp Bác Sĩ Tôn Thất Sang làm y tế cho trại Na sơn. Sang vào
tù vì tội vượt biên. Anh có nói một câu đơn giản mà bị án 10 năm. Nhân
Lê Phò, từ trại Na Sơn về trại chính, anh nhắn với
Trân là có tin tức gì hay nói cho “mệ” biết với (con cháu vua thường tự
xưng là mệ). Sang không có tham gia gì vào tổ chức. Chỉ nghe câu ấy mà
không báo cáo với cán bộ, Phò cũng lãnh án 10 năm. Thật là một chuyện
không thể tưởng tượng nổi, mà các nhà luật
học khi nghe phải sững sờ. Những thiệt hại mà anh Sang phải chịu trong
tù đày, cùng những hậu quả dai dẳng trong cuộc sống định cư ở Mỹ, ai sẽ
chịu trách nhiệm đây? Các nhà luật học phải có biện pháp đưa bọn Cộng
Sản Việt Nam ra tòa án quốc tế để trả lời những
tội ác đối với hàng triệu người vô tội.
Phần
thứ hai của vụ án là tổ chức cướp súng, cướp trại, đánh quận Tiên
Phước, liên lạc với cuộc nổi dậy Fulro lập chiến khu… là những tiết lộ
của Ðại Úy Nguyễn Văn Hưng. Anh nói: “Hệ thống nầy suốt
trong thời gian ở tù và sau này khi còn ở Việt Nam, tôi không hề tiết
lộ cho ai. Nhưng nay (anh đã định cư tại Mỹ) theo yêu cầu của một số anh
em, chúng tôi xin ghi lại chi tiết”. Anh cho biết anh điều khiển tổ
chức trong nhiệm vụ là tổng thư ký. Trân chỉ
là trưởng ban liên lạc ngoại vụ. Trần Lân lo liên lạc với Fulro. Ðinh
Văn An (chết trong tù) đại đội trưởng đội xung kích, lo chiếm kho súng
của trại. Thiếu Tá Lê Quang là trung đoàn trưởng trung đoàn giải phóng
Quảng Nam-Ðà Nẵng. Anh còn tiết lộ nhiều ủy
viên khác. Nói chung, anh em đã có ý chí quật cường, có can đảm chấp
nhận hiểm nguy. Tiếp xúc với Fulro là có thật; nhân đi lao động ở Trà
Nóc, lúc còn ở trại Kỳ Sơn. Nghiên cứu về khả năng cướp súng là có thật.
Ngoài ra những điều khác chỉ nằm trong mơ ước.
Phiên
tòa dựng lên gọi là “tòa án nhân dân tối cao,” có cán bộ ở Hà Nội vào
dự, chỉ là xử cái ước mơ đó, chứ không có một hành động phá hoại nào cụ
thể. Trị từ trong tư tưởng. Cái dã man, phi lý
và luật rừng là ở đó.
Phiên
tòa đúng là một trò hề. Xử trong trại vì sợ dư luận dân chúng. Không có
luật sư biện hộ. Chánh án, phụ thẩm… ăn bận lôi thôi. Bà phụ thẩm có
tên là Chát, mặc áo cụt, ăn trầu, ngồi chồm hổm
trên ghế, ăn nói thiếu văn hóa. Chỉ có lính công an là mặc đại lễ. Bị
can cũng bị bịt mắt dẫn vào, vành móng ngựa là một hàng ghế dài. Trại
viên được nghỉ lao động để dự phiên tòa, một biện pháp răn đe. Nói là
cho bị can tự biện hộ, song ai nói ra lời nào
thì bị chận lại ngay. Phiên tòa chỉ có chánh án, phụ thẩm nói. Phán
quyết thì đem ra hỏi trại viên:
-Tên A có phải là phản động không? (Trại viên đuợc các ăng-tên mớm lời)
-Phải.
-Có đáng tử hình không?
-Rất đáng.
Ðúng là một tòa án nhân dân trong cải cách ruộng đất. Phần lớn trại viên trả lời lí nhí. Một số khác im lặng.
Phải
nói anh Trân là một người trẻ tuổi nhưng rất chững chạc, đầy lòng vị
tha và suy nghĩ. Anh thấy ý định của bọn Cộng sản là phải có một án tử
hình trong vụ nầy, anh đứng ra lãnh cái chết cho
anh em. Anh chịu nhận tội, và thay mặt anh em, tỏ ra cái khí phách của
một sĩ quan có lý tưởng quốc gia. Trước phiên tòa, anh không nói “thưa
quan tòa” như ấn định. Anh gọi họ là “các ông” làm chánh án tức giận đập
bàn nhắc lại. Song anh không đổi cách xưng
hô. Khi chánh án hỏi anh:
-Các
anh đã được chính phủ khoan hồng cho vào đây để học tập cải tạo. Các
anh không thành tâm hối lỗi, mà tổ chức chống đối. Ðộng cơ nào thúc đẩy
các anh làm việc ấy?
-Các
ông không có quyền xử tôi, vì các ông không có tổ quốc, mà chỉ là tay
sai đế quốc Cộng Sản. Các ông không xứng đáng để tôi đối đáp. Lịch sử,
dân tộc Việt Nam sẽ xử các ông. Chế độ các ông là
một chế độ phi nhân, tàn khốc. Nhà tù mọc lên khắp nơi. Dân chúng đói
khổ lầm than, còn các ông sống phè phỡn. Nhà tù của các ông là địa ngục
sống trên trần gian.
Chánh
án lại đập bàn bảo anh im, song anh cứ nói cho hết ý. Một công an phải
chồm tới, bịt miệng anh lại. Thật là hài hước, chốn công đường mà không
có tự do ngôn luận.
Khi tòa tuyên bố bản án tử hình và cho anh nói lời cuối cùng.
-Tôi
biết chắc là chế độ phi nhân, tàn ác chưa từng có trong lịch sử loài
người của các ông gần đến ngày cáo chung. Chỉ tiếc là tôi không còn sống
để phục vụ đất nước.
(Nội
dung những lời đối đáp trên đây rất trung thực. Tuy nhiên đây không
phải là những lời ghi chép tại chỗ, người nghe chỉ ghi lại theo trí
nhớ).
Thái
độ hiên ngang bình tĩnh, giọng nói chắc nịch không chút run rẩy của anh
làm cho cả hội trường bàng hoàng. Bọn công an, tổ xứ án sạm mặt trước
khí thế hùng dũng của anh.
Sau
khi xử án, chúng cho anh một thời gian suy nghĩ lại và xin ân xá. Song
anh không viết đơn xin ân xá, vì anh biết đó chỉ là một đòn tâm lý để
làm giảm nhuệ khí của anh. Thế nào bọn chúng cũng
đem anh ra bắn. Xin xỏ chỉ thêm nhục. Bởi thế, trong thời gian chờ đợi,
anh làm thơ và đọc to lên, mạt sát chế độ tàn ác của Cộng Sản. Sợ gương
anh ảnh hưởng đến trại viên khác và làm mất mặt chế độ, chúng đem anh
ra bắn trước thời gian dự định.
Ngày
19 Tháng Sáu, 1982, lúc 12 giờ, chúng bịt mắt anh đẩy anh lên xe đưa ra
pháp trường. Toàn thể trại viên bị lùa vào phòng, đóng cửa nhốt lại. Ra
đến cổng trại, anh Trân la to:
-Xin
vĩnh biệt anh em. Bọn Cộng sản đưa tôi đi bắn đây. “Ðả đảo Hồ Chí
Minh!” “Ðả đảo Cộng sản!” “Dân tộc Việt Nam sẽ chiến thắng Cộng Sản!”
Anh
còn muốn hô nhiều khẩu hiệu nữa, song bọn công an đè anh xuống, nhét
chanh vào miệng. Sang bên cơ quan, anh ký tên vào bản án, chấp nhận tử
hình. Chúng dọn ra trước mặt anh một mâm cơm thịnh
soạn. Anh từ chối không ăn và dặn mang vào phòng giam cho bạn bè đang
đói. Ra pháp trường anh không chịu trói và bịt mắt. Anh té nghiêng xuống
sau loạt súng đầu. Một tên công an đến bắn phát ân huệ vào thái dương.
Trong
tù tôi có lần nói chuyện với Trân. Anh ta cho rằng chừng cuối thế kỷ,
chế độ Cộng Sản sẽ cáo chung. Anh chết đi và không ngờ là thành trì của
XHCN Liên Xô và Ðông Âu tiêu tan 10 năm trước
lời tiên đoán. Song chế độ Hà Nội vẫn còn tồn tại mặc dầu biến chất đi
nhiều. Lạc quan nay ở trong trận tuyến của ta. Ta chỉ đi lên, bọn chúng
chỉ đi xuống. Trang sử đau buồn, đầy phản phúc, nham hiểm, tàn bạo từ
1945 đến nay sắp cáo chung. Cơ hội cho những
người muốn đóng góp để xây dựng cho một nước Việt Nam thật sự tiến bộ
và dân chủ, một xã hội công bằng và thịnh vượng sắp thành hình. Chỉ tiếc
là thiếu mặt anh Trân, như lời nói cuối cùng của anh trước tòa án.
Anh
Trân là người anh hùng bất đắc dĩ. Hoàn cảnh đã xô đẩy anh đứng trước
một chọn lựa. Anh đã có chọn lựa đầy suy nghĩ và trách nhiệm. Việc phải
làm, không đùn lại cho ai, tự mình gánh lấy. Anh
chết đi để lại người vợ trẻ và hai con gái. Anh là người có thiện tâm,
người tốt nhất trong chúng ta như lời Tổng Thống Kennedy: “Những người
tốt nhất trong chúng ta đã chết.”
“Dù
chỉ là một sĩ quan cấp Thiếu Úy, anh Trân đích thật là người anh hùng
nêu gương Can Trường Trong Chiến Bại trước họng súng của quân thù.”
Monday, January 21, 2019
Wednesday, December 26, 2018
CÁI CHẾT CỦA BỘ TRƯỜNG TRẦN CHÁNH THÀNH
Mỗi
năm, vào dịp kỷ niệm ngày quốc hận 30 tháng Tư, lại thấy xuất hiện trên
các phương tiện truyền thông khắp nơi hình ảnh các vị tướng tá đã coi
cái chết nhẹ tựa lông hồng, quyết
hi sinh mạng sống để bảo vệ danh dự, tiết tháo của một cấp chỉ huy. Các
vị ấy xứng đáng được tôn vinh là những anh hùng của Quân Lực VNCH, xứng
đáng được lưu danh muôn thuở..
Cuộc chiến đấu bảo vệ miền Nam tự do suốt 20 năm là cuộc chiến đấu chống CS của toàn dân, mà trọng trách giao vào tay quân, cán, chánh. Khi nước mất, thành đổ, nếu đã có những vị tướng tá quyết tự chọn lấy cái chết oai hùng để đền nợ nước thì đồng thời cũng ghi nhận có những viên chức bên phía chính quyền dám tuẫn tiết, không chịu để bị lọt vào tay bọn CS.
Trong số các vị ấy, nổi bật lên sáng chói là cái chết bi dũng của cựu Bộ trưởng Trần Chánh Thành. Ông đã an nhiên chọn lựa một cách chết trước quân thù, để gióng lên một lời tố cáo trước dư luận trong và ngoài nước về những hiểm họa sẽ giáng xuống dân tộc VN, một khi đất nước bị đảng CS nắm trọn quyền thống trị.
Nhân kỷ niệm ngày quốc hận 30 tháng Tư , chúng tôi xin đúc kết một số tài liệu để vẽ phác chân dung vị cựu Bộ trưởng này và cái chết lẫm liệt của ông như một nén hương tỏ lòng thành kính, ngưỡng mộ ông.
Những bước đầu tiên
Ông Bộ trưởng Trần Chánh Thành gốc miền Bắc, do cha tùng sự tại Huế cho nên ông học và tốt nghiệp Trung học tại đây; sau đó, trở ra Hà Nội học lấy Cử nhân Luật. Ông học rất giỏi, đã đậu đầu kỳ thi ngạch Tri huyện Tư pháp cho toàn cõi Bắc và Trung kỳ, rồi được cử làm Chưởng lý các tòa án Trung kỳ. Khi chính phủ Trần Trọng Kim ra đời, ông được bổ làm Chánh văn phòng Bộ Tư pháp cho Tổng trưởng Trịnh Đình Thảo. Không bao lâu sau, nổ ra cuộc ‘Cách Mạng Tháng Tám’ đưa HCM lên nắm chính quyền. Dưới bình phong mặt trận Việt Minh (tên tắt của Mặt trận VN Độc Lập Đồng Minh, ngày 19.5.1941), đảng CS đã thu hút được các thành phần ái quốc với khẩu hiệu đánh Pháp đuổi Nhật. Ông Trần Chánh Thành đã được mời ra Hà Nội trong thời kỳ này và được trọng dụng trong chức vu. Giám đốc Tư pháp Liên khu 3 (trong 3 năm), rồi Giám đốc Kinh tế Liên khu 3 (trong 2 năm sau đó). Song, cũng như trường hợp nhiều trí thức trẻ khác vào thời đó, sau khi đi theo Việt Minh tham gia kháng chiến một thời gian, ông Thành đã hiểu ra bộ mặt thật của Việt – Minh – Cộng – Sản cho nên ông khéo léo cáo bệnh từ chức, để trở về Diễn Châu, Nghệ An (Liên khu 4), trú tại nhà ông Cao Xuân Vỹ. Từ Nghệ An, cùng người em con ông chú là nhà báo Mạc Kinh, ông vượt biển ra vùng quốc gia. Sau vài tháng ở Hà Nội, ông vào Saigon làm nghề luật sư trong văn phòng của Luật sư Trương Đình Dụ
Vào tháng 10. 1952, ông Ngô Đình Nhu chủ trương tạp chí Xã Hội, anh em ông Trần Chánh Thành và Mạc Kinh đã cộng tác với tờ tạp chí và trở thành chỗ thân tình với ông Ngô Đình Nhụ Mối giao tình này đánh dấu một khúc rẽ quan trọng trong cuộc đời chính trị của ông.
Bậc lương đống của nền Cộng Hòa
Có thể nói ngay ông Trần Chánh Thành cùng với các ông Trần Trung Dung, Nguyễn Hữu Châu…là những bậc lương đống ‘khai quốc công thần’ của nền Đệ nhất Cộng hòa.
Trong bài báo nhan đề Ông Ngô Đình Diệm Lên Cầm Quyền Như Thế Nào (Thông Luận Số 191, ra ngày 04.4.2005), tác giả Nguyễn Gia
Kiểng chứng minh chính ông Ngô Đình Nhu đã bí mật đạo diễn một vở kịch chính trị lớn để đưa ông Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền chứ không phải là người Mĩ hay Vatican. Trong vở kịch này, ông Trần Chánh Thành được giao cho thủ một vai và ông đã đóng xuất sắc. Duyên do bắt đầu từ mối liên hệ thân tình giữa ông Ngô Đình Nhu với ông Trần Chánh Thành.
Tác giả Nguyễn Gia Kiểng thuật lại, vào tháng 11.2004, ông được ông Trần Minh Châm trao cho 2 bức thư viết tay bằng tiếng Pháp:
Một của ông Jacques Bénet, bạn của ông Trần Minh Châm, viết ngày 18.10.2004 gửi cho bà Ngô Đình Nhu và một của ông Ngô Đình Nhu
viết ngày 20.4.1955 gửi cho ông J. Bénet. Ông J. Bénet và ông Ngô Đình Nhu là bạn học rất thân khi còn tại trường Ecole des Chartes.
Trong thư gửi cho bà Ngô Đình Nhu, ông J. Bénet xác nhận 2 điểm quan trọng: một là ông (J. Bénet) có đóng vai môi giới trong việc
vận động các nhà lãnh đạo nước Pháp để đưa ông Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền; hai là ông ca ngợi ông Ngô Đình Nhu đã có một ý kiến ‘thiên tàí vì đã nắm bắt đúng vào lúc (3.1954) chính quyền Pháp đang lúng túng do viễn ảnh thất trận tại Điện Biên Phủ để mở chiến dịch thuyết phục họ (Thủ tướng Laniel – Ngoại trưởng Bidault – Reynaud) nên mau chóng đưa ông Ngô Đình Diệm lên cầm quyền. Để thực hiện sáng kiến này, ‘Ông Nhu đã cử bạn ông là ông Trần Chánh Thành sang Paris và nhờ ông Jacques Bénet giúp đỡ để tiếp xúc và thuyết phục chính quyền Pháp về đề nghị này. Ông Bénet đã làm được việc này nhờ một người bạn tên là Antoine Ahond quen thân nhiều
nhân vật quan trọng trong chính quyền Pháp, đặc biệt là các ông Germain Vidal, chánh văn phòng thủ tướng, ông Bourgenot, bộ trưởng
tại phủ thủ tướng, và ngoại trưởng Bidault. Mặt khác, chính ông Trần Chánh Thành cũng tỏ ra xuất sắc. Nhờ thế mà ông Diệm đã được chính quyền Pháp chấp nhận và ép buộc ông Bảo Đại phải chấp nhận.
Ông Trần Chánh Thành được giao nhiệm vụ vận động các yếu nhân trong chính quyền Pháp, tuy được khen là đã hoàn thành ‘xuất sắc’, nhưng có lẽ ông chỉ biết phần đầu của vở kịch chính trị lớn của ông Ngô Đình Nhụ Chính trong lá thư thứ hai của ông Ngô Đình Nhu viết gửi ông J. Bénet mới cho biết phần hai của vở kịch chính trị này.
Trong thư viết ngày 20.4.1954 gửi cho ông J.. Bénet, ông Ngô Đình Nhu yêu cầu ông Bénet giúp đỡ trong việc ‘vận động để chính quyền Pháp thực hiện khẩn cấp một kế hoạch đã được dự trù. Ông Nhu viết : “Phải vận động để những chỉ thị theo chiều hướng này, mà tao(NGK: họ quá thân nhau) chắc chắn là đã chuẩn bị sẵn, được khẩn cấp gửi sang Saigon”. Theo tác giả Nguyễn Gia Kiểng, “chiều hướng này” được hiểu là một loạt các việc cấp bách yêu cầu chính phu? Pháp làm ngay. Đó là giúp cho ông Ngô Đình Diệm nắm được quân đội quốc gia từ tay Tướng Tham mưu trưởng Nguyễn Văn Hinh, dẹp các giáo phái vũ trang và sau đó tiến tới tổng tuyển cử. Tất cả đã diễn ra thành công mau chóng, suông sẻ, khiến cho các nhà quan sát quốc tế lúc ấy phải lấy làm ngạc nhiên và đánh giá ông Ngô Đình Diệm như là một lãnh tụ đầy tiềm năng mới ở Á châu. Chưa hết, ông Ngô Đình Nhu chỉ khéo léo than phiền nhẹ nhàng là tướng Ely, Tổng tư lệnh quân đội Pháp tại VN, ‘ là một con người tiêu cực và thiếu quả quyết’, cũng đủ làm cho chính phu? Pháp triệu hồi tướng Ely trong thời gian chưa đầy hai tháng!
Do thành tích trước đây, lại là chỗ thân tình với ông cố vấn Ngô Đình Nhu, cho nên ông Trần Chánh Thành rất được Thủ tướng Ngô Đình Diệm tin dùng trong nhiều chức vụ quan trọng:
Bộ trưởng tại Phủ Thủ tướng 06.7.1954
Tổng trưởng Thông tin ngày 10.5.1955
Chủ tịch Phong trào Cách mạng Quốc gia, đã đề ra kế hoạch Tố Cộng (Nguyễn Trân. Hồi Ký Công Và Tội. Xuân Thu, 1992. Trang 176).
Khi kế hoạch được phát động, chính ông nắm vai trò Chỉ đạo Chiến dịch Tố Cộng Trung ương bao gồm liên bô. Thông tin, Tư pháp, Quốc phòng và Nội vụ. Chiến dịch này được phát động nhằm tiêu diệt các tổ chức cán bô. CS nằm vùng, đồng thời triệt hạ những lực lượng thực dân, phong kiến (bài phong, đã thực), trọng điểm là việc truất phế Quốc trưởng Bảo Đại.
Ngoài ra, ông còn là một Dân biểu Quốc hội và là một trong 14 vị thuộc Ủy ban soạn thảo Hiến Pháp.
Nhìn thoáng qua như thế đủ biết ông Bộ trưởng Trần Chánh Thành đã trở thành ngôi sao sáng vào thời khai mở nền Đệ nhất Cộng hòa.
Tuy nhiên có nghi vấn, đang khi ông được Sài gòn tin dùng thì, ngoài Huế, ông Ngô Đình Cẩn lại muốn tách ông Bộ trưởng Trần Chánh Thành và cả ông Cố vấn Ngô Đình Nhu (?) ra khỏi vòng quyền lực (Thomas L. Ahern Jr. Hai tài liệu của CIA về các tướng lãnh VN và gia đình ho. Ngộ Nguyễn Kỳ Phong lược dịch. Nam Úc Tuần Báo, Số 718 ra ngày 30.10.2009).
Thêm vào đó, nếu chiến dịch Tố Cộng triển khai thắng lợi lúc ban đầu, khiến cho khoảng 200 ngàn cán binh CS được cài lại ở miền Nam có nguy cơ bị tiêu diệt thì, tại các địa phương, phát sinh tệ nạn chụp mũ CS lên đầu những người từng có thành tích kháng chiến chống thực dân Pháp. Mà theo ông Nguyễn Trân, ‘…không phân biệt kháng chiến với CS là đi ngược lại lòng dân (Nguyễn Trân. Hồi ký Công Và Tội. Sd. Trang 177).
Những lực đối kháng này một khi đã nuôi ý đồ, sẽ dễ dàng tạo ra được một mối nghi ngờ trong dư luận về lòng trung thành với phe quốc gia của ông Bộ trưởng Trần Chánh Thành, căn cứ vào việc ông đã nắm giữ những vị trí tư pháp quan trọng ở Liên khu 3, thời Việt Minh. Tuy nhiên Tổng thống Ngô Đình Diệm vẫn tiếp tục tin tưởng ông cho tới cuối tháng 10 năm 1960. Đó là thời điểm xẩy ra việc 4 ông bộ trưởng đồng loạt từ chức; gồm có các ông Trần Chánh Thành (Bộ Thông tin), Trần Trung Dung (Bộ Quốc phòng), Lâm Lễ Trinh (Bộ Nội vụ) và Nguyễn Văn Sĩ (Bộ Tư pháp). Có dư luận cho là vì các ông bất đồng về sự lạm quyền của đảng Cần Lao? Chỉ 2 tuần sau đó, ngày 11.11.1960, nổ ra cuộc phản loạn của Nguyễn Chánh Thi – Vương Văn Đông.
Năm 1962, Tổng thống cử ông Trần Chánh Thành đi làm đại sứ tại Tunisie (ở Bắc Phi châu).
Ngày 01.11.1963, Tướng Dương Văn Minh cầm đầu cuộc đảo chánh thành công, chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ đã giao công tác cho ông
Trần Chánh Thành đi Nam Vang tiếp xúc thiện chí với Quốc vương Shianouk (18..12.1963).
Trong những năm chính trường miền Nam hết sức rối ren sau đó, ông Trần Chánh Thành rút lui vào bóng tối sống ẩn dật.
Khi nền Đệ nhi. Cộng hòa được thành lập, ngày 01.4.1967, một bản Hiến pháp mới được ban hành đưa đất nước trở lại trật tự, quy củ. Rồi ngày 03.9.1967, diễn ra cuộc bầu cử tổng thống và quốc hội. Ông Trần Chánh Thành ra ứng cử trong liên danh Đoàn Kết Để Tiến Bộ, dấu hiệu con voi trắng (Bạch Tượng) đứng chung với các ông Trần Văn Lắm (thụ ủy liên danh), Trần Trung Dung, Đào Đăng Vỹ, Bà Phan Nguyệt Minh (Nguyễn Văn Thơ), Nguyễn Văn Chức, Nguyễn Phượng Yêm, Phạm Như Phiên, Đoàn Văn Cừu, Trần Ngọc Oành. Liên danh ‘Bạch Tượng’ đã đắc cử với 550,157 phiếu (Nguyễn Văn Chức. VN Chính Sử. Tiền Phong, 1989. Trang 163).
Sau trận đánh Tết Mậu Thân 1968, ngày 28.5.1968, Cụ Trần Văn Hương lại được mời thành lập chính phủ mới thay cho chính phủ của Ls. Nguyễn Văn Lộc. Đây là thời điểm cuộc hòa đàm Paris khởi sự, sắp bước sang giai đoạn công khai, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã tín nhiệm Nghị sĩ Trần Chánh Thành vào chức vụ Tổng trưởng ngoại giao. Đây là chức vụ cao cấp cuối cùng trong sự nghiệp chính trị của ông. Sau khi Tướng Trần Thiện Khiêm trình diện nội các mới vào ngày 01.9.1969, chức vụ tổng trưởng ngoại giao được chuyển sang cho Nghị sĩ Trần Văn Lắm, cũng thuộc Liên danh Bạch Tượng. Ông Trần Chánh Thành trở về giảng dậy môn báo chí tại Trường Luật cho tới ngày ‘trời sâ.p’ 30.4.1975.
Những dòng lược thuật trên đây cho thấy ông Trần Chánh Thành là nhân vật hiếm hoi được lãnh đạo tin dùng ở những vị trí cao cấp và rất quan trọng trong cả 3 giai đoạn chính trị của đất nước: thời toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp, thời Đệ nhất Cộng hoà và thời Đệ nhi. Cộng hòa. Điều đó chứng tỏ ông là một người có thực tài, tận tụy phục vụ. Đặc biệt là ông đặt lợi ích và lí tưởng quốc gia lên trên quyền lợi cá nhân: khi biết rõ đảng CS nắm trọn quyền lèo lái mặt trận Việt Minh, ông từ chức và tìm cách đào thoát; đang khi được TT
Ngô Đình Diệm trọng dụng, ông sẵn sàng từ chức bộ trưởng để phản đối phe cánh Cần Lao lạm quyền; và khi nền Đệ nhị Cộng hòa thành lập, ông gạt bỏ mặc cảm là người của ‘chế độ cú, chấp nhận trọng trách được giao phó. Cuối cùng, theo gương các bậc tiền bối xưa, hết ‘làm quan’ ông vui vẻ về làm thầy truyền thụ sở học qúy báu cho môn sinh.
Chọn lựa một cách chết lẫm liệt
Từ khi chiến dịch Tây nguyên do Cộng quân mở ra đầu tháng 3.1975 cho tới ‘ngày sập trờí 30.4.75 vỏn vẹn chỉ có 55 ngày đêm. VNCH
đang đi những bước thụt lùi vội vã, tất tưởi cuối cùng tới bờ vực thẳm. Đương nhiên ông Trần Chánh Thành phải là người tiên đoán được tình hình bi đát và tuyệt vọng ấy và ông đã gửi vợ con đi Pháp trước. Theo nhà báo Đặng Văn Nhâm, ông và ai bạn thân là cựu Thủ tướng Phan Huy Quát và Nghị sĩ Trần Trung Dung được Tòa đại sứ Pháp hứa sẽ bốc đi vào lúc 10 giờ sáng ngày 29. Nhưng vừa khi Tướng Dương Văn Minh ra nhận chức tổng thống lúc 5 giờ 30 chiều 28.4 thì giờ phi trường Tân Sơn Nhất bi. CS oanh tạc và chiến dịch HCM bắt đầu. Saigon lên cơn sốt mạnh . Manh ai nấy chạy thoát thân. Sáng 29.4, tân Tổng thống Minh gửi thư cho Đại sứ Martin yêu cầu quân Mĩ triệt thoái trong vòng 24 giờ. Yêu cầu này cũng được tân Thủ tướng Vũ Văn Mẫu tuyên bố công khai. Trong tình hình ấy, kế hoạch người Pháp hứa giúp ông Trần Chánh Thành và các bạn ông di tản bằng phi cơ không còn có thể thực hiện được. Cả ba ông bị kẹt ở lại. Nhất thời, ngày 30.4, các ông tạm lánh mặt tại nhà thương Grall của Pháp. 24 giờ sau, bệnh viện yêu cầu các ông ra khỏi nơi này.
Rời bệnh viện Grall, ông Trần Chánh Thành tạt vào một cao ốc trên đường Gia Long sát góc đường Tự Dọ Khoảng 4 giờ chiều ngày 02.5, nhà báo Mạc Kinh, người em thúc bá rất thân thiết với ông đến đón ông về nhà trên đường Duy Tân. Nhà ông lúc này chỉ còn lại mẹ ông, bà chị tên Nhơn và ba bốn người làm.
Suốt buổi chiều hôm ấy, anh em ông bộ trưởng đã trút hết nỗi niềm tâm sự lần cuối cùng với nhau. Sắp tới 7 giờ chiều là giờ giới nghiêm, khi chi tay với ông Mạc Kinh, ông bộ trưởng nói lời cuối cùng: ‘Chúng ta đều đã hiểu CS quá rõ. Với anh, chỉ có một lựa chọn cuối cùng. Anh phải tự xử lấy anh thôi…Em về đi. Giờ giới nghiêm đã tới rồi. Sáng sớm mai em lên với anh nhé!’
Ông Mạc kinh nghe lời nói đó mà ngỡ như lời trối trăng. Ông chỉ có thể van vỉ ông anh: ‘Dù thế nào chăng nữa, xin anh cũng đừng quyết định gì vội. Hãy cố chờ đến sáng mai anh em ta gặp lại nhaú.
Tuy nói như thế, nhưng thâm tâm ông MK vẫn không tin vào hiệu quả của lời mình nói. Linh tính đã báo cho ông biết rằng kể từ giây phút này, ông đã mất hẳn, mất vĩnh viễn ông Thành …
Hôm sau, khi trời vừa sáng, ông Mạc Kinh phóng xe lên nhà ông bộ trưởng..
Cho tới nay, duy nhất chỉ có nhà báo lão thành Đặng Văn Nhâm có thể thuật lại tỉ mỉ, sống động cái chết bi tráng của ông Bộ trưởng Trần Chánh Thành: ‘Vừa đặt chân vào phòng khách. Khác hẳn mọi khi, nơi đây bỗng trở nên vắng lặng như tờ, như không còn một hơi thở nào nữa. Không khí trong căn phòng này đã bao phủ một màu thê lương, ảm đạm. Bà Nhơn lẻ loi, đôi mắt đỏ hoe, đang ngồi thu mình nơi bực cầu thang, lối dẫn lên phòng ngủ của ông Thành . Bà Nhơn bảo ông MK:
“Em lên ngay đi. Thành an nghỉ rồi! Hồi hôm, Thành đã nói chuyện lâu với chị…dặn trao tập giấy màu vàng cho em đó… Thành nằm
ở phòng ngủ nhỏ lầu hai… Em ở bên Thành đi. Chị phải tới sứ quán Pháp ngay bây giờ để làm sẵn thủ tục. Chị sẽ quay về thật gấp…”
Lập tức ông MK phải lo giải quyết ngay một số việc cần kíp.
Trước hết, mời bà cụ thân mẫu của ông Thành đi theo bà Nhơn đến tạm trú tại nhà một thân nhân khác, và phải nói dối là cụ cứ đi trước, còn ông Thành sẽ được tòa đại sứ Pháp cho xe đến đón ra phi trường sau. Ông MK sợ bà cụ mà biết chuyện ông Thành tự tử thì sẽ lôi thôi to. Mọi việc lo cho ông Thành bây giờ phải thật kín đáo, không để lộ một chút tin tức hay nghi hoặc nào ra ngoài vòng ruột thịt. Mặt khác, ông MK dặn gia nhân hãy để cho ông Thành ngủ yên, đừng ai quấy rầy, không cần đem sửa sáng như thường lệ, vì đêm qua ông đã thức khuya…Sáng nay ông Thành cũng không muốn tiếp khách nữa!…
Khi còn lại chỉ có một mình trong ngôi nhà rộng thênh thang, ông MK mới đẩy nhẹ cửa phòng ngủ, tiếng máy lạnh vẫn sè sè nho nhỏ.
Ông Thành đang nằm đó, bất động như người đang ngủ mê. Nét mặt bình thản. Nhưng hai bên cánh mũi có hai vệt thuốc nhỏ màu nâu nhạt lẫn chút máu đỏ đọng lại, dài bằng hai đốt ngón tay. Ông MK ôm nhẹ mặt ông Thành, thấy vẫn còn ấm, ngực và chân tay vẫn hãy còn ấm. Ông thầm nghĩ chắc ông Thành chỉ mới vừa từ giã cõi đời thôi. Nhì trên mặc chiếc bàn ngủ, một hộp thuốc ngủ 50 viên chẳng còn sót một viên nào. Nơi bàn giấy góc phòng, mọi thứ đều ngăn nắp. Có một tập giấy 18 trang. Ông MK liếc thoáng qua, biết ngay là những lời trăn trối cuối cùng của ông Thành. Ông Thành lên tiếng tố cáo hiểm họa CSVN trước thế giới tự do, sau khi chúng đã cưỡng chiếm miền Nam. Ông Thành cũng tiên liệu để kêu gọi thế giới dân chủ , nhân đạo phải có trách nhiệm tinh thần ngăn chận bàn tay máu trả thù trút lên
mạng sống của toàn thể quân nhân và quần chúng miền Nam. Ngoài ra, ông Thành còn phác họa cho mọi người thấy trước thảm trạng
của miền Nam, đồng thời phơi bày âm mưu gây chiến tranh loạn lạc đối với các nước láng giềng trong bán đão Đông Dương và Thái Lan. Cuối cùng ông Thành minh xác, ông đã lấy cái chết để phản đối CSBV xâm chiếm miền Nam….
Bên cạnh tập giấy đó, ông Thành còn viết sẵn vài dòng chữ trên một tấm danh thiếp, nhằm gửi thẳng cho cơ quan an ninh, xác định cái chết của ông là do chính ông tự chọn, đừng gây phiền nhiễu cho ai hết!
Trong vòng một tiếng đồng hồ sau, bà Nhơn đã trở về. Lúc này, toàn thân ông ông Thành mới bắt đầu trở lạnh, lạnh ngắt.
Một mặt ông MK phải lo canh chừng đám gia nhân, vài người còn lại. Mặt khác bà Nhơn lo liên lạc báo tin cho vài người bà con trong thân tộc nội, ngoại (bên bà Thành). Nhưng không một ai lui tới. Dường như ai cũng lo ngại, muốn trốn tránh. Không khí thành phố Saigon lúc ấy căng thẳng đến tột độ. Ai cũng có chuyện để phải lo và để sợ. Một tiếng động mạnh cũng đủ làm cho người ta giật mình kinh hoảng, nhớn nhác…
Trong hoàn cảnh đó, một mình ông MK phải lo hết mọi việc rửa ráy thi hài và tẩn liệm cho ông Thành.
Lúc ấy, khoảng ba giờ chiều , bỗng gia nhân báo tin có ban Quân Quản đến khám nhà. Gồm ba cán bộ đeo súng ngắn bên hông, băng đỏ trên cánh tay, và một tên bộ đội mang tiểu liên đi theo hộ vệ. Trong trường hợp này, dù muốn dù không, ông MK vẫn phải ra mặt tiếp đón. Ngay câu đầu tiên bọn cán bô. CS đã nói thẳng, chúng đến tiếp thu ngôi nhà, và ra lệnh đưa chúng đi xét nhà.
Chúng đi thẳng một mạch lên lầu 4, rồi từ đó mới trở xuống, vào từng phòng một, quan sát soi mói và khám xét cẩn thận. Không bỏ sót một phòng nào. Vào đâu chúng cũng ngắm nhìn, để ý kiểm điểm từng ly từng tí, rồi xẵng giọng hạ lịnh: “Đồ đạc ở đâu để nguyên đấy. Cấm tuyệt không được di chuyển!”
Khi xuống đến lầu 2, nơi có phòng thi hài của ông Thành nằm đó, bỗng nhiên đầu óc ông MK trở nên căng thẳng tột độ.
Tinh thần ông bấn loạn. Nếu bọn cán bô. CS bất chợt thấy thi hài ông Thành đang nằm trơ trơ ở đó, ông sẽ trả lời như thế nào? Một điều chắc chắn nhất, không thể nào tránh được là bọn cán bô. CS sẽ hạch hỏi mọi người hiện diện trong nhà. Rồi thì mọi sự sẽ phải khai trình tỉ mĩ, từ tên tuổi, chức phận cũ, rồi đến nguyên nhân cái chết… Nhưng liệu bọn CS ác ôn này có cho phép chôn cất ngay không, hay sẽ đem thi hài đi mổ xẻ, khám nghiệm…?
Lại còn vấn đề sấp giấy ông Thành đã viết di ngôn tố cáo CSVN nữa chứ. Ông MK bối rối vô cùng, không biết sẽ phải ăn nói ra sao, và rồi những gì sẽ xảy ra cho bản thân ông ngay sau đó, ông không thể lường được.
Trong tình cảnh nguy nan đó, ông MK chỉ còn kịp nghĩ đến việc cầu nguyện vong hồn ông Thành, sống khôn, thác thiêng, xin ông phù hộ cho gia đình thoát qua được cơn hiểm nghèo nghiệt ngã này, để còn có cơ hội chôn cất di hài ông êm thắm!
Không ngờ một chuyện lạ của đời người đã xảy đến, chẳng khác nào như lời khấn vái của ông MK linh ứng , như linh hồn ông Thành hãy còn lẩn khuất đâu đó, để lôi chân bọn cán bô. CSBV đi qua căn phòng đó. Chúng vừa đi vừa chuyện trò với nhau, và vẫn ra lệnh mở từng cửa phòng, nhưng không còn vẻ tích cực soi mói như vài giây đồng hồ trước đó. Khi chúng đến trước cửa phòng ông Thành nằm, lồng ngực MK tưởng chừng sắp nổ tung. Nhưng chẳng khác nào như một phép lạ, chúng cứ thế đi luôn, không dừng lại, cho đến phòng cuối của từng lầu 2, rồi chúng đi luôn xuống dưới nhà…
Nơi đây, chúng dừng lại, ghi vội biên bản, coi như ngôi nhà này vô chủ. Chủ nhân đã bỏ đi ngoại quốc! Thì ra bọn cán bộ này cũng ngờ ngệch lắm.Trong đầu chúng đã bị nhồi chặt cứng một mớ lý thuyết Mác Xít, với những giáo điều rẻ tiền, đâu còn chỗ nào để chứa thêm một thứ hiểu biết gì khác! Nhưng chúng đặc biệt quan tâm đến mọi thứ đồ đạc vật chất trong nhà. Cuối cùng, trước khi ra đi, chúng ra lệnh: Mọi người trong nhà chỉ được phép quây quần ở tầng trệt, không được bén mảng lên lầu. Đồ đạc trong nhà không được tơ hào suy suyển.
Sau đó bà Nhơn và ông MK phân công mỗi người một việc cần kíp.. Bà Nhơn chạy vội ra phường khai tử cho ông Thành, với lý do bịnh tim. Còn ông MK phóng thẳng về nhà tìm giấy chủ quyền ngôi mộ của bà thân mẫu ở nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi [còn một tầng trên], đem trình ban Quân Quản Nghĩa Trang, để xin đóng dấu cho mai táng.
Đến lúc này xét ra cái chết của ông Thành chẳng còn gì cần phải che giấu nữa, nên gia nhân đều được biết hết. Tiếng khóc không còn bị đè nén ấm ức, nghẹn ngào nữa, mà được tự do vang lên, khiến các nhà hàng xóm không khỏi ngạc nhiên. Cách nhà ông Thành chừng hai, ba ngôi biệt thự là trụ sở của “Hội Trí Thức Yêu Nước” thành phố HCM của đám Ngô Bá Thành, ni sư Huỳnh Liên, Trương Đình Dzu, Trần Thúc Linh v.v…Vì thế nên tin ông Thành qua đời đã mau chóng đến tai những người trong hội ấy.
Ngày hôm sau, 2.5.1975, lèo tèo vài thân nhân đến viếng. Trong đám bạn bè, người ta chỉ thấy một mình ông Trần Trung Dung.
Ngày 4.5.75, khoảng vài mươi người đã đến tiễn đưa di thể ông Thành đến nơi an nghỉ cuối cùng. Không khí lo sợ, ngại ngùng lặng lẽ bao trùm hết cả vẻ “tử biệt sinh ly” của một đám tang’… (Đặng Văn Nhâm. Ls. Trần Chánh Thành Đã Coi Cái Chết Nhẹ Như Lông Hồng Để Phản Đối Hành Động Xâm Lăng Của CS Và Cảnh Giác Thế Giới Tự Dọ Daichung..com).
Ông Bộ trưởng Trần Chánh Thành đã chọn cho mình một cái chết can trường để bảo vệ sĩ khí và tiết tháo của một nhân vật chính trị, của một viên chức cao cấp từng mang trọng trách. Khi biết tình thế không còn có thể cứu vãn được, bản thân không mong thấy được thành quả tốt đẹp của lý tưởng đời mình nữa thì ông an nhiên, thanh thản ra đi, quyết không chịu để bị lọt vào tay Cộng quân.
Trên chính trường nước ta thời cận đại, một nhân tài, một nhân cách như ông Trần Chánh Thành, rõ ràng là không có nhiều.
Ôi cám cảnh thay! Anh hùng mạt lộ!
Khi tàn cuộc chiến, nước mất thành đổ, mới rõ mặt anh hùng, bất kể vị anh hùng ấy là võ hay là văn.
Bạch Diện Thư Sinh
Cuộc chiến đấu bảo vệ miền Nam tự do suốt 20 năm là cuộc chiến đấu chống CS của toàn dân, mà trọng trách giao vào tay quân, cán, chánh. Khi nước mất, thành đổ, nếu đã có những vị tướng tá quyết tự chọn lấy cái chết oai hùng để đền nợ nước thì đồng thời cũng ghi nhận có những viên chức bên phía chính quyền dám tuẫn tiết, không chịu để bị lọt vào tay bọn CS.
Trong số các vị ấy, nổi bật lên sáng chói là cái chết bi dũng của cựu Bộ trưởng Trần Chánh Thành. Ông đã an nhiên chọn lựa một cách chết trước quân thù, để gióng lên một lời tố cáo trước dư luận trong và ngoài nước về những hiểm họa sẽ giáng xuống dân tộc VN, một khi đất nước bị đảng CS nắm trọn quyền thống trị.
Nhân kỷ niệm ngày quốc hận 30 tháng Tư , chúng tôi xin đúc kết một số tài liệu để vẽ phác chân dung vị cựu Bộ trưởng này và cái chết lẫm liệt của ông như một nén hương tỏ lòng thành kính, ngưỡng mộ ông.
Những bước đầu tiên
Ông Bộ trưởng Trần Chánh Thành gốc miền Bắc, do cha tùng sự tại Huế cho nên ông học và tốt nghiệp Trung học tại đây; sau đó, trở ra Hà Nội học lấy Cử nhân Luật. Ông học rất giỏi, đã đậu đầu kỳ thi ngạch Tri huyện Tư pháp cho toàn cõi Bắc và Trung kỳ, rồi được cử làm Chưởng lý các tòa án Trung kỳ. Khi chính phủ Trần Trọng Kim ra đời, ông được bổ làm Chánh văn phòng Bộ Tư pháp cho Tổng trưởng Trịnh Đình Thảo. Không bao lâu sau, nổ ra cuộc ‘Cách Mạng Tháng Tám’ đưa HCM lên nắm chính quyền. Dưới bình phong mặt trận Việt Minh (tên tắt của Mặt trận VN Độc Lập Đồng Minh, ngày 19.5.1941), đảng CS đã thu hút được các thành phần ái quốc với khẩu hiệu đánh Pháp đuổi Nhật. Ông Trần Chánh Thành đã được mời ra Hà Nội trong thời kỳ này và được trọng dụng trong chức vu. Giám đốc Tư pháp Liên khu 3 (trong 3 năm), rồi Giám đốc Kinh tế Liên khu 3 (trong 2 năm sau đó). Song, cũng như trường hợp nhiều trí thức trẻ khác vào thời đó, sau khi đi theo Việt Minh tham gia kháng chiến một thời gian, ông Thành đã hiểu ra bộ mặt thật của Việt – Minh – Cộng – Sản cho nên ông khéo léo cáo bệnh từ chức, để trở về Diễn Châu, Nghệ An (Liên khu 4), trú tại nhà ông Cao Xuân Vỹ. Từ Nghệ An, cùng người em con ông chú là nhà báo Mạc Kinh, ông vượt biển ra vùng quốc gia. Sau vài tháng ở Hà Nội, ông vào Saigon làm nghề luật sư trong văn phòng của Luật sư Trương Đình Dụ
Vào tháng 10. 1952, ông Ngô Đình Nhu chủ trương tạp chí Xã Hội, anh em ông Trần Chánh Thành và Mạc Kinh đã cộng tác với tờ tạp chí và trở thành chỗ thân tình với ông Ngô Đình Nhụ Mối giao tình này đánh dấu một khúc rẽ quan trọng trong cuộc đời chính trị của ông.
Bậc lương đống của nền Cộng Hòa
Có thể nói ngay ông Trần Chánh Thành cùng với các ông Trần Trung Dung, Nguyễn Hữu Châu…là những bậc lương đống ‘khai quốc công thần’ của nền Đệ nhất Cộng hòa.
Trong bài báo nhan đề Ông Ngô Đình Diệm Lên Cầm Quyền Như Thế Nào (Thông Luận Số 191, ra ngày 04.4.2005), tác giả Nguyễn Gia
Kiểng chứng minh chính ông Ngô Đình Nhu đã bí mật đạo diễn một vở kịch chính trị lớn để đưa ông Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền chứ không phải là người Mĩ hay Vatican. Trong vở kịch này, ông Trần Chánh Thành được giao cho thủ một vai và ông đã đóng xuất sắc. Duyên do bắt đầu từ mối liên hệ thân tình giữa ông Ngô Đình Nhu với ông Trần Chánh Thành.
Tác giả Nguyễn Gia Kiểng thuật lại, vào tháng 11.2004, ông được ông Trần Minh Châm trao cho 2 bức thư viết tay bằng tiếng Pháp:
Một của ông Jacques Bénet, bạn của ông Trần Minh Châm, viết ngày 18.10.2004 gửi cho bà Ngô Đình Nhu và một của ông Ngô Đình Nhu
viết ngày 20.4.1955 gửi cho ông J. Bénet. Ông J. Bénet và ông Ngô Đình Nhu là bạn học rất thân khi còn tại trường Ecole des Chartes.
Trong thư gửi cho bà Ngô Đình Nhu, ông J. Bénet xác nhận 2 điểm quan trọng: một là ông (J. Bénet) có đóng vai môi giới trong việc
vận động các nhà lãnh đạo nước Pháp để đưa ông Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền; hai là ông ca ngợi ông Ngô Đình Nhu đã có một ý kiến ‘thiên tàí vì đã nắm bắt đúng vào lúc (3.1954) chính quyền Pháp đang lúng túng do viễn ảnh thất trận tại Điện Biên Phủ để mở chiến dịch thuyết phục họ (Thủ tướng Laniel – Ngoại trưởng Bidault – Reynaud) nên mau chóng đưa ông Ngô Đình Diệm lên cầm quyền. Để thực hiện sáng kiến này, ‘Ông Nhu đã cử bạn ông là ông Trần Chánh Thành sang Paris và nhờ ông Jacques Bénet giúp đỡ để tiếp xúc và thuyết phục chính quyền Pháp về đề nghị này. Ông Bénet đã làm được việc này nhờ một người bạn tên là Antoine Ahond quen thân nhiều
nhân vật quan trọng trong chính quyền Pháp, đặc biệt là các ông Germain Vidal, chánh văn phòng thủ tướng, ông Bourgenot, bộ trưởng
tại phủ thủ tướng, và ngoại trưởng Bidault. Mặt khác, chính ông Trần Chánh Thành cũng tỏ ra xuất sắc. Nhờ thế mà ông Diệm đã được chính quyền Pháp chấp nhận và ép buộc ông Bảo Đại phải chấp nhận.
Ông Trần Chánh Thành được giao nhiệm vụ vận động các yếu nhân trong chính quyền Pháp, tuy được khen là đã hoàn thành ‘xuất sắc’, nhưng có lẽ ông chỉ biết phần đầu của vở kịch chính trị lớn của ông Ngô Đình Nhụ Chính trong lá thư thứ hai của ông Ngô Đình Nhu viết gửi ông J. Bénet mới cho biết phần hai của vở kịch chính trị này.
Trong thư viết ngày 20.4.1954 gửi cho ông J.. Bénet, ông Ngô Đình Nhu yêu cầu ông Bénet giúp đỡ trong việc ‘vận động để chính quyền Pháp thực hiện khẩn cấp một kế hoạch đã được dự trù. Ông Nhu viết : “Phải vận động để những chỉ thị theo chiều hướng này, mà tao(NGK: họ quá thân nhau) chắc chắn là đã chuẩn bị sẵn, được khẩn cấp gửi sang Saigon”. Theo tác giả Nguyễn Gia Kiểng, “chiều hướng này” được hiểu là một loạt các việc cấp bách yêu cầu chính phu? Pháp làm ngay. Đó là giúp cho ông Ngô Đình Diệm nắm được quân đội quốc gia từ tay Tướng Tham mưu trưởng Nguyễn Văn Hinh, dẹp các giáo phái vũ trang và sau đó tiến tới tổng tuyển cử. Tất cả đã diễn ra thành công mau chóng, suông sẻ, khiến cho các nhà quan sát quốc tế lúc ấy phải lấy làm ngạc nhiên và đánh giá ông Ngô Đình Diệm như là một lãnh tụ đầy tiềm năng mới ở Á châu. Chưa hết, ông Ngô Đình Nhu chỉ khéo léo than phiền nhẹ nhàng là tướng Ely, Tổng tư lệnh quân đội Pháp tại VN, ‘ là một con người tiêu cực và thiếu quả quyết’, cũng đủ làm cho chính phu? Pháp triệu hồi tướng Ely trong thời gian chưa đầy hai tháng!
Do thành tích trước đây, lại là chỗ thân tình với ông cố vấn Ngô Đình Nhu, cho nên ông Trần Chánh Thành rất được Thủ tướng Ngô Đình Diệm tin dùng trong nhiều chức vụ quan trọng:
Bộ trưởng tại Phủ Thủ tướng 06.7.1954
Tổng trưởng Thông tin ngày 10.5.1955
Chủ tịch Phong trào Cách mạng Quốc gia, đã đề ra kế hoạch Tố Cộng (Nguyễn Trân. Hồi Ký Công Và Tội. Xuân Thu, 1992. Trang 176).
Khi kế hoạch được phát động, chính ông nắm vai trò Chỉ đạo Chiến dịch Tố Cộng Trung ương bao gồm liên bô. Thông tin, Tư pháp, Quốc phòng và Nội vụ. Chiến dịch này được phát động nhằm tiêu diệt các tổ chức cán bô. CS nằm vùng, đồng thời triệt hạ những lực lượng thực dân, phong kiến (bài phong, đã thực), trọng điểm là việc truất phế Quốc trưởng Bảo Đại.
Ngoài ra, ông còn là một Dân biểu Quốc hội và là một trong 14 vị thuộc Ủy ban soạn thảo Hiến Pháp.
Nhìn thoáng qua như thế đủ biết ông Bộ trưởng Trần Chánh Thành đã trở thành ngôi sao sáng vào thời khai mở nền Đệ nhất Cộng hòa.
Tuy nhiên có nghi vấn, đang khi ông được Sài gòn tin dùng thì, ngoài Huế, ông Ngô Đình Cẩn lại muốn tách ông Bộ trưởng Trần Chánh Thành và cả ông Cố vấn Ngô Đình Nhu (?) ra khỏi vòng quyền lực (Thomas L. Ahern Jr. Hai tài liệu của CIA về các tướng lãnh VN và gia đình ho. Ngộ Nguyễn Kỳ Phong lược dịch. Nam Úc Tuần Báo, Số 718 ra ngày 30.10.2009).
Thêm vào đó, nếu chiến dịch Tố Cộng triển khai thắng lợi lúc ban đầu, khiến cho khoảng 200 ngàn cán binh CS được cài lại ở miền Nam có nguy cơ bị tiêu diệt thì, tại các địa phương, phát sinh tệ nạn chụp mũ CS lên đầu những người từng có thành tích kháng chiến chống thực dân Pháp. Mà theo ông Nguyễn Trân, ‘…không phân biệt kháng chiến với CS là đi ngược lại lòng dân (Nguyễn Trân. Hồi ký Công Và Tội. Sd. Trang 177).
Những lực đối kháng này một khi đã nuôi ý đồ, sẽ dễ dàng tạo ra được một mối nghi ngờ trong dư luận về lòng trung thành với phe quốc gia của ông Bộ trưởng Trần Chánh Thành, căn cứ vào việc ông đã nắm giữ những vị trí tư pháp quan trọng ở Liên khu 3, thời Việt Minh. Tuy nhiên Tổng thống Ngô Đình Diệm vẫn tiếp tục tin tưởng ông cho tới cuối tháng 10 năm 1960. Đó là thời điểm xẩy ra việc 4 ông bộ trưởng đồng loạt từ chức; gồm có các ông Trần Chánh Thành (Bộ Thông tin), Trần Trung Dung (Bộ Quốc phòng), Lâm Lễ Trinh (Bộ Nội vụ) và Nguyễn Văn Sĩ (Bộ Tư pháp). Có dư luận cho là vì các ông bất đồng về sự lạm quyền của đảng Cần Lao? Chỉ 2 tuần sau đó, ngày 11.11.1960, nổ ra cuộc phản loạn của Nguyễn Chánh Thi – Vương Văn Đông.
Năm 1962, Tổng thống cử ông Trần Chánh Thành đi làm đại sứ tại Tunisie (ở Bắc Phi châu).
Ngày 01.11.1963, Tướng Dương Văn Minh cầm đầu cuộc đảo chánh thành công, chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ đã giao công tác cho ông
Trần Chánh Thành đi Nam Vang tiếp xúc thiện chí với Quốc vương Shianouk (18..12.1963).
Trong những năm chính trường miền Nam hết sức rối ren sau đó, ông Trần Chánh Thành rút lui vào bóng tối sống ẩn dật.
Khi nền Đệ nhi. Cộng hòa được thành lập, ngày 01.4.1967, một bản Hiến pháp mới được ban hành đưa đất nước trở lại trật tự, quy củ. Rồi ngày 03.9.1967, diễn ra cuộc bầu cử tổng thống và quốc hội. Ông Trần Chánh Thành ra ứng cử trong liên danh Đoàn Kết Để Tiến Bộ, dấu hiệu con voi trắng (Bạch Tượng) đứng chung với các ông Trần Văn Lắm (thụ ủy liên danh), Trần Trung Dung, Đào Đăng Vỹ, Bà Phan Nguyệt Minh (Nguyễn Văn Thơ), Nguyễn Văn Chức, Nguyễn Phượng Yêm, Phạm Như Phiên, Đoàn Văn Cừu, Trần Ngọc Oành. Liên danh ‘Bạch Tượng’ đã đắc cử với 550,157 phiếu (Nguyễn Văn Chức. VN Chính Sử. Tiền Phong, 1989. Trang 163).
Sau trận đánh Tết Mậu Thân 1968, ngày 28.5.1968, Cụ Trần Văn Hương lại được mời thành lập chính phủ mới thay cho chính phủ của Ls. Nguyễn Văn Lộc. Đây là thời điểm cuộc hòa đàm Paris khởi sự, sắp bước sang giai đoạn công khai, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã tín nhiệm Nghị sĩ Trần Chánh Thành vào chức vụ Tổng trưởng ngoại giao. Đây là chức vụ cao cấp cuối cùng trong sự nghiệp chính trị của ông. Sau khi Tướng Trần Thiện Khiêm trình diện nội các mới vào ngày 01.9.1969, chức vụ tổng trưởng ngoại giao được chuyển sang cho Nghị sĩ Trần Văn Lắm, cũng thuộc Liên danh Bạch Tượng. Ông Trần Chánh Thành trở về giảng dậy môn báo chí tại Trường Luật cho tới ngày ‘trời sâ.p’ 30.4.1975.
Những dòng lược thuật trên đây cho thấy ông Trần Chánh Thành là nhân vật hiếm hoi được lãnh đạo tin dùng ở những vị trí cao cấp và rất quan trọng trong cả 3 giai đoạn chính trị của đất nước: thời toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp, thời Đệ nhất Cộng hoà và thời Đệ nhi. Cộng hòa. Điều đó chứng tỏ ông là một người có thực tài, tận tụy phục vụ. Đặc biệt là ông đặt lợi ích và lí tưởng quốc gia lên trên quyền lợi cá nhân: khi biết rõ đảng CS nắm trọn quyền lèo lái mặt trận Việt Minh, ông từ chức và tìm cách đào thoát; đang khi được TT
Ngô Đình Diệm trọng dụng, ông sẵn sàng từ chức bộ trưởng để phản đối phe cánh Cần Lao lạm quyền; và khi nền Đệ nhị Cộng hòa thành lập, ông gạt bỏ mặc cảm là người của ‘chế độ cú, chấp nhận trọng trách được giao phó. Cuối cùng, theo gương các bậc tiền bối xưa, hết ‘làm quan’ ông vui vẻ về làm thầy truyền thụ sở học qúy báu cho môn sinh.
Chọn lựa một cách chết lẫm liệt
Từ khi chiến dịch Tây nguyên do Cộng quân mở ra đầu tháng 3.1975 cho tới ‘ngày sập trờí 30.4.75 vỏn vẹn chỉ có 55 ngày đêm. VNCH
đang đi những bước thụt lùi vội vã, tất tưởi cuối cùng tới bờ vực thẳm. Đương nhiên ông Trần Chánh Thành phải là người tiên đoán được tình hình bi đát và tuyệt vọng ấy và ông đã gửi vợ con đi Pháp trước. Theo nhà báo Đặng Văn Nhâm, ông và ai bạn thân là cựu Thủ tướng Phan Huy Quát và Nghị sĩ Trần Trung Dung được Tòa đại sứ Pháp hứa sẽ bốc đi vào lúc 10 giờ sáng ngày 29. Nhưng vừa khi Tướng Dương Văn Minh ra nhận chức tổng thống lúc 5 giờ 30 chiều 28.4 thì giờ phi trường Tân Sơn Nhất bi. CS oanh tạc và chiến dịch HCM bắt đầu. Saigon lên cơn sốt mạnh . Manh ai nấy chạy thoát thân. Sáng 29.4, tân Tổng thống Minh gửi thư cho Đại sứ Martin yêu cầu quân Mĩ triệt thoái trong vòng 24 giờ. Yêu cầu này cũng được tân Thủ tướng Vũ Văn Mẫu tuyên bố công khai. Trong tình hình ấy, kế hoạch người Pháp hứa giúp ông Trần Chánh Thành và các bạn ông di tản bằng phi cơ không còn có thể thực hiện được. Cả ba ông bị kẹt ở lại. Nhất thời, ngày 30.4, các ông tạm lánh mặt tại nhà thương Grall của Pháp. 24 giờ sau, bệnh viện yêu cầu các ông ra khỏi nơi này.
Rời bệnh viện Grall, ông Trần Chánh Thành tạt vào một cao ốc trên đường Gia Long sát góc đường Tự Dọ Khoảng 4 giờ chiều ngày 02.5, nhà báo Mạc Kinh, người em thúc bá rất thân thiết với ông đến đón ông về nhà trên đường Duy Tân. Nhà ông lúc này chỉ còn lại mẹ ông, bà chị tên Nhơn và ba bốn người làm.
Suốt buổi chiều hôm ấy, anh em ông bộ trưởng đã trút hết nỗi niềm tâm sự lần cuối cùng với nhau. Sắp tới 7 giờ chiều là giờ giới nghiêm, khi chi tay với ông Mạc Kinh, ông bộ trưởng nói lời cuối cùng: ‘Chúng ta đều đã hiểu CS quá rõ. Với anh, chỉ có một lựa chọn cuối cùng. Anh phải tự xử lấy anh thôi…Em về đi. Giờ giới nghiêm đã tới rồi. Sáng sớm mai em lên với anh nhé!’
Ông Mạc kinh nghe lời nói đó mà ngỡ như lời trối trăng. Ông chỉ có thể van vỉ ông anh: ‘Dù thế nào chăng nữa, xin anh cũng đừng quyết định gì vội. Hãy cố chờ đến sáng mai anh em ta gặp lại nhaú.
Tuy nói như thế, nhưng thâm tâm ông MK vẫn không tin vào hiệu quả của lời mình nói. Linh tính đã báo cho ông biết rằng kể từ giây phút này, ông đã mất hẳn, mất vĩnh viễn ông Thành …
Hôm sau, khi trời vừa sáng, ông Mạc Kinh phóng xe lên nhà ông bộ trưởng..
Cho tới nay, duy nhất chỉ có nhà báo lão thành Đặng Văn Nhâm có thể thuật lại tỉ mỉ, sống động cái chết bi tráng của ông Bộ trưởng Trần Chánh Thành: ‘Vừa đặt chân vào phòng khách. Khác hẳn mọi khi, nơi đây bỗng trở nên vắng lặng như tờ, như không còn một hơi thở nào nữa. Không khí trong căn phòng này đã bao phủ một màu thê lương, ảm đạm. Bà Nhơn lẻ loi, đôi mắt đỏ hoe, đang ngồi thu mình nơi bực cầu thang, lối dẫn lên phòng ngủ của ông Thành . Bà Nhơn bảo ông MK:
“Em lên ngay đi. Thành an nghỉ rồi! Hồi hôm, Thành đã nói chuyện lâu với chị…dặn trao tập giấy màu vàng cho em đó… Thành nằm
ở phòng ngủ nhỏ lầu hai… Em ở bên Thành đi. Chị phải tới sứ quán Pháp ngay bây giờ để làm sẵn thủ tục. Chị sẽ quay về thật gấp…”
Lập tức ông MK phải lo giải quyết ngay một số việc cần kíp.
Trước hết, mời bà cụ thân mẫu của ông Thành đi theo bà Nhơn đến tạm trú tại nhà một thân nhân khác, và phải nói dối là cụ cứ đi trước, còn ông Thành sẽ được tòa đại sứ Pháp cho xe đến đón ra phi trường sau. Ông MK sợ bà cụ mà biết chuyện ông Thành tự tử thì sẽ lôi thôi to. Mọi việc lo cho ông Thành bây giờ phải thật kín đáo, không để lộ một chút tin tức hay nghi hoặc nào ra ngoài vòng ruột thịt. Mặt khác, ông MK dặn gia nhân hãy để cho ông Thành ngủ yên, đừng ai quấy rầy, không cần đem sửa sáng như thường lệ, vì đêm qua ông đã thức khuya…Sáng nay ông Thành cũng không muốn tiếp khách nữa!…
Khi còn lại chỉ có một mình trong ngôi nhà rộng thênh thang, ông MK mới đẩy nhẹ cửa phòng ngủ, tiếng máy lạnh vẫn sè sè nho nhỏ.
Ông Thành đang nằm đó, bất động như người đang ngủ mê. Nét mặt bình thản. Nhưng hai bên cánh mũi có hai vệt thuốc nhỏ màu nâu nhạt lẫn chút máu đỏ đọng lại, dài bằng hai đốt ngón tay. Ông MK ôm nhẹ mặt ông Thành, thấy vẫn còn ấm, ngực và chân tay vẫn hãy còn ấm. Ông thầm nghĩ chắc ông Thành chỉ mới vừa từ giã cõi đời thôi. Nhì trên mặc chiếc bàn ngủ, một hộp thuốc ngủ 50 viên chẳng còn sót một viên nào. Nơi bàn giấy góc phòng, mọi thứ đều ngăn nắp. Có một tập giấy 18 trang. Ông MK liếc thoáng qua, biết ngay là những lời trăn trối cuối cùng của ông Thành. Ông Thành lên tiếng tố cáo hiểm họa CSVN trước thế giới tự do, sau khi chúng đã cưỡng chiếm miền Nam. Ông Thành cũng tiên liệu để kêu gọi thế giới dân chủ , nhân đạo phải có trách nhiệm tinh thần ngăn chận bàn tay máu trả thù trút lên
mạng sống của toàn thể quân nhân và quần chúng miền Nam. Ngoài ra, ông Thành còn phác họa cho mọi người thấy trước thảm trạng
của miền Nam, đồng thời phơi bày âm mưu gây chiến tranh loạn lạc đối với các nước láng giềng trong bán đão Đông Dương và Thái Lan. Cuối cùng ông Thành minh xác, ông đã lấy cái chết để phản đối CSBV xâm chiếm miền Nam….
Bên cạnh tập giấy đó, ông Thành còn viết sẵn vài dòng chữ trên một tấm danh thiếp, nhằm gửi thẳng cho cơ quan an ninh, xác định cái chết của ông là do chính ông tự chọn, đừng gây phiền nhiễu cho ai hết!
Trong vòng một tiếng đồng hồ sau, bà Nhơn đã trở về. Lúc này, toàn thân ông ông Thành mới bắt đầu trở lạnh, lạnh ngắt.
Một mặt ông MK phải lo canh chừng đám gia nhân, vài người còn lại. Mặt khác bà Nhơn lo liên lạc báo tin cho vài người bà con trong thân tộc nội, ngoại (bên bà Thành). Nhưng không một ai lui tới. Dường như ai cũng lo ngại, muốn trốn tránh. Không khí thành phố Saigon lúc ấy căng thẳng đến tột độ. Ai cũng có chuyện để phải lo và để sợ. Một tiếng động mạnh cũng đủ làm cho người ta giật mình kinh hoảng, nhớn nhác…
Trong hoàn cảnh đó, một mình ông MK phải lo hết mọi việc rửa ráy thi hài và tẩn liệm cho ông Thành.
Lúc ấy, khoảng ba giờ chiều , bỗng gia nhân báo tin có ban Quân Quản đến khám nhà. Gồm ba cán bộ đeo súng ngắn bên hông, băng đỏ trên cánh tay, và một tên bộ đội mang tiểu liên đi theo hộ vệ. Trong trường hợp này, dù muốn dù không, ông MK vẫn phải ra mặt tiếp đón. Ngay câu đầu tiên bọn cán bô. CS đã nói thẳng, chúng đến tiếp thu ngôi nhà, và ra lệnh đưa chúng đi xét nhà.
Chúng đi thẳng một mạch lên lầu 4, rồi từ đó mới trở xuống, vào từng phòng một, quan sát soi mói và khám xét cẩn thận. Không bỏ sót một phòng nào. Vào đâu chúng cũng ngắm nhìn, để ý kiểm điểm từng ly từng tí, rồi xẵng giọng hạ lịnh: “Đồ đạc ở đâu để nguyên đấy. Cấm tuyệt không được di chuyển!”
Khi xuống đến lầu 2, nơi có phòng thi hài của ông Thành nằm đó, bỗng nhiên đầu óc ông MK trở nên căng thẳng tột độ.
Tinh thần ông bấn loạn. Nếu bọn cán bô. CS bất chợt thấy thi hài ông Thành đang nằm trơ trơ ở đó, ông sẽ trả lời như thế nào? Một điều chắc chắn nhất, không thể nào tránh được là bọn cán bô. CS sẽ hạch hỏi mọi người hiện diện trong nhà. Rồi thì mọi sự sẽ phải khai trình tỉ mĩ, từ tên tuổi, chức phận cũ, rồi đến nguyên nhân cái chết… Nhưng liệu bọn CS ác ôn này có cho phép chôn cất ngay không, hay sẽ đem thi hài đi mổ xẻ, khám nghiệm…?
Lại còn vấn đề sấp giấy ông Thành đã viết di ngôn tố cáo CSVN nữa chứ. Ông MK bối rối vô cùng, không biết sẽ phải ăn nói ra sao, và rồi những gì sẽ xảy ra cho bản thân ông ngay sau đó, ông không thể lường được.
Trong tình cảnh nguy nan đó, ông MK chỉ còn kịp nghĩ đến việc cầu nguyện vong hồn ông Thành, sống khôn, thác thiêng, xin ông phù hộ cho gia đình thoát qua được cơn hiểm nghèo nghiệt ngã này, để còn có cơ hội chôn cất di hài ông êm thắm!
Không ngờ một chuyện lạ của đời người đã xảy đến, chẳng khác nào như lời khấn vái của ông MK linh ứng , như linh hồn ông Thành hãy còn lẩn khuất đâu đó, để lôi chân bọn cán bô. CSBV đi qua căn phòng đó. Chúng vừa đi vừa chuyện trò với nhau, và vẫn ra lệnh mở từng cửa phòng, nhưng không còn vẻ tích cực soi mói như vài giây đồng hồ trước đó. Khi chúng đến trước cửa phòng ông Thành nằm, lồng ngực MK tưởng chừng sắp nổ tung. Nhưng chẳng khác nào như một phép lạ, chúng cứ thế đi luôn, không dừng lại, cho đến phòng cuối của từng lầu 2, rồi chúng đi luôn xuống dưới nhà…
Nơi đây, chúng dừng lại, ghi vội biên bản, coi như ngôi nhà này vô chủ. Chủ nhân đã bỏ đi ngoại quốc! Thì ra bọn cán bộ này cũng ngờ ngệch lắm.Trong đầu chúng đã bị nhồi chặt cứng một mớ lý thuyết Mác Xít, với những giáo điều rẻ tiền, đâu còn chỗ nào để chứa thêm một thứ hiểu biết gì khác! Nhưng chúng đặc biệt quan tâm đến mọi thứ đồ đạc vật chất trong nhà. Cuối cùng, trước khi ra đi, chúng ra lệnh: Mọi người trong nhà chỉ được phép quây quần ở tầng trệt, không được bén mảng lên lầu. Đồ đạc trong nhà không được tơ hào suy suyển.
Sau đó bà Nhơn và ông MK phân công mỗi người một việc cần kíp.. Bà Nhơn chạy vội ra phường khai tử cho ông Thành, với lý do bịnh tim. Còn ông MK phóng thẳng về nhà tìm giấy chủ quyền ngôi mộ của bà thân mẫu ở nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi [còn một tầng trên], đem trình ban Quân Quản Nghĩa Trang, để xin đóng dấu cho mai táng.
Đến lúc này xét ra cái chết của ông Thành chẳng còn gì cần phải che giấu nữa, nên gia nhân đều được biết hết. Tiếng khóc không còn bị đè nén ấm ức, nghẹn ngào nữa, mà được tự do vang lên, khiến các nhà hàng xóm không khỏi ngạc nhiên. Cách nhà ông Thành chừng hai, ba ngôi biệt thự là trụ sở của “Hội Trí Thức Yêu Nước” thành phố HCM của đám Ngô Bá Thành, ni sư Huỳnh Liên, Trương Đình Dzu, Trần Thúc Linh v.v…Vì thế nên tin ông Thành qua đời đã mau chóng đến tai những người trong hội ấy.
Ngày hôm sau, 2.5.1975, lèo tèo vài thân nhân đến viếng. Trong đám bạn bè, người ta chỉ thấy một mình ông Trần Trung Dung.
Ngày 4.5.75, khoảng vài mươi người đã đến tiễn đưa di thể ông Thành đến nơi an nghỉ cuối cùng. Không khí lo sợ, ngại ngùng lặng lẽ bao trùm hết cả vẻ “tử biệt sinh ly” của một đám tang’… (Đặng Văn Nhâm. Ls. Trần Chánh Thành Đã Coi Cái Chết Nhẹ Như Lông Hồng Để Phản Đối Hành Động Xâm Lăng Của CS Và Cảnh Giác Thế Giới Tự Dọ Daichung..com).
Ông Bộ trưởng Trần Chánh Thành đã chọn cho mình một cái chết can trường để bảo vệ sĩ khí và tiết tháo của một nhân vật chính trị, của một viên chức cao cấp từng mang trọng trách. Khi biết tình thế không còn có thể cứu vãn được, bản thân không mong thấy được thành quả tốt đẹp của lý tưởng đời mình nữa thì ông an nhiên, thanh thản ra đi, quyết không chịu để bị lọt vào tay Cộng quân.
Trên chính trường nước ta thời cận đại, một nhân tài, một nhân cách như ông Trần Chánh Thành, rõ ràng là không có nhiều.
Ôi cám cảnh thay! Anh hùng mạt lộ!
Khi tàn cuộc chiến, nước mất thành đổ, mới rõ mặt anh hùng, bất kể vị anh hùng ấy là võ hay là văn.
Bạch Diện Thư Sinh
Đại Tá Lê Đình Luân Đơn Vị 101
Sinh tháng 3 năm 1931 tại Thừa Thiên
- Nhập ngũ ngày 1-11-1949
- Xuất thân trường sĩ quan Thủ Đức Khóa 2
- Chỉ Huy Trưởng Tình Báo 101
Ngày 30-4-1975, ngay chính Chỉ Huy Trưởng Đơn Vị 101, Đại Tá Lê Đình Luân, và Chỉ Huy Phó Đơn Vị 101, Trung Tá Trương Văn Tỷ, cũng tuẫn tiết bằng độc dược nhưng được cứu sống. Cựu Đại Tá Lê Đình Luân đến dự hội ngộ ngồi cạnh cựu Thiếu Tá Võ Thành Tường (Los Angeles), người kịp thời ngăn cản cứu sống ông ngày xưa. “Bấy giờ vùng trời Sài Gòn Chợ Lớn trở nên âm u, ảm đạm và đổ trận mưa xuân 1975 cách biệt vào sáng sớm. Mọi người tại Bộ Chỉ Huy Đơn Vị 101 hốt hoảng ngược xuôi và đầy lệ với một số sĩ quan quặn đau, ói mửa vì ngấm độc dược tự tử do Ban Y Tá Đơn Vị 101 phân phát sau 10 giờ sáng ngày 30-4-1975. Lá Quốc Kỳ nền vàng, ba giòng huyết quản Nam Trung Bắc bị ướt rũ rượi, cuốn chặt trên đỉnh cột cờ tại sân chào cờ của Bộ Chỉ Huy Đơn Vị 101 vào mỗi buổi sáng Thứ Hai không chịu bay theo chiều gió sầu từ phương Bắc vào” (“Những Ngày Cuối Cùng”-Nội San 22 Hội Ái Hữu Đơn Vị 101).
* Tiểu Sử Đơn Vị 101 (nguồn gốc của Biệt Đoàn Sưu Tập)
Thành lập: Sau khi Nha Tổng Nghiên Huấn (cơ quan phản gián Bộ Quốc Phòng) giải tán vào năm 1956, Sở Liên Lạc thay thế trực thuộc Phủ Tổng Thống do Đại Úy Lê Quang Trung chỉ huy. Đến tháng 8-1960, một cơ quan tình báo đặc biệt được thành lập mang tên Biệt Đội Sưu Tập (BĐST) trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH do Đại Úy Nguyễn Văn Trọng chỉ huy. Bộ chỉ huy BĐST tạm thời đặt tại Trường Quân Báo Cây Mai, sau lần lượt dời về đường Mặc Thiên Tích, đường Nguyễn Tri Phương cạnh Trung Tâm Quân Báo, cuối cùng đối diện Trung Tâm Quân Báo gồm có cơ sở toán thông dịch cố vấn, một trại gia binh và phòng huấn luyện võ Teakwondo.
Nhiệm vụ: Cơ quan tự trị yểm trợ nhân viên tài chánh, huấn luyện với nhiệm vụ sưu tầm tin tức chiến lược và chiến thuật trong quần chúng tại chiến trường tại các quốc gia lân bang Lào, Kampuchea, Hồng Kông; trinh sát, khám phá các mục tiêu mới trong vùng địch, phối kiểm các tin tức do mật báo viên tại hậu tuyến địch cung cấp và toán dù xâm nhập chuyển về.
Huấn luyện: Đầu năm 1961, Hoa Kỳ phối hợp với BĐST bắt đầu huấn luyện ngành sưu tập tin tức chiến trường Field Operation Intelligence (FOI) tại Quân Báo Cây Mai do các huấn luyện viên Hoa Kỳ giảng dạy trực tiếp bằng tiếng Việt. Mỗi khóa 2 tháng. Khóa 1 gồm 16 sĩ quan, khóa 2 gồm 25 sĩ quan. Các khóa kế tiếp về sau được gởi đi du học tại Okinawa, Nhật Bản, trường FOI USARPACINT, do toán thông dịch BĐST hướng dẫn. Hàng hạ sĩ quan, binh sĩ, mật báo viên và một số sĩ quan trưởng lưới được huấn luyện bổ túc kỹ thuật tại Căn Cứ 49 tại Núi Nhỏ Vũng Tàu.
Tổ chức: Hệ thống chỉ huy điều hành BĐST từ trung ương đến địa phương có chỉ huy trưởng cấp đại tá ở Bộ Chỉ Huy bên cạnh Phòng 2 Bộ Tổng Tham Mưu; trưởng đoàn sưu tập cấp trung tá bên cạnh mỗi vùng chiến thuật gồm các đoàn 60, đoàn 65, đoàn 66, đoàn 67, đoàn 68, đoàn 69; trưởng đoàn sưu tập cấp thiếu tá bên cạnh mỗi tỉnh, thị trấn, tại các quốc gia lân bang, trưởng toán dù xâm nhập, trưởng Căn Cứ 49/ BĐST huấn luyện; trưởng lưới sưu tập cấp đại úy bên cạnh mỗi quận, vùng hậu tuyến địch.
Chỉ huy: Đệ I Cộng Hòa bị đảo chánh, Đại Úy Trọng ra đi năm 1963, Đại Úy Triệu tạm quyền. Thiếu Tá Lung và Thiếu Tá Lời tạm thời thay nhau chỉ huy BĐST. Thiếu Tá Lời bàn giao BĐST cho Thiếu Tá Kiệt và BĐST đổi tên thành Biệt Đoàn 300, trực thuộc Phủ Tổng Thống thay vì Phòng 2 Bộ Tổng Tham Mưu. Sau cuộc chỉnh lý, Thiếu Tá Kiệt ra đi năm 1965, Đại Tá Nhơn thay thế và đổi tên Biệt Đoàn 300 thành Liên Đoàn Yểm Trợ 924, lại trực thuộc Phòng 2 Bộ Tổng Tham Mưu, không còn trực thuộc Phủ Tổng Thống. Đầu năm 1972, Đại Tá Nhơn sau khi học khóa Cao Đẳng Quốc Phòng, đi làm phụ tá đặc trách AN/TB cho Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, đã soạn thảo kế hoạch hành quân tái chiếm Quảng Trị. Liêm Đoàn Yểm Trợ 924 một lần nữa đổi tên thành Đơn Vị 101. Trung Tá Luân (sau lên Đại Tá) từ Đoàn 65 về làm Chỉ Huy Trưởng từ tháng 8-1970 cho đến ngày 30-4-1975.
Nhân viên: Tất cả sĩ quan và hạ sĩ quan được tuyển chọn về BĐST là căn cứ vào hồ sưu tra lý lịch tại quân trường hoặc sở an ninh liên hệ và phải có bằng FOI mới chính thức hoạt động. Đa số được phân phối về địa phương cư ngụ để hoạt động trong quần chúng. Tại vùng hậu tuyến địch phải cải trang và bảo mật tối đa. Tại các quốc gia lân bang phải thạo ngôn ngữ và tập quán của quốc gia liên hệ. Toán Dù xâm nhập phải có thêm bằng nhảy dù và xung phong tình nguyện.
- Nhập ngũ ngày 1-11-1949
- Xuất thân trường sĩ quan Thủ Đức Khóa 2
- Chỉ Huy Trưởng Tình Báo 101
Ngày 30-4-1975, ngay chính Chỉ Huy Trưởng Đơn Vị 101, Đại Tá Lê Đình Luân, và Chỉ Huy Phó Đơn Vị 101, Trung Tá Trương Văn Tỷ, cũng tuẫn tiết bằng độc dược nhưng được cứu sống. Cựu Đại Tá Lê Đình Luân đến dự hội ngộ ngồi cạnh cựu Thiếu Tá Võ Thành Tường (Los Angeles), người kịp thời ngăn cản cứu sống ông ngày xưa. “Bấy giờ vùng trời Sài Gòn Chợ Lớn trở nên âm u, ảm đạm và đổ trận mưa xuân 1975 cách biệt vào sáng sớm. Mọi người tại Bộ Chỉ Huy Đơn Vị 101 hốt hoảng ngược xuôi và đầy lệ với một số sĩ quan quặn đau, ói mửa vì ngấm độc dược tự tử do Ban Y Tá Đơn Vị 101 phân phát sau 10 giờ sáng ngày 30-4-1975. Lá Quốc Kỳ nền vàng, ba giòng huyết quản Nam Trung Bắc bị ướt rũ rượi, cuốn chặt trên đỉnh cột cờ tại sân chào cờ của Bộ Chỉ Huy Đơn Vị 101 vào mỗi buổi sáng Thứ Hai không chịu bay theo chiều gió sầu từ phương Bắc vào” (“Những Ngày Cuối Cùng”-Nội San 22 Hội Ái Hữu Đơn Vị 101).
* Tiểu Sử Đơn Vị 101 (nguồn gốc của Biệt Đoàn Sưu Tập)
Thành lập: Sau khi Nha Tổng Nghiên Huấn (cơ quan phản gián Bộ Quốc Phòng) giải tán vào năm 1956, Sở Liên Lạc thay thế trực thuộc Phủ Tổng Thống do Đại Úy Lê Quang Trung chỉ huy. Đến tháng 8-1960, một cơ quan tình báo đặc biệt được thành lập mang tên Biệt Đội Sưu Tập (BĐST) trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH do Đại Úy Nguyễn Văn Trọng chỉ huy. Bộ chỉ huy BĐST tạm thời đặt tại Trường Quân Báo Cây Mai, sau lần lượt dời về đường Mặc Thiên Tích, đường Nguyễn Tri Phương cạnh Trung Tâm Quân Báo, cuối cùng đối diện Trung Tâm Quân Báo gồm có cơ sở toán thông dịch cố vấn, một trại gia binh và phòng huấn luyện võ Teakwondo.
Nhiệm vụ: Cơ quan tự trị yểm trợ nhân viên tài chánh, huấn luyện với nhiệm vụ sưu tầm tin tức chiến lược và chiến thuật trong quần chúng tại chiến trường tại các quốc gia lân bang Lào, Kampuchea, Hồng Kông; trinh sát, khám phá các mục tiêu mới trong vùng địch, phối kiểm các tin tức do mật báo viên tại hậu tuyến địch cung cấp và toán dù xâm nhập chuyển về.
Huấn luyện: Đầu năm 1961, Hoa Kỳ phối hợp với BĐST bắt đầu huấn luyện ngành sưu tập tin tức chiến trường Field Operation Intelligence (FOI) tại Quân Báo Cây Mai do các huấn luyện viên Hoa Kỳ giảng dạy trực tiếp bằng tiếng Việt. Mỗi khóa 2 tháng. Khóa 1 gồm 16 sĩ quan, khóa 2 gồm 25 sĩ quan. Các khóa kế tiếp về sau được gởi đi du học tại Okinawa, Nhật Bản, trường FOI USARPACINT, do toán thông dịch BĐST hướng dẫn. Hàng hạ sĩ quan, binh sĩ, mật báo viên và một số sĩ quan trưởng lưới được huấn luyện bổ túc kỹ thuật tại Căn Cứ 49 tại Núi Nhỏ Vũng Tàu.
Tổ chức: Hệ thống chỉ huy điều hành BĐST từ trung ương đến địa phương có chỉ huy trưởng cấp đại tá ở Bộ Chỉ Huy bên cạnh Phòng 2 Bộ Tổng Tham Mưu; trưởng đoàn sưu tập cấp trung tá bên cạnh mỗi vùng chiến thuật gồm các đoàn 60, đoàn 65, đoàn 66, đoàn 67, đoàn 68, đoàn 69; trưởng đoàn sưu tập cấp thiếu tá bên cạnh mỗi tỉnh, thị trấn, tại các quốc gia lân bang, trưởng toán dù xâm nhập, trưởng Căn Cứ 49/ BĐST huấn luyện; trưởng lưới sưu tập cấp đại úy bên cạnh mỗi quận, vùng hậu tuyến địch.
Chỉ huy: Đệ I Cộng Hòa bị đảo chánh, Đại Úy Trọng ra đi năm 1963, Đại Úy Triệu tạm quyền. Thiếu Tá Lung và Thiếu Tá Lời tạm thời thay nhau chỉ huy BĐST. Thiếu Tá Lời bàn giao BĐST cho Thiếu Tá Kiệt và BĐST đổi tên thành Biệt Đoàn 300, trực thuộc Phủ Tổng Thống thay vì Phòng 2 Bộ Tổng Tham Mưu. Sau cuộc chỉnh lý, Thiếu Tá Kiệt ra đi năm 1965, Đại Tá Nhơn thay thế và đổi tên Biệt Đoàn 300 thành Liên Đoàn Yểm Trợ 924, lại trực thuộc Phòng 2 Bộ Tổng Tham Mưu, không còn trực thuộc Phủ Tổng Thống. Đầu năm 1972, Đại Tá Nhơn sau khi học khóa Cao Đẳng Quốc Phòng, đi làm phụ tá đặc trách AN/TB cho Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, đã soạn thảo kế hoạch hành quân tái chiếm Quảng Trị. Liêm Đoàn Yểm Trợ 924 một lần nữa đổi tên thành Đơn Vị 101. Trung Tá Luân (sau lên Đại Tá) từ Đoàn 65 về làm Chỉ Huy Trưởng từ tháng 8-1970 cho đến ngày 30-4-1975.
Nhân viên: Tất cả sĩ quan và hạ sĩ quan được tuyển chọn về BĐST là căn cứ vào hồ sưu tra lý lịch tại quân trường hoặc sở an ninh liên hệ và phải có bằng FOI mới chính thức hoạt động. Đa số được phân phối về địa phương cư ngụ để hoạt động trong quần chúng. Tại vùng hậu tuyến địch phải cải trang và bảo mật tối đa. Tại các quốc gia lân bang phải thạo ngôn ngữ và tập quán của quốc gia liên hệ. Toán Dù xâm nhập phải có thêm bằng nhảy dù và xung phong tình nguyện.
Tuesday, December 18, 2018
Trung Tá Lê Văn Ngôn trấn thủ Tống Lê Chân như thế nào? Ðổng Duy Hùng/Khóa 21 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
Trung Tá Lê Văn Ngôn vào đầu năm 1971 khi mới từ Lực Lượng Ðặc Biệt
chuyển sang Biệt Ðộng Quân, lúc 24 tuổi mang quân hàm đại úy. Ông được
vinh thăng trung tá khi mới 27 tuổi và qua đời trong lao tù cải tạo ở
tuổi 30. (Hình: Facebook General War - Thế Giới Ðại Chiến)
Viết để ngợi ca và vinh danh 275 chiến sĩ Mũ Nâu của Tiểu Ðoàn 92
Biệt Ðộng Quân và người bạn cùng khóa, cố Trung Tá Lê Văn Ngôn. Xin
nguyện cầu hương linh của anh ngàn thu yên nghỉ! Anh chính là một biểu
tượng của Tống Lê Chân, là niềm hãnh diện của cựu sinh viên sĩ quan khóa
21 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam-Ðà Lạt.Nhìn lại toàn cuộc chiến mùa Hè của năm 1972, từ Dakto-Tân Cảnh xuống tới An Lộc-Bình Long rồi ra tận Quảng Trị kiêu hùng, Trung Tá Lê Văn Ngôn đã nổi lên như một người hùng. Anh sinh năm 1941 tại thị xã Vĩnh Long, trong một gia đình nho giáo, cha và người anh cả của Ngôn đều chọn nghề dạy học và rất được sự kính trọng của phụ huynh lẫn học sinh trong vùng.
Vào thời điểm ấy, Cộng Sản đã có những toan tính lọc lừa, ngang tàng xua quân vào để mở rộng cuộc chiến xâm lược miền Nam. Những trận đánh lớn đã thường xuyên xảy ra trên khắp bốn vùng chiến thuật và đó chính là nguyên nhân dẫn đến sự tham chiến ồ ạt của Quân Lực Hoa Kỳ tại Việt Nam vào năm 1965.
Lê Văn Ngôn tốt nghiệp ngày 26 Tháng Mười Một, 1966, với cấp bậc thiếu úy hiện dịch và anh chọn Binh Chủng Lực Lượng Ðặc Biệt để phục vụ. Do nhu cầu phát triển của Quân Lực, vài năm sau đó, binh chủng này bị giải tán và được sát nhập vào Biệt Ðộng Quân. Ngôn được bổ nhiệm giữ chức vụ chỉ huy trưởng trại Lực Lượng Ðặc Biệt Biên Phòng Tống Lê Chân vào năm 1972, rồi đơn vị này được cải danh thành Tiểu Ðoàn 92 Biệt Ðộng Quân và Ngôn trở thành vị tiểu đoàn trưởng.
Nói về căn cứ Tống Lê Chân, nơi này là vùng đất của hai xã Minh Ðức và Minh Tâm thuộc tỉnh Bình Long, là một trại biên phòng, nằm cách biên giới Việt-Miên 13 km về phía Nam và cách thị xã An Lộc 15 km về hướng Ðông Bắc, nghĩa là hết tầm yểm trợ của đại bác 155 ly. Nguyên thủy, cứ điểm ấy mang một tên địa phương là Tonlé Tchombé, sau đó, chỉ huy trưởng đầu tiên của trại này là Thiếu Tá Ðặng Hưng Long đã đổi thành Tống Lê Chân. Trại được bao quanh với tám lớp hàng rào kẽm gai, cộng thêm với hệ thống mìn bẫy dầy đặc, tự nó đã rất vững vàng trong việc phòng thủ, cũng đã góp phần đẩy lui nhiều cuộc tấn công điên cuồng của giặc Cộng. Ngự trị trên một ngọn đồi yên ngựa, cao khoảng 50 mét, nhìn xuống hai dòng suối nhỏ là Takon và Neron và có một phi trường nằm trên ngọn đồi thấp của dãy yên ngựa này mà vận tải cơ C.123 có thể đáp được.
Tống Lê Chân bị tấn công kể từ ngày 10 Tháng Năm, 1972. Vào thời điểm khốc liệt ấy, những dàn phòng không dày đặc của địch thực sự đã kiểm soát được vòm trời của căn cứ, gây không ít trở ngại cho Không Quân VNCH khi phải thực hiện các phi vụ tiếp tế và yểm trợ.
Giống như tình trạng tại An Lộc, trong những ngày đầu bị vây hãm, mọi tiếp tế lương thực và đạn dược đều được thực hiện bằng cách thả dù. Nhưng hầu như chỉ một nửa rơi vào vòng phòng thủ của ta và phần còn lại thì rớt xuống vùng của địch. Thế mà Tống Lê Chân vẫn đứng lừng lững, dũng cảm và hiên ngang với nhiệm vụ chận đứng mọi sự chuyển quân của Việt Cộng từ Cambodia xuống phía Nam, cứ điểm này chính là một vị trí chiến lược, trở thành một tiền đồn trọng yếu trong việc phòng thủ Sài Gòn.
Tống Lê Chân được lực lượng Hoa Kỳ thành lập, họ xây dựng một hệ thống giao thông hào chằng chịt, rất thích ứng với chiến thuật phòng thủ. Từ hệ thống có sẵn này, Ngôn ra lệnh cho binh sĩ đào ra những ngách nhỏ, kích thước vừa đủ trú ẩn cho mỗi cá nhân, vừa dùng để quan sát địch, vừa tránh pháo, lại vừa chiến đấu rất hữu hiệu.
Thật vậy, Tiểu Ðoàn 92 Biệt Ðộng Quân và Ngôn đã cùng chung nhịp thở với Tống Lê Chân trong 510 ngày bị vây hãm, họ phải chiến đấu trong những điều kiện vô cùng khó khăn. Họ phải tiết kiệm từng viên đạn và thậm chí ngay cả từng hớp nước uống! Với hơn 20 lần bị tấn công, bảy lần bị đánh đặc công, 233 lần với khoảng hơn 14,500 đạn pháo đủ loại đã dội vào căn cứ. Tống Lê Chân hiển nhiên đã trở thành một trận chiến dai dẳng nhất.
Trong suốt thời gian đó, Việt Cộng đã rót vô số bom đạn đủ loại, nướng không biết bao nhiêu con thiêu thân cuồng tín vào mặt trận này. Ðây là một bãi chiến trường mà ban ngày cũng như ban đêm, đều bị choáng ngợp do mùi nồng nặc và khét lẹt của thuốc súng. Nhưng bọn chúng cũng thất bại trước toan tính san bằng cứ điểm và đã không đè bẹp được tinh thần chiến đấu kiên cường của những dũng sĩ Mũ Nâu. Do đó, song song với việc tấn công hỏa lực, hằng ngày chúng đã phát động chiến dịch chiêu dụ bằng cách dùng loa kêu gọi rã ngủ hay đầu hàng. Hẳn nhiên, đã có phần tác động đến tinh thần chiến đấu của binh sĩ và gây ra không ít khó khăn cho sự chỉ huy của Ngôn. Và & “Ngôn cũng vô hiệu hóa chiến dịch ấy bằng nghệ thuật chỉ huy và bằng sự can đảm của chính bản thân mình.”
Vài hàng dưới đây, tôi muốn đưa lên vài trận đánh đã diễn ra qua nhiều cuộc chiến khác nhau để chúng ta dễ dàng làm một sự so sánh và từ đó chúng ta có thể hãnh diện mà vinh danh sức chịu đựng, tinh thần chiến đấu kiên cường của những người lính trận miền Nam nói chung và của Tiểu Ðoàn 92 Biệt Ðộng Quân nói riêng.
Hồi thời Ðệ Nhị Thế Chiến, Quân Ðức Quốc Xã rất hùng mạnh lúc bấy giờ, đã tấn công thành phố Stalingrad kể từ ngày 17 Tháng Bảy, 1942, nhưng đến ngày 2 Tháng Hai, 1943, phải rút lui trong thảm bại. Tính ra thì sự chịu đựng của binh lính Nga cũng chưa đến sáu tháng.
Cũng vào thời kỳ này, quân đội Nhật tấn công cứ điểm Bataan ở Phi Luật Tân do lực lượng Hoa Kỳ và Phi Luật Tân trấn giữ vào Tháng Mười Hai, 1941, và đến ngày 24 Tháng Bảy, 1942, Tướng Douglas MacArthur phải ra lệnh rút lui.
Quân lực Anh và Khối Thịnh Vượng Chung Âu Châu trấn giữ Tobruk tại North Africa, đương đầu với cuộc bao vây của liên quân Ðức-Ý, do Tướng Erwin Rommel chỉ huy. Trong trận này, quân đội Anh cũng chỉ cầm cự được từ ngày 11 Tháng Tư, 1941, đến ngày 27 Tháng Mười Một, 1941, rồi bị thất thủ, nghĩa là chỉ khoảng 240 ngày.

Cận kề bên Tống Lê Chân trong mùa đỏ lửa,với ý đồ muốn biến An Lộc thành bình địa, Cộng quân cũng chỉ có khả năng bao vây thị xã này được 110 ngày, để sau cùng phải gánh chịu một sự tổn thất rất nặng nề, vì rằng cả ba sư đoàn, đó là Sư Ðoàn 5, 7 và 9 của địch đều bị tổn thất rất nặng và phải rút qua bên kia biên giới Việt-Miên.
Chúng ta rất hãnh diện về tinh thần hào hùng của các chiến hữu mũ nâu, Tiểu Ðoàn 92 Biệt Ðộng Quân đã anh dũng chiến đấu trong những điều kiện vô cùng nghiệt ngã và đơn độc. Thật vậy, những chiến sĩ này và Lê Văn Ngôn đã lập nên một kỳ công về lòng can đảm và sức đựng! Ngôn, vị trung tá trẻ (29 tuổi) của QLVNCH, dường như đã cột chặt tên anh và rực sáng lên cùng với địa danh này. Trong nỗi gian nguy được tính theo từng giây phút, trong cận kề cái chết, vị chỉ huy trẻ ấy đã mưu lược, dũng cảm và âm thầm lèo lái đơn vị, luôn luôn sát cánh với thuộc cấp để giữ vững tinh thần, giữ lửa chiến đấu cho nhau, cùng nhau ghì chặt tay súng trước một chiến trường vô cùng khốc liệt!
Ðúng vậy, một cuộc chiến đấu thật oanh liệt của các chiến sĩ mũ nâu, trong một hoàn cảnh bất cân xứng về tương quan lực lượng đối đầu giữa hai bên! Tiểu Ðoàn 92 Biệt Ðộng Quân với 275 người đã cùng nhau vượt lên trên giới hạn tột cùng của sự gian nguy bằng chính tinh thần trách nhiệm, danh dự và ý chí chiến đấu của mỗi người lính VNCH.
Lê Văn Ngôn và Tống Lê Chân trở thành một biểu tượng, đã hòa nhập với nhau như bóng với hình, tạo nên một thành tích lẫy lừng, tô đậm thêm trang sử, mà vốn dĩ đã quá lẫy lừng của binh chủng Biệt Ðộng Quân nói riêng về lòng can đảm, sức chịu đựng và tinh thần kỷ luật trong chiến đấu.
Ðược biết, sau khi Trung Tướng Phạm Quốc Thuần về thay thế Trung Tướng Nguyễn Văn Minh ngày 29 Tháng Mười, 1973, vị tân Tư Lệnh Quân III đã đệ trình lên Bộ Tổng Tham Mưu một kế hoạch gồm hai giải pháp cho trại Tống Lê Chân:
-Nếu tiếp tục duy trì căn cứ trọng yếu này thì phải khai thông một con đường từ thị xã An Lộc đến Tống Lê Chân để đưa một đơn vị khác vào thay cho Tiểu Ðoàn 92 Biệt Ðộng Quân.
-Hoặc là bỏ cứ điểm đó và Tiểu Ðoàn 92 Biệt Ðộng Quân âm thầm rút khỏi căn cứ, rồi tìm cách bắt tay với các đơn vị bạn.
Vào khoảng đầu năm 1974, Bộ Tổng Tham Mưu không còn bất cứ một lực lượng tổng trừ bị nào nằm tại Thủ Ðô để thực hiện kế hoạch thứ nhất, cho nên Tướng Thuần đã cho phép Trung Tá Ngôn tùy nghi quyết định.
Với một khoảng thời gian quá dài mà đêm ngày luôn trực diện với địch, hẳn đã vượt ra ngoài sức chịu đựng của người lính. Cuối cùng, Ngôn cũng đành phải ngậm ngùi để lại Tống Lê Chân phía sau lưng và toàn bộ đơn vị rút khỏi căn cứ vào đêm 11 Tháng Tư, 1974. Ngôn đã đưa Tiểu Ðoàn về đến thị xã An Lộc vào ngày 16 Tháng Tư với chỉ còn vỏn vẹn 196 chiến binh, đặc biệt là có đến hai phi công chính và hai phi công phụ trong số này.
Tất cả các tử sĩ đều được chôn cất ngay tại cột cờ chính của căn cứ. Cũng ghi nhận thêm là đã có một chiếc Chinook, hai chiếc trực thăng UH1, một chiếc khu trục và một chiếc quan sát L.19 bị bắn rớt và phải nằm lại tại chiến trường này.
Một thời gian sau đó, Ngôn được điều động theo học Khóa 2/74 Bộ Binh cao cấp tại Long Thành. Tốt nghiệp, Ngôn được thuyên chuyển về Sư Ðoàn 5 Bộ Binh.
Vào một buổi trưa nắng gắt của Tháng Ba, 1975, khi Trung Ðoàn 8 thay thế nhiệm vụ, Tiểu Ðoàn của tôi rời vùng hành quân ở phía Bắc Bầu Bàng, nằm giữa Lai Khê và Bến Cát.
Trên đường trở về hậu cứ, tôi phải di chuyển qua căn cứ tiền phương của Trung Ðoàn 8, nơi đây là Bộ Chỉ Huy nhẹ của Ngôn. Ghé vào đó để thăm một người bạn mà kể từ khi rời trường Mẹ (Trường Võ Bị Ðà Lạt), đây chính là lần hôị ngộ đầu tiên với Ngôn.
Ngôn đứng đón tôi ở ngoài hầm chỉ huy, Thiếu Tá Ðổng Duy Hùng, tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 3/9, phải đứng nghiêm chỉnh chào Trung Tá Lê Văn Ngôn, trung đoàn phó Trung Ðoàn 8/Sư Ðoàn 5, theo đúng quân kỷ. Sau đó, cả hai chúng tôi nhanh chóng quay về với tình bằng hữu, trong vòng 30 phút cùng nhau hàn huyên, ngôn ngữ trao đổi chỉ là “mày tao” rất thân thiết, rất tự nhiên của những người cùng một khóa tại Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Chúng tôi ôn lại những kỷ niệm của một thời thật đẹp khi còn là Sinh Viên Sĩ Quan với quá nhiều hoài bão. Thế mà mãi cho đến ngày mất nước, hai chúng tôi vẫn không được may mắn để gặp lại nhau cho lần kế tiếp.
Vài sự kiện được ghi nhận quanh chiến sự diễn ra trong thời điểm Tống Lê Chân đỏ lửa:
-Lúc bấy giờ, Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn III có ý định rút bỏ 4 căn cứ: Thiện Ngôn, Katum, Tống Lê Chân và Bù Gia Mập. Khi lệnh này truyền đến, Ngôn đã khẳng khái xin được ở lại chiến đấu và nói rằng Biệt Ðộng Quân chưa được đánh địch mà sao lại phải rút lui! Tiếc quá, đừng nên rút. Câu hỏi tiếp theo là liệu có giữ nổi không? Bằng mọi giá, tôi và tất cả binh sĩ đều tình nguyện ở lại với căn cứ này. Ðó là câu trả lời cương quyết của nguời chỉ huy và căn cứ đã đứng vững như là lời hứa, mà người chỉ huy thì rất trẻ so với tuổi lính của anh.
-Có một phi vụ từ phi trường Biên Hòa bay vào tiếp tế cho Tống Lê Chân. Phi vụ này có nhiệm vụ mang quà tưởng thưởng của quân dân miền Nam, lương thực đạn dược và cặp lon trung tá cho Ngôn. Ðặc biệt hơn nữa, người bay phi vụ này là bạn cùng khoá với Ngôn, Thiếu Tá Phi Công Trần Gia Bảo (Khóa 21 Ðà Lạt). Ðây là một nghĩa cử rất anh hùng, bởi vì Bảo rất cảm thông, muốn chia sẻ phần nào đó về sức chịu đựng phi thường và mang những nhu cầu cần thiết đến cho đơn vị bạn. Do đó, Bảo đã bất chấp mọi hiểm nguy đang rình rập và tự tình nguyện thực hiện chuyến bay. Ðược biết phi vụ này hầu như bay bằng kỹ thuật phi cụ và gồm hai chiếc Lôi Ðiểu: Lôi Ðiểu 1 do Bảo điều khiển đáp trước, Lôi Ðiểu 2 phải bay vòng chờ Bảo rời Landing Zone mới nhào xuống. Nhưng chẳng may, chiếc này bị va chạm làm cho hai người bị thương. Vì có yếu tố bất ngờ và lại bay không đèn, nên chỉ ghi nhận được những tiếng súng bắn cầu âu của địch mà chẳng hề hấn gì đến phi cơ.
-K21 Biệt Ðộng Quân Lê Văn Ngôn ngày đêm tử thủ Tống Lê Chân giữa trùng điệp giặc Bắc, K21 Không Quân Trần Gia Bảo liều mình bay vào lửa tiếp đạn cho Ngôn diệt quân thù.
-Kẻ thù muốn giết Ngôn ngay từ ngày khởi đầu của cuộc vây hãm, nhưng thực tế chứng minh rằng họ đã thất bại. Sau biến cố đau thương của cả dân tộc vào Tháng Tư Ðen, cùng với những sĩ quan khác, Ngôn cũng bị tống vào địa ngục của trần gian này và thêm một lần nữa để họ trả thù.
Ngôn bị đọa đày cho đến hơi tàn lực kiệt! Trong khung trời ảm đạm của một ngày mùa Ðông buốt giá vào cuối năm 1977, tại trại 1, Liên Trại 1, Ðoàn 776 thuộc vùng Yên Bái và sau hơn hai tháng chịu đựng từ căn bệnh ung thư gan quái ác kia, thế mà Ngôn chỉ được điều trị bằng thuốc “thần dược trị bá bệnh xuyên tâm liên.”
Vào ngày 19 Tháng Giêng, 1978, Ngôn đã vĩnh biệt cõi đời từ nơi ngục tù Yên Bái ấy, lạnh lùng, âm thầm đi vào lòng đất mẹ, chẳng có một chiến hữu tiễn đưa, không có môt nén nhang để sưởi ấm Hương Linh!
Ngôn đã chết thật rồi, tức tưởi, đau thương và hẩm hiu đến tột cùng! Khóa 21 luôn hãnh diện về Ngôn và chúng tôi đã dành nhiều phút im lặng trong những lúc hội ngộ để mặc niệm và nguyện cầu Vong Linh của anh được ngàn đời yên nghỉ!
Rồi qua những năm dài sau đó, mãi đến ngày 8 Tháng Ba, 1996, chị quả phụ Lê Văn Ngôn cùng hai người con đã lặn lội đến tận Yên Bái để mang xương cốt của người chồng yêu quí về lại nơi chôn nhau cắt rốn, để được ấm áp bên mộ cha, mộ mẹ, bên mộ ông bà, tổ tiên! Vợ chồng của Ngôn đã hội ngộ trong một hoàn cảnh như thế đó! Quả là xé lòng qua cái thảm trạng tử biệt sinh ly này! Trên đường ôm cốt chồng trở về, một bất hạnh khác lại ập xuống gia đình của chị, đứa con út bị một tai nạn ngay tại Hà Nội và hiện đang sống vất vưởng với mảnh đời tàn phế!
Thương thay cho thân phận của những ai đã trót làm vợ của người lính VNCH, nhất là trong một thời loạn ly, lại phải sống tại một xã hội mà bọn quỷ đỏ đã có cả một chính sách, chủ trương để gieo rắc và cổ võ cho sự hận thù. Sự bất hạnh đâu có dừng lại tại đó!
Ðược biết người chị ruột của Ngôn đã làm đơn bảo lãnh cho vợ con của Ngôn theo chương trình H.O. Nhưng khi được phái đoàn Mỹ phỏng vấn tại Sài Gòn, thì gia đình này bị từ chối chỉ vì có sự khác biệt về ngày khai tử qua lời khai giữa người chị và vợ của Ngôn. Quả thật tội nghiệp, đúng là họa vô đơn chí!
Sau Tháng Tư Ðen, ngày tang tóc của cả một dân tộc, số phận của quý chị cũng đã gắn liền với thảm họa ấy, cũng đau thương, cũng nổi trôi, cũng bềnh bồng và cũng lắm thăng trầm như vận nước của của chúng ta. (Ðổng Duy Hùng)
Tại Phước Long, Căn
cứ Bù Đốp do A-341 trấn giữ được chuyển thành Tiểu Đoàn 97 Biệt Động
Quân Biên Phòng vào ngày 31 tháng Chạp 1970. Tại Bình Long, Căn cứ Lộc
Ninh của A-331 chuyển sang Tiểu đoàn 74 Biệt Động Quân Biên Phòng ngày
30 tháng Chín 1970 và cũng tại Bình Long, ngày 31 tháng Mười Một 1970,
đơn vị A-334 chính thức giải thể và Chỉ Huy Trưởng Căn cứ Tống Lê Chân
là Thiếu tá Đặng Hưng Long chính thức bàn giao căn cứ cho Đại úy Lê Văn
Ngôn, người chỉ huy đơn vị mới được thành lập để trấn giữ căn cứ này là
Tiểu Đoàn 92 Biệt Động Quân Biên Phòng với quân số lúc đó là 318 người
mà hơn một nửa là người Thượng thuộc sắc tộc S’tieng mang họ Điểu và một
số khá đông là người Việt gốc Miên mang họ Châu, Danh và Thạch. Đại uý
Lê Văn Ngôn xuất thân Khoá 21 Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, lúc đó chưa
tròn 24 tuổi.
Thật ra thì ngay sau
khi Công Trường 9 Cộng sản Bắc Việt tấn công vào Lộc Ninh, Việt Nam Cộng
Hoà đã nhìn thấy trước ý đồ của cộng quân nên Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân
Quân Khu 3 quyết định cho Tiểu đoàn 92 Biệt Động Quân Biên Phòng rút
khỏi Tống Lê Chân để về An Lộc cùng với những đơn vị khác chuẩn bị đối
đầu với đại quân Bắc Việt. Tuy nhiên, Đại úy Lê Văn Ngôn đã trình lên
Đại tá Nguyễn Thành Chuẩn, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân Quân Khu 3 khi
ông ghé xuống đây vào những ngày đầu tháng Tư 1972 rằng có ba lý do để
đơn vị này ở lại trấn giữ Tống Lê Chân. Thứ nhứt là dồn quá nhiều quân
vào An Lộc để lãnh đạn đại pháo của Việt Cộng là điều không nên (lúc đó,
Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân do Đại Tá Nguyễn Văn Biết chỉ huy đã nhảy
vào An Lộc rồi). Thứ hai, Tống Lê Chân nằm trong chiến khu của địch, tại
một vị trí giống như yết hầu đối với đường tiếp tế và chuyển quân của
giặc và hơn nữa, từ trên đồi có thể quan sát được mọi di chuyển của địch
ngay trong chiến khu của chúng. Vì thế, càng nên giữ căn cứ cho tới
cùng để gây thêm khó khăn cho các hoạt động quân sự của chúng. Thứ ba là
toàn thể quân nhân các cấp trong đơn vị muốn ở lại giữ Tống Lê Chân chớ
không muốn rút đi. Kể từ lúc đó, một trang sử bi hùng của Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa bắt đầu.
Căn cứ Tống Lê Chân
bị quân Việt cộng tấn công ngay ngày hiệp định Paris có hiệu lực
(28/01/1973), người anh hùng tử thủ là Trung tá Lê Văn Ngôn cùng Tiểu
đoàn 92 Biệt Động Quân Biên Phòng.
Sau gần một năm rưỡi
trời giữa vòng vây trùng điệp, lại bị tấn công liên miên, đương nhiên TÐ
92 BÐQ phải kiệt sức. Cho tới khi tình trạng tuyệt vọng, đơn vị chỉ còn
đường rút lui để bảo toàn lực lượng nhưng cũng không quên dùng chất nổ
phá hủy doanh trại, không để lọt vào tay Công Quân. Sau đó, tuy bị truy
kích, nhưng các con Cọp Rừng Mũ Nâu đã về được tới An Lộc với tổn thất
nhẹ không ngờ: trong số 277 binh sĩ gồm nhiều thương binh, một số lớn đã
về được An Lộc. Ðây là một thành quả quá sức mong đợi cho một cuộc hành
quân lui binh sâu trong lòng địch. Với tài chỉ huy khôn khéo, tinh thần
kỷ luật và sức chiến đấu bền bỉ gan dạ, các chiến TÐ 92 BÐQ đã làm
nhiều người ngạc nhiên và thán phục khi rút quân thành công trong một
hoàn cảnh vô cùng khó khăn, bi đát.
Cuộc lui quân thành
công ngoài sức tưởng tượng này đã khiến dư luận phía Hoa Kỳ nghi ngờ
rằng TÐ 92 BÐQ đã “thương lượng” với Cộng Quân, bằng lòng bàn giao căn
cứ Tống Lê Chân để đổi lấy việc rút lui an toàn. Quả thật, việc TÐ 92
BÐQ phá được vòng vây về được đến An Lộc phải coi như một phép lạ nên
“dư luận” thương thuyết không phải là không có lý. Vả lại, đây cũng là
một trong ba giải pháp mà BTL/QÐ III đã đề nghị lên thượng cấp cách đó
không lâu. Ngoài ra, rất có thể những lời đồn đại nói trên là do Cộng
Quân tung ra để đỡ bị mất mặt vì TÐ 92 BÐQ đã vượt khỏi vòng vây như chỗ
không người.
Thật sự, TÐ 92 BÐQ đã
chỉ giết giặc chứ không bao giờ thương lượng với chúng và cuộc rút lui
thành công vì tinh thần kỷ luật cũng như khả năng chiến đấu tuyệt vời
của các chiến sĩ Mũ Nâu. Bằng cớ xác thực nhất là chính những tài liệu
bắt được sau đó tại mặt trận cùng những lời khai của tù hàng binh Cộng
Quân đã cho thấy không hề có chuyện “thương lượng”. Một hồi chánh viên
tham dự trận đánh sau cùng vào đêm 12/4 tại Tống Lê Chân đã thuật lại
khá chi tiết về biến cố này. Sau trận pháo kích dữ dội, bộ binh địch có
chiến xa yểm trợ đã mở các cuộc tấn công mạnh. TÐ 92 BÐQ không còn đạn
dược và nhất là không có vũ khí chống chiến xa nên bắt buộc phải rời bỏ
vị trí. Tiểu đoàn 92 Biệt Động Quân Biên Phòng và Trung tá Lê Văn Ngôn
chỉ còn 259 binh sĩ đã chiến đấu đến cùng và phải mở đường máu rút lui.
Tống Lê Chân bị bỏ ngỏ từ đêm 12/4 nhưng vì hàng rào phòng thủ quá kiên
cố, lại có nhiều bãi mìn, hơn nữa Cộng quân sợ TÐ 92 BÐQ còn tử thủ sẽ
gây cho chúng nhiều thiệt hại như những lần trước nên mãi tới ngày 13/4
chúng mới vào được trại. Lúc đó, các chiến sĩ Mũ Nâu đã rời xa căn cứ
trên đường về An Lộc. Tống Lê Chân đã bị đặt chất nổ phá hủy. Ðịch chỉ
tìm thấy xác của 2 BÐQ và bắt sống một người khác.
Một bằng chứng rõ
ràng khác là bản báo cáo của Cộng quân bị QLVNCVH tịch thu. Tài liệu này
tiết lộ một đơn vị Cộng Quân có nhiệm vụ chặn đường rút lui của TÐ 92
BÐQ đã bất tuân thượng lệnh, không bố trí quân tại những vị trí đã ấn
định vì sợ bị phi pháo VNCH tiêu diệt. Cuối cùng, bản báo cáo còn đưa ra
nhận xét rằng trong trận đánh tại Tống Lê Chân, tinh thần binh sĩ TÐ 92
BÐQ rất cao, còn cao hơn cả nhiều đơn vị chính qui của Cộng Quân có
nhiệm vụ tấn công.
Cũng cần biết thêm,
để dứt điểm căn cứ này, quân Việt cộng phải huy động Công trường 9, cùng
trung đoàn 271, một Trung đoàn pháo, một Trung đoàn phòng không cũng
như một Lữ đoàn xe tăng. Chưa kể quân trừ bị và chận viện. Cuộc chiến
dứt điểm bắt đầu từ 05/04/1974 đến sáng ngày 13/04/1974 mới chiếm được
đồn.
Căn cứ Tống Lê Chân bị quân Việt cộng tấn công, bao vây dồn dập trong 512 ngày từ 28/01/1973 đến 13/04/1974.
Sau khi đem đơn vị về
đến An Lộc, Trung tá Lê Văn Ngôn được cử đi học khoá Tham Mưu Trung Cấp
được cử về Sư Đoàn 5 Bộ Binh ở trách nhiệm trung đoàn phó. Sau ngày
30/4/1975, Trung tá Ngôn cũng như biết bao chiến sĩ khác, lọt vào tay
giặc và bị đưa ra miền Bắc. Một tối mùa thu 1977, ông lặng lẽ qua đời
tại liên trại Yên Báy. Nhà văn quân đội Phan Nhật Nam đã đem người đàn
em vắn số của mình ra mộ huyệt chôn cất.
Gương chiến đấu của
anh hùng Lê Văn Ngôn cùng các chiến sĩ Tiểu đoàn 92 Biệt Động Quân Biên
Phòng mãi mãi sáng ngời trong quân sử Việt Nam cận đại.
LTS:
Thiếu Tá Phi Công Vận Tải Lê Hồng Đức đã từ Mỹ qua sống tại Đức từ lâu,
anh Nguyễn Hữu Huấn, Phi Công Trực Thăng đã giới thiệu bổn báo Chủ
Nhiệm với TT Lê Hồng Đức, hôm nay Anh TT Đức gởi cho TCDV đoản văn hồi
ký này để tưởng niệm cố Trung Tá Lê Văn Ngôn, TĐT và các chiến sĩ TĐ 92
BĐQ đã nằm xuống tại căn cứ Tống Lê Chân…
Hồi ký – Không vận tiếp tế Tống Lê Chân (TLC) 1971-1974
(Ngoài
chiến lược, những trận đánh vào TLC của CSBV và sự chiến đấu oai hùng
của các chiến sĩ Biệt Động Quân Biên Phòng để bảo vệ tiền đồn TLC , tác
giả tường thuật thêm tổng quát về vận tải cơ C130 thả dù & trực
thăng tải thương. Tôi cũng xin được phép kể dưới đây
để bổ túc thêm về sự đong góp không nhỏ của 3 phi đoàn vận tải C7
Caribou PĐ427, PĐ429 & PĐ431 đã thi hành không vận tiếp tế cho chiến
trường TLC từ năm 1971 đến 1974.)
Phi
vụ hành quân cất cánh từ Đà Nẵng, chở lương thực đạn dược lấy từ phi
trường quân sự Biên Hòa (BH) thuộc SĐ3KQ để tiếp tế cho Tiểu Đoàn 92
Biệt Động Quân Biên Phòng (TĐ92/BĐQ/BP) trấn đóng tiền đồn Tống Lê Chân
(TLC) nằm trên đồi cao dưới quyền chỉ huy của Tiểu Đoàn Trưởng (TĐT)
Th/tá Lê Văn *NGÔN (Tr/tá 1972-1975. Chết trong tù CS 1977) để bảo vệ
vòng đai phía Tây Nam tỉnh lỵ An Lộc và phía Đông Bắc tỉnh Tây Ninh,
nhất là đường xâm nhập của Cộng quân từ biên giới Miên trên con sông Sài
Gòn chảy xuyên qua giữa 3 tỉnh Tây Ninh, phía Tây An Lộc sát biên giới
Miên đến Lộc Ninh. Trong đồn TLC có 1 phi đạo vĩ sắt dài ca. 1100-1200!
Feet (ca. 363-396m) cho phi cơ cánh quạt loại nhỏ như L19, đáp ngắn như
vận tải cơ C-7 Caribou, phi cơ trực thăng UH-1 & Chinooks CH-47.
Trước
khi chuyển giao phi cơ C7 Caribou cho KQVN, chúng tôi bay thực hành
chuyển vận với pilot Mỹ tại Cam Ranh-, Phan Rang US AFB từ cuối tháng 09
&11.1971, đáp xuống hầu hết các phi trường dã chiến được xây nhanh
bằng vĩ sắt trên khắp 4 Vùng Chiến Thuật từ Đông Hà – Bến Hải tới An
Thới – Phú Quốc và dọc theo biên giới Việt-Miên-Lào. Sau đó KQVN tự đảm
trách phi vụ không vận với loại vận tải cơ C7A Caribou từ Căn Cứ 72
(CC72) Phù Cát được chuyền giao lại bởi Liên Đoàn 22 Không Quân Hoa Kỳ,
dưới quyền chỉ huy của Đ/tá NH TUYỀN. Đến tháng 2 năm 1972 thì PĐ427
được thuyên chuyển ra KĐ41CT/SĐ1KQ Đà Nẵng, trong thời gian nầy thì VC
chưa pháo kích hay tấn công vào tiền đồn, cho nên phi cơ C7 có thể đáp
xuống phi đạo vĩ sắt TLC nằm trong vòng kiểm soát của TĐ92/BĐQ/BP.
Thường thì 2 phi đoàn C7A Caribou PĐ429 & PĐ431 thuộc SĐ5KQ đồn trú
tại Tân-Sơn-Nhất đảm nhận chuyên chở cho Quân Đoàn III (3) và IV (4),
còn PĐ427 đảm nhận chuyên chở cho Quân Đoàn I (1) và II (2), nhưng cũng
đôi khi được chỉ định từ Đà Nẵng bay về Quân Đoàn III (3) và IV (4) như
bay về Biên Hòa để chở lương thực, vũ khí đạn dược từ nơi đây cho
TĐ92/BĐQ/BP.
Nhưng
khi VC tấn công tỉnh lỵ An-Lộc vào tháng 04.1972 thì tiền đồn TLC cũng
bị pháo kích liên tiếp làm hư hại những vĩ sắt nhô lên trên phi đạo, nên
phi cơ C7 chỉ có thể bay thấp trên phi đạo và thả những tấn Pallets
lương thực gồm (gạo, đồ hộp, thuốc tây để trị bệnh, thuốc quân tiếp vụ
để hút, v.v… & thư từ) xuống phi đạo, tuy có hư hại đôi chút nhưng
tất cả khoảng 400 chiến sĩ TĐ92/BĐQ/BP vẫn có để dùng cho cả tháng.
Mất tiền đồn Tống Lệ Chân là mất An Lộc!.
VC,
với cả sư đoàn CSBV & MTGPMN đã thấy điều thất bại nặng nề nầy sau
cả tháng trời bao vây & tấn công từ phía Tây, Tây Bắc, Bắc tỉnh lỵ
An Lộc được tử thủ dưới quyền của Tư Lệnh chiến trường là Đ/tá Lê Văn
*HƯNG (cố Th/Tướng 1975) & Tỉnh Trưởng An Lộc Đ/tá Trần Văn NHỰT
(Ch/Tướng, 1975 tỵ nạn tại Camp Pendleton USA), do đó địch quân chuyển
hướng dùng biển người tấn công TLC nhưng đều bị thất bại với sự chống
trở oai hùng của các chiến sĩ mũ nâu BĐQ để bảo vệ đường tiến quân của
địch từ TLC xuyên phía Tây Nam An Lộc. Địch quân lại bị bao vây bởi các
đơn vị của SĐ9BB/QĐIII của ta trong nhiều tháng.
Vì
1 số chiến sĩ BĐQ bị thương quá nặng cần mang về hậu cứ để điều trị
gấp, nên Tr/t NGÔN yêu cầu TTHQ/SĐ3KQ/QĐIII cho trực thăng đến chở
thương bệnh binh đi. Cũng vì lý do tối thượng nầy mà 1 vài phi hành đoàn
trực thăng PĐ 2xx đã can đảm liều chết đáp xuống TLC để cứu chiến hữu
của mình, vì địch quân mỗi khi thấy bất cứ phi cơ nào (đang) đáp xuống
TLC, ngày cũng như đêm, là chúng bắn và pháo kích xối xả vào TLC. Thật
là kính thương & khâm phục những chiến hữu của TĐ92/BĐQ/BP & phi
hành đoàn trực thăng PĐ2xx/SĐ3KQ đã hy sinh tại ải tuyến TLC hay những
ai may mắn còn sống sót cho tới ngày hôm nay.
Do
đó phương tiện tải thương & tiếp tế bằng phi cơ cho TLC càng rất
nguy hiểm trong những tháng cuối cùng của năm 1972 cho đến sau ngày ký
Hiệp Định Paris 27.01.1973,
TLC vẫn còn bị địch quân bắn phá tuy rằng không có những cuộc tấn công
nào của VC. Nhưng cuối năm 1973 khi mà quân đội Mỹ và đồng minh đã hoàn
toàn rút ra khỏi miền Nam thì VC bất chấp sự ký kết HĐ Paris, bắt đầu
gia tăng áp lực đánh phá khắp nơi nhất là các tiền đồn biên phòng BĐQ
như Ba Tơ, Thượng Đức, Tiên Phước thuộc QĐI và Tống Lệ Chân / An Lộc
thuộc QĐIII. Sau trận hãi chiến giữa hãi quân QLVNCH và Trung Cộng vào
ngày 19.01.1974, CSBV thấy Hạm Đội 7 Mỹ không trợ giúp HQ/QLVNCH, liền
sau đó mở những cuộc tấn công nhỏ để thăm dò phản ứng của Mỹ. Khi thấy
Mỹ làm ngơ, CSBV bắt đầu tấn công mạnh vào các tiền đồn BĐQ/BP cố chiếm
cho kỳ được để từ đó có thể chuyển quân ồ ạt tiến vào tỉnh lỵ.
Vì
phi đạo TLC quá nhỏ để đáp, nên 2 phi đoàn C130 PĐ43!/SĐ5KQ sử dụng phi
cơ C130 trên cao độ cao thả dù tiếp tế xuống TLC, nhưng chỉ có 50% thì
vào bên trong TLC, con số còn lại thì rơi trên đầu địch quân VC được
hưởng lợi. Vì lý do nầy mà 3 phi đoàn C7A Caribou PĐ427/429/431 phải
tiếp tục đảm trách không vận cho TLC. Tuy phi cơ bị trúng đạn nhưng 2
phi đoàn bạn 429 & 431 đã gần hoàn tất thả những Pallets xuống phi
đạo TLC. Duy chỉ có phi cơ của Đ/u Phạm T. NGHIỆP bị trúng đạn hư nặng 1
động cơ (bể máy), chỉ còn lại 1 động cơ hoạt động tốt. Bình tỉnh, anh
và phi hành đoàn thay vì đáp khẩn cấp gần tỉnh lỵ Tây Ninh nhưng đã cố
bay về TSN và đáp an toàn.
Bây
giờ đến lượt phi đoàn 427 từ Đà Nẵng bay về Biên Hòa để thi hành những
phi vụ hiểm nguy nầy vì TLC lại cần sự tiếp tế sau hằng nhiều ngày ngăn
cản sự tấn công của Cộng quân, đạn dược thì có thừa nhưng lương thực thì
cạn dần. Phi hành đoàn của tôi thi hành phi vụ bất thần nầy.
Đáp
xuống phi trường Biên Hòa VNAFB khoảng 9-10 giờ sáng, trong khi anh em
phi hành đoàn (p.h.đ) Th/u HƯƠNG, T/s TIẾN & TỴ lo công việc chất
2-3 tấn Pallets lương thực lên tàu, tôi vào TTHQ/SĐ3KQ để hỏi tình hình
hiện tại ở TLC thì được thông báo rằng, VC vừa pháo kích vào TLC, làm hư
hại vĩ sắt ở đầu phi đạo, không ai bị thương và các chiến sĩ của
TĐ92/BĐQ/BP đang trong tư thế chiến đấu dưới giao thông hào chung quanh
tiền đồn. VC chỉ tấn công lên đồi TLC vào ban đêm, vì ban ngày địch
quân chúng biết sẽ bị tiêu diệt bởi phi pháo (không quân & pháo
binh) của ta & hõa lực của TĐ92/BĐQ/BP. Sau đó tôi nhờ TTHQ chuyển
tin tới Tr/t NGÔN Tiểu Đoàn Trưởng rằng, tôi sẽ bay đến, nếu phi đạo an
toàn thì tôi đáp, nếu không thì tôi sẽ bay sát trên phi đạo thả hàng
xuống!.
Trở
về tàu, tôi trình bày tình hình ở TLC cho anh em p.h.đ và đi đến quyết
định bay thật thấp và thả Pallets trên phi đạo vì chúng tôi đã biết
những phi cơ bạn trực thăng UH1 & Chinooks CH-47 trước đó bị bắn, bị
trúng đạn pháo của VC khi đáp vào TLC. Sau đó chúng tôi bắt đầu quay
máy, xin chỉ thị BH-Tower và cất cánh trực chỉ TCL-An Lộc, nhưng tôi
không quên bảo TỴ kiểm soát cửa “cargo door & floor”, buột nịch thật
kiên cố 2-3 Pallets trước khi thả. Sau hơn 10 phút bay lên cao độ
7000-8000 feet về hướng Bắc thì tôi đã thấy xa xa dưới lớp mây lưa thưa
tiền đồn TLC và tỉnh lỵ An Lộc đang chìm trong chiến tranh với những cụm
khói trắng đen bốc lên cao từ phía Tây, Tây Bắc An Lộc. Vì từ BH đến
TLC & An Lộc rất gần khoảng hơn 100km theo không hành, tôi bắt đầu
cúp hết ga (Power Off – Êm không có tiếng động cơ nổ, bay xuống như
chiếc lá cây rơi, đây cũng là kỹ thuật sáng chế đặc biệt chỉ có loại C7A
Caribou), đồng thời tôi dùng phương pháp trược cánh liều lĩnh bay xuống
Kamikaze cho nhanh với tốc độ cao trên >200 Knots (warning – yellow
speed limit range) để kịp thời vào đúng Downwind phía Bắc song song với
phi đạo TLC (phi cơ của Đ/u NGHIỆP bị VC bắn ở phía Nam! TLC) cách
500-600m/cao độ 500-600feet về phía An Lộc, Th/u HƯƠNG bấm chuông để báo
TỴ được lệnh mở cửa “cargo door & floor” theo tư thế thả dù. Vẫn
còn PowerOff vì tránh VC nghe tiếng động cơ, tôi quẹo thật gắt bên trái
cận tiến bay thẳng với trên >100 Knots xuống sát trên phi đạo
090-270o (!?) dưới 200feet (ca. 66m) về hướng Đông 90o thì thấy vĩ sắt
nhô lên phía dưới mũi phi cơ. Lệnh “Thả” vừa dứt (cả p.h.đ đều nghe),
tôi vừa tống ga từ từ nhanh lên maximum vừa kéo phi cơ lên, cùng lúc
Th/u HƯƠNG bấm chuông để báo TỴ thả (release locking). Tất cả hành động
“Thả” chớp nhoáng hoàn thành trong vòng 3-4 giây, TỴ nói “OK” và đóng
“cargo door” lại. Tôi vừa quẹo trái bay lên cao về phía Đông Bắc TLC,
vừa nhìn xuống phía dưới phi đạo; từ các giao thông hào gần đó, vô số
chiến sĩ Biệt Động Quân tuôn chạy đến những Pallets lương thực mà các
anh em đã bao nhiêu ngày chờ đợi đang nằm trên phi đạo, thật là cảm động
và rất thương mến các chiến sĩ TĐ92/BĐQ/BP dưới quyền chỉ huy của vị
Tiểu Đoàn Trưởng trẻ tuổi, tài ba Tr/tá Lê Văn *NGÔN.
Tôi
mang tàu lên cao thật nhanh ra khỏi tầm bắn của VC và sau đó để Th/u
HƯƠNG bay về BH. Anh em p.h.đ chúng tôi thở phào và cảm thấy nhẹ nhỏm ra
vì đã hoàn thành nhiệm vụ không vận tối cần cho TLC và bay trở về an
toàn. Nhưng trong lòng tôi vẫn còn mang nỗi lo âu cho các chiến hữu của
TĐ92/BĐQ/BP, ngày cũng như đêm, từng giây từng phút sẵn sàng chống trả
bất cứ những đợt tấn công “tiền pháo hậu xung” nào của địch quân.
Nhưng
cuối cùng, một vết đau thương cho tới ngày hôm nay, không phải chỉ có
một TLC thất thủ mà là cả đất nước miền Nam Việt Nam Cộng Hòa thất thủ
chỉ vì quốc hội Mỹ không viện quân sự nữa cho QLVNCH kể từ sau năm 1973.
Họ chuyển giao nhiều chiến cụ cho QLVNCH trước khi rút quân, nhưng
không tiếp tục viện trợ đạn dược, xăng nhớt, … thì làm sao chống đở với
ai đây, trong khi Nga (UDSSR) và Trung cộng liên tục viện trợ tối đa cho
CSBV để tiến chiếm miền Nam. Điều nầy người Mỹ đã biết, trước khi hãi
quân QLVNCH hãi chiến với Tàu cộng tại Hoàng Sa ngày 19.01.1974. Thật
là đau đớn thay cho QLVNCH và tức giận bởi người Mỹ & đồng minh chỉ
đứng nhìn xem miền Nam VNCH đi đến ngày sụp đổ 30.04.1975.
Ngày
16.05.2011 tại Berlin/Germany, cựu Tổng Thống Hoa Kỳ Bill Clinton đã
trao giải “Henry Kissinger Award” cho cựu Thủ Tướng Đức Helmut Kohl về
thành tích lảnh đạo để thống nhất nước Đức (Đông & Tây Đức) và sau
đó Âu Châu, nhân dịp sinh nhật 80 tuổi của ông. Không biết ông cựu Ngoại
Trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger gốc Đức có ân hận lắm chăng trước khi nằm
xuống vì đã đi đêm bán đứng miền Nam VN cho Nga Tàu.
KQ
TỴ hiện nay ở New York, KQ TIẾN ở San Jose CA, KQ ĐỨC ở Munich. Duy chỉ
có KQ HƯƠNG còn kẹt lại VN sau khi ra tù nhưng cho đến bây giờ thì vẫn
chưa liên lạc được với anh, hy vọng anh và gia đình vẫn bình an!.
Tôi
viết lên hồi ký nầy, không ngoài mục đích để tưởng nhớ đến những chiến
hữu Biệt Động Quân của Tiểu Đoàn 92 Biên Phòng và các phi hành đoàn bạn
trực thăng UH1 & CH-47 thuộc PĐ2xx! / SĐ3KQ đã hy sinh hay may mắn
còn sống sót cho tới ngày hôm nay dù ở bất cứ nơi đâu, những người trai
trẻ nầy sinh ra trong thập niên 40-50, vào quân đội, xem cái chết, tợ
như lông hồng để bảo vệ quê hương khỏi ách cai trị độc tài độc ác của
đảng cộng sản Việt Nam…
Mùa Hè Munich 2011
KQ Lê Hồng Đức
Phan Nhật Nam
TRUNG TÁ LÊ VĂN NGÔN - NGƯỜI HÙNG TỬ THỦ TONLE TCHOMBE (TỐNG LÊ CHÂN)
(Kính tặng anh linh cố Trung Tá Lê Văn Ngôn và chiến hữu Tiểu Ðoàn 92 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng)
Cùng với việc Hoa Kỳ
cắt giảm viện trợ quân sự cho Việt Nam và rút quân về nước, các đơn vị Dân Sự
Chiến Đấu cũng được giải thể. Những người lính thuộc lực lượng này một số được
cải tuyển sang Địa Phương Quân và một số đông hơn tình nguyện sang binh chủng
Biệt Động Quân để phục vụ trong các tiểu đoàn Biệt Động Quân Biên Phòng mới được
thành lập để trấn giữ những căn cứ trước đó thuộc các toán Dân Sự Chiến Đấu.
Tại Phước Long, Căn cứ Bù Đốp do A-341 trấn giữ được chuyển thành Tiểu Đoàn 97
Biệt Động Quân Biên Phòng vào ngày 31 tháng Chạp 1970. Tại Bình Long, Căn cứ Lộc
Ninh của A-331 chuyển sang Tiểu đoàn 74 Biệt Động Quân Biên Phòng ngày 30 tháng
Chín 1970 và cũng tại Bình Long, ngày 31 tháng Mười Một 1970, đơn vị A-334
chính thức giải thể và Chỉ Huy Trưởng Căn cứ Tống Lê Chân là Thiếu tá Đặng Hưng
Long chính thức bàn giao căn cứ cho Đại uý Lê Văn Ngôn, người chỉ huy đơn vị mới
được thành lập để trấn giữ căn cứ này là Tiểu Đoàn 92 Biệt Động Quân Biên Phòng
với quân số lúc đó là 318 người mà hơn một nửa là người Thượng thuộc sắc tộc
S’tieng mang họ Điểu và một số khá đông là người Việt gốc Miên mang họ Châu,
Danh và Thạch. Đại uý Lê Văn Ngôn xuất thân Khoá 21 Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt,
lúc đó chưa tròn 24 tuổi.
Nằm bên cạnh hai con suối Takon và Neron là thượng nguồn của Sông Sàigòn và
trên một ngọn đồi cao hơn 50 thước cách An Lộc khoảng 15 cây số về hướng đông-bắc,
Tống Lê Chân (dọc trại từ tiếng Miên Tonlé Tchombe) có nhiệm vụ ngăn chặn đường
tiếp tế của Việt Cộng từ Chiến khu C theo trục lộ 246 sang Chiến khu D. Vào thời
điểm này, Tống Lê Chân ngoài căn cứ chính còn có thêm hai tiền đồn nhỏ nằm án
ngữ đường tiến quân của địch vào trại chính. Với tham vọng thôn tính miền Nam
cho bằng được, Trung Ương Cục R của Việt Cộng trong suốt 5 năm qua đã cho nhiều
đơn vị của chúng thay phiên nhau đánh chiếm Tống Lê Chân để dễ dàng chuyển quân
và vũ khí về các mặt trận phía đông Sài Gòn mà không bị cản trở nhưng không
thành công mà còn phải trả những giá thật đắt trong những cuộc tấn công tự sát.
Sau đi tung những đại đơn vị tấn công Lộc Ninh, An Lộc và một số vùng phụ cận
trong tỉnh Bình Long vào Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, cộng quân cho các lực lượng chính
qui Bắc Việt tấn công Tống Lê Chân.
Thật ra thì ngay sau khi Công Trường 9 Cộng sản Bắc Việt tấn công vào Lộc Ninh,
Việt Nam Cộng Hoà chúng ta đã nhìn thấy trước ý đồ của cộng quân nên Bộ Chỉ Huy
Biệt Động Quân Quân Khu 3 quyết định cho Tiểu đoàn 92 Biệt Động Quân Biên Phòng
rút khỏi Tống Lê Chân để về An Lộc cùng với những đơn vị khác chuẩn bị đối đầu
với đại quân Bắc Việt. Tuy nhiên, Đại úy Lê Văn Ngôn đã trình lên Đại tá Nguyễn
Thành Chuẩn, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân Quân Khu 3 khi ông ghé xuống đây vào
những ngày đầu tháng Tư 1972 rằng có ba lý do để đơn vị này ở lại trấn giữ Tống
Lê Chân. Thứ nhứt là dồn quá nhiều quân vào An Lộc để lãnh đạn đại pháo của Việt
Cộng là điều không nên (lúc đó, Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân do Đại Tá Nguyễn Văn
Biết chỉ huy đã nhảy vào An Lộc rồi). Thứ hai, Tống Lê Chân nằm trong chiến khu
của địch, tại một vị trí giống như yết hầu đối với đường tiếp tế và chuyển quân
của giặc và hơn nữa, từ trên đồi có thể quan sát được mọi di chuyển của địch
ngay trong chiến khu của chúng. Vì thế, càng nên giữ căn cứ cho tới cùng để gây
thêm khó khăn cho các hoạt động quân sự của chúng. Thứ ba là toàn thể quân nhân
các cấp trong đơn vị muốn ở lại giữ Tống Lê Chân chớ không muốn rút đi. Kể từ
lúc đó, một trang sử bi hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu.
Ngày 10 tháng Năm 1972, sau khi đặc công đã đột nhập vào bên trong vòng đai
phòng thủ và bắt đầu phá hoại, đại quân Bắc Việt tổ chức nhiều đợt tấn công biển
người có chiến xa yểm trợ nhưng lần lượt bị đẩy lui và chúng phải bỏ cuộc. Đại
uý Lê Văn Ngôn được vinh thăng thiếu tá nhờ những chiến công liên tiếp này. Sau
đó, An Lộc và các vùng phụ cận được giải toả, các lực lượng cộng quân còn sót lại
tháo chạy qua biên giới về mật khu an toàn của chúng trong vùng Mỏ Vẹt và Lưỡi
Câu.. Tống Lê Chân được tạm yên một thời gian ngoại trừ những cuộc tấn công quấy
rối và những vụ pháo kích lẻ tẻ vốn không đáng kể so với những trận mưa pháo và
tấn công biển người liên tiếp trước đó. Sau Hiệp định Paris ký kết ngày 27 và
có hiệu lực kể từ ngày 28 tháng Giêng 1973, giữa lúc Việt Nam Cộng Hoà, Việt Cộng
và Cộng Sản Bắc Việt đang thực hiện các cuộc trao trả tù binh thì Việt Cộng đem
một lực lượng chính qui bao vây Tống Lê Chân, trắng trợn vi phạm hiệp định mà
chính chúng đã ký kết.
Ngày 17 tháng Ba, một phiên họp cấp trưởng đoàn của Ban Liên Hợp Quân Sư Bốn
Bên (BLHQSBB) được triệu tập. Trưởng đoàn của Việt Cộng là tướng Trần Văn Trà
biết tình hình không có lợi nên lánh mặt và cho Đại tá Đặng Văn Thu thay mặt tới
tham dự. Tại phiên họp này, trưởng đoàn Việt Nam Cộng Hoà là Trung tướng Dư Quốc
Đống đề nghị những biện pháp cấp bách gồm có việc cử ngay một tổ Liên Hợp Quân
Sự Bốn Bên đi Tống Lê Chân để điều tra vi phạm, nếu điều đó được thoả thuận tại
hội nghị. Nếu hai phe cộng sản không thoả thuận thì Hoa Kỳ, với tư cách chủ vị
của BLHQSBB, sẽ yêu cầu Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm Soát và Giám Sát Đình Chiến (1)
(International Commission for Ceasefire and Supervision = ICCS) cử người đi điều
tra và trong trường hợp này, Việt Cộng, tức cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền
Nam phải ra lệnh cho các đơn vị của chúng quanh Tống Lê Chân không được bắn lên
phi cơ của ICCS khi họ tới đó.
Đương nhiên là hai phái đoàn của cộng sản không đồng ý với biện pháp này nên
tìm cách lảng sang chuyện khác. Đặng Văn Thu luôn mồm lảm nhảm rằng Việt Nam Cộng
Hoà đã vi phạm (!) ngưng bắn ở Đức Cơ thuộc tỉnh Pleiku, Đức Phổ và Sa Huỳnh
thuộc tỉnh Quảng Ngãi nên có lỗi chớ chúng không có lỗi. Bên phái đoàn Bắc Việt
cũng lập lại như vẹt những lời của đám tay sai của chúng. Khi chúng ta bàn sang
biện pháp thứ hai thì chúng nhứt định không chịu để cho một phái đoàn của ICCS
đi Tống Lê Chân điều tra và rồi cả hai tên đại diện cho bên cộng sản này “nhứt
trí” với nhau bỏ phòng họp ra về. Sau đó, chính bọn này đã thông báo cho hai
thành viên của khối Cộng tại ICCS là Ba Lan và Hung Gia Lợi rằng nếu có văn thư
Hoa Kỳ yêu cầu đi Tống Lê Chân điều tra thì hãy từ chối với lý do ở nơi đó
không được an ninh. Nghe Việt Cộng hù dọa như vậy, thử hỏi có phái đoàn nào còn
đủ can đảm đáp trực thăng đi Tống Lê Chân để mà ăn đạn phòng không dầy đặc của
chúng. Vì vậy mà Tống Lê Chân cứ tiếp tục bị bao vây tháng này qua tháng khác
và năm này qua năm khác.
Khi Việt Cộng bắt đầu bao vây Tống Lê Chân thì quân số của Tiểu đoàn 92 Biệt Động
Quân Biên Phòng chỉ có 274 quân nhân các cấp. Bao vây tấn công đơn vị cô độc
này là các tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 271 (2) của Công trường 9 được tăng cường
thêm các đội phòng không của trung đoàn này và Trung đoàn 42 cùng với Tiểu đoàn
28 Pháo binh có trang bị đại bác 130 ly.
Trong sáu tháng đầu Tống Lê Chân bị tấn công và bao vây, Không Quân Việt Nam Cộng
Hoà đã thực hiện hơn 3 ngàn phi vụ yểm trợ và tiếp tế cho căn cứ này, thả xuống
hơn 3 trăm kiện thực phẩm và tiếp liệu nhưng quân trú phòng chỉ thu được 134 kiện
và số còn lại rớt xuống các vị trí của địch. Cũng trong thời gian này, cộng
quân pháo kích vào Tống Lê Chân hơn 3 trăm lần với khoảng 1300 trái đạn đủ loại.
Chúng tấn công căn cứ này 11 lần và đặc công của chúng đột nhập vào được bên
trong căn cứ chín lần nhưng không một tên nào sống sót chạy ra.
Nhờ các đơn vị của Không Quân thay phiên nhau tích cực yểm trợ và tiếp tế, các
chiến sĩ tử thủ Tống Lê Chân càng thêm tinh thần chiến đấu, không những đẩy lui
được các đợt tấn công của cộng quân mà còn mở các cuộc hành quân vòng đai, loại
hàng chục tên ra khỏi vòng chiến mỗi lần hành quân và phá hủy một súng phòng
không và một đại bác.
Cho đến đầu tháng Bảy 1973 thì quân số tại Tống Lê Chân chỉ còn 258 người kể cả
34 bị thương nặng nhẹ hoặc bị bịnh sốt rét không di tản được trong đó có một số
vẫn tiếp tục chiến đấu với đồng đội. Bên địch, có thêm các lực lượng thuộc
Trung đoàn 301 Chủ Lực Miền được cử đến tăng phái cho Trung đoàn 271. Thấy lực
lượng tử thủ bị vây khốn đã nửa năm, giặc cộng tưởng tất cả đều không còn tinh
thần chiến đấu nên cứ tối đến là chúng bắc loa vừa kêu gọi anh em ra đầu hàng vừa
đem bom đạn ra hù doạ theo kiểu “hàng sống chống chết”. Chúng còn “tử tế” tới mức
dặn dò kỹ lưỡng rằng “Anh Ngôn” hãy dẫn anh em ra chỗ này chỗ nọ để được “nhân
dân đem về vùng hoà bình”.
Việc Tiểu đoàn 92 Biệt Động Quân Biên Phòng bị giặc cộng vây khốn suốt nửa năm
trời đã gây được sự chú ý của dư luận quốc tế. Việt Cộng và Cộng Sản Bắc Việt
thấy vậy ra vẻ làm theo lời yêu cầu của ICCS nhưng thật ra đây cũng chỉ là một
hành động lừa dối trắng trợn của bọn chúng mà thôi. Chúng cử tên đại tá khét tiếng
mất dạy Võ Đông Giang (3) sang gặp Trưởng Phái đoàn Gia Nã Đại là Đại tá Lomis
để cho biết là Việt Cộng đồng ý để cho ICCS đến Tống Lê Chân điều tra nhưng trước
hết phải để cho Giang cử một đại diện đi trực thăng tới Tống Lê Chân liên lạc
trước với các đơn vị của chúng tại đây để đề phòng ngộ nhận. Sau đó, một tên đại
diện của Việt Cộng đáp trực thăng đi Bình Long nhưng thay vì xuống Tống Lê
Chân, tên này lại yêu cầu phi công đáp xuống một nơi cách Tống Lê Chân tới cả
chục cây số gọi là Sóc Con Trăn mà theo lời của tên này thiø y phải liên lạc với
“địa phương” trước. Tên này biến vào rừng một lúc lâu rồi trở ra, miệng lảm nhảm
tố cáo rằng “bộ phận đường dây” của chúng đã bị Mỹ-Nguỵ giết hại hết rồi nên y
không tìm được một ai. Sau đó, thay vì trở về Biên Hoà để báo cáo cho Ban Liên
Hợp Quân Sự Khu V, tên này lại yêu cầu trực thăng chở y về Sàigòn. Việt Nam Cộng
Hoà lại làm dữ nhưng chúng vẫn không thay đổi thái độ. Cuối cùng, trong một việc
làm đầy tính cách giả nhân giả nghĩa, chúng cho phép trực thăng của Không Quân
Việt Nam Cộng Hoà đáp xuống Tống Lê Chân để di tản đúng 20 thương binh. Đây là
lần duy nhất trong hai năm bị tấn công và vây hãm, trực thăng của Việt Nam Cộng
Hoà đáp xuống Tống Lê Chân mà không bị phòng không bắn lên cũng như đại bác
pháo vào căn cứ. Sau đó, Việt Cộng lại tiếp tục bao vây, pháo kích và tấn công
Căn cứ Tống Lê Chân.
Khi Việt Nam Cộng Hoà tiếp tục tố cáo giặc cộng vi phạm Hiệp định Paris thì
chúng trơ tráo trả lời rằng việc pháo kích vào Tống Lê Chân là để cảnh cáo lính
trong căn cứ liên tục lấn ra ngoài, xâm phạm vào “vùng giải phóng” của chúng
(chỉ có hai trăm quân nhân còn đủ khả năng tác chiến thì làm sao lấn nổi cả một
sư đoàn của chúng?). Khi chúng ta khiếu nại về việc chúng dùng loa phóng thanh
dụ các chiến sĩ trong căn cứ ra đầu hàng chúng thì chúng trơ tráo nói rằng
chúng chỉ giảng “đạo lý hiệp định Paris” cho “anh em lính Sàigòn” nghe để anh
em hiểu về “đạo lý hoà hợp hoà giải dân tộc” và rằng đó là “quyền lợi của anh
em”.
Sau hơn nửa năm trời chúng ta không ngừng khiếu nại, dư luận quốc tế cũng không
còn chú tâm đến Tống Lê Chân nữa và Việt Cộng vẫn tiếp tục tấn công và pháo
kích. Trong khi đó thì những người lính của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà nói
chung và những người lính của Tiểu đoàn 92 Biệt Động Quân Biên Phòng nói riêng
còn bị thêm những nhát dao chí tử của ngay chính đồng bào của mình. Những tay
tu sĩ bội đạo phản đời như Chân Tín và Nguyễn Ngọc Lan luôn mồm chống phá chính
phủ Việt Nam Cộng Hoà. Những tay dân biểu và nghị sĩ đối lập như Hồng Sơn Đông,
Hồ Ngọc Nhuận, Hồ Hữu Tường và Trương Gia Kỳ Sanh lợi dụng vị trí của mình luôn
mồm tiếp tay cho giặc. Hai phái đoàn Việt Cộng và Cộng Sản Bắc Việt đương nhiên
là lợi dụng tối đa điều này và chúng luôn xem đó là những bằng chứng để tố cáo
vu vơ và bôi xấu Việt Nam Cộng Hoà tại những phiên họp giữa hai bên hoặc bốn
bên.
Đầu năm 1974, giữa lúc Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đang điên đầu đối phó với
chiến dịch gây rối đội lốt “phong trào chống tham nhũng” do Trần Hữu Thanh cầm
đầu thì tại Tống Lê Chân, Thiếu tá Lê Văn Ngôn được vinh thăng trung tá lúc mới
27 tuổi. Chẳng có một thượng cấp nào của ông tại Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân Quân
Khu 3 lên Tống Lê Chân gắn lon cho ông cả mà chỉ có cặp lon trung tá được trực
thăng thả xuống cùng với tiếp phẩm (4). Đúng lúc đó thì xảy ra trận Hoàng Sa
khiến người ta tạm quên mất Tống Lê Chân và Việt Cộng tung toàn lực của chúng tại
đây đánh vào căn cứ với quyết tâm chiếm hoặc san bằng cho bằng được.
Vào cuối tháng Giêng và đầu tháng Hai 1974, những tên chỉ huy cao cấp nhứt của
Công trường 9 Cộng Sản Bắc Việt họp liên miên để rút ưu khuyết điểm của các đợt
tấn công của chúng vào Tống Lê Chân suốt một năm trước đó. Sau đó, Tống Lê Chân
lại được chúng đem lên sa bàn nghiên cứu từng chi tiết nhỏ. Sau mấy đợt tấn
công thăm dò, ngày 5 tháng Tư, Trung đoàn 271 cùng với một trung đoàn pháo và một
lữ đoàn chiến xa có thêm một số đơn vị chủ lực miền tiếp ứng, ồ ạt tấn công Tống
Lê Chân. Được tin tình báo cho biết trước, các chiến sĩ Biệt Động Quân chuẩn bị
sẵn sàng và sau đó giao chiến ngang ngửa với đại quân Bắc Việt được đúng sáu
ngày. Đến quá trưa ngày 11, chiến xa của chúng xuất hiện trong tầm mắt của các
chiến sĩ phòng thủ trong khi các phi vụ tiếp tế của Không Quân đã mấy ngày liền
không thể thực hiện được vì một trung đoàn phòng không của cộng quân sẵn sàng bắn
đạn che kín bầu trời. Hết đạn dược và thực phẩm, Trung tá Lê Văn Ngôn hướng dẫn
anh em mở đường máu về được An Lộc. Chỉ việc các chiến sĩ can trường này đem được
cả thương binh thoát khỏi vòng vây dày đặc của địch để về đến An Lộc cũng đã là
một việc nói lên tình đồng đội và tinh thần chiến đấu của người lính Việt Nam Cộng
Hoà ngay cả trong tình thế bi đát nhứt. Ngoài ra, người ta cũng phải nghĩ rằng
chỉ có phép lạ mới che chở được đơn vị lẻ loi và anh hùng này: trong một tuần lễ
ác chiến sau cùng, chỉ có hơn hai chục chiến sĩ bị thương.
Sau khi đem đơn vị về đến An Lộc, Trung tá Lê Văn Ngôn được cử đi học khoá Tham
Mưu Trung Cấp và sau đó về Sư Đoàn 5 Bộ Binh giữ chức vụ trung đoàn phó. Sau
ngày đất nước chúng ta rơi vào tay giặc cộng, Trung tá Ngôn cũng như biết bao
chiến sĩ khác, lọt vào tay giặc và bị đưa ra miền Bắc. Một tối mùa thu 1977,
ông lặng lẽ qua đời tại liên trại Yên Báy. Chính Phan Nhật Nam đem người đàn em
vắn số của mình ra huyệt chôn.
Khi người dân trên toàn thế giới rung chuông, mở rượu, tung giấy
ngũ sắc để chào mừng Hòa bình Việt Nam, trên ngọn đồi cao năm mươi thước giữa
ranh giới hai tỉnh Tây Ninh, Bình Long, một cứ điểm quân sự trông xuống hai con
suối bắt đầu nổ súng như tia chớp giữa ngày quang. Trận đánh Tống Lê Chân
bắt đầu nặng độ. Lợi dụng ngưng bắn, Cộng sản ra mặt tấn công ngay. Không ai
trên thế giới biết đến, tất cả muốn xóa đi bỏ qua tai nạn cục bộ của Việt Nam rắm
rối. Hòa bình, thứ rượu nhạt mà thế giới hằn lâu không được uống. Tống Lê Chân,
trận chiến cuối mùa và cô đơn nhất của dòng thời gian binh lửa. Tính đến nay,
căn cứ bị bao vây đúng 17 tháng, hay 510 ngày. Không ai trong chúng ta nghĩ đến
con số nhỏ bé ghê gớm đau đớn này, chúng ta cũng là những kẻ có tội.
Stalingrad bị người Đức bao vây 76 ngày, người Mỹ giữ cứ điểm
Balaam 66 ngày, quân lực Anh và Khối Thịnh Vượng Chung tử thủ Tobruk trong 241
ngày và ở Việt Nam “thiên đường” của chiến tranh, nơi binh đao tung hoành không
giới hạn, chúng ta cũng đã có những cứ điểm với tên tuổi để đời như Điện Biên
Phủ bị bao vây với số lượng 57 ngày. Gần gũi và còn được nhớ hơn hết là những
trận đại chiến khởi đầu trong mùa hè ’72, những trận đánh vượt quá hẳn chiến sự
thế giới tại các địa danh Kontum, An Lộc, Quảng Trị, những Delta, Charlie ở
Kontum cũng chỉ kéo dài trong 1 ngày, An Lộc 110 ngày và Quảng Trị thực sự đến
ngày 25 tháng 7/1972 đã được giải tỏa phần lớn…
Thế nên, Tống Lê Chân với 510 ngày bị vây hãm phải được xem là
trận đánh dai dẳng nhất lịch sử chiến tranh của nhân loại. Căn cứ nhỏ bé đó từ
ngày 10 tháng 5/1972 đã bị mờ khuất sau làn khói lớn của An Lộc, Quảng Trị,
Kontom và đến nay, sáu tháng sau ngày hòa bình độc hại, chiếc tiền đồn lại càng
có khuynh hướng bị xóa mờ để che dấu và vô hiệu hóa tội ác của những người Cộng
Sản. Chúng ta phải nhỏ giọt nước mắt thật nóng để cầu nguyện cho số người trong
510 ngày đã phấn đấu để chứng tỏ cùng thế giới: tội ác đã đồng nghĩa với con
người cộng sản. Tống Lê Chân, giọt nước mắt tinh tuyền của sức đối kháng vô bờ
của người Việt miền Nam.
Căn cứ được thiết lập trên ngọn đồi cao 50 thước, trông xuống
hai con suối Takon và Neron, những con suối đầu tiên của sông Saigon dày đặt khắp
miền Tây Ninh, Bình Long, nằm trên đường ranh của hai tỉnh này, cách An Lộc 15
cây số về phía đông bắc và ở miền nam biên giới Việt-Miên khoảng 13 cây số, điểm
nhọn của chiếc Mỏ Vẹt, đại bản doanh của Cục R chĩa thẳng vào căn cứ. Tống Lê
Chân trước kia là một trong những trại Dân Sự Chiến Đấu thuộc Lực Lượng Đặc Biệt
mà người Mỹ đã thành lập từ năm 1967. Trong lãnh thổ Quân Khu 3 dọc theo biên
giới Việt-Miên từ Tây Ninh qua Phước Long có những trại Bến Sỏi, Thiện Ngôn,
Katum, Tống Lê Chân, Lộc Ninh, Quan Lợi, Bù Gia Mập, chỉ riêng trại Bến Sỏi nằm
trong nội địa Tây Ninh, các trại còn lại làm thành một hàng rào hệ thống tiền đồn
ngăn chận, báo động sự xâm nhập và điều động của Cộng Sản từ bên kia biên giới
nơi có những địa danh đã một lần vang động như Lưỡi Câu, Mỏ Vẹt, hệ thống trại
còn lại là nơi xuất phát những cuộc hành quân tuần tiểu phát hiện và tiêu diệt
các đơn vị địch trong vùng.
Vùng hoạt động của trại cũng là chiến khu của giặc, Chiến Khu C
và cũng như hệ thống đường liên tỉnh mà chính quyền ông Diệm đã thành lập từ những
năm 1960, 1961, những trại Lực Lượng Đặc Biệt, sản phẩm đắc ý của Tổng Thống
Kennedy, người được yêu chuộng nhất của 37 đời tổng thống Mỹ. Nhưng đến bât giờ,
năm 1973 tại Việt Nam, lúc người Mỹ đã quay mũi phi cơ về Clark Field, Guam, bỏ
lại xứ sở Đông Dương mịt mù tiếng đạn trong âm vọng hòa bình, các trại kia chỉ
còn lại là những chiến trường địa phương bị cô lập với thế giới bên ngoài đành
đoạn.
|
Cho chắc ăn hơn nữa, phía Cộng Sản mớm lời cho hai phái đoàn Ba
Lan, Hung Gia Lợi khi tiếp nhận văn thư của Hoa Kỳ đi điều tra Tống Lê Chân:
“UBQT không đồng ý đi điều tra ở một nơi khi nơi đó chưa được an ninh.” Muốn chắc
ăn hơn, hai phái đoàn quốc tế cộng sản này lại đưa thêm điều kiện: Sẽ chịu đi nếu
phái đoàn Mặt Trận Giải Phóng cử sĩ quan liên lạc tháp tùng cùng trực thăng. Lẽ
dĩ nhiên điều kiện không bao giờ được thực hiện vì Mặt Trận Giải Phóng chắc chắn
không đồng ý cử sĩ quan liên lạc tháp tùng.
Một tuần lễ trôi qua, kể từ phiên họp ngày 17 tháng 3/1973 tất cả
nỗ lực về Tống Lê Chân đều bị chấn lối bởi hai ngón đòn: “Tình hình Tống Lê
Chân chưa rõ rệt, phái đoàn Mặt Trận chờ chỉ thị của thượng cấp và đơn vị Mặt
Trận Giải Phóng không cử sĩ quan liên lạc đi cùng nên Ủy Hội Quốc Tế không thể
đến điều tra.” Mặt Trận Giải Phóng, Bắc Việt, Ba Lan, Hung Gia Lợi nương vào
nhau nhồi quả bóng vô liêm sỉ, né tránh hẳn vấn đề.
Ngày 23 tháng 3/1973, chỉ còn 4 ngày nữa là hết thời hạn 60 ngày
làm việc của Ban Liên Hiệp Quân Sự Bốn-Bên, Hoa Kỳ thúc dục phái đoàn Gia Nã Đại
(chủ tịch Ủy Ban Quốc Tế) trực tiếp thu xếp với Mặt Trận Giải Phóng để sớm điều
tra sự kiện Tống Lê Chân. Mặt Trận Giải Phóng trốn không nỗi, đưa Ðại Tá Võ
Đông Giang, phó trưởng đoàn ra gặp Ðại Tá Lomis (Gia Nã Đại) thỏa thuận cử sĩ
quan liên lạc của Mặt Trận theo Ủy Ban Quốc Tế đến Tống Lê Chân vào ngày 24
tháng 3/1973…Nhưng rốt cuộc cũng là trò đánh tráo. Theo thỏa thuận của Giang,
sĩ quan Mặt Trận sẽ từ Tân Sơn Nhất đi Tống Lê Chân tiếp xúc trước với lực lượng
Cộng Sản ở đây xong trở về Biên Hòa (Biên Hòa là khu V Liên Hợp Quân Sự – tức
là cùng của Việt Nam Cộng Hòa) để đón Ủy Ban Quốc Tế vào Tống Lê Chân. Tên sĩ
quan liên lạc của Mặt Trận nhận chỉ thị trước, nên từ Tống Lê Chân y trở về Tân
Sơn Nhất, làm cho Ủy Ban Quốc Tế đợi ở Biên Hòa suốt ngày 24 tháng 3/1973. Cuộc
điều tra Tống Lê Chân của Ủy Ban Quốc Tế không bao giờ có thể thực hiện được.
Không bao giờ.
Về phía Liên Hợp Quân Sự, sau một tuần lễ cố gắng liên tục kể từ
phiên họp 17 tháng 3/1973, Việt Nam Cộng Hòa buộc Mặt Trận Giải Phóng phải cùng
sĩ quan liên lạc đến Tống Lê Chân để thực hiện tản thương. Nhưng ngày 23 tháng
3/1973, thay vì xuống Tống Lê Chân như đã dự liệu, tên sĩ quan liên lạc Mặt Trận
xuống “Sóc Con Trăn” cách Tống Lê Chân 10 cây số về phía tây, viên sĩ quan này
lấy cớ phải liên lạc với “địa phương” y trước, sau một hồi tìm kiếm trong vùng,
y trở lại trực thăng lấy cớ vì bom Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa đã đánh đứt đường
giây y không tìm ra ai. Chiếc trực thăng trở về Saigon, không một thương binh
được di chuyển.
Phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa vẫn duy trì yêu cầu Mặt Trận Giải
Phóng thảo luận để Việt Nam Cộng Hòa tản thương ở Tống Lê Chân. Mặt Trận Giải
Phóng hết cớ từ chối, ngày 24 tháng 3/1973, hai mươi thương binh đầu tiên và cuối
cùng được di tản. Mặt Trận Giải Phóng “hòa hợp, hòa giải dân tộc” với giá máu
này một lần độc nhất, Tống Lê Chân đóng cửa vĩnh viễn với nỗi bi hùng của nó. Cấp
trưởng phái đoàn, cấp trưởng tiểu ban liên tiếp họp để dọn sạch vấn đề Tống Lê
Chân. Nhưng sự thật là một việc, và cách nhìn của người Cộng Sản lại là một việc
khác, nên sự kiện quân đội cộng sản bao vây, cường tập tấn công vào vị trí của
ta biến thành một cuộc hành quân của “quân đội Saigon” lên chiếm khu vực Tống
Lê Chân, một nơi nằm sâu trong vùng giải phóng của chính phủ Cách Mạng Lâm Thời!
Kèm theo luận cứ, lực lượng Mặt Trận Giải Phóng pháo vào trại là
rất tự kềm chế vì phải cảnh cáo đơn vị trong đồn muốn “nống nấn” ra ngoài khu vực
Mặt Trận Giải Phóng (một đơn vị chỉ hơn hai trăm người có thể nào tấn công vào
vòng vây của một sư đoàn). Về việc gọi loa đầu hàng, Mặt Trận Giải Phóng giải
thích: Đó là giảng “đạo lý, hiệp định” cho binh sĩ trong đồn biết “đạo lý về
hòa hợp, hòa giải dân tộc”. Ý nghĩa đích thực của ngôn từ đã biến mất trên lưỡi
của người Cộng Sản. Những điều vô lý thô bỉ đã được dựng đứng, đài phát thanh
Việt cộng ào ào tố cáo. Trần Văn Trà, Lê Quang Hòa gởi kháng thư tố giác, các
thành viên Hung Gia Lơi, Ba Lan nghiêm chỉnh nghiên cứu kháng thư. Và biết đâu
trên thế giới có một số đông người tin vào kháng thư gian dối đó. Không hiểu Đức
Giáo Hoàng khi đọc bản tin của tòa báo Tòa Thánh đề cập đến bản kháng thư đó
ngài có biết đến những con mắt nổ lửa dưới hầm sâu Tống Lê Chân đang mong ngày
mau đến.
Đau đớn hơn, khi tại Saigon, nơi chỉ cách Tống Lê Chân trăm cây
số đường chim bay, có những người đã không biết hoặc không muốn biết những người
lính Việt Nam đang ở chiếc đồn bị bao vây vào ngày thứ 510. Và nhiều kẻ lại
nhìn vấn đề ngược lại, như đám Ngọc Lan, Chân Tín, như thứ chính khách đối lập
Hồng Sơn Đông, Hồ Ngọc Nhuận, Hồ Hữu Tường, Trương Gia Kỳ Sanh (những nghị sĩ,
dân biểu được Mặt Trận Giải Phóng nhắc nhở nhiều lần ở bàn hội nghị khi muốn tố
cáo chính quyền Việt Nam Cộng Hòa). Những người này là gì trong khi đồng lõa với
tội ác đẫm máu này? Tính đến ngày của phiên họp đầu tiên đề cập đến Tống Lê
Chân, hai mươi ngày sau khi hòa bình 28 tháng 1/1973, căn cứ có thêm bốn chết
và hai mươi hai bị thương, những người chết này chết cho ai? Phải chăng để bảo
vệ miền Nam, trong đó có những người vừa kể đang nhân danh hòa bình.
Quả tình chúng ta đang ở trong một “trạng thái hòa bình” sau hai
mươi sáu năm nghe tiếng súng nổ và lửa cháy. Chúng ta đã nghe quen tiếng nổ đại
bác hỏa tiễn, chúng ta cũng quen với độ cao của ngọn lửa Mậu Thân, hơi nóng của
An Lộc, Quảng Trị nên hình như khi hưởng được sự yên ổn đau đớn của ngày hôm
nay, chúng ta đã vội vã xóa tan vết tích chiến tranh, muốn quên đi những hình ảnh
tàn khốc của tháng kia, năm trước và trong hạnh phúc tội nghiệp này, giữa lòng
cơn lốc túng đói, chúng ta cũng đã không đủ khả năng để nhớ đến hình ảnh một
căn cứ lẻ loi cố gắng khỏi bị hủy diệt để thể hiện ý muốn sống trong tự do và
hòa bình, nỗi mơ ước của toàn dân tộc…Mơ ước đó có ta dự phần. Vậy, chúng ta phải
làm gì được cho Tống Lê Chân.
Tôi viết lên tiếng kêu bi hùng về Tống Lê Chân vào tháng 6 năm
1973, thời gian quân đội Cộng Sản đang chuẩn bị dứt điểm vào Tống Lê Chân trong
dịp mùa mưa sắp tới của năm 1973. Suốt năm 1973, chiếc đồn nhỏ bé này đã đứng vững
được trước hàng chục cuộc tấn công và bị pháo kích hàng chục ngàn quả đạn, viên
chỉ huy căn cứ, Trung Tá Lê Văn Ngôn, hình như định mệnh đã gắng chặt tên anh
cùng chiếc đồn nhỏ bé đó, lời nói quyết chí của ngày tử thủ đầu tiên đã được giữ
trọn như tên anh đã định trước. NGÔN –một lòng son sắt giữ mãi một lời nói.
Trong nguy nan của mỗi giờ sát cùng cái chết, người anh hùng lặng lẽ với số tuổi
quá nhỏ so với chiến trường kia quả là một hiên thực hình ảnh linh diệu kết
tinh bởi sức chịu đựng vô bờ của dân tộc. Ngòi bút viết ra cũng hỗ thẹn trước nỗi
can trường này.
Những phiên họp của tháng 3, tháng 4/1974 tại Ban Liên Hợp Quân
Sự Hai-Bên trung ương, phía Việt Nam Cộng Hòa lại lớn tiếng báo động: Công Trường
9 (Cộng Sản) nhất định rút ưu khuyết điểm của năm qua, tập dượt trên sa bàn
cùng Trung Ðoàn 27 quyết ủi láng trại. Trung Ðoàn 27 sẽ được yểm trợ trực tiếp
bởi một trung đoàn pháo, một trung đoàn phòng không và lữ đoàn chiến xa, không
kể thành phần trừ bị và tăng viện. Một năm trời thử lửa, một hai tháng thực tập
trên sa bàn và trên địa thế tương tự…quân cộng sản dùng địa đạo chiến, công
kiên chiến khởi từ 5 tháng 4/1974 đến 1:00 giờ ngày 11 tháng 4/1974 đoạt được đồn.
NGÔN làm gì với quân số 259 người với 50 người bị thương từ trước, hai chục người
bị thương ở đợt tấn công sau cùng?
Tiểu Ðoàn 92 đã chiến đấu hơn tất cả mọi đơn vị bộ chiến của lịch
sử chiến tranh, con người NGÔN hơn hẳn những người anh hùng chiến trận của nhân
loại: Alamo, Saipan, Wake, hàng trăm ngàn chiến binh của thế giới đã dựng lên tấm
bia can trường về bổn phận cao cả của lính. NGÔN và Tiểu Ðoàn 92 Biệt Động dựng
lên tấm bia lớn nhất, rực rỡ nhất. Cao quý hơn tất cả, NGÔN và 259 Biệt Động
Quân của Tống Lê Chân là những người chiến sĩ chiến đấu cho hòa bình. Hòa bình
của quê hương Việt Nam. Chúng ta trong thành phố bình yên có nghĩ gì khi hay
tin Tống Lê Chân bị đoạt mất. Tiểu đoàn 92 mở đường máu rời căn cứ. Chỉ còn giọt
nước mắt, phải, chỉ còn một giọt nước mắt ngập bi hùng.
Subscribe to:
Posts (Atom)


















